1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) đồ án CHUYÊN NGÀNH đề tài TỔNG hợp CHẤT màu đỏ nâu, đỏ đậm CHO gốm sứ

29 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng hợp Chất màu đỏ nâu, đỏ đậm cho gốm sứ
Trường học Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội
Chuyên ngành Kỹ Thuật Hóa Học
Thể loại Đồ án chuyên ngành
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 636,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, các sản phẩm gốm sứ mỹ nghệ, dân dụng và gốm sứ công nghiệpkhông những đa dạng, phong phú về chủng loại mẫu mã và hình dạng mà còn đượctrang trí, phủ các loại chất màu khác nha

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

VIỆN KỸ THUẬT HÓA HỌC

Trang 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 6

1.1 Chất màu cho gốm sứ 6

1.1.1 Bản chất của màu sắc 6

1.1.2 Nguyên nhân gây màu của khoáng vật 7

1.1.3 Chất màu cho gốm sứ 9

Chất tạo màu 9

1.2 Một số oxit gây màu thông dụng [3, 4, 6] 10

1 1 1 1 1 1 2.1 Oxit coban 10

.2.2 Oxit crom 11

.2.3 Oxit nhôm 11

.2.4 Oxit sắt 11

.2.5 Oxit Magie 12

.2.6 Oxit kẽm 12

1 1 3 Phân loại màu theo vị trí trang trí giữa men và màu 12

1 1 1 3.1 Chất màu trên men 12

.3.2 Chất màu dưới men 13

.3.3 Màu trong men 13

.4 Các phương pháp tổng hợp chất màu 13

1 1 1 1 4.1 Phương pháp gốm truyền thống 13

.4.2 Phương pháp đồng kết tủa 14

.4.3 Phương pháp sol-gel 14

.4.4 Phương pháp phân tán rắn lỏng 15

1.5 Cơ chế của phản ứng pha rắn 15

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2 2 1 Đối tượng nghiên cứu 19

.2 Nội dung nghiên cứu 19

2 2 2 2.1 Khảo sát ảnh hưởng của nguyên liệu đầu đến sự tạo pha spinel 19

.2.3 Thử màu trên sản phẩm men gốm 19

.2.4 Khảo sát cường độ màu, khả năng phát màu trong men 19

2.3 Các phương pháp nghiên cứu 19

2.3.1 Phương pháp tổng hợp spinel và bột màu 19

Trang 3

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ THẢO LUẬN 21

3 3 3 1 Kết quả thực nghiệm màu đỏ sẫm 21

.2 Kết quả thực nghiệm màu đỏ nâu 23

.3 Các công thức thực nghiệm 25

3.2.1 Công thức thực nghiệm màu đỏ sẫm 25

.2.1 Công thức thực nghiệm màu đỏ nâu 26

3 KẾT LUẬN 27

MỞ ĐẦU

Trang 4

Ngày nay, các sản phẩm gốm sứ mỹ nghệ, dân dụng và gốm sứ công nghiệpkhông những đa dạng, phong phú về chủng loại mẫu mã và hình dạng mà còn đượctrang trí, phủ các loại chất màu khác nhau với nhiều tiết tấu hoa văn rất đẹp làm chogiá trị thẩm mỹ của chủng loại này được nâng lên rất cao Nghệ thuật trang trí cácsản phẩm gốm bằng chất màu gốm sứ đã và đang được phổ biến rộng rãi, ngày càngđược hoàn thiện nâng lên một tầm cao mới và dáp ứng mọi nhu cầu sử dụng của conngười Phủ các chất màu gốm sứ lên bề mặt các sản phẩm gốm sứ dảm bảo cho cáchình ảnh trang trí có độ bền vĩnh cửu.

Khác với các chất màu hữu cơ, các chất màu gốm sứ có độ bền rất cao, chốnglại tác động của ánh sáng, nhiệt độ, môi trường và bền mãi với thời gian Cùng vớimục tiêu đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành gốm sứ trên thế giới, lĩnh vưc nghiêncứu và sản xuất chất màu trên gốm sứ hiện nay rất được chú trọng, riêng ngành sảnxuất gốm sứ trong nước đang phát triển cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt làgạch ốp lát Ở Việt Nam hiện nay có khoảng 57 nhà máy sản xuất gạch ốp lát vớitổng công suất đạt hơn 300 triệu m 2/năm, trong ngành sản xuất gốm sứ, chất màuđóng vai trò quan trọng, nó quyết định đến tính thẩm mỹ của sản phẩm, làm tăngtính đa dạng của sản phẩm gốm sứ Chi phí cho chất màu trong sản xuất gốm sứ khálớn, chiếm 20% chi phí cho nguyên liệu, phần lớn lượng chất màu dùng cho sản xuấtgạch ốp lát của Việt Nam đang chủ yếu nhập của nước ngoài Điều này làm hạn chếrất lớn tính chủ động về nguồn nguyên liệu trong sản xuất, dẫn đến giá thành sảnphẩm cao, làm giảm khả năng cạnh tranh của các sản phẩm gốm sứ Việt Nam với thịtrường gốm sứ trong nước cũng như quốc tế

Hiện nay, các chất màu gốm sứ đang được sử dụng phổ biến có nguồn gốc cấutrúc mạng lưới của các tinh thể nền bền chủ yếu là: spinel, zircon, corundum,cordierite, mullite Người ta thay thế một phần các ion M2+, M3+ trong mạng cấu trúclưới của các chất nền bằng các ion có khả năng phát màu như Cu2+, Co2+,Cr3+… đểtạo ra nhiều chất màu chịu nhiệt, bền màu Trong các chất màu gốm sứ thì chất màumang hệ tinh thể nền là spinel (AB O ) được nghiên cứu rất kỹ lưỡng Để điều chế2 4

các spinel người ta thường sử dụng các phương pháp khác nhau như: phương phápgốm truyền thống, phương pháp đồng kết tủa, phương pháp sol- gel nhưng phổ biến

Trang 5

nhất là phương pháp gốm truyền thống, tổng hợp spinel ở nhiệt độ cao.

Phương pháp tổng hợp spinel trong pha rắn có ý nghĩa đặc biệt vì có thể dễdàng thu được các chất ở dạng sạch hoàn toàn không có tạp chất, màu sắc tươi sáng,

độ phát màu mạnh, bền trong môi trường Rất ít gặp spinel trong tự nhiên Chính vìthế mà việc tổng hợp các spinel là đối tượng của nhiều công trình nghiên cứu

Với những lý do trên, tôi xin chọn đề tài “Tổng hợp chất màu đỏ sẫm, đỏ nâu cho gốm sứ trên nền tinh thể Spinel”

Trang 6

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Chất màu cho gốm sứ

1.1.1 Bản chất của màu sắc

Màu sắc của vật chất có được là do chúng có khả năng hấp thụ ánh sáng mộtcách có chọn lọc Trong thực tế, một vật dù có màu sắc nổi bật, chúng ta cũng khôngcảm nhận được nếu không có ánh sáng “không có ánh sáng thì mọi vật đều tối đen”

Do vậy, màu sắc, ánh sáng, thị giác đi liền với nhau

Ánh sáng nhìn thấy được bao gồm một dãy các tia sáng có bước sóng từ

380-760 휇 m Những tia sáng không trông thấy có bước sóng ngắn hơn 380 휇 m gọi là tia

tử ngoại và có bước sóng dài hơn 760 휇 m được gọi là tia hồng ngoại

Mỗi tia sáng có một bước sóng xác định nằm trong phổ ánh sáng thấy được cho

ta một màu đơn sắc Ánh sáng trắng là tổ hợp của bảy màu: đỏ, cam, vàng, lục, lam,chàm, tím được sắp xếp theo thứ tự giảm dần bước sóng Nếu một vật hấp thụ hoàntoàn tất cả các tia của ánh sáng trắng thì ta thấy vật đó có màu đen Màu của vật chấtđược chúng ta thu nhận là màu phụ với màu mà chất đã hấp thụ Ví dụ, một vật hấpthụ tia màu đỏ (λ= 730 – 610 nm) thì ánh sáng còn lại gây cho ta cảm giác màulục( ta thấy chất đó có màu lục) Ngược lại nếu chất đó hấp thụ tia màu lục thì đốivới mắt ta nó sẽ có màu đỏ Người ta gọi màu đỏ và màu lục là hai màu phụ nhau

Để một hợp chất có màu, không nhất thiết λmax của nó phải nằm ở vùng khảkiến mà chỉ cần cường độ hấp thụ ở vùng khả kiến đủ lớn Nói một cách khác tuycực đại của vân hấp thụ nằm ngoài vùng khả kiến nhưng do vân hấp thụ trải rộngsang vùng khả kiến nên hợp chất vẫn có màu Tất nhiên để có được sự hấp thụ thấyđược ở vùng khả kiến thì λmax của chất cũng phải gần ranh giới của vùng khả kiến

Trang 7

Bảng 1.1: Mối quan hệ giữa bước sóng ánh sáng bị hấp thụ và màu sắc của vật thể

hấp thu(KJ/mol)

247-244

LamLam - Lục

TímLục – vàng

1.1.2 Nguyên nhân gây màu của khoáng vật

Dựa vào cấu trúc nguyên tử, phân tử mà người ta giải thích được sự tạo màucủa vật chất

Cấu tạo nguyên tử gồm có hai phần chính:

Hạt nhân tích điện dương, khối lượng của nguyên tử tập trung phần lớn là ởđây, trong hạt nhân có hai loại: hạt proton tích điện dương và nơtron không tích điệnElectron là các hạt mang điện âm chuyển động xung quanh hạt nhân tạo nênvùng không gian bao quanh hạt nhân như một đám mây electron (orbitan nguyên tử)trong đó xác xuất có mặt electron là lớn nhất Điện tích dương của hạt nhân bằng trị

số electron chuyển động xung quanh hạt nhân, các electron được phân bố trên mộtdãy các mức năng lượng xác định Độ linh động của các electron, khả năng dichuyển từ mức năng lượng này sang mức năng lương khác, từ nguyên tử này

Trang 8

sang nguyên tử khác của chúng là tất cả những yếu tố quyết định khả năng xuất hiệnmàu sắc của vật thể.

Khi năng lượng của ánh sáng truyền đến nguyên tử hay phân tử vật chất, cácelectron sẽ bị kích thích và chuyển từ trạng thái có mức năng lượng thấp E1 (trạngthái cơ bản) lên trạng thái có mức năng lượng cao hơn một năng lượng E2 (trạng thái

bị kích thích) do hấp thụ năng lượng ∆E= E -E , nhưng electron tồn tại ở trạng thái2 1

này không lâu sau đó electron sẽ phát ra năng lượng ∆E đã hấp thụ và trở về trạngthái ban đầu Việc thu và phát năng lượng ∆E có liên quan đến việc thu và phát các

lượng tử ánh sáng năng lượng hv (∆E= E -E = hv= hc/  ) và liên quan đến bản chất2 1

sóng hạt của vật thể

Mỗi bước sóng ứng với một năng lượng xác định Bước sóng càng ngắn thì khi

va chạm, năng lượng truyền cho các electron càng lớn

Chiều dài bước sóng:

Theo công thức trên, ứng với mỗi biến đổi năng lượng của các electron( hay là mỗi

sự di chuyển của chúng từ những trạng thái năng lượng khác nhau) sẽ có một bướcsóng hay tần số xác định Do đó, mỗi bước chuyển electron sẽ được phản ánh trênphổ dưới dạng một vạch Như vậy trên cơ sở bảng tuần hoàn mendelev, về nguyêntắc ta có thể dự đoán sự có màu ở một hợp chất nào đó.Tuy nhiên, trên thực tế sựtương tác qua lại giữa các cation- anion, trạng thái tồn tại cũng như cấu trúc tinh thểcủa chất có ảnh hưởng đến màu thậm chí làm thay đổi hoàn toàn điều kiện xuất hiệnmàu

Có những điểm khác nhau về nguyên tắc giữa cơ chế xuất hiện màu ở các kimloại, ở các hợp chất vơ cơ và trong phân tử hữu cơ Mặc dù trong tất cả các trườnghợp, màu phát sinh là do tương tác của các lượng tử ánh sáng với electron trong cácphân tử của chất, nhưng vì trạng thái của electron trong kim loại và trong phi kim,

Trang 9

trong các hợp chất hữu cơ và vô cơ là khác nhau nên cơ chế xuất hiện màu là cũngkhông như nhau.

Đối với màu của kim loại thì điều quan trọng là tính đồng đều của mạng lướitinh thể và khả năng chuyển động tương đối tự do của electron trong toàn bộ khốikim loại

Màu của đa số các chất vô cơ được quyết định bởi các bước chuyển electron và

do đó bởi sự chuyển điện tích từ nguyên tử của nguyên tố này sang nguyên tử củanguyên tố khác Đóng vai trò cơ bản, quyết định trong trường hợp này là trạng tháihóa trị của các nguyên tố, electron ngoài cùng của nó

Trong phân tử của những chất có màu, mức năng lượng của các electron phân

bố khá gần nhau Nếu ∆E lớn phải dùng những lượng tử khác chứa nhiều năng lượnghơn, ví dụ các lượng tử tử ngoại Số electron trong nguyên tử càng nhiều, thì cácmức năng lượng càng sít nhau Nhất đối với các nguyên tử có quỹ đạo không chứaelectron (obitan trống), việc chuyển electron từ trạng thái này sang trạng thái kháccần những năng lượng bé, ứng với các tia sáng của phần phổ trông thấy (các mứcelectron gần nhau thì sẽ tạo các điều kiện cho màu xuất hiện hay màu sâu hơn) Sựkhác nhau về năng lượng các các orbitan này quyết định màu của hợp chất chứa cácion tương ứng

1.1.2 Chất màu cho gốm sứ

Chất tạo màu

Các oxit mang màu thường là oxit của nguyên tố d như coban, đồng, crom, sắt,niken, mangan.Ngoài ra còn có oxit của các nguyên tố đất hiếm.Các oxit khôngmang màu như Al O , ZnO, PbO, CaO… được dùng làm chất tổ hợp màu.2 3

Trang 10

liệu làm giảm nhiệt độ nóng chảy và tăng tốc độ phản ứng, chẳng hạn như axit boric,oxit bo.

oC18501750-

205027001220

nung nóng kim loại Co hoặc Co(OH) và CoCO Trong thực tế người ta thường

oC bắt đầu phân hủy, mất

oC CoO hấp thụ oxy để tạo thành Co O Thu nhận CoO bằng cách

3 4

dùng các dạng muối như CoCl 6H O, Co(NO ) 6H O, CoSO 7H O dễ hòa tan2 2 3 2 2 4 2

hơn để đưa vào men Màu do hợp chất coban đưa vào là màu xanh nhạt đến màuxanh lam tùy theo hàm lượng coban Các hợp chất này thường kết hợp với Al O và2 3

ZnO tạo thành các hợp chất mang màu, hàm lượng Al O càng cao thì màu xanh2 3

Trang 11

càng nhạt Coban khi kết hợp với photphat hoặc arsenat cho màu tím xanh đến tím,phát màu rõ hơn khi thêm vào một lượng nhỏ MgO Khi cho CoO kết hợp với oxitcủa mangan, sắt, crom sẽ tạo nên men màu đen từ men trong suốt.

Như một sản phẩm kỹ thuật, oxit coban có chứa một lượng nhỏ tạp chất cáckim loại khác( như niken, mangan, sắt) Oxit coban nhiễm bẩn sẽ không cho phépthu nhận được các chất màu sạch vì tạp chất ảnh hưởng lên sự tạo màu

1.2.2 Oxit crom

Cr O hạt tinh thể khó nóng chảy, màu xanh lá cây sẫm, không tan trong H O,2 3 2

axit, kiềm, có đặc tính bền vững với tác dụng của ánh sang, của môi trường, nhiệt độcao và của các loại khí độc hạt như SO , H S Trong thiên nhiên oxit crom thường2 2

gặp ở dạng khoáng sắt - crom FeO.Cr O 2 3

Cr O thường được đùng làm bột màu cho sơn và thuốc vẽ.Để chế tạo chất2 3

màu hồng người ta kết hợp dùng Cr O với SnO và CaO Màu hồng sẽ dịch chuyển2 3 2

về phía màu tía khi có mặt một lượng đáng kể của Bo Trong men màu chì hoặc menaxit khi thêm một lượng nhỏ Cr O ở nhiệt độ thấp cho màu vàng Oxit Cr O khi có2 3 2 3

mặt một lượng lớn trong men sẽ làm tăng nhiệt độ nóng chảy của men, vì vậy khôngnên đưa Cr O vào men quá 3% Khi hàm lượng khoảng 1-1.5%, Cr O làm cho2 3 2 3

men có màu xanh lục, nó còn được dùng để chế tạo thủy tinh màu xanh

.2.3 Oxit nhôm

1

Nhôm oxit tồn tại ở nhiều dạng thù hình khác nhau, có cấu trúc, tinh thể khácnhau và phụ thuộc vào điều kiện điều chế, như các dạng 휇−, 휇−, 휇−, 휇 − trong đó dạng

휇 −Al O là bền hơn cả Al O không có khả năng phát màu nhưng đóng một vai trò2 3 2 3

quan trọng đến khả năng tạo màu Nó đóng vai trò khi là kiềm, khi là axit và có tácdụng trung hòa các cấu tử thừa trong phản ứng tạo màu và duy trì cân bằng hóa học.Trong chất màu gốm sứ, Al O sẽ làm tăng mạnh độ bền vững ở nhiệt độ cao và các2 3

dung dịch của men gốm sứ

Al O có thể kết hợp các oxit CeO, CoO, Cr O tạo thành các spinel mang2 3 2 3

màu.Dựa vào chất màu gốm sứ thường sử dụng oxit nhôm sạch, cao lanh, fenspat vàpecmatit

Trang 12

1.2.4 Oxit sắt

Fe O dạng bột màu nâu đỏ không tan trong nước Các hợp chất sắt là các chất2 3

tạo nên màu phổ biến nhất trong ngành ceramic Sắt cho phép chế tạo từ màu đỏ tươiđến màu đỏ sẫm, có thể biểu hiện khác biệt tùy thuộc vào môi trường lò, nhiệt độnung, thời gian mung và tùy theo thành phần hóa học của men

Trong môi trường nung khử, Fe O dễ dàng bị khử thành FeO và trở thành chất2 3

chảy Nếu muốn giữ được oxit sắt (III), từ 700-900o

C môi trường nung phải là oxyhóa Trong môi trường nung oxy hóa, nó vẫn là Fe O và cho màu men từ hổ phách2 3

tới đến vàng nếu hàm lượng tối đa trong men là 4%, cho men màu da rám nắng nếuhàm lượng khoảng 6% và cho màu nâu nếu hàm lượng Fe O cao hơn.2 3

Kẽm làm xấu màu của sắt Titan và rutile với sắt có thể tạo hiệu quả đốm hayvệt màu rất đẹp Trong men kiềm có chứa bo, sắt oxit tạo thành màu đỏ rượu vang.Trong men canxi, Fe O có khuynh hướng cho màu vàng.2 3

1.2.5 Oxit Magie

Trong men nung ở nhiệt độ cao, MgO là một chất trợ chảy tạo ra men chảylỏng có độ sệt cao, sức căng bề mặt lớn, đục và sần Trong men giàu MgO có thểlàm cho màu lam đi từ coban chuyển sang màu tím MgO còn dễ làm đổi màu lục

Cr2O3.

1.2.6 Oxit kẽm

Ở điều kiện thường, kẽm oxit có dạng bột màu trắng mịn, khi nung trên 300oC,

nó chuyển sang màu vàng, nhưng khi làm lạnh lại trở về màu trắng Trong tự nhiênthường gặp ở dạng khoáng xincata Oxit kẽm đưa vào thành phần chất màu gốm sứ ởdạng bột kẽm trắng và cacbonat kẽm Bột kẽm trắng thu được từ kim loại hoặc từquặng kẽm bằng cách nung chúng ở nhiệt độ cao

1.3 Phân loại màu theo vị trí trang trí giữa men và màu

Theo đặc tính sử dụng các chất màu gốm sứ được chia thành 3 loại: chất màutrên men (dễ chảy hoặc được gọi là chất màu nhẹ lửa), chất màu dưới men (khó chảyhoặc là chất màu nặng lửa) và chất màu trong men

Trang 13

1.3.1 Chất màu trên men

Các chất màu trên men sử dụng để trang trí cho các sản phẩm gốm xốp và sứ.Màu trên men gồm hỗn hợp chất màu, chất chảy và phụ gia Chúng được phủ lêntrên bề mặt sản phẩm đã phủ men Chúng chảy lỏng gắn chặt với bề mặt xương gốmkhi nung ở nhiệt độ 600oC đến 900 C tạo nên độ bóng rất đẹp và tông màu rất sáng.o

Nhưng về mặt hóa học và cơ học chúng kém bền hơn so với các chất màu dưới men

Do nhiệt độ nung thấp nên chủng loại các chất màu trên men rất phong phú

1.3.2 Chất màu dưới men

Các chất màu dưới men thường được phủ trực tiếp lên các sản phẩm gốm xốp

đã nung sơ bộ hoặc đã sấy khô, sau đó phủ men và nung sản phẩm gốm ở nhiệt độcao hơn nhiệt độ nung của màu trên men, khoảng 1175 C đến 1220 C Vì có lớp meno o

bóng che phủ trên lớp chất màu nên các chất màu này bám rất chặt trên bề mặt sảnphẩm và có màu rất đẹp Tuy nhiên, do nhiệt độ nung cao, nên một số màu bị biếnđổi do có ít các oxit màu của kim loại chịu đựng được nhiệt độ cao mà không bịphân hủy nên chủng loại của các chất màu dưới men không nhiều và không có tôngmàu rực rỡ Song các chất màu này với những đặc tính thẩm mỹ và độ bền vững cao

đã trở nên rất quý giá

1.3.3 Màu trong men

Màu trong men được tạo thành bằng cách đưa chất trực tiếp màu bền nhiệtđược tổng hợp trước vào men Sự tạo màu trong men có thể xảy ra bằng cách phân

bố các hạt màu vào trong men hoặc chất màu hòa tan lẫn vào trong men nóng chảy.Đối với màu trong men thì kích thước hạt chất màu có ảnh hưởng rất lớn đến cường

độ màu, kích thước hạt càng nhỏ thì cường độ màu và độ đồng đều màu cao

1.4 Các phương pháp tổng hợp chất màu

1.4.1 Phương pháp gốm truyền thống

Chất màu thường được tổng hợp theo phương pháp gốm truyền thống Phươngpháp gốm truyền thống thực chất là phản ứng giữa các pha rắn là đi từ oxit, hidroxit,muối vô cơ Theo phương pháp này, các chất rắn là nguyên liệu ban đầu để tính toánthành phần sao cho đạt tỷ lệ mol hay thành phần phần trăm định trước của sản phẩm

Trang 14

mong muốn Tiếp theo là nghiền mịn để tăng diện tích tiếp xúc, ion có thể khuếchtán qua bề mặt phân cách rắn- rắn và phản ứng được với nhau để tạo phản ứng đồngthể Nếu lượng phối liệu chỉ dưới 20 g có thể nghiền mịn bằng cối mã não Bước tiếptheo là ép viên nhằm tăng mức độ tiếp xúc giữa các chất phản ứng, rồi nung ở nhiệt

độ cao trong thời gian dài Phản ứng giữa các pha rắn không thể thực hiện được hoàntoàn, nghĩa là trong sản phẩm vẫn còn mặt chất ban đầu chưa phản ứng hết nênthường phải nghiền trộn, ép viên, nung lại lần thứ 2 Đôi lúc cần phải tiến hànhnung vài lần như vậy Phổ XRD cho biết sản phẩm đã hết chất ban đầu mới xem nhưkết thúc phản ứng

1.4.2 Phương pháp đồng kết tủa

Các chất ở dạng dung dịch rồi tiến hành kết tủa đồng thời, sản phẩm thu đượctiến hành lọc, rửa rồi sấy nung Phương pháp này cho phép khuếch tán các chất thamgia phản ứng khá tốt, tăng đáng kể diện tích bề mặt tiếp xúc của các chất phản ứng.Phương pháp này cần phải lưu ý hai vấn đề sau:

Một là, đảm bảo đúng quá trình đồng kết tủa nghĩa là kết tủa đồng thời cả haikim loại đó

Hai là, phải đảm bảo trong precursor tức là hỗn hợp pha rắn chứa hai ion kimloại theo đúng tỉ lệ như trong sản phẩm gốm mong muốn

Có thể tổng hợp được gốm dưới dạng bột với cấp hạt cỡ nanomet

Có thể tổng hợp được gốm dưới dạng màng mỏng hay sợi

Nhiệt độ tổng hợp không cao

Nguyên tắc của phương pháp này là tạo ra dung dịch theo đúng tỉ lệ hợp thứccủa sản phẩm và trộn lẫn với nhau tạo thành hệ sol, sau đó chuyển từ dạng sol thànhgel rồi sấy khô để thu được sản phẩm

Phương pháp này cũng mắc một số khó khăn đó là chịu ảnh hưởng của nhiềuyếu tố như thành phần nguyên liệu ban đầu, cách thức thực hiện quy trình thủy phân

Ngày đăng: 08/12/2022, 04:19

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w