1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) đề tài DINH DƯỠNG CHO TRẺ SUY DINH DƯỠNG dưới 6 TUỔI

37 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dinh Dưỡng Cho Trẻ Suy Dinh Dưỡng Dưới 6 Tuổi
Tác giả Phạm Thị Huế, Nguyễn Diễm Quỳnh, Nguyễn Phương Hoa, Lại Thị Phương Thùy, Đặng Thị Xuân Hòa
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn Lợi
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Chuyên ngành Khoa học dinh dưỡng và Tư vấn dinh dưỡng cộng đồng
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 566,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I.............................................................................................................. 3 (6)
    • I.1. Suy dinh dưỡng ở trẻ em là gì? (6)
    • I.2. Tình hình về trẻ em bị suy dinh dưỡng hiện nay (6)
    • I.3. Nguyên nhân khiến trẻ bị suy dinh dưỡng (7)
    • I.4. Phân loại suy dinh dưỡng (8)
    • I.5. Hậu quả suy dinh dưỡng (8)
    • I.6. Các tổn thương bệnh lý và rối loạn chuyển hoá (9)
      • I.6.1. Tổn thương bệnh lý (9)
      • I.6.2. Rối loạn chuyển hóa (10)
    • I.7. Dấu hiện nhận biết trẻ bị suy dinh dưỡng (10)
  • CHƯƠNG II............................................................................................................. 8 (11)
    • II.1. Nguyên tắc điều trị bằng dinh dưỡng (11)
      • II.1.1. Suy dinh dưỡng nhẹ và vừa (độ 1 và độ 2) (11)
      • II.1.2. Suy dinh dưỡng nặng ( độ 3) (12)
    • II. 1.2.1 . Nguyên tắc khi cho trẻ ăn 9 1.2.2. Các thực phẩm sử dụng cho trẻ suy dinh dưỡng nặng (0)
      • II.2. Xây dựng khẩu phần ăn và thực đơn (13)
        • II.2.1. Trẻ dưới dưới 1 tuổi (13)
          • II.2.1.1. Trẻ từ 0 – 6 tháng 10 II.2.1.2. Trẻ từ 6 -12 tháng 11 II.2.2. Trẻ từ 1-3 tuổi (0)
          • II.2.2.1. Trẻ từ 13 – 24 tháng 13 II.2.2.2. Trẻ từ 25-36 tháng tuổi 17 II.2.3. Trẻ từ 3-6 tuổi (16)
  • CHƯƠNG III......................................................................................................... 24 (31)
    • III.1. Chăm sóc trẻ bị suy dinh dưỡng (31)
    • III.2. Chăm sóc dinh dưỡng và sức khỏe cho bà mẹ có thai và cho con bú (32)

Nội dung

Ngày nay suy dinh dưỡng được định nghĩa là một tình trạng dinh dưỡng trong đó thiếu hay thừa hay mất cân bằng năng lượng, protein và các chất dinh dưỡng khác ảnh hưởng bất lợi lên mô và

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Đề tài “ DINH DƯỠNG CHO TRẺ SUY DINH DƯỠNG DƯỚI 6 TUỔI”

Môn học

:

Khoa học dinh dưỡng và Tư vấn dinh dưỡng cộng đồng

Giảng viên hướng dẫn : Nguyễn Văn Lợi

Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Huế - 20002284

Nguyễn Diễm Quỳnh - 20002315 Nguyễn Phương Hoa - 20002281 Lại Thị Phương Thùy - 20002332 Đặng Thị Xuân Hòa - 20002282

Lớp : K65 Khoa học và công nghệ thực phẩm

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

LỜI MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG I 3

TỔNG QUAN VỀ SUY DINH DƯỠNG Ở TRẺ EM 3

I.1 Suy dinh dưỡng ở trẻ em là gì? 3

I.2 Tình hình về trẻ em bị suy dinh dưỡng hiện nay 3

I.3 Nguyên nhân khiến trẻ bị suy dinh dưỡng 4

I.4 Phân loại suy dinh dưỡng 5

I.5 Hậu quả suy dinh dưỡng 5

I.6 Các tổn thương bệnh lý và rối loạn chuyển hoá 6

I.6.1 Tổn thương bệnh lý: 6

I.6.2 Rối loạn chuyển hóa: 7

I.7 Dấu hiện nhận biết trẻ bị suy dinh dưỡng 7

CHƯƠNG II 8

CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CHO TRẺ BỊ SUY DINH DƯỠNG 8

II.1 Nguyên tắc điều trị bằng dinh dưỡng 8

II.1.1 Suy dinh dưỡng nhẹ và vừa (độ 1 và độ 2) 8

II.1.2 Suy dinh dưỡng nặng ( độ 3) 9

II.1.2.1 Nguyên tắc khi cho trẻ ăn 9 II.1.2.2 Các thực phẩm sử dụng cho trẻ suy dinh dưỡng nặng 9

II.2 Xây dựng khẩu phần ăn và thực đơn 10

II.2.1 Trẻ dưới dưới 1 tuổi 10

II.2.1.1.Trẻ từ 0 – 6 tháng 10 II.2.1.2 Trẻ từ 6 -12 tháng 11 II.2.2 Trẻ từ 1-3 tuổi 12

II.2.2.1 Trẻ từ 13 – 24 tháng 13 II.2.2.2 Trẻ từ 25-36 tháng tuổi 17 II.2.3 Trẻ từ 3-6 tuổi 19

CHƯƠNG III 24

ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP HẠN CHẾ SUY DINH DƯỠNG Ở TRẺ EM 24

III.1 Chăm sóc trẻ bị suy dinh dưỡng 24

III.2 Chăm sóc dinh dưỡng và sức khỏe cho bà mẹ có thai và cho con bú 25

Trang 3

III.3 Nuôi con bằng sữa mẹ 26 KẾT LUẬN 28

Tài liệu tham khảo: 29

BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Trường Đại học Khoa học

tự nhiên đã đưa môn học “Khoa học dinh dưỡng và Tư vấn dinh dưỡng cộng đồng” vào chương trình giảng dạy Đặc biệt, chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Văn Lợi đã dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập vừa qua Trong thời gian tham gia lớp học “Khoa học dinh dưỡng và Tư vấn dinh dưỡng cộng đồng” của thầy, chúng em đã có thêm cho mình nhiều kiến thức bổ ích, tinh thần học tập hiệu quả, nghiêm túc Đây chắc chắn sẽ là những kiến thức quý báu, là hành trang để chúng em có thể vững bước sau này.

Bộ môn “Khoa học dinh dưỡng và Tư vấn dinh dưỡng cộng đồng” là môn học thú

vị, vô cùng bổ ích và có tính thực tế cao Đảm bảo cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhu cầu thực tiễn của sinh viên Tuy nhiên, do vốn kiến thức còn nhiều hạn chế và khả năng tiếp thu thực tế của chúng em còn nhiều bỡ ngỡ Mặc dù chúng em đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn bài tiểu luận khó có thể tránh khỏi những thiếu sót và nhiều chỗ còn chưa chính xác, kính mong thầy xem xét và góp ý để bài tiểu luận của chúng

em được hoàn thiện hơn.

Và sau cùng, chúng em xin kính chúc thầy nhiều sức khỏe, thành công và hạnh

phúc Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay, khoa học phát triển đã chứng minh được vai trò quan trọng của dinhdưỡng đối với cơ thể của con người Con người muốn sinh trưởng và phát triển tốt thìnhất thiết phải được cung cấp một chế độ dinh dưỡng hợp lý Dinh dưỡng không hợp

lý sẽ gây ra những hậu quả xấu về mặt thể lực, ảnh hưởng đến khả năng học tập vàlàm việc của con người đặc biệt là đối với trẻ em Vì cơ thể trẻ đang phát triển và hoànthiện, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển của trẻ, trong đó yếu tốquan trọng nhất là dinh dưỡng

Một chế độ dinh dưỡng cân đối và hợp lý sẽ tạo điều kiện cho cơ thể trẻ đượcphát triển toàn diện cả về thể lực và trí lực Trẻ em là nguồn nhân lực mới cho tươnglai Việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em ngày càng được toàn cộng đồng quantâm Trẻ em bị bệnh không những ảnh hưởng tới tính mạng, tới sự phát triển về thểchất mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển tinh thần và trí tuệ của trẻ Khi trẻ có một cơthể khỏe mạnh trẻ sẽ có điều kiện tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh một cáchhoàn toàn tự nhiên và hứng thú Ngược lại nếu chế độ dinh dưỡng của trẻ không cânđối và hợp lý trẻ sẽ không có cơ hội được phát triển một cách bình thường

Ở nước ta tỷ lệ trẻ em bị mắc bệnh suy dinh dưỡng còn khá cao so với các nướcđang phát triển khác Chính vì vậy, quan tâm, nghiên cứu đến dinh dưỡng của trẻ em

là vấn đề cần thiết Do đó nhóm 6 chúng em xin chọn đề tài “Dinh dưỡng của trẻ bịsuy dinh dưỡng ở độ tuổi dưới 6 tuổi” Để những đứa trẻ đó được phát triển một cáchtoàn diện nhất

Trang 6

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ SUY DINH DƯỠNG Ở TRẺ EM

I.1 Suy dinh dưỡng ở trẻ em là gì?

Suy dinh dưỡng trước đây được định nghĩa là tình trạng bệnh lý xảy ra khi

cơ thể thiếu các chất dinh dưỡng, đặc biệt là thiếu protein và năng lượng Bệnh

thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, hay gặp nhất là ở lứa tuổi từ 6 – 24 tháng Suy dinh dưỡng thường kèm theo tình trạng dễ nhiễm khuẩn và ngược lại nhiễm khuẩn làm cho suy dinh dưỡng nặng thêm

Ngày nay suy dinh dưỡng được định nghĩa là một tình trạng dinh dưỡng trong

đó thiếu hay thừa (hay mất cân bằng) năng lượng, protein và các chất dinh dưỡng khác ảnh hưởng bất lợi lên mô và cơ thể (hình dáng cơ thể, kích thước, thành phần), chức năng cơ thể và các kết quả lâm sàng

Suy dinh dưỡng do thiếu dinh dưỡng thực chất không chỉ là tình trạng thiếu hụtprotein và năng lượng mà thường là kết hợp thiếu nhiều vi chất dinh dưỡng Trước đây các y văn thường dùng cụm từ “Suy dinh dưỡng protein- năng lượng” (protein-energy malnutrition) để nhấn mạnh vai trò quan trọng của protein và năng lượng trong căn bệnh này Ngày nay các y văn chỉ còn dùng danh từ “Suy dinh dưỡng” (Undernutrition) để chỉ tình trạng trẻ em bị chậm phát triển do thiếu dinh dưỡng

I.2 Tình hình về trẻ em bị suy dinh dưỡng hiện nay

Suy dinh dưỡng đang là vấn đề sức khỏe quan trọng và phổ biến của trẻ em

ở các nước đang phát triển cũng như ở nước ta hiện nay

Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO – World Health Organization)

có đến 500 triệu trẻ em bị thiếu dinh dưỡng ở các nước đang phát triển, gây nên 10triệu tử vong mỗi năm Mức giảm suy dinh dưỡng không đều ở các vùng sinh tháikhác nhau Có sự liên quan về mức giảm suy dinh dưỡng và mức giảm hộ nghèolương thực thực phẩm

Ở nước ta từ những thập kỷ 90 trở về trước suy dinh dưỡng chiếm tỷ lệ rất cao,khoảng trên dưới 50% (tính theo cân nặng/tuổi) Suy dinh dưỡng nặng nhưkwashiorkor, marasmus, marasmic kwashiorkor gặp cũng khá nhiều Nhưng nhữngnăm gần đây tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng đã giảm Năm 2002 tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng củatrẻ em toàn quốc là 30,1%, chủ yếu là suy dinh dưỡng nhẹ, vừa, suy dinh dưỡng nặngrất ít gặp Tỷ lệ này cao hơn so với Thái Lan, Indonesia, Philippine, thấp hơn so vớiMyanmar, Lào, Cămpuchia, Ấn độ, Bangladesh, Nepal Theo điều tra của Viện Dinhdưỡng quốc gia năm 2004 trẻ em suy dinh dưỡng ở nước ta giảm xuống còn 26,6%

Từ năm 2000 – 2004 tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm 1,8%/năm, năm 2007 tỉ lệ trẻ suy

Trang 7

dinh dưỡng ở nước ta còn là 21,2% (cân nặng/tuổi), 34% (chiều cao/tuổi) Năm 2010

tỉ lệ suy dinh dưỡng chung ở trẻ em nước ta là: nhẹ cân 17,5% (cân nặng/tuổi), thấpcòi 29,3% (chiều cao/tuổi), gầy còm 7,1% (cân nặng / chiều cao) Nhóm tuổi dễ bị suydinh dưỡng nhất là trẻ em từ 6 tháng tuổi đến 24 tháng tuổi, vì ở độ tuổi này các béphải tập làm quen với nhiều thứ trong đó có việc ăn dặm, nếu chế độ ăn dặm khônghợp lý sẽ dễ dẫn đến suy dinh dưỡng trẻ em

I.3 Nguyên nhân khiến trẻ bị suy dinh dưỡng

Thiếu ăn, bữa ăn thiếu số lượng, thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết để phát triển: Trẻ dưới 5 tuổi có nhu cầu dinh dưỡng cao để phát triển cơ thể Để đáp ứng nhucầu đó, cần cho trẻ ăn uống đầy đủ theo lứa tuổi Trẻ dưới 4 tháng tuổi cần được bú

mẹ hoàn toàn Sữa mẹ là thức ăn lý tưởng cho trẻ nhỏ Từ tháng thứ 5 trẻ bắt đầu ăn thêm ngoài sữa mẹ Từ tháng tuổi này, thực hành nuôi dưỡng trẻ có ý nghĩa quan trọng đối với suy dinh dưỡng Nhiều bà mẹ chỉ cho trẻ ăn bột muối, thức ăn dặm thiếu dầu mỡ, thức ăn động vật, rau xanh, hoa quả Đây là những tập quán nuôi

dưỡng chưa hợp lý cần được khắc phục Mặt khác, để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng, trẻ cần được ăn nhiều bữa trong ngày vì trẻ nhỏ không thể ăn một lần với khối lượng lớn như trẻ lớn hoặc người lớn Điều này có liên quan đến vấn đề chăm sóc trẻ

Người mẹ bị suy dinh dưỡng: Người mẹ trước và trong khi mang thai ăn uốngkhông đầy đủ dẫn đến bị suy dinh dưỡng và có thể đẻ ra đứa con nhẹ cân, còi cọc.Đứa trẻ bị suy dinh dưỡng từ trong bào thai sẽ dễ bị suy dinh dưỡng sau này Người

mẹ bị suy dinh dưỡng, ăn uống kém trong những tháng đầu sau đẻ dễ bị thiếu sữahoặc mất sữa, do đó đứa con dễ bị suy dinh dưỡng

Cha mẹ thiếu kiến thức nuôi con: trẻ không được bú sữa mẹ, cho ăn dặm khôngđúng cách, không biết cách lựa chọn thực phẩm phù hợp với trẻ, cho trẻ ăn quá ít lầntrong ngày, kiêng khem quá đáng khi trẻ bệnh

Trẻ biếng ăn: Có nhiều lý do như:

Thường xuyên mắc các bệnh lý nhiễm trùng Khi bệnh trẻ thường biếng

ăn, những kháng sinh được dùng điều trị các bệnh nhiễm trùng vừa có tácđộng diệt vi trùng gây bệnh, vừa diệt bớt các vi khuẩn thường trú có lợi cho cơ thể tại đường ruột làm giảm quá trình lên men thức ăn, dẫn đến biếng ăn và kém hấp thu

Chế biến thức ăn không hợp khẩu vị và lứa tuổi của trẻ

Cách chăm sóc trẻ không phù hợp (quá căng thẳng dẫn đến biếng ăn tâm lý)

Trẻ em sinh ra trong các gia đình nghèo, không có đủ thực phẩm để

ăn Trẻ bị nhiễm ký sinh trùng như giun, sán,…

Trang 8

Một số nguyên nhân khác ít gặp hơn: trẻ hoạt động quá nhiều, hoặc sống trongmôi trường quá nóng, quá lạnh, làm tiêu hao năng lượng nhiều; hoặc trẻ bị bệnh nặng

có nhu cầu các dưỡng chất cao mà không được cung cấp tăng cường

I.4 Phân loại suy dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng Trẻ có chỉ số cân nặng dưới –2SD theo tuổi, nghĩa là trẻ bị thiếu hụt về mặt dinh dưỡng Tuy nhiên, không đánh giá được khoảng thời gian trẻ bị thiếu dinh dưỡng Vì vậy, đây là chỉ số cơ bản và đầu tiên được sử dụng nhằm phát hiện sớm trẻ có bị thiếu dinh dưỡng không, sau đó, dựa vào những chỉ số khác như chiều cao, BMI, cân nặng theo chiều cao để để đánh giá, kết luận tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ

Suy dinh dưỡng cấp tính : Theo tuổi, trẻ có chỉ số chiều cao bình thường, tuy

nhiên, chỉ số cân nặng theo chiều cao của trẻ lại dưới -2SD Điều này có nghĩa là trẻ mới bị suy dinh dưỡng do chế độ ăn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của trẻ

Suy dinh dưỡng mãn tính đã phục hồi Theo phân loại suy dinh dưỡng dựa vào

z cores, nếu trẻ có chỉ số chiều cao dưới -2SD theo tuổi nhưng chỉ số cân nặng theo chiều cao bình thường, thì có nghĩa là trẻ đã bị suy dinh dưỡng nặng từ lâu Tình trạngnày ảnh hưởng đến sự phát triển về mặt tầm vóc của trẻ, tuy nhiên hiện nay trẻ đã phục hồi Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo trẻ có tình trạng dinh dưỡng như vậycần được theo dõi để tránh nguy cơ béo phì vì trẻ có chiều cao thấp

Suy dinh dưỡng mãn tính tiến triển Theo phân loại suy dinh dưỡng dựa vào z cores, nếu trẻ có chỉ số chiều cao dưới -2SD theo tuổi và chỉ số cân nặng theo chiều cao cũng dưới -2SD, nghĩa là trẻ đã bị suy dinh dưỡng từ lâu nhưng tình trạng này vẫntiến triển đến thời điểm hiện tại

Suy dinh dưỡng bào thai Nếu sau khi chào đời, trẻ có chỉ số cân nặng là dưới 2,5 kg, chiều dài dưới 48cm và chu vi vòng đầu nhỏ hơn 5cm, nghĩa là trẻ bị suy dinh dưỡng bào thai

I.5 Hậu quả suy dinh dưỡng

Trẻ bị suy dinh dưỡng nếu không được phát hiện và cứu chưa kịp thời có thểgâyra những hậu quả khó lường, ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe trẻ

+ Trẻ cân nặng theo tuổi thấp thường hay bị bệnh như tiêu chảy, viêm phổi Suy dinh dưỡng làm tăng tỷ lệ tử vong, để lại những hậu quả nặng nề

+ Trẻ chậm tăng cân, tầm vóc phát triển không theo kịp các bạn cùng lứa tuổi.Sức đề kháng yếu dễ mắc bênh, kém linh hoạt, phát triển trí não chậm do thiếu các vichất có liên quan

5

Trang 9

+ Làm tăng nguy cơ mắt các bệnh lý Suy dinh dưỡng là điều kiện thuận lợi để các bệnh lý này xảy ra và kéo dài, bệnh lý làm cho trẻ ăn uống kém, nhu cầu năng lượng gia tăng và vì vậy suy dinh dưỡng ngày càng trầm trọng.

+ Trẻ bị suy dinh dưỡng dẫn tới chậm phát triển thể chất, là nguyên nhân trựctiếp làm cho tất cả các hệ cơ quan của cơ thể giảm phát triển, bao gồm của của hệ cơxương

+ Trẻ bị suy dinh dưỡng chậm phát triển tinh thần Suy dinh dưỡng ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của não bộ trong giai đoạn trẻ dưới 6 tuổi Trẻ bị thiếu dinh dưỡng thường là thiếu đồng bộ nhiều chất trong đó có những chất tối cần thiết cho sự phát triển não và trí tuệ của trẻ như chất béo, chất đường, sắt, iốt, DHA,

Taurine… Trẻ bị suy dinh dưỡng cũng thường chậm chạp lờ đờ vì vậy giao tiếp xã hộithường kém, kéo theo sự giảm học hỏi, tiếp thu Ngoài ra, khi thế hệ trẻ bị suy dinh dưỡng, xã hội cũng phải đối mặt với nhiều nguy cơ như: Tầm vóc của dân tộc sẽ chậmtăng trưởng nếu tình trạng suy dinh dưỡng không được cải thiện qua nhiều thế hệ Khảnăng lao động về thể lực cũng như về trí lực của những người suy dinh dưỡng trong quá khứ hay trong hiện tại đều không thể đạt đến mức tối ưu, là một sự lãng phí vô cùng lớn với những nước đang phát triển có nhu cầu về nguồn nhân lực rất cao Nguồnnhân lực trong tương lai cũng sẽ bị ảnh hưởng vì tầm vóc và thể lực của các lớp thanh thiếu niên liên quan đến sức khỏe sinh sản

I.6 Các tổn thương bệnh lý và rối loạn chuyển hoá.

I.6.1 Tổn thương bệnh lý:

Gan: ở trẻ gan thường bị thoái hoá mỡ, tuy nhiên sự thoái hoá này có thể

phục hồi nếu được điều trị đúng và kịp thời

Cơ quan tiêu hoá: các tế bào của tuyến tuỵ và niêm mạc ruột bị teo Ở trẻ nặngkhông có trường hợp nào nhung mao nguyên vẹn, hình ảnh tổn thương đa số làteo nhung mao gần hoàn toàn Hàm lượng các men tiêu hoá giảm gây ảnh hưởng cho việc hấp thu các chất dinh dưỡng Các biến đổi hình thái và chức năng ống tiêu hoá kèm theo sự tăng sản các loại vi khuẩn là nguyên nhân của tình trạng tiêu chảy hay gặp ở trẻ suy dinh dưỡng

Hệ thống tim mạch: cơ tim có thể bị teo, cung lượng tim giảm Ở các

trường hợp nặng, các đầu chi lạnh và tím, mạch nhỏ khó bắt, khả năng tử vong cao, nhưng có thể phục hồi mà không để lại di chứng

Não và hệ thống thần kinh: thời kỳ phát triển nhanh của não tương ứng với thời kỳ đe dọa cao thiếu dinh dưỡng Các chỉ số về phát triển trí tuệ của trẻ em thiếu dinh dưỡng nặng nhất là hai năm đầu thường kém rõ rệt so với nhóm bình thường

Trang 10

Hệ thống miễn dịch: ở trẻ thiếu dinh dưỡng có hiện tượng teo tuyến ức, hạnh nhân, lách và các tổ chức lympho bào khác Sự suy giảm miễn dịch trung tâm

tế bào chủ yếu do thiếu protein, có thể do thiếu cả kẽm và các chất dinh

dưỡng khác Suy giảm miễn dịch là một trong những yếu tố làm tăng tỉ lệ nhiễm khuẩn ở trẻ suy dinh dưỡng

I.6.2 Rối loạn chuyển hóa:

Chuyển hoá glucid: trẻ em thiếu dinh dưỡng có thể xuất hiện tình trạng hạđường huyết, do đó cần chú ý khi theo dõi điều trị

Chuyển hoá lipid: ở trẻ thiếu dinh dưỡng hấp thu lipid thường kém gây ảnh hưởng đến hấp thu các vitamin tan trong lipid Người ta nhận thấy trẻ thiếu dinh dưỡng hấp thu lipid thực vật tốt hơn lipid động vật Do vậy, ở trẻ suy dinhdưỡng nên dùng dầu thực vật để bổ sung năng lượng cho khẩu phần

Chuyển hoá protein: tiêu hoá protein kém hơn do tiết trypsin của tuyến tuỵ giảm, nhưng không ảnh hưởng nhiều đến khả năng sử dụng và tích chứa

protein khi áp dụng chế độ phục hồi Tổng hợp albumin ở gan bị ảnh hưởngnên hàm lượng albumin huyết thanh giảm, thường < 30 g/ l (bình thường từ37,9 – 40,0 g/ l)

Chuyển hoá nước và điện giải: tình trạng thiếu kali thường hay xảy ra do ỉa chảy Điện giải đồ thấy có tình trạng giảm kali một cách đáng kể, canxi,

magiê cũng giảm, natri bình thường

I.7 Dấu hiện nhận biết trẻ bị suy dinh dưỡng

Để đánh giá dinh dưỡng toàn diện cần có ít nhất 3 chỉ số:

+ Cân nặng theo tuổi

+ Chiều cao theo tuổi

+ Cân nặng theo chiều cao

Đơn giản nhất là dùng biểu đồ tăng trưởng đánh giá cân nặng của trẻ theo độ tuổi.Biểu đồ tăng trưởng được đính kèm trong sổ theo dõi sức khỏe trẻ em, cấp cho mỗi trẻsau sinh và dùng đến 6 tuổi Hàng tháng trẻ sẽ được cân đo tại các cơ sở y tế địa phương, ghi nhận cân nặng vào biểu đồ và vẽ đường phát triển cân nặng theo tuổi Trẻđược xem là có nguy cơ suy dinh dưỡng nếu đứng cân liên tục trong vòng 3 tháng, đường phát triển cân nặng theo tuổi đi theo hướng nằm ngang Trẻ suy dinh dưỡng nếu đường phát triển cân nặng theo tuổi nằm bên dưới đường chuẩn của biểu đồ.Các dấu hiệu cụ thể sau:

+ Sự phát triển thể chất thấp-lùn, chậm phát triển thể chất và trí tuệ

+ Trẻ chậm tăng cân hoặc đứng cân trong vòng 2-3 tháng Đây là biểu hiện rõ ràng và dể thấy nhất ở trẻ em

Trang 11

+ Không lên cân hoặc giảm cân

+ Teo mỡ ở cánh tay, thịt nhẽo, lên cân chậm

+ Biếng ăn, chậm mọc răng

+ Trẻ thương bị rối loạn giấc ngủ

+ Trẻ kém linh hoạt hay quấy khóc,ít vui chơi,hay buồn bực dấu hiệu của tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em

Muốn biết trẻ có bị suy dinh dưỡng hay không các bà mẹ cần phải theo dõi cânnặng thường xuyên cho trẻ trên biểu đồ phát triển Nếu thấy 2-3 tháng liền trẻ khôngtăng cân cần phải đưa trẻ đi khám bác sĩ để tìm hiểu nguyên nhân

CHƯƠNG II CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CHO TRẺ BỊ SUY DINH DƯỠNG

II.1 Nguyên tắc điều trị bằng dinh dưỡng

II.1.1 Suy dinh dưỡng nhẹ và vừa (độ 1 và độ 2)

Đối với trẻ suy dinh dưỡng nhẹ (độ 1):

Chỉ cần điều trị tại nhà bằng cách hướng dẫn bà mẹ hoặc người nhà điều chỉnhlại chế độ ăn cho hợp lý và theo dõi sự tăng cân của trẻ dựa vào “Biểu đồ tăngtrưởng” Nên cho trẻ ăn thêm các thực phẩm có đậm độ năng lượng cao như dầu,

mỡ, các thức ăn giàu protein động vật như: thịt, cá, trứng, sữa… các loại rau xanh

Trang 12

và quả tươi giàu vitamin A cũng như các vitamin khác, giàu các chất khoáng Trẻ còn bú mẹ nên tiếp tục cho bú, không nên cai sữa khi trẻ đang bị suy dinh dưỡng.Với trẻ suy dinh dưỡng vừa (độ 2):

Có thể điều trị ngoại trú tại các phòng khám bệnh viện tỉnh, khu vực hoặc cáctrung tâm phục hồi dinh dưỡng Vì suy dinh dưỡng độ 2 có thể có bội nhiễm vikhuẩn và cũng tư vấn chế độ ăn như độ 1

II.1.2 Suy dinh dưỡng nặng ( độ 3)

Trẻ suy dinh dưỡng nặng cần đưa ngay tới Bệnh viện để điều trị Trẻ thường gặp các biến chứng: Hạ đường huyết, hạ thân nhiệt, rối loạn điện giải, tổn thương tim

và tử vong rất nhanh cùng với các biến chứng nhiễm khuẩn khác Người ta nhận thấy liệu pháp dinh dưỡng hợp lý, kịp thời có tác dụng tốt trong việc phòng ngừa những biến chứng này

2.1.2.1 Nguyên tắc khi cho trẻ ăn

- Ăn nhiều bữa trong ngày, những ngày đầu cứ 2 tiếng cho ăn 1 lần

- Ăn từ loãng đến đặc, từ ít đến nhiều

- Ăn tăng dần calo (từ 75 – 100 – 150 – 200 kcal/ kg) Khi trẻ ổn định duy trì ở mức 120 kcal/ kg/ ngày

- Người ta thấy rằng ở mức 100 kcal/ kg trọng lượng cơ thể/ ngày thì cân nặng của trẻ không tăng hoặc tăng không có ý nghĩa Nhưng với mức 200 kcal/ kg thì trẻ suy dinh dưỡng có mức độ tăng trọng tối đa, để bắt kịp đà tăng truởng “Catch – up growth” tức là tăng được khoảng 70 g/ kg/ tuần, hay còn gọi là “sự lớn bù”

- Khi nhu cầu protein đã thoả mãn thì năng luợng là yếu tố quyết định sự tăng trọng của trẻ trong phục hồi dinh dưỡng

- Tăng dần protein (từ 1 – 2 – 3 – 4 – 5 g/ kg) Khi trẻ ổn định duy trì ở mức 3g/

kg Đa số các tác giả cho rằng trong điều trị trẻ suy dinh dưỡng, protein cho với số lượng quá lớn là không cần thiết mà cần sử dụng những loại protein có giá trị sinh họccao (như protein của trứng, sữa, thịt, cá…) Protein tăng từ 1 – 2 – 3g rồi tăng dần tối

đa là 4 – 5g / kg/ngày Protein cho 4 – 5g / kg và mức năng lợng từ 150 – 200 kcal/ kg/ngày đã thoả mãn cho “sự lớn bù”

- Nếu bệnh nhân ăn bằng miệng không đủ nhu cầu thì cho ăn bằng bơm qua ống thông hoặc nhỏ giọt dạ dày

2.1.2.2 Các thực phẩm sử dụng cho trẻ suy dinh dưỡng nặng

Dùng sữa cho thêm dầu, đường hoặc các loại thức ăn khác có đậm độ

năng lượng cao, đảm bảo 1kcal/ 1ml thức ăn

Ở trẻ còn bú: Ngoài sữa mẹ cho trẻ ăn thêm những bữa sữa – đầu – đường

9

Trang 13

Ở trẻ ăn bổ sung: Ngoài sữa mẹ và những bữa sữa – đầu – đường cho

ăn thêm bột ngũ cốc nấu với thịt, cá, trứng (thay đổi) + rau + dầu

Ngoài ra, nên cho trẻ uống thêm các loại nước quả tươi

II.2 Xây dựng khẩu phần ăn và thực đơn

Suy dinh dưỡng trẻ em xảy ra ở nhiều độ tuổi khác nhau nên cách tính toán đểxây dựng khẩu phần ăn và thực đơn cho các độ tuổi cũng khác nhau Khi tính nhu cầudinh dưỡng cho trẻ bị suy dinh dưỡng ta phải tính nhu cầu đó theo độ tuổi của trẻ pháttriển bình thường chứ không tính theo nhu cầu cho tình trạng hiện thời của trẻ đang bịsuy dinh dưỡng, vì trẻ đang bị suy dinh dưỡng nên sự phát triển về cân nặng, chiềucao,… là không đúng, mà mục đích của chúng ta là phải kích thích trẻ dần dần lấy lại

sự phát triển bình thường Khi xây dựng khẩu phần ăn và thực đơn cho trẻ ta cần chú

ý một số điều sau đây:

Chú ý đến độ tuổi của trẻ để cung cấp dưỡng chất thiết yếu cho từng giai đoạn pháttriển của trẻ

Chia số bữa ăn của trẻ trong ngày một cách hợp lý về thời gian, tỷ lệ % năng lượng

Khẩu phần ăn cần phải có sự cân đối và hợp lý về dinh dưỡng, năng lượng (cân đối

về protein, lipid, glucid, vitamin và khoáng)

*Cách xây dựng một thực đơn cụ thể

Khi kê thực đơn phải dựa vào các căn cứ sau:

- Nguyên tắc chung của điều trị bằng dinh dưỡng

- Tuổi và cân nặng thực tế của trẻ

- Giai đoạn cụ thể của bệnh: giai đoạn đầu hay giai đoạn đang phục hồi

- Tình trạng chung của trẻ: tốt hay xấu

- Sữa mẹ có hay không

- Tính cân đối của khẩu phần

- Trong khẩu phần phải có đủ các nhóm thực phẩm cung cấp :

Trang 14

 Bú sữa mẹ theo nhu cầu của trẻ Chú ý chăm sóc dinh dưỡng cho Bà mẹ để mẹ

có đủ sữa nuôi con (Bà mẹ cần ăn đủ, ngủ tốt, làm việc nhẹ nhàng) Trường hợp mẹkhông đủ sữa mà phải dùng các sản phẩm thay thế sữa mẹ thì phải có chỉ định của bácsĩ

Nếu mẹ có đủ sữa: Cho trẻ bú nhiều lần trong ngày và cho trẻ ăn bổ sung theo

thực đơn sau:

9 giờ Bột thịt, rau 150- Bột thịt gà 200 ml Bột cá 200ml

180ml - Bột gạo và đậu - Bột gạo và đậu xanh

- Bột gạo và đậu xanh xanh thìa (20g) thìa (20g)

thìa (20g) - Thịt gà 10 – 20g - Cá nghiền 10 – 20g

- Thịt lợn 10 – 20g - Rau xanh 10g - Rau xanh 10g

- Rau xanh 10g - Giá đỗ xanh 20g - Giá đỗ xanh 20g

- Giá đỗ xanh 20g - Dầu (mỡ) 5g - Dầu (mỡ) 5g

- Dầu (mỡ) 5g

giờ

Đối với trường hợp mẹ không có sữa: Thay các bữa bú bằng hỗn hợp sữa

công thức theo đúng tháng tuổi

11

Trang 15

Sữa bột công thức theo tháng tuổi: pha theo công thức ghi trên nhãn của hộp sữa, cứ

200 ml sữa cho thêm 5ml dầu ăn

Khi nấu bột: giá đỗ xanh xay hoặc giã lấy nước khoảng 150ml Khi gần ăn bột mới trộn với sữa

Công thức xay bột:

 Đậu xanh rang chín, bỏ rỏ: 200g

Trường hợp trẻ ăn ít phải tăng số bữa lên nhiều lần, đảo bảo cho trẻ ăn hết sốlượng bột và sữa trong ngày

II.2.2 Trẻ từ 1-3 tuổi

Trẻ ở giai đoạn này cần được chăm sóc tốt cũng như bổ sung đầy đủ dưỡngchất để bé có thể phát triển cả trí tuệ và thể lực tốt hơn Khẩu phần ǎn của bé ở giaiđoạn này mẹ cần chuẩn bị đó là bao gồm tất các loại thực phẩm có thể cung cấp đủnǎng lượng, chất béo, vitamin, chất đạm và muối khoáng

Năng lượng: Năng lượng cần đủ cho hoạt động cơ thể của trẻ và để tích luỹ,

giúp thúc đẩy sự lớn lên của các tổ chức ở lứa tuổi này tiêu hao năng lượng của trẻlớn do trẻ chơi đùa, đi lại chạy nhảy nhiều Nhu cầu nǎng lượng cho bé ở giai đoạnnày là từ 100-110 calo/kg cân nặng Đối với trẻ nặng từ 9 - 13kg thì cần 900 - 1300calo Năng lượng được cung cấp thông qua các bữa ăn có tinh bột như cháo, bột ăndặm,

Chất béo: Dầu mỡ sẽ cung cấp năng lượng cao cũng như giúp bé ăn ngon hơn.

Do đó, khi nấu cháo, làm bột cho bé mẹ có thể cho thêm một thìa cà phê dầu hoặc mỡvào

Chất đạm: Để bổ sung lượng đạm cho bé mẹ có thể cần ưu tiên chọn các loại

đạm động vật giàu acid amin cũng như có giá trị dinh dưỡng cao, giàu các yếu tố vilượng từ thịt, sữa, trứng, cá, tôm… Nhu cầu chất đạm của trẻ từ 1 - 3 tuổi là 28g/ngày

Vitamin: Ở lứa tuổi này mẹ cần chú bổ sung các loại vitamin A, D, C để giúp

cho quá trình phát triển xương, tạo máu, răng, cũng như giúp tăng sức đề kháng củatrẻ được tốt nhất Trong đó nhu cầu về Vitamin A là khoảng 400-450 mcg/ngày,Vitamin D là 400UI/ngày và Vitamin C là 30mg/ngày

Bảng II.1 Nhu cầu Vitamin ở trẻ suy dinh dưỡng 1-3 tuổi Nguồn: Internet

Trang 16

Khác với tháp dinh dưỡng cho bé ăn dặm hay tháp dinh dưỡng cho bé dướituổi, trẻ 1 tuổi cần nhiều năng lượng và dinh dưỡng hơn hẳn Về cơ bản, tháp dinhdưỡng cho trẻ 1 tuổi cũng bao gồm những nhóm chính đó là tinh bột, rau xanh, tráicây, sữa, đạm, chất béo, muối đường.

Xây dựng thực đơn cho trẻ 1 tuổi cần đặc biệt chú ý cân bằng các dưỡng chất

Tuy nhiên, nhu cầu của trẻ 1 tuổi rất khác với người lớn Hơn nữa trẻ 1 tuổichưa thể tự ăn tất cả các loại thực phẩm nên cha mẹ chỉ có thể bổ sung thêm dưỡng chất vào những món ăn hàng ngày của con như cháo, bột, mì, cơm,

II.2.2.1 Trẻ từ 13 – 24 tháng

Giai đoạn bé phát triển từ 1 - 2 tuổi là một giai đoạn nhạy cảm, việc cung cấp dinh dưỡng trong giai đoạn này ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của trẻ

Theo các chuyên gia về dinh dưỡng, trẻ 1 tuổi cần có chế độ dinh dưỡng với ít nhất

3 bữa chính và xen kẽ thêm vào là 3 - 4 cữ bú sữa mẹ

Sữa

· Sữa là thức ăn không thể thiếu đối với trẻ 1 tuổi

· Trong thời gian này, sữa mẹ, sữa tươi gần như vẫn là nguồn cung cấp dinh dưỡng chính cho trẻ Ngoài sữa, mẹ có thể cho trẻ tập ăn những loại thức ăn mềm như bún, phở, mì và tập quen dần với việc ăn cơm

Lương thực

· Bên cạnh sữa, cha mẹ cũng cần tập dần cho bé ăn các loại thức ăn cung cấp tinhbột ngoài cháo và bột Có thể cho bé bắt đầu tập ăn với những thức ăn mềm như bún, phở hay mì, nui, bánh mì,

Rau củ quả

Trang 17

Hình II.1 Rau, củ, quả cần thiết cho trẻ suy dinh dưỡng 1 – 3 tuổi Nguồn:

Internet

· Rau củ quả cũng là một phần dinh dưỡng thiết yếu cho trẻ Vào giai đoạn này, ngoài việc cho trẻ ăn cháo, bột có bổ sung rau củ, cha mẹ có thể cho bé tập ăn rau củ luộc mềm và trái cây cắt nhỏ Hãy chú ý thay đổi nhiều loại rau xanh và trái cây để cung cấp cho trẻ dinh dưỡng đa dạng

· Rau củ quả cũng là thực phẩm rất cần thiết cho sự phát triển của trẻ

Chất béo, muối, đường

· Nhóm chất béo và nhóm muối, đường luôn là những nhóm được nhắc đến cuối cùng trong tháp dinh dưỡng cho trẻ 1 tuổi Ở độ tuổi trên dưới 1 tuổi, trẻ không cần quá nhiều dinh dưỡng ở nhóm muối và đường Cha mẹ có thể gia giảm lượng muối, đường trong bữa ăn của bé sao cho hợp khẩu vị và không vượt quá lượng cần thiết

· Về chất béo, cha mẹ không nên hạn chế nhóm này trong thực đơn của trẻ 1 tuổi Ngay cả cholesterol và các chất béo khác cũng đều quan trọng cho sự

phát triển của trẻ ở độ tuổi này Đến khi trẻ được 2 tuổi, lượng chất béo

giảm dần trong bữa ăn của trẻ

Một số lời khuyên cho cha mẹ về chế độ dinh dưỡng cho bé 1 tuổi

• Việc cho trẻ em ăn không thể lúc nào cũng đáp ứng vừa đủ 1000 calo như đãtính toán, bởi thói quen ăn uống của trẻ rất thất thường và khó đoán Chính vì thế, cầnlưu ý những điểm sau để việc xây dựng chế độ dinh dưỡng và cho trẻ ăn được dễ dànghơn

Trang 18

Hình II.2 Tạo hứng thú cho trẻ em khi ăn Nguồn: Internet

• Hãy tạo hứng thú cho trẻ ở mỗi bữa ăn, tránh ép trẻ ăn quá nhiều

o Tạo hứng thú cho trẻ mỗi khi đến bữa ăn, không nên tạo áp lực, ép trẻ ăn

o Tháp dinh dưỡng cho trẻ 1 tuổi về cơ bản là giống những đối tượng khác, nhưng cha mẹ cần chú ý bổ sung đầy đủ vitamin cho trẻ

o Nên sử dụng đủ chất béo trong chế độ dinh dưỡng, không nên quá hạn chế

o Không để thức ăn của trẻ quá nóng

o Nên hạn chế gia vị như muối, đường, bơ, vì chúng sẽ làm mất đi hương vị tự nhiên của món ăn

o Trẻ 1 tuổi vẫn có nguy cơ bị nghẹn thức ăn nên bạn chỉ nên cho bé ăn những thức ăn nhỏ, dễ nhai hoặc đã được nghiền

o Tránh cho trẻ ăn các loại hạt, cà chua bi, nho nguyên quả, cà rốt, cả chiếc xúc xích, thịt xiên, kẹo cứng hay bơ đậu phộng vì trả có nguy cơ bị nghẹn

o Cần chắc chắn rằng có người giám sát khi trẻ ăn để tránh trẻ bị nghẹn hay bỏ ăn

Thực đơn phục hồi suy dinh dưỡng cho trẻ 13-24 tháng tuổi

Nếu trẻ đang bú mẹ, phải tiếp tục cho bú và thời gian cho bú từ 13 – 24tháng Nếu đã cai sữa cho ăn sữa bột công thức hoặc sữa đậu nành và ăn theo thựcđơn dưới đây

Bảng II.2 Thực đơn buổi sáng cho trẻ 13 – 24 tháng tuổi

Ngày đăng: 08/12/2022, 03:36

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w