Kể từ đó đến nay, dưới dự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã giànhđược những thắng lợi vĩ đại, cách mạng tháng 8-1945 thành công thành lập nhà nước ViệtNam dân chủ cộng hòa nay là Cộng h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN
xã hội chủ nghĩa từ năm 1986 đến nay
Sinh viên thực hiện : Trần Trung Nghĩa
Giáo viên hướng dẫn : TS Lê Thị Hoa
Hà Nội, Năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
I Phương pháp nghiên cứu 5
1.1 Cơ sở phương pháp luận 5
1.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 5
II Nội dung 5
2.1 Bối cảnh lịch sử 5
2.1.1 Trên thế giới 5
2.1.2 Trong nước 7
2.2 Nội dung và các đường lối hoạch định đổi mới của Đảng từ đại hội Đảng VI 8
( tháng 12/1986) đến nay 8
2.2.1 Thời kỳ 1986-2000: Thực hiện đường lối đổi mới nền kinh tế 8
2.2.2 Thời kỳ 2001 đến nay: Thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng 17
III Thành tựu, những hạn chế và bài học lịch sử của công cuộc thời kỳ đổi mới 1986 đến nay 28
3.1 Thành tựu của công cuộc thời kỳ đổi mới 28
3.1.1 Kinh tế 28
3.1.2 Chính trị 29
3.1.3 Văn hóa, giáo dục 29
3.2 Hạn chế của công cuộc thời kỳ đổi mới 30
3.3 Bài học lịch sử 32
4 Nguồn tài liệu tham khảo: 35
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Mùa xuân năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu bước ngoặt của cáchmạng Việt Nam Kể từ đó đến nay, dưới dự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã giànhđược những thắng lợi vĩ đại, cách mạng tháng 8-1945 thành công thành lập nhà nước ViệtNam dân chủ cộng hòa ( nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ), thắng lợi của cuộcchiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước đem lại độc lập tự do và thống nhất đất nước,thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và từng bước đưa đất nước quá độ lên Chủ nghĩa xã hội.Với những thắng lợi giành được trong thế ký XX, nước ta từ một nước thuộc địa nửaphong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường XHCN cóquan hệ rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và thế giới Nhân dân ta từthân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội Đất nước ta từ mộtnền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu bước vào thời kỳ đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Trên một chặng đường dài có bao nhiêu biến cố, sự kiện phức tạp của tình hìnhtrong nước và quốc tế, đất nước phải đương đầu với đủ loại kẻ thù với bao khó khăn thửthách có những lúc ở trong tình thế ‘’ngàn cân treo sợi tóc’’ nhưng dưới dự lãnh đạo củaĐảng, đứng đầu là Hồ Chủ Tịch, con thuyền cách mạng Việt Nam vẫn cập bến vinhquang Thực tế lịch sử đã chứng minh hùng hồn một điều không thể phủ nhận, đó là sựlãnh đạo của Đảng – nhân tốt quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam
77 năm qua Đảng ta không ngừng tôi luyện lãnh đạo nhân dân đi theo con đườngBác chọn: “ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” Con đường mà Nguyễn ÁiQuốc – Hồ Chí Minh đã trải qua bao nhiêu khó khăn, vất vả mới tìm được
Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác – Leenin tìm ra con đường giải phóngdân tộc Việt Nam Người đã xác định con đường phát triển tất yếu của cách mạng ViệtNam là con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa tiến lên chủ nghĩa cộngsản
Chính vì vậy, bên cạnh việc chỉ đạo chiến lược để xây dựng lực lượng cách mạng,chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc tay sai, giành độc lập, chính quyền cho nhân dânĐảng còn quan tân đến việc thực hiện cách mạng XHCN với mục tiêu nâng cao đời sốngvật chất và tính thần của nhân dân, Đảng cũng có những chuyển hướng trong chủ trươngđường lối đã có sự đổi mới tư duy và biện pháp phát triển kinh tế văn hóa
Trang 4Vì vậy, tìm hiểu quá trình nhận thức của Đảng về con đường tiến lên CNXH là mộtnội dung quan trọng nghiên cứu lịch sử của Đảng nói chung và thời kỳ đổi mới đất nướcnói riêng.
Nghiên cứu vấn đề xây dựng CNXH ở nước ta là một vấn đề rất quan trọng đối vớisinh viên nghành lịch sử Bởi “ đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của nước ta,
là sự chọn lựa sáng suốt của Bác Hồ của Đảng ta Nghiên cứu về vấn đề này sẽ giúpchúng ta nhận thức một cách có hệ thống , cơ bản ban đầu về đường lối cách mạngCXNH của quá trình nhận thức cảu Đảng về con đường tiến lên CNXH, nhất là các bướcngoặt có tính sáng tạo và đột phá quan trọng nhất là việc đổi mới tư duy về CNXH và conđường đi lên CNXH của Đảng
Trang 5I Phương pháp nghiên cứu
1.1 Cơ sở phương pháp luận
Lấy Chủ Nghĩa Mác – Lenin và các quan điểm có tính phương pháp luận của HồChí Minh và của Đảng Cộng Sản Việt Nam làm cơ sở phương pháp luận cho việc nghiêncứu quá trình hình thành đường lối đổi mới của Đảng Cộng Sản Việt Nam
1.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic,ngoài ra có sự kết hợp các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, quy nạp
và diễn dịch, cụ thể hóa và trừu tượng hóa…thích hợp với từng nội dung phân tích
II Nội dung
2.1 Bối cảnh lịch sử
2.1.1 Trên thế giới
2.1.1.1 Cuộc cách mạng khoa học công nghệ
Đầu thập niên 70 - 80 của thế kỷ XX, một trong những đặc điểm lớn nhất của thờiđại lúc đó là sự phát triển "kiểu dòng thác" chưa từng có trong lịch sử loài người đó chính
là thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ Cuộc cách mạng khoa học côngnghệ được tiến hành từ giữa thế kỉ XX đã tạo ra những lực lượng sản xuất to lớn và mới
về chất, góp phần thúc đẩy nhiều quá trình hiện đại của xã hội loài người như: cấu trúc lạicác nền kinh tế, thay đổi, chuyển hướng các kết cấu hạ tầng của sản xuất, tăng cường xuthế toàn cầu hóa trên nhiều lĩnh vực quan trọng của các quốc gia, ảnh hưởng to lớn đếncác thiết chế xã hội, đến văn hóa, lối sống các dân tộc
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã đẩy nhanh quá trình quốc tế hóanền kinh tế và đời sống kinh tế thế giới Các quốc gia lần lượt bị cuốn hút vào quá trìnhphân công lao động, hợp tác hóa quốc tế và thị trường thế giới
Tình hình trên vừa tạo ra những thời cơ hiếm có đồng thời cũng đặt ra những tháchthức gay go cho mọi quốc gia, đặc biệt là các nước chậm phát triển Trước những sự kiện,những nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội diễn ra với nhịp độ dồn dập, tính chất phức tạp vàvới một quy mô to lớn chưa từng thấy, tất cả đang đặt ra yêu cầu bức thiết là cần phải có
sự phát triển, bổ sung lý luận cho phù hợp mà trước tiên phải có cách nhìn mới, nhận thứcmới về chủ nghĩa xã hội Đây chính là cơ sở khách quan của đường lối đổi mới, cải cách
mà nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã và đang tiến hành, trong đó có Việt Nam
2.1.1.2 Các vấn đề toàn cầu
Bên cạnh đó, đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, thế giới đang đứng trước những vấn
đề toàn cầu và việc giải quyết những vấn đề đó đòi hỏi phải có sự nỗ lực chung của toàn
Trang 6nhân loại, ở các quốc gia với những chế độ chính trị khác nhau Đó là vấn đề bảo vệ hòabình, chống chiến tranh hạt nhân hủy diệt, đó là vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên môitrường, phòng chống bệnh hiểm nghèo, vấn đề bùng nổ dân số, sự nghèo đói… Trước tìnhhình đó, mỗi quốc gia, dân tộc trong việc lựa chọn con đường phát triển của mình khôngthể không quan tâm đến những vấn đề chung, vì "giải quyết những vấn đề đó chính làđiểm hội tụ, nơi gặp gỡ của các dân tộc vì số phận và tương lai của chính mình cũng nhưcủa toàn nhân loại" Về cương lĩnh đổi mới và phát triển, NxbThông tin lí luận, Hà Nội.
1991, tr 166]
Chính vì vậy, những vấn đề chung của nhân loại trở thành yêu cầu khách quan tácđộng đến sự phát triển và đổi mới của chủ nghĩa xã hội trong đó có Việt Nam Và chỉ cónhư vậy, chủ nghĩa xã hội hiện thực mới chứng minh bản chất ưu việt của mình, chứngminh chủ nghĩa xã hội tất yếu là con đường đi tới của các dân tộc
2.1.1.3 Sự khủng hoảng của hệ thống xã hội chủ nghĩa
Sau hơn 70 năm tồn tại, đến cuối thập niên 80 của thế kỉ XX, toàn bộ hệ thống xãhội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng toàn diện và sâu sắc Vào đầu những năm 1980, cơchế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp của các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới bắtđầu bộc lộ sự lạc hậu Trong xây dựng kinh tế, các quốc gia này chỉ duy trì quan hệ khépkín trong Hội đồng Tương trợ kinh tế (Khối SEV) Điều này đi ngược xu thế quốc tế hóa,toàn cầu hóa về kinh tế đang phát triển mạnh mẽ Quan hệ giữa các Đảng Cộng sản và cácnhà nước xã hội chủ nghĩa cũng mắc nhiều sai lầm Một khuôn mẫu Xô Viết đã áp đặtcho hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa mà bỏ qua sự khác nhau về lịch sử, xã hội, địa lý,văn hóa cũng như điểm xuất phát và những điều kiện riêng của từng nước
Đứng trước sự thủ thách, nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã tìm cách thoát ra khỏi cuộckhủng hoảng bằng nhiều cách khác nhau Trước hết, phải kể đến công cuộc “cải cách, mởcửa” với những thành tựu rõ rệt của Trung Quốc - một nước xã hội chủ nghĩa láng giềng
và cuộc “cải tổ” ở Liên Xô - một cường quốc xã hội chủ nghĩa đứng đầu hệ thống xã hộichủ nghĩa thế giới với những diễn biến phức tạp, đầy sóng gió Trung Quốc tiến hành cảicách kinh tế theo hướng thị trường mở cửa từ năm 1978 Những thành tựu của TrungQuốc đã thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nước trong đó có Việt Nam
Tiếp đó, những nhận thức chưa đầy đủ về chủ nghĩa xã hội, những sai lầm trongthực tiễn chậm được phát hiện, những hậu quả chưa khắc phục kịp thời, cùng với sự pháhoại của chủ nghĩa đế quốc bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” đã đẩy các nước xã hộichủ nghĩa trên thế giới, đặc biệt là Liên Xô và các nước Đông Âu rơi vào sự khủng hoảngtoàn diện Lòng tin của người dân vào Đảng Cộng sản ở các nước, vào sự nghiệp xâydựng chủ nghĩa xã hội giảm sút nghiêm trọng Công cuộc cải tổ không thành công dẫn tới
sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu là bài học phản diện cho ViệtNam những kinh nghiệm không thể cải tổ theo kiểu “phủ định sạch trơn”, giải quyếtkhông biện chứng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị
Trang 7Cũng trong thời gian này, thành công của các nước công nghiệp mới (NIC) nhưSingapo ở Đông Nam Á đã đưa ra những gợi ý hết sức quan trọng về cách thức và giảipháp phát triển đối với những nước xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp và có kiểu quan
hệ xã hội, văn hóa Phương Đông Động lực để phát triển của các nước này là phát huy nộilực, huy động mọi tiềm năng của đất nước, thực hiện cơ chế thị trường, mở cửa, hướngvào xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài
Sự tác động của những biến đổi của tình hình thế giới đòi hỏi chúng ta phải suynghĩ, phải có cách nhìn nhận đúng đắn, khách quan khoa học trên cả phương diện lý luận
và thực tiễn
2.1.2 Trong nước
Trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội tuy chúng ta đã đạt được những thành tưunhất định nhưng chúng ta đã mắc phải những sai lầm hạn chế Một trong những sai lầmdẫn đến những sai lầm tiếp theo là không nắm vững những nguyên lý của chủ nghĩa Mác– Leenin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Leenin đã từng chỉ rõ rằng quá độ lênchủ nghĩa xã hội là một thời kỳ dài quanh co đầy phức tạp và trải qua nhiều chặng đường.Trong quá trình chỉ đạo Đảng ta không thấu suốt nắm vững điều đó nên đã “chủ quan,nóng vội bỏ qua những bước không cần thiết”
Một sai lầm khác cũng không kém phần quan trọng đó là đường lối xây dựng chủnghĩa xã hội ở nước ta không xuất phát từ đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam
Từ những sai lầm trên đã dẫn đến khi xác định những mâu thuẫn cơ bản của nước tagiống như mâu thuẫn của các nước đã qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa do ýmuốn có ngay xã hội chủ nghĩa thuần khiết trong thời kỳ quá độ Cả một thời gian dàichúng ta đã bỏ qua giai đoạn phát triển nền kinh tế hàng hóa, xóa bỏ mọi thành phần kinh
tế phi xã hội chủ nghĩa, chỉ thừa nhận hai hình thức sở hữu: toàn dân và tập thể do đókhông khai thác được tiềm năng để phát triển sản xuất Vì vậy đã áp dụng cải tạo xã hộichủ nghĩa và các thành phần kinh tế cũng như giai cấp đến mức quyết liệt, triệt để trongmột thời gian ngắn dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng
Trong thời kỳ 1981 – 1985 chúng ta đã gặp không ít khó khăn: “ 5 năm qua là mộtđoạn đường đầy thử thách Bên cạnh những thắng lợi mà chúng ta đã đạt được, chúng ta
đã mắc một số những khuyết điểm sai lầm Cách mạng nước ta có những thuận lợi mớinhưng cũng gặp không ít những thử thách khó khăn và quyết liệt
Đó là :
- Sản xuất tuy có tăng nhưng tăng chậm so với khả năng sản có của công sức bỏ ra
- Hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp Các xí nghiệp nói chung chỉ sử dụng được khoảng một nửa công suất thiết kế, năng suất lao động giảm, chất lượng lao động kém
Trang 8- Tài nguyên của đất nước chưa được khai thác tốt thậm chí còn bị sử dụng lãng phí,kém hiệu quả.
- Lưu thông không thông suốt, phân phối rối ren, vật giá tăng nhanh, đã tác động tiêu cực tới sản xuất, đời sống và xã hội
- Mất cân đối trong nền kinh tế giữa cung và cầu về lương thực và thực phẩm
- Quan hệ sản xuất, xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố
- Đời sống của nhân dân, công nhân viên chức còn nhiều khó khăn
- Hiện tượng tiêu cực trong xã hội phát triển
Tình hình đất nước với những khó khăn, thuận lợi như trên đang đặt chúng ta trướcngưỡng cửa của một thời điểm lịch sử mới đầy những yêu cầu và thử thách Nếu khôngvượt qua thì phải chịu những hậu quả nặng nề Vượt qua được tình hình đất nước sẽ đượccải thiện, giải quyết những vấn đề khó khăn trên, giành thêm nhiều thắng lợi đưa cáchmạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta tiến lên thực hiện thắng lợi mục tiêu lý tưởng của xã hộichủ nghĩa mà Đảng ta đã đề ra từ chánh cương sách lược vắn tắt và cương lĩnh năm 1930
Đó chính là yêu cầu đổi mới Đổi mới đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa lúc nàythật sự là một yêu cầu tất yếu khách quan đặt ra trong toàn Đảng toàn dân thực hiện chứkhông phải là ý muốn tùy tiện của những cá nhân riêng biệt hay của nhóm nhà hoạt độngnào đó Với tinh thần tiến công cách mạng, ý chí độc lập tự do của chủ nghĩa xã hội, được
vũ trang bằng lý luận khoa học chủ nghĩa Mac-Lenin, tại đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VI, Đảng ta đã đề ra chủ trương đổi mới đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩađáp ứng lòng mong mỏi của đồng bào tất cả các đồng chí, tiếp tục đưa cách mạng tiến lêndưới là cờ vẻ vang của Đảng
2.2 Nội dung và các đường lối hoạch định đổi mới của Đảng từ đại hội Đảng VI ( tháng 12/1986) đến nay
2.2.1 Thời kỳ 1986-2000: Thực hiện đường lối đổi mới nền kinh tế
2.2.1.1 Kinh tế
Việt Nam chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới nền kinh tế từ năm 1986 Kể từ
đó, Việt Nam đã có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự đổi mới về tư duy nền kinh tế,chuyển từ cơ chế nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, sang kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa , thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đa dạng hóa
và đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện mở cửa, hội nhập quốc tế Conđường đổi mới đó đã giúp Việt Nam giảm nhanh được tình trạng nghèo đói, bước đầu xâydựng nền kinh tế công nghiệp hóa, đạt được tốc độ tăng trường kinh tế cao đi đôi với sựcông bằng tương đối trong xã hội
Trang 9Đường lối đổi mới của Đảng nhanh chóng được sự hưởng ứng rộng rãi của quầnchúng nhân dân, khơi dậy tiềm năng và sức sáng tạo của các loại hình kinh tế để pháttriển sản xuất, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, tăng sản phẩm cho xã hội.
1986 – 1990: GDP tăng 4,4%/năm Đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế quản
lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống KTXH vàgiải phóng sức sản xuất.Một trong những thành tựu kinh tế to lớn của thời kỳ đổi mới làphát triển sản xuất nông nghiệp, mà nội dung cơ bản là khoán gọn đến hộ nông dân, thừanhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn, đánh dấu sự mở đầu của thời kỳđổi mới trong nông nghiệp và nông thôn nước ta Ngành nông nghiệp đã giải quyết vữngchắc vấn đề lương thực, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đưa Việt Nam từ nướcthiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới
1991 – 1995: Nền kinh tế khắc phục được tình trạng trình trệ, suy thoái, đạt đượctốc độ tăng trưởng tương đối cao liên tục và toàn diện GDP bình quân năm tăng 8,2%.Đất nước ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế, bắt đầu đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước
Từ năm 1996 - 2000, là bước phát triển quan trọng của thời kỳ mới, đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước Chịu tác động của khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực cùng thiên tainghiêm trọng xảy ra liên tiếp đặt nền kinh tế nước ta trước những thử thách Tuy nhiên,giai đoạn này, Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước7%/năm
Những sản phẩm công nghiệp quan trọng phục vụ sản xuất và tiêu dùng của dân cưđều tăng cả về số lượng và chất lượng
+ Sản lượng điện năm 2000 gấp 4,7 lần so với năm 1986;
+ Sản lượng xi măng gấp 8,7 lần; thép cán gấp 25,6 lần; thiếc gấp 3,6 lần
+ Sản lượng dầu thô đã tăng từ 41 nghìn tấn năm 1986 lên gần 7,1 triệu tấn năm
1994 và 16,3 triệu tấn năm 2000
Các cơ sở sản xuất công nghiệp đã quan tâm hơn đến chất lượng sản phẩm, khôngngừng cải tiến mẫu mã, áp dụng công nghệ tiên tiến và thay đổi phương án sản xuất theoyêu cầu của thị trường
Sau 15 năm đổi mới, sự thay đổi vượt bậc khi nhà nước chuyển từ cơ chế nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Là tiền đề quan trọng cho việc bắt kịp nền kinh tế của các nước phát triển trên thếgiới
Trang 102.2.1.2 Chính trị
2.2.1.2.1 Bối cảnh nước ta
Những biến động phức tạp diễn ra tại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông
Âu gây ra nhiều bất lợi cho cách mạng Việt Nam
Diễn biến phức tạp:
Liên Xô:
Tháng 3/1985, M Gooc -ba - chop (M.Gorbachev) tiến hành cải tổ đất nước theođường lối “cải cách kinh tế triệt để”, tiếp theo là cải cách hệ thống chính trị và đổi mới tưtưởng
- Sau 6 năm, do sai lầm trong quá trình cải tổ, đất nước Xô Viết khủng hoảng toàndiện:
+ Kinh tế chuyển sang kinh tế thị trường vội vã, thiếu sự điều tiết của nhà nước nên gây ra hỗn loạn, thu nhập giảm sút nghiêm trọng
+ Chính trị và xã hội: mất ổn định (xung đột sắc tộc, ly khai liên bang ), thực hiện
đa nguyên chính trị làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng và nhà nước
- Tháng 08/1991, sau cuộc đảo chính lật đổ Gorbachev thất bại, Đảng Cộng sản Liên
Xô bị đình chỉ hoạt động.Chính phủ Liên bang bị tê liệt
- Ngày 21/12/1991, 11 nước cộng hòa tách ra khỏi liên bang lập Cộng đồng cácquốc gia độc lập (SNG) Gooc ba chop từ chức Tổng thống, Liên Xô tan rã sau 74 năm tồntại
Các nước Đông Âu:
Sự sụp đổ của Liên Xô và các hoạt động phá hoại của các thế lực phản động làmcho cuộc khủng hoảng thêm gay gắt
Các nước Đông Âu lần lượt từ bỏ quyền lãnh đạo của Đảng, chấp nhận đa nguyên,
đa đảng và tiến hành tổng tuyển cử, chấm dứt chế độ xã hội chủ nghĩa, lập các nước cộnghòa
Những nhận thức chưa đầy đủ về chủ nghĩa xã hội, những sai lầm trong thực tiễnchậm được phát hiện, những hậu quả chưa khắc phục kịp thời, cùng với sự phá hoại củachủ nghĩa đế quốc bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” đã đẩy các nước xã hội chủ nghĩatrên thế giới, đặc biệt là Liên Xô và các nước Đông Âu rơi vào sự khủng hoảng toàn diện
Từ đó công cuộc cải tổ ở Liên Xô không sửa chữa được những sai lầm trong quá trình xâydựng chủ nghĩa xã hội trước đây, trái lại, đất nước càng lún sâu vào khủng hoảng kinh tế,chính trị
Cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp của các nước xã hội chủ nghĩa trên thếgiới bắt đầu bộc lộ sự lạc hậu
Trang 11Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đang lung lay.
Các thế lực thù địch lấy cớ quân tình nguyện Việt Nam chưa rút hết khỏi Campuchia
để tiếp tục cô lập Việt Nam Mỹ vẫn cấm vận về kinh tế đối với nước ta.Quan hệ kinh tếgiữa Liên Xô và các nước Đông âu với nước ta bị thu hẹp.Các năm 1987 - 1988, lươngthực thiếu, nạn đói xảy ra ở nhiều tỉnh, lạm phát cao, đời sống nhân dân rất khó khăn Cáchiện tượng tiêu cực và tệ nạn xã hội tăng
Do ảnh hưởng từ các cuộc khủng hoảng, lòng tin của người dân vào Đảng Cộng sản
đã xuất hiện những dao động nhất định
Việt Nam và vẫn ở tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội trầm trọng
2.2.1.2.2 Thay đổi về chính trị của nước ta 1986-2000
Chính trị xưa nay vốn là lĩnh vực nhạy cảm và cực kỳ phức tạp, đụng chạm đến mọimối quan hệ trong xã hội Nói như V.I.Lê-nin, chính trị liên quan tới số phận của hàngtriệu quần chúng Vì vậy, đổi mới chính trị nhất thiết phải tiến hành từng bước, phải trên
cơ sở nghiên cứu và chuẩn bị rất nghiêm túc, không xới tung mọi vấn đề cùng một lúc khichưa đủ điều kiện chín muồi, không cho phép xảy ra mất ổn định về chính trị dẫn tới sựrối loạn xã hội Với những nhận thức và quan điểm chỉ đạo đúng đắn ấy, Đảng và nhànước đã đi những bước thận trọng và chắc chắn Bắt đầu từ việc đổi mới tư duy chính trịtrong việc hoạch định đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại
Ngày 12-9-1987, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết về cuộc vận động làm trong sạch vànâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng và bộ máy nhà nước, làm lành mạnh các quan
hệ xã hội
Tháng 6-1988, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghịquyết Về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng Công tác xây dựng Đảng theophương hướng do Đại hội VI nêu ra là phải đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức, đổi mới độingũ cán bộ, đổi mới phong cách lãnh đạo, nâng cao giác ngộ, bồi dưỡng lý tưởng, kiếnthức và năng lực lãnh đạo, mở rộng dân chủ, đi đôi với tăng cường kỷ luật trong Đảng.Qua hai năm thực hiện công cuộc đổi mới đã đem lại những kết quả bước đầu, songchưa đồng bộ và cơ bản Đất nước vẫn nằm trong tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội.Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ sáu chủ trương cụ thể để chỉ đạocông cuộc đổi mới vào chiều sâu và nêu ra các nguyên tắc cơ bản phải được toàn Đảng,toàn dân trong quá trình tiếp tục công cuộc đổi mới.Hội nghị đã quyết định 12 chủ trương,chính sách lớn đẩy mạnh công cuộc đổi mới và đề ra những nguyên tắc cơ bản chỉ đạocông cuộc đổi mới như sau:
Một là, đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà làm cho mụctiêu đó được thực hiện tốt hơn bằng quan niệm đúng đắn, hình thức, biện pháp và bước đithích hợp
Trang 12Hai là, đổi mới không phải xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin, mà là vận dụng sáng tạohọc thuyết Mác - Lênin và khắc phục những quan niệm không đúng về học thuyết đó.
Ba là, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị phải nhằmtăng cường, chứ không phải là làm yếu sức mạnh và hiệu lực của chuyên chính vô sản.Bốn là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa Song dân chủ phải có lãnh đạo, lãnh đạo phải trên
cơ sở dân chủ; dân chủ với nhân dân, nhưng phải chuyên chính với kẻ địch
Năm là, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa, kết hợpsức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Năm 1989 nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã diễn ra những biến động chính trị lớn,điều này đã tác động trực tiếp đến tư tưởng của đảng viên và quần chúng nhân dân, ảnhhưởng xấu tới công cuộc đổi mới của Đảng ta Để giữ vững ổn định chính trị, tháng 8-
1989 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương ra Nghị quyết về Một số vấn đềcấp bách về công tác tư tưởng trước tình hình trong nước và quốc tế hiện nay.Nghị quyếtHội nghị nêu rõ: Công tác tư tưởng phải được tiến hành toàn diện, tập trung vào cácnhiệm vụ và nội dung quan trọng :
Một là, khẳng định tính tất yếu lịch sử của chủ nghĩa xã hội và những thành tựu vĩ đại của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới
Hai là, khẳng định tính khách quan và phương hướng xã hội chủ nghĩa của quá trình cải tổ, cải cách, đổi mới
Ba là, nhận rõ bản chất và con đường diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản, nângcao cảnh giác cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản độngquốc tế
Bốn là, giáo dục trong Đảng và trong nhân dân kiên trì mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở quán triệt năm nguyên tắc và những chính sách đổi mới của Đảng
Năm là, nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng xã hội chủ nghĩa, tăng cường sựđoàn kết thống nhất trong Đảng, sự thống nhất ý chí và hành động trong xã hội, đấu tranhchống những biểu hiện tiêu cực
Trên cơ sở bám sát tình hình quốc tế và trong nước, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấphành Trung ương Đảng (tháng 3- 1990) thông qua Nghị quyết về tình hình các nước xãhội chủ nghĩa, sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc và nhiệm vụ cấp bách của Đảng ta Hộinghị cũng đã thảo luận và thông qua Nghị quyết Về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng
và dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đẩy mạnh công cuộc đổi mới
Cuối năm 1991 , chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sụp đổ Chủ nghĩa đế quốc vàcác thế lực thù địch âm mưu xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại Sự nghiệp cáchmạng của nhân dân ta đứng trước thử thách hết sức nghiêm trọng Đại hội đại biếu toànquốc lần thứ VII thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
Trang 13nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991)Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội được Đại hội thông qua đã trình bày: Đánh giá tổng quát quá trìnhcách mạng Việt Nam và nêu lên năm bài học kinh nghiệm lớn; quá độ đi lên chủ nghĩa xãhội ở nước ta; những định hướng lớn về chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh,đối ngoại; hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng Cương lĩnh đã trình bày quanniệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng và conđường đi lên chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ; những đặc trưng cơ bản của xã hội xãhội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội:
Do nhân dân lao động làm chủ
Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu
Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực,hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàndiện cá nhân
Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ
Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới
Đến tháng 6-1997, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thôngqua Nghị quyết quan trọng Nghị quyết về Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tụcxây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh nhấnmạnh một số chủ trương nhiệm vụ phát huy quyền làm chủ của nhân dân Nghị quyết đãvạch ra chủ trương mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhândân trong xây dựng và quản lý nhà nước; nâng cao chất lượng hoạt động và kiện toàn tổchức Quốc hội; tiếp tục cải cách nền hành chính nhà nước; cải cách tư pháp; tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và các biện pháp tổ chức thực hiện
Thực hiện nhiệm vụ cải cách nhà nước, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trungương Đảng khoá VIII (tháng 8-1999) ra Nghị quyết Một số vấn đề về tổ chức, bộ máy của
hệ thống chính trị nhằm tập trung củng cố, chỉnh đốn nội bộ từng tổ chức và các mối quan
hệ trong toàn bộ hệ thống chính trị Bảo đảm bộ máy của hệ thống chính trị vận hànhthông suốt và năng động; khắc phục tình trạng trì trệ, gây phiền hà, tiêu cực, yếu kémtrong tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước
Như vậy sau hơn 10 năm tích cực học hỏi và đổi mới không ngừng chúng ta cũnggặt hái được những thành quả nhất định góp phần cho sự ổn định chính trị:
Thực hiện có kết quả một số đổi mới quan trọng về hệ thống chính trị: Hiến phápmới năm 1992 tiến hành cải cách một bước nền hành chính Nhà nước, tiếp tục xây dựng
và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực kinh
tế, xã hội, chính trị, tư tưởng, văn hóa được phát huy Các tầng lớp nhân dân, đồng bào
Trang 14các dân tộc đoàn kết, gắn bó trong sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, vănminh.
Phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, phá thế bị bao vây cấm vận, tham gia tíchcực vào đời sống cộng đồng quốc tế
Tuy nhiên vào thời này đất nước vẫn còn nhiều vấn đề tồn đọng chưa được giảiquyết:
Năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của Nhà nước,hiệu quả hoạt động của các đoàn thể chính trị, xã hội chưa nâng lên kịp với đòi hỏi củatình hình Bộ máy đảng, nhà nước, đoàn thể chậm được sắp xếp lại, tinh giản và nâng caochất lượng; còn nhiều biểu hiện quan liêu, vi phạm nghiêm trọng quyền dân chủ của nhândân Công tác tuyển chọn, bồi dưỡng, thay đổi, trẻ hóa cán bộ, chuẩn bị cán bộ kế cận cònlúng túng, chậm trễ Năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ chưa tương xứng với yêucầu của nhiệm vụ Điều đáng lo ngại là không ít cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cáchmạng, tha hóa về phẩm chất, đạo đức; sức chiến đấu của một bộ phận tổ chức cơ sở đảngsuy yếu
2.2.1.3 Văn hóa, giáo dục
Nội dung tư tưởng HCM về văn hóa giáo dục:
Thứ nhất, mục tiêu của văn hóa giáo dục là nhằm phát triển toàn diện con người, xâydựng đất nước: Trong thư gửi các học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước ViệtNam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nền giáo dục mới sẽ “đào tạocác em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làmphát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em” Nền giáo dục mới phải thực hiệndạy và học theo hướng phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân
Thứ hai, giáo dục phải có tính toàn diện:
Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, sự tài giỏi và kiến thức vô cùng quan trọng nhưng đạođức cũng quan trọng không kém Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: “Có tài mà không
có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”
Thứ ba: Phương pháp giáo dục
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra phương pháp học đi đôi với hành, kết hợp lý luậnvới thực tế Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu cao cần chú trọng việc tự học, học suốt đời, họcthực tiễn, học nhân dân, học lẫn nhau, học ở sách vở, học ở trường Dạy và học khôngphải chạy theo kiến thức đơn thuần, mà chú trọng tư duy sáng tạo, tự do tư tưởng Ngườihọc nên “Học ở mọi nơi, mọi lúc, học mọi người, học suốt đời, coi trọng việc tự học, tựđào tạo và đào tạo lại”
Thứ tư: Giải pháp phát triển giáo dục
Trong những giải pháp phát triển giáo dục được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập, vấn
đề kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội có vị trí khá nổi bật Người nói: “ Giáo dục
Trang 15trong nhà trường, chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình
để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dùtốt mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàntoàn”; “ Nếu nhà trường dạy tốt mà gia đình dạy ngược lại, sẽ có những ảnh hưởng khôngtốt tới trẻ em và kết quả cũng không tốt” Người yêu cầu trong việc giáo dục nhà trườngphải liên hệ chặt chẽ với gia đình và xã hôi
Nội dung đổi mới văn hóa giáo dục thời kỳ 1986-2000
Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 12/1986 đã mở đầu cho công cuộcđổi mới toàn diện ở Việt Nam
Đổi mới về văn hóa ở Việt Nam được biết đến dưới tên Cởi mở Cởi mở là quátrình đổi mới về mặt văn hóa, nhất là trong lĩnh vực văn học tại Việt Nam bắt đầu từ năm
1986 và vẫn có ảnh hưởng tới tận ngày nay Năm 1986 là dấu mốc quan trọng trong đờisống xã hội nói chung và đời sống văn học nghệ thuật nói riêng Tháng 12 năm 1986, bộchính trị theo đó thông qua Nghị quyết số 5 do tướng Trần Độ thuộc Ban Văn hóa soạn
ra Nghị quyết cho phép tự do sáng tạo, sách báo được lưu hành dễ dàng hơn nếu không
có nội dung phản động
Quan điểm chỉ đạo là tư tưởng cốt lõi dẫn dắt tư duy và hành động của con ngườitrong xây dựng và phát triển văn hóa Để cụ thể hóa chủ trương đổi mới của Đảng nêutrong Đại hội VI với tinh thần giải phóng mọi tiềm năng sáng tạo, năm 1987, Bộ Chính trịkhóa VI ban hành Nghị quyết 05-NQ/TW về đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản
lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật vàvăn hóa phát triển lên một bước mới, thể hiện rõ quan điểm “Tự do sáng tác là điều kiệnsống còn để tạo nên giá trị đích thực trong văn hóa, văn nghệ, để phát triển tài năng”Đại hội VII (1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độlên CNXH, khẳng định mô hình xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội với
6 đặc trưng, trong đó nổi bật đặc trưng: “Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc” Đây cũng là mục tiêu phấn đấu xây dựng nền văn hóa ở nước ta trong suốt thời kỳquá độ
Năm 1993, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII ra Nghị quyết Trung ương 4,
về một số nhiệm vụ văn hóa, văn nghệ những năm trước mắt, tư duy về văn hóa của Đảng
đã có bước phát triển mới, văn hóa, văn nghệ được nhận thức ở tầm cao hơn: “Văn hóa lànền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Vănhọc, nghệ thuật là một bộ phận trọng yếu của nền văn hóa dân tộc, thể hiện khát vọng củanhân dân về Chân - Thiện - Mỹ” Nếu kinh tế là nền tảng vật chất của xã hội thì văn hóa
là nền tảng tinh thần của xã hội Văn hóa không chỉ bó hẹp là bộ phận của xã hội, công cụ
tư tưởng của Đảng mà văn hóa là nền tảng kiến tạo nên đời sống tinh thần lành mạnh của
xã hội, văn hóa còn gắn kết với sự phát triển kinh tế - xã hội
Trang 16Để huy động mọi nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa, Văn kiện Đại hội VIII(1996) đã đưa ra chủ trương mới: “Đổi mới cơ chế quản lý theo hướng xã hội hóa cáchoạt động văn hóa - thông tin”
Năm 1998, Đảng ban hành Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và pháttriển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nghị quyết ra đời trong bốicảnh Đảng ta chủ động đổi mới tư duy, thoát dần tư duy giáo điều, bao cấp, lãnh đạo toàndân thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có văn hóa Với tư tưởngchỉ đạo làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi hoạt động xã hội, Nghị quyết đưa ra 5 quanđiểm chỉ đạo: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lựcthúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội; Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóatiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đadạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệpcủa toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng; Văn hóa
là một mặt trận, xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòihỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng
Các quan điểm nêu trong Nghị quyết thực sự đổi mới tư duy về văn hóa, có giá trịchỉ đạo cao trong thực tiễn, được nhân dân đón đợi và đồng tình thực hiện
Đại hội IX (2001), Đảng ta nhìn nhận văn hóa không những là mục tiêu, là động lựcthúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội mà còn có nhiệm vụ cao cả xây dựng con người
“Mọi hoạt động văn hóa nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện vềchính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòngnhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong giađình, cộng đồng và xã hội” (9); đồng thời văn kiện Đại hội đặt vấn đề: “Hoàn thiện hệ giátrị mới của con người Việt Nam, kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc vàtiếp thu tinh hoa văn hóa của loài người, tăng sức đề kháng chống văn hóa đồi trụy, độchại” Tiếp cận văn hóa qua góc nhìn của giá trị học cũng là một nét mới trong tư duy lãnhđạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa
Đổi mới về giáo dục đào tạo: Trong lĩnh vực giáo dục, Việt Nam đang thực hiệnĐổi mới giáo dục: chuyển từ lối giáo dục từ chương (vốn là truyền thống trong cách giáodục Á Đông) sang phương pháp giáo dục lấy người học làm trung tâm, tăng tính chủ độngcho học sinh và tấn công vào căn bệnh thành tích; tăng tính tự chủ và tự do của nền giáodục
Chủ trương của đổi mới giáo dục thời kỳ này là đa dạng hóa các loại hình trườnglớp, các hình thức đào tạo, quy chế các trường lớp dân lập, tư thục đã được ban hành.Năm 1986, mục tiêu đổi mới giáo dục là hoàn thành cơ bản phổ cập tiểu học cho trẻ
em, phổ cập trung học cơ sở ở những nơi có điều kiện và từng bước mở rộng giáo dục phổthông trung học bằng nhiều hình thức
Năm 1987, theo quyết định của Nhà nước, Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ emTrung ương được sáp nhập vào Bộ Giáo dục; nhà trẻ, mẫu giáo hợp nhất lại thành ngành
Trang 17học Mầm non, nay còn gọi là bậc học Mầm non Bộ trưởng Bộ Giáo dục thời kỳ này là
và sau đại học
Năm 1991, trong Báo cáo chính trị, giáo dục và đào tạo vẫn được xác định là mộttrong năm vấn đề cơ bản của chính sách xã hội, nhưng không còn nói đến phổ cập giáodục, không nói đến mở rộng cơ hội đến trường, mà chuyển sang tập trung vào đổi mớimục tiêu, nội dung, phương pháp và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo
Tại thời điểm 01/4/1999, cả nước có 90% số trẻ em 14 tuổi tốt nghiệp tiểu học; 94%dân số trong độ tuổi 15-35 biết chữ Sau 10 năm nỗ lực phấn đấu, đến giữa năm 2000, cảnước hoàn thành chương trình mục tiêu chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học
2.2.2 Thời kỳ 2001 đến nay: Thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng
2.2.2.1 Kinh tế
Chủ trương kinh tế chung
Từ một đất nước chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh tàn khốc, Việt Nam dầnkhẳng định được vị thế của mình và có một nền tảng vững chắc, nền kinh tế Việt Nam đãthể hiện sức chống chịu đáng kể trong những giai đoạn khủng hoảng, mới đây là đại dịchCovid-19
Những quan điểm từ các Đại hội giai đoạn trước tiếp tục được khẳng định tại Đạihội IX, X của Đảng với mục tiêu: “đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi,hình thức và cách làm phù hợp” Nội dung cơ bản là: “đổi mới tất cả các mặt của đời sống
xã hội nhưng phải có trọng tâm, trọng điểm, có những bước đi thích hợp; bảo đảm sự gắnkết chặt chẽ và đồng bộ giữa ba nhiệm vụ: phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng
là then chốt và phát triển văn hoá - nền tảng tinh thần của xã hội” Nội dung này bao hàmmối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và chính trị, trong đó vẫn lấy đổi mới kinh tế làm trungtâm
Đại hội XI của Đảng (năm 2011) đánh dấu 20 năm thực hiện Cương lĩnh, lần đầuĐảng ta đặt vấn đề phải nghiên cứu các mối quan hệ lớn gắn với tổng kết việc thực hiệncác mối quan hệ đó trong thực tiễn nhằm bảo đảm thực hiện được tám phương hướng xâydựng CNXH, phấn đấu “Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn đảng, toàn dân ta phải ra sứcphấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xãhội chủ nghĩa” Trong tám mối quan hệ lớn đó, có mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế vớiđổi mới chính trị Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng
Trang 18nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Cụthể là: “Kiên trì và quyết liệt thực hiện đổi mới Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổimới kinh tế theo lộ trình thích hợp, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn với tăngcường kỷ luật, kỷ cương để thúc đẩy đổi mới toàn diện và phát huy sức mạnh tổng hợpcủa toàn dân tộc vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Lấy việc thực hiện mục tiêu này làm tiêu chuẩn caonhất để đánh giá hiệu quả của quá trình đổi mới và phát triển”.
Tại Đại hội XII của Đảng (năm 2016) đã nhấn mạnh, “đổi mới mạnh mẽ, toàn diện
và đồng bộ, có bước đi phù hợp trên các lĩnh vực, nhất là giữa kinh tế và chính trị” Do
đó, để thúc đẩy mạnh hơn quá trình này, trước hết cần tập trung đổi mới thể chế phát triển
cả kinh tế và chính trị Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, nhiều chủ trương lớn được Đảng,Nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện; về kinh tế có 3 đột phá chiến lược: cơ cấu lạinền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất và hoànthiện quan hệ sản xuất mới
Về đổi mới kinh tế, “Hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và sửdụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh Bảo đảm ổn địnhkinh tế vĩ mô, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển
đô thị; phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới; ưu tiên nguồn lựcphát triển hạ tầng nông thôn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đẩy mạnh chuyểnđổi số quốc gia; phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sángtạo; gắn kết hài hòa, hiệu quả thị trường trong nước và quốc tế; nâng cao năng suất, chấtlượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”
Vấn đề cơ cấu lại nền kinh tế, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế Cơcấu lại, nâng cao hiệu quả đầu tư, nhất là đầu tư công Cơ cấu lại, phát triển lành mạnhcác loại thị trường, nhất là thị trường các yếu tố sản xuất để huy động, sử dụng có hiệuquả các nguồn lực Ở đây, cần chú ý cơ cấu lại thị trường bất động sản, đất đai, tài nguyên
để đất đai, tài nguyên được sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả cao Cơ cấu lại cácngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ theo hướng tập trung phát triển các lĩnh vực,sản phẩm có tiềm năng, lợi thế công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, sức cạnh tranh caotrong hội nhập kinh tế quốc tế Đặc biệt, cần chú ý tới cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệpnói chung để phát triển lực lượng doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, tăng cường gắn kếtgiữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước Đây cũngchính là để khắc phục sự thiếu gắn kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài dẫn đến chưa tạo ra được sự chuyển giao công nghệ, thúc đẩy pháttriển doanh nghiệp trong nước Phát triển khu vực kinh tế tư nhân để thực sự trở thànhmột động lực quan trọng của nền kinh tế Ta có thể thấy rõ chủ trương của Việt Nam hiện