Một mặt, trên cơ sở phân tích một cách sâu sắc và khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên; mặt khác, kế thừa và tiếp tục phát triển những tư tưởng triết học của C.Mác và
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN
~~~~~~*~~~~~~
BÀI TẬP LỚN MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Đề bài: Phân tích định nghĩa Vật chất của Lênin.
Chứng minh năng lượng thuộc về vật chất
Họ và tên sinh viên : Mai Hằng Đan
HÀ NỘI – 2021
Trang 2I Lý thuyết
Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng viết:
“Luận cương đến với Bác Hồ
Và Người đã khóc
Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin
Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách
gấp Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin.”
Hơn 80 năm đã trôi qua kể từ sự ra đi của con người vĩ đại này, lịch sử nhân loại đã chứng kiến biết bao thăng trầm Nhưng những gì Lênin để lại sẽ sống mãi với chúng ta, trong kho tàng tri thức nhân loại Một trong những chân lý quý báu mà Mặt Trời Nga để lại chính là định nghĩa vật chất thuộc phạm trù triết học
Tình hình mới của lịch sử và thời đại đã thôi thúc V I Lênin đưa ra định nghĩa khoa học về vật chất Một mặt, trên cơ sở phân tích một cách sâu sắc và khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên; mặt khác, kế thừa
và tiếp tục phát triển những tư tưởng triết học của C.Mác và Ph.Ăngghen về
sự đối lập giữa vật chất và ý thức, về bản chất và tính thống nhất vật chất của thế giới, về tính khái quát của phạm trù vật chất và sự tồn tại của vật chất dưới
các dạng cụ thể v.v Lênin đã đưa ra định nghĩa về “vật chất” như sau: “Vật
chất dưới góc độ Triết học là thực tại khách quan Thực tại khách quan đó gây nên những cảm giác ở con người khi chúng tương tác với các giác quan Trong khi được phản ánh vào các giác quan của con người thông qua phương thức chụp lại, chép lại, phản ánh lại thì thực tại khách quan đó vẫn tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào cảm giác của con người.”
Đầu tiên, dưới góc nhìn Triết học, Lênin chỉ ra vật chất mang tính chung chất Điều này cũng đồng thời chỉ ra sai lầm của Chủ nghĩa duy vật cũ Ở thời
kỳ Cổ đại, đặc biệt là ở Hy Lạp – La Mã, Trung Quốc, Ấn Độ đã xuất hiện chủ nghĩa duy nghĩa duy vật với quan niệm chất phác về giới tự nhiên, về vật chất Nhìn chung, các nhà duy vật thời Cổ đại đồng nhất vật chất với một hay
Trang 3một số dạng cụ thể của vật chất và xem chúng là khởi nguyên của thế giới, chẳng hạn như nước (Thales), lửa (Heraclitus), không khí (Anaximenes), nguyên tử (Democritos); đất, nước, lửa, gió (Tứ đại - Ấn Độ), Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ (Ngũ hành – Trung Quốc) Một số trường hợp đặc biệt, họ quy vật chất (không chỉ vật chất mà thế giới) về những cái trừu tượng như Không (Phật giáo), Đạo (Lão Trang)
Đến thế kỷ XVII – XVIII, chủ nghĩa duy vật mang hình thức chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc Thuyết nguyên tử vẫn được các nhà triết học và khoa học tự nhiên thời kỳ Phục Hưng và Cận đại (Thế kỷ XV – XVIII) như Galilê, Bêcơn, Hốpxơ, Xpinôda, Hônbách, Điđơrô, Niutơn… tiếp tục nghiên cứu, khẳng định trên lập trường duy vật Song, do chưa thoát khỏi phương pháp tư duy siêu hình nên nhìn chung các nhà triết học duy vật thời kỳ cận đại
đã không đưa ra được những triết học đúng đắn Họ thường đồng nhất vật chất với khối lượng, coi những định luật cơ học như những chân lý không thể thêm bớt và giải thích mọi hiện tượng của thế giới theo những chuẩn mực thuần túy cơ học; xem vật chất, vận động, không gian, thời gian như những thực thể khác nhau, không có mối liên hệ nội tại khác nhau… Ngoài ra, thời thì Cận đại, họ còn gắn vật chất là nguyên tử, thứ được khoa học chứng minh
là nhỏ nhất và không phân chia Những điều này đã tri phối trong toàn bộ Triết học và khoa học tự nhiên, và người ta lấy những đặc điểm của nguyên
tử, của khối lượng, quy vào đấy những ranh giới để phân biệt giữa vật chất và
ý thức Nhìn chung họ đem định nghĩa về vật chất của các ngành khoa học cụ thể (Đối tượng vật chất có giới hạn), do đó khi đem định nghĩa trong Triết học thì không đảm bảo tính chung nhất của một định nghĩa trong Triết học
Cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, khoa học tự nhiên có nhiều thành tựu Năm 1985, Rơnghen phát hiện ra tia X Năm 1896, Béccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ của nguyên tố Urani Năm 1987, Tômxơn phát hiện ra điện tử Năm 1901, Kaufman đã chứng minh được khối lượng của điện tử không phải là bất biến mà thay đổi theo vận tốc vận động của nguyên tử Năm
Trang 41898 – 1902, nhà nữa vật lý học Ba Lan Mari Scôlôđốpsca cùng với chồng là Pie Curie, nhà hóa học người Pháp, đã khám phá ra chất phóng xạ mạnh là pôlôni và rađium Những phát hiện vĩ đại đó đã chứng tỏ rằng, nguyên tử không phải là phần tử nhỏ nhất mà nó có thể bị phân chia, chuyển hóa Năm
1905, Thuyết Tương đối hẹp và năm 1916, Thuyết Tương đối Tổng quát của
A Axtanh ra đời đã chứng minh rằng không gian, thời gian, khối lượng luôn biến đổi cùng với sự vận động của vật chất Thế giới ấy vẫn còn nhiều điều
“kỳ lạ” mà con người đã và đnag tiếp tục khám phá, chẳng hạn như: sự chuyển hóa giữa hạt và trường, sóng và hạt, hạt và phản hạt, “hụt khối lượng”, quan hệ bất định, v.v… Đứng trước những phát hiện trên của khoa học tự nhiên, không ít nhà khoa học và triết học đứng trên lập trường duy vật tự phát, siêu hình đã hoang mang, dao động, hoài nghi tính đúng đắ của chủ nghĩa duy vật Những người theo chủ nghĩa duy tâm ra sức phủ nhận chủ nghĩa duy vật Qua tình hình trên, nhiều nhà khoa học tự nhiên cũng đã trượt từ chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình sang chủ nghĩa tương đối, rồi rơi vào chủ nghĩa duy tâm Cuộc khủng hoảng thế giới quan đã đề ra 4 nhiệm vụ cần phải giải quyết: Giúp các nhà khoa học tự nhiên thoát khỏi cuộc khủng hoảng, bác bỏ luận điệu của chủ nghĩa duy tâm, phát triển hơn nữa chủ nghĩa duy vật, chỉ ra sai lầm của chủ nghĩa duy vật cũ
Tiếp đến, về phương pháp định nghĩa vật chất mà ông đã sử dụng, Lênin chỉ ra rằng, không thể định nghĩa vật chất bằng phương pháp định nghĩa tiêu chuẩn (hay phương pháp định nghĩa qua loại) Phương pháp định nghĩa tiêu chuẩn là quy khái niệm cần định nghĩa vào khái niệm rộng hơn nó, rồi chỉ ra đặc điểm của nó Chẳng hạn định nghĩa: hình bình hành là hình tứ giác có các cạnh đối song song và bằng nhau, các góc đối bằng nhau và có 2 đường chéo cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường Nhưng đối với phạm trù vật chất, với
tư cách là một phạm trù triết học - một phạm trù rộng nhất, rộng đến cùng cực, không thể có một phạm trù nào rộng hơn phạm trù vật chất Bởi vật chất
là khái niệm chung nhất nên không thể sử dụng phương pháp định nghĩa tiêu
Trang 5chuẩn được Chính vì thế, Lênin đã đem đối lập vật chất và ý thức trên phương diện nhận thức luận cơ bản, thông qua việc đối lập đó chỉ ra cái ranh giới, sự khác biệt giữa vật chất và ý thức để làm nổi rõ khái niệm thế nào là vật chất
Định nghĩa vật chất của V.I Lênin bao hàm các nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, vật chất dưới góc độ Triết học là thực tại khách quan – cái tồn
tại thực bên ngoài ý thức và không lệ thuộc vào ý thức
Khi nói vật chất là một phạm trù triết học là muốn nói phạm trù này là sản phẩm của sự trừu tượng hóa, không có sự tồn tại cảm tính Nhưng khác về nguyên tắc với mọi sự trừu tượng hóa mang tính chất duy tâm chủ nghĩa về phạm trù này, V.I Lênin đã nhấn mạnh mạnh rằng, phạm trù triết học này
dùng để chỉ cái “đặc tính duy nhất của vật chất mà chủ nghĩa duy vật triết học gắn liền với việc thừa nhận đặc tính này – là cái đặc tính tồn tại với tư cách là
hiện thực khách quan, tồn tại ở ngoài ý thức chúng ta” Nói cách khác, tính
trừu tượng của phạm trù vật chất bắt nguồn từ cơ sở hiện thực, do đó, không tách rời tính hiện thực cụ thể của nó
Nói đến vật chất là nói đến tất cả những gì đã và đang hiện hữu thực sự bên ngoài ý thức của con người Vật chất là hiện thực chứ không phải là hư vô
và hiện thực này mang tính khách quan chứ không phải hiện thực chủ quan Đây cũng chính là cái “phạm vi hết sức hạn chế” mà ở đó, theo Lênin, sự đối lập giữa vật chất và ý thức là tuyệt đối Tuyệt đối hóa quá tính trừu tượng của phạm trù này sẽ không thấy vật chất đâu cả, sẽ rơi vào quan điểm duy tâm Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa tính hiện thực cụ thể của phạm trù này sẽ đồng nhất vật chất với vật thể, và đó là thực chất quan điểm của chủ nghĩa Mác trước vấn đề này Như vậy, mọi sự vật, hiện tượng từ vi mô đến vĩ mô, từ những cái đã biết đến những cái chưa biết, từ những sự vật “đơn giản nhất” đến những hiện tượng vô cùng “kỳ lạ”, dù tồn tại trong tự nhiên hay trong xã hội cũng đều là những đối tượng tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con
Trang 6người, nghĩa là đều thuộc phạm trù vật chất, đều là các dạng cụ thể của vật chất Xã hội loài người cũng là một dạng tồn tại đặc biệt của vật chất Theo Lênin, trong đời sống xã hội thì “khách quan không phải theo ý nghĩa là một
xã hội những sinh vật có ý thức, những con người, có thể còn tại và phát triển không phụ thuộc vào sự tồn tại của những sinh vật có ý thức… mà khách
quan theo ý nghĩa là tồn tại xã hội không phụ thuộc vào ý thức xã hội của con
người.
Ý nghĩa của nội dung này rất quan trọng trong việc phê phán thế giới quan duy tâm vật lý học, giải phóng khoa học tự nhiên khỏi cuộc khủng hoảng thế giới quan, khuyến khích các nhà khoa học đi sâu tìm hiểu thế giới vật chất, khám phá ra những thuộc tính mới, kết cấu mới của vật chất, không ngừng làm phong phú tri thức của con người về thế giới: Thứ nhất, khắc phục triệt để sai lầm cơ bản của chủ nghĩa duy vật trước Mác, đã là quy vật chất về một dạng cụ thể của vật chất; đưa học thuyết duy vật tiến lên một bước mới, đáp ứng được những đòi hỏi mới do những phát minh mới nhất của khoa học
tự nhiên đề ra; thứ hai, cho chúng ta cơ sở khoa học để nhận thức vật chất dưới dạng xã hội, đã là những quan hệ sản xuất, tổng hợp các quan hệ sản xuất là cơ sở hạ tầng, tạo thành quan hệ vật chất, mặt vật chất, và từ đây làm nảy sinh quan hệ tư tưởng, đã là kiến trúc thượng tầng, mặt ý thức Định nghĩa vật chất của Lênin đã khắc phục quan điểm duy tâm về lĩnh vực xã hội của chủ nghĩa duy vật trước Mác Có thể nói, vật chất là thực tại khách quan chính
là tiêu chuẩn để phân biệt vật chất và ý thức
Thứ hai, vật chất là cái mà khi tác động vào các giác quan con người thì đem lại cho con người cảm giác
Trái với quan niệm “khách quan” mang tính chất duy tâm về sự tồn tại của vật chất, Lênin khẳng định rằng, vật chất luôn biểu hiện đặc tính hiện thực khách quan của mình thông qua sự tồn tại không lệ thuộc vào ý thức của các
sự vật, hiện tượng cụ thể, tức là luôn biểu hiện sự tồn tại hiện thực của mình dưới dạng các thực thể Các thực thể này do những đặc tính bản thể luận
Trang 7vốn có của nó, nên khi trực tiếp hoặc gián tiếp tác động vào các giác quan sẽ đem lại cho con người những cảm giác Mặc dù không phải mọi sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế giới khi tác động lên giác quan con người đều được các giác quan con người nhận biết; có cái phải qua dụng cụ khoa học, thậm chí có cái bằng dụng cụ khoa học nhưng cũng chưa biết; có cái đến nay vẫn chưa có dụng cụ khoa học để biết được; song, nếu nó tồn tại khách quan, hiện thực bên ngoài, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức của con người thì nó vẫn
là vật chất
Chủ nghĩa duy vật biện chứng không bàn đến vật chất một cách chung chung, mà bàn đến nó trong mối quan hệ với ý thức con người Trong đó, xét trên phương diện nhận thức luận thì thì vật chất là cái có trước, là tính thứ nhất, là cội nguồn của cảm giác (ý thức); còn cảm giác (ý thức) là cái có sau,
là tính thứ hai, là cái phụ thuộc vào vật chất Đó cũng là câu trả lời theo lập trường nguyên duy vật của Lênin đối với mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học
Ý nghĩa của nội dung nay là ở chỗ: Nó chống lại mọi luận điệu sai lầm của chủ nghĩa duy tâm dưới mọi hình thức như duy tâm chủ quan, duy tâm
khách quan, nhị nguyên luận v.v là những trường phái triết học cố luận giải cho tinh thần là cái sinh ra mọi sự vật, hiện tượng phong phú, đưa dạng của thế giới xung quanh chúng ta
Thứ ba, vật chất là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó
Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất Trong thế giowks ấy, theo quy luật vốn có của nó mà đến một thời điểm nhất định sẽ cùng một lúc tồn tại hai hiện tượng – hiện tượng vật chất và hiện tượng tinh thần Các hiện tượng vật chất luôn tồn tại khách quan, không lệ thuộc vào các hiện tượng tinh thần Còn các hiện tượng tinh thần (cảm giác, tư duy, ý thức…), lại luôn luôn có nguồn gốc từ các hiện tượng vật chất và những gì có được trong các hiện tượng tinh thần ầy (nội dung của chúng) chẳng qua cũng chỉ là chép lại, chụp lại, là bản sao của các sự vật, hiện tượng đang tồn tại với tính cách là
Trang 8hiện thực khách quan Như vậy, cảm giác là cơ sở duy nhất của mọi sự hiểu biết, song bản thân nó lại không ngừng chép lại, chụp lại, phản ánh hiện thực khách quan, nên về quy tắc, con người có thể nhận thức được thế giới vật chất Trong thế giới vật chất không có cái gì là không thể biết, chỉ có những cái đã biết và những cái chưa biết, do hạn chế của con người trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Cùng với sự phát triển của khoa học, các giác quan của con người ngày càng được “nối dài”, giới hạn nhận thức của các thời đại
bị vượt qua, bị mất đi chứ không phải vật chất mất đi như những người duy tâm quan niệm
Khẳng định trên đây có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bác bỏ thuyết “bất khả tri”, đồng thời có tác dụng khuyến khích các nhà khoa học đi sâu tìm hiểu thế giới vật chất, góp phần làm giàu kho tàng tri thức nhân loại Ngày nay, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn ngày càng phát triển với những khám phá mới mẻ càng khẳng định tính đúng đắn của quan niệm duy vật biện chứng về vật chất, chứng tỏ định nghĩa vật chất của Lênin vẫn giữa nguyên giá trị, và do đó mà chủ nghĩa duy vật biện chứng ngày càng khẳng định vai trò là hạt nhân thế giới quan, phương pháp luận đúng đắn của các khoa học hiện đại
Định nghĩa vật chất của V.I Lênin đã giải quyết toàn bộ tất cả các nhiệm
vụ đề ra từ sau Cuộc đảo lộn thế giới quan trong Triết học và khoa học tự nhiên, đó là giúp các nhà khoa học tự nhiên thoát khỏi khủng hoảng, bác bỏ luận điển của chủ nghĩa duy tâm, phát triển hơn nữa chủ nghĩa duy vật và chỉ
ra sai lầm của chủ nghĩa duy vật cũ Không những vậy, nó còn cung cấp nguyên tắt thế giới quan và phương pháp luận khoa học để đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, thuyết không thể biết, chủ nghĩa duy vật siêu hình và mọi biểu hiện của chúng trong triết học tư sản hiện đại về phạm trù này Trong nhận thức và thực tiễn, đòi hỏi con người phải quán triệt nguyên tắc khách quan – xuất phát từ hiện thực khách quan… Định nghĩa vật chất của Lênin là
cơ sở khoa học cho việc xác định vật chất trong lĩnh vực xã hội – đó là các
Trang 9điều kiện sinh hoạt vật chất, hoạt động vật chất và các quan hệ vật chất xã hội giữa người với người Nó còn tạo sự liên kết giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử thành một hệ thống lý luận thống nhất, góp phần tạo ra nền tảng lý luận khoa học cho việc phân tích một cách duy vật biện chứng các vấn đề của chủ nghĩa duy vật lịch sử, trước hết là các vấn đề
về sự vận động và phát truển của phương thức sản xuất vật chất, về mối quan
hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, về mối quan hệ giữa quy luật khách quan của lịch sử và hoạt động có ý thức của con người…
II Vận dụng
Trước khi có con người, quá trình sinh thành, phát triển thế giới này, nó
đã thể hiện sự tồn tại, sự chuyển hóa của các dải năng lượng khác nhau Nó có
từ trước khi con người nhận thức về nó Do đó, năng lượng là cái có trước Khi mà con người chúng ta ra đời, những dải năng lượng đó con người chưa nhận thức được Cùng với sự phát triển của vật lý học hiện đại, quan niệm về năng lượng cũng rất khác nhau
Vào cuối thế kỷ 17, Gottfried Leibniz đã đề xuất ý tưởng về tiếng Latinh: vis viva hoặc lực sống, được định nghĩa là tích của khối lượng của một vật và vận tốc của nó bình phương; ông tin rằng tổng số viva đã được bảo tồn Để giải thích cho sự chậm lại do ma sát, Leibniz đưa ra giả thuyết rằng năng lượng nhiệt bao gồm chuyển động ngẫu nhiên của các bộ phận cấu thành của vật chất, mặc dù nó sẽ kéo dài hơn một thế kỷ cho đến khi điều này thường được chấp nhận Sự tương tự hiện đại của tính chất này, động năng, khác với vis viva chỉ là một tích của hai biến số
Mãi cho đến năm 1807, chúng ta mới bắt đầu có khái niệm năng lượng Thomas Young có thể là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ "năng lượng" thay
vì vis viva, theo nghĩa hiện đại của nó Gustave-Gaspard Coriolis đã mô tả
"động năng" vào năm 1829 theo nghĩa hiện đại của nó, và vào năm 1853, William Rankine đã đặt ra thuật ngữ "năng lượng tiềm năng" Định luật bảo
Trang 10toàn năng lượng cũng được đưa ra lần đầu tiên vào đầu thế kỷ XIX, và áp dụng cho bất kỳ hệ cô lập nào Người ta đã tranh luận trong một số năm, liệu nhiệt là một chất vật lý, được gọi là nhiệt lượng, hay chỉ đơn thuần là một đại lượng vật lý, chẳng hạn như động lượng Năm 1845, James Prescott Joule đã phát hiện ra mối liên hệ giữa công việc cơ khí và sự sinh nhiệt
Cho đến thế kỷ XX, theo định lý của Noether, việc bảo tồn năng lượng là
hệ quả của thực tế là các định luật vật lý không thay đổi theo thời gian Do đó,
kể từ năm 1918, các nhà lý thuyết đã hiểu rằng định luật bảo toàn năng lượng
là hệ quả toán học trực tiếp của tính đối xứng tịnh tiến của đại lượng liên hợp với năng lượng, cụ thể là thời gian Trong vật lý, năng lượng là đại lượng vật
lý mà phải được chuyển đến một đối tượng để thực hiện một công trên, hoặc
để làm nóng, các đối tượng Năng lượng là một đại lượng được bảo toàn; định luật bảo toàn năng lượng cho biết năng lượng có thể được chuyển đổi thành các dạng khác nhau, nhưng không tự nhiên sinh ra hoặc mất đi Đơn vị SI của năng lượng là jun, đó là công làm cho một đối tượng di chuyển với khoảng cách 1 mét để chống lại một lực có giá trị 1 newton
Cái năng lượng đó, kể quả quan niệm mới nhất của con người chúng ta hiện nay cũng chỉ là nhận thức ở thời điểm này thôi Có thể trong tương lai, giới hạn nhận thức của con người về năng lượng tiếp tục mở rộng ra, có thể
nó sẽ vượt bỏ những cái giới hạn nhận thức của con người đang biết hiện nay Nhưng dù có như vậy, chúng ta vẫn phải hiểu rằng những thứ thuộc cái gọi là năng lượng đó nó vẫn tồn tại cùng với sự tồn tại của thế giới, từ trước đến giờ
nó khách quan với nhận thức của con người dù sau này có như thế nào, nhận thức của chúng ta có ra sao đi chăng nữa
III Danh mục tài liệu tham khảo
1 Giáo trình Triết học Mác – Lênin, NXB Chính trị Quốc gia sự thật
2 Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, NXB Chính trị Quốc Gia