1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) đề CƯƠNG THẢO LUẬN phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân

46 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề (TIỂU LUẬN) đề CƯƠNG THẢO LUẬN phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân
Trường học Trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 88,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

b Vai trò của ý thức đối với vật chất Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người: Vai trò của ý thức đối với vật

Trang 1

Họ và tên: Huỳnh Thanh Sang

Lớp TCCT-HC H.695

Bài 1: Những vấn đề cơ bản của CNDVBC.

Câu 1: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức? Ý nghĩa

phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này? Liên hệ vận dụng vào công

tác của bản thân?

1 Khái niệm vật chất, ý thức:

- Quan điểm duy vật Mácxít về vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con

người trong cảm giác, được cảm giác của chúng tachép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”

- Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo hiện thực khách quan bởi bộ óc của con người, thể hiện ra như tri thức, tình cảm, niềm tin,

ý chí…Ý thức ra đời do hai nguồn gốc:

+ Nguồn gốc tự nhiên, đó là kết quả sự tiến hóa của bộ não và thuộc tínhh phản ánh

của nó

+ Nguồn gốc xã hội của ý thức là lao động, ngôn ngữ Sự tiến hóa tự nhiên là tiền đề vật chất không thể thiếu được của ý thức Tuy

nhiên, điều kiện xã hội giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với sự ra đời của ý thức

2 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý

thức a) Vai trò của vật chất đối với ý thức

Trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau;

vật chất là nguồn gốc của ý thức; vật chất quyết định ý thức; ý thức là sự phản ánh đối với

vật chất

Ý thức của con người không phải là sản phẩm chủ quan thuần tuý, cũng không phải có

nguồn gốc từ một lực lượng siêu tự nhiên Nó là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách

quan vào trong đầu óc con người

Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên và xã hội của ý thức đều do bản thân thế giới

vật chất hoặc những dạng tồn tại của vật chất tạo ra, do đó vật chất là nguồn gốc của ý

thức

Trang 2

Vật chất quyết định sự biến đổi, phát triển của ý thức; sự biến đổi của ý thức là sự

phản

ánh đối với sự biến đổi của vật chất Vật chất không chỉ quyết định nội dung mà còn

quyết

định cả hình thức biểu hiện cũng như mọi sự biến đổi của ý thức

b) Vai trò của ý thức đối với vật chất

Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt

động thực tiễn của con người:

Vai trò của ý thức đối với vật chất thực chất là vai trò của con người Bản thân ý thức

tự nó không trực tiếp làm thay đổi được hiện thực, muốn thay đổi hiện thực cần phải có

hoạt động vật chất Song do mọi hoạt động của con người đều được ý thức chỉ đạo, nên

ý

thức trang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan trên cơ sở đó giúp con người

xác định mục tiêu, phương hướng, lựa chọn biện pháp, công cụ để thực hiện mục tiêu

hoạt động thực tiễn, kìm hãm sự phát triển xã hội

Chính vì thế, trong hoạt động thực tiễn, ngoài việc nhận thức đúng quy luật khách

quan, còn cần phải phát huy cao độ tính năng động chủ quan, đồng thời chống lại mọi

biểu

hiện của chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí, chống lại những tư tưởng lạc hậu, phản động,

phản khoa học

3 Ý nghĩa phương pháp luận

Trên cơ sở quan điểm về bản chất vật chất của thế giới; bản chất năng động, sáng tạo

của ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức có thể rút ra ý nghĩa

phương

Trang 4

cơ sở, phương tiện; phải tìm ra những nhân tố vật chất, tổ chức những nhân tố ấy thành

lực lượng vật chất để hành động

Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy vai trò tích cực, năng động, sáng tạo của

ý thức và nhân tố con người trong việc vật chất hóa tính tích cực, năng động, sáng tạo ấy Điều này đòi hỏi con người phải tôn trọng tri

thức khoa học, mặt khác phải tích cực học tập, nghiên cứu để làm chủ tri thức khoa học đồng thời phải tu dưỡng rèn luyện bản thân mình

về đạo đức, ý chí, nghị lực

Đảm bảo nguyên tắc tính thống nhất biện chứng giữa tôn trọng khách quan và phát huy

năng động chủ quan trong hoạt động thực tiễn đòi hỏi phải khắc phục bệnh chủ quan duy ý

chí, chủ nghĩa kinh nghiệm, coi thường tri thức khoa học trong hoạt động nhận thức và

thực tiễn

4.Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân:

Chúng ta cần nâng cao trình độ nhận thức khoa học co nhân dân nói chung và đặc biệt

đầu tư vào ngành giáo dục Chúng ta cần xây dựng chiến lược giáo dục toàn diện với

những giải pháp mạnh mẽ, phù hợp để mở rộng quy mô chất lượng ngành đào tạo, cải tiến

phương pháp dạy và học, nâng cao trình độ chuyên môn Kết hợp việc nâng cao trình độ

dân trí, đào tạo ra lực lượng lao động có thể đáp ứng được nhu cầu công nghiệp hóa, hiện

đại hóa Tích cực, năng động, sáng tạo trong công tác giáo dục nhằm đưa đất nước ngày

càng phát triển

Tóm lại, vật chất bao giờ cũng đóng vai trò quyết định đối với ý thức, nó là cái có trước

ý thức nhưng ý thức có tính lực năng động tác động trở lại vật chất Mối tác động này chỉ được thực hiện thông qua hoạt động thực tiễn của

con người Chúng ta nâng cao vai trò của ý thức với vật chất chính là ở chổ nâng cao năng lực nhận thức các quy luật khách quan và vận

dụng các quy luật khách quan trong hoạt động thực tiển

Câu 2: Phân tích nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên

hệ và nguyên lý về sự phát triển? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân?

1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

a) Khái niệm mối liên hệ và mối liên hệ phổ biến

Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên dùng để chỉ sự quy định, sự tác động và

chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự

vật, hiện tượng trong thế giới

Trang 5

Thí dụ: Mối liên hệ giữa điện tích dương và điện tích âm trong một nguyên tử; mối liên

hệ giữa các nguyên tử, giữa các phân tử, giữa các vật thể; mối liên hệ giữa vô cơ với hữu

cơ; giữa sinh vật với môi trường; giữa xã hội với tự nhiên; giữa cá nhân với cá nhân; giữa

cá nhân với tập thể, cộng đồng;giữa các quốc gia, dân tộc; giữa các mặt, các bộ phận của

đời sống xã hội; giữa tư duy với tồn tại; giữa các hình thức, giai đoạn nhận thức; giữa các

hình thái ý thức xã hội…

Mối liên hệ phổ biến là khái niệm dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật,

hiện tượng của thế giới

Trong mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng, những mối liên hệ phổ biến nhất là mối

liên hệ giữa các mặt đối lập, mối liên hệ giữa lượng và chất, khẳng định và phủ định, cái

chung và cái riêng, bản chất và hiện tượng…

Giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới vừa tồn tại những mối liên hệ đặc thù, vừa tồn

tại những mối liên hệ phổ biến trong phạm vi nhất định hoặc mối liên hệ phổ biến nhất,

trong đó mối liên hệ đặc thù là sự thể hiện những mối liên hệ phổ biến trong những điều

kiện nhất định

b Nội dung, ý nghĩa của các mối liên hệ

Tính khách quan của các mối liên hệ

Theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế

giới là có tính khách quan Sự quy định lẫn nhau, tác động và chuyển hóa lẫn nhau của các

sự vật, hiện tượng hoặc trong bản thân chúng là cái vốn có của nó, tồn tại không phụ thuộc

vào ý chí con người; con người chỉ có khả năng nhận thức được những mối liên hệ đó

Tính phổ biến của mối liên hệ Phép biện chứng duy vật khẳng định: Không có bất cứ

sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại một cách riêng lẻ, cô lập tuyệt đối với các sự

vật, hiện tượng hay quá trình khác mà trái lại chúng tồn tại trong sự liên hệ, ràng buộc,

phụ thuộc, tác động, chuyển hóa lẫn nhau Không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào không

phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm các yếu tố cấu thành với những mối liên hệ bên

trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống mở tồn tại trong mối liên

hệ với hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau

Ph.Ăngghen chỉ rõ, tất cả thế giới tự nhiên mà chúng ta có thể nghiên cứu được là một

hệ thống, một tập hợp các vật thể khăng khít với nhau

Việc các vật thể ấy đều có liên hệ qua lại với nhau đã có nghĩa là các vật thể này tác

động lẫn nhau, và sự tác động qua lại ấy chính là sự vận động”

Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ

Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định mối liên hệ còn có tính phong phú, đa

Trang 6

dạng Tính chất này được biểu hiện ở chỗ:

- Các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn

tại và phát triển của nó

- Cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật nhưng trong những điều kiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá

trình vận động, phát triển của sự vật thì cũng có tính chất và vai trò khác nhau Do đó, không thể đồng nhất tính chất, vị trí vai trò cụ thể

của các mối liên hệ khác nhau đối với mỗi sự vật nhất định Căn cứ vào tính chất, đặc trưng của từng mối liên hệ, có thể phân loại thành

các mối liên hệ sau:

- Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài

- Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp

- Mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu

- Mối liên hệ cơ bản và mối liên hệ không cơ bản

- Mối liên hệ cụ thể, mối liên hệ chung, mối liên hệ phổ biến

c Ý nghĩa phương pháp luận

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện, quan điểm

lịch sử - cụ thể

Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xem xét sự

vật, hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, giữa

các mặt của sự vật và trong sự tác động qua lại giữ sự vật đó với sự vật khác Trên cơ sở

đó có nhận thức và hành động đúng với thực tiễn khách quan

“Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt,

tất cả các mối liên hệ và “ quan hệ gián tiếp” của sự vật đó

Chúng ta không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự cần thiết

phải xem xét tất cả các mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm sai lầm và sự cứng

nhắc”(V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1976, t.42, tr.384)

Đối lập với quan điểm biện chứng toàn diện thì quan điểm siêu hình xemxét sự vật,

hiện tượng một cách phiến diện Nó không xem xét tất cả các mặt, các mối liên hệ của sự

vật, hiện tượng; hoặc xem mặt này tách rời mặt kia, sự vật này tách rời sự vật khác

Quan điểm toàn diện cũng khác với chủ nghĩa chiết trung và thuật nguỵ biện Chủ

nghĩa chiết trung thì kết hợp các mặt một cách vô nguyên tắc, kết hợp những mặt vốn

không có mối liên hệ với nhau hoặc không thể dung hợp được với nhau Thuật nguỵ biện

cường điệu một mặt, một mối liên hệ; hoặc lấy mặt thứ yếu làm mặt chủ yếu

Từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ cho thấy trong hoạt động nhận

thức và thực tiễn cần phải kết hợp quan điểm toàn diện với quan điểm lịch sử - cụ thể

Trang 7

Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu việc nhận thức các tình huống trong hoạt động thực

tiễn cần xét đến tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tác động; xác định rõ vị trí

vai trò khác nhau của mối liên hệ cụ thể trong những tình huống cụ thể để đưa ra các biện

pháp đúng đắn phù hợp với đặc điểm cụ thể của đối tượng cần tác động nhằm tránh quan

điểm phiến diện, siêu hình, máy móc

2 Nguyên lý về sự phát triển a) Khái niệm “phát triển”

Theo quan điểm siêu hình: Phát triển chỉ là sự tăng, giảm thuần túy về lượng, không có

sự thay đổi về chất của sự vật, đồng thời phát triển là quá trình tiến lên liên tục, không trải

qua những bước quanh co phức tạp

Phép biện chứng duy vật cho rằng: Phát triển là sự vận động theo hướng đi lên, từ thấp

đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện của sự vật

Khái niệm “phát triển” và khái niệm “vận động” có sự khác nhau: Vận động là mọi

biến đổi nói chung, chưa nói lên khuynh hướng cụ thể: đi lên hay đi xuống, tiến bộ hay lạc

hậu, còn phát triển là sự biến đổi về chất theo hướng hoàn thiện của sự vật Phát triển là

quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật; là quá trình

thống nhất giữa phủ định những nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ

sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật

b) Tính chất cơ bản của sự phát triển

Các quá trình phát triển đều có các tính chất cơ bản sau:

Tính khách quan của sự phát triển biểu hiện trong nguồn gốc của sự vận động và phát

triển Đó là quá trình bắt nguồn từ bản thân sự vật, hiện tượng; là quá trình giải quyết mâu

thuẫn trong sự vật, hiện tượng đó Vì vậy, phát triển là thuộc tính tất yếu, khách quan,

không phụ thuộc vào ý muốn con người

Tính phổ biến của sự phát triển được thể hiện ở các quá trình phát triển diễn ra trong

mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy; trong tất cả mọi sự vật, hiện tượng và mọi quá

trình; trong mọi giai đoạn phát triển của sự vật, hiện tượng

Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển được thể hiện ở chỗ: phát triển là khuynh

hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng song trong mỗi sự vật, hiện tượng có quá trình

phát triển không giống nhau Sự vật, hiện tượng tồn tại trong thời gian, không gian khác

nhau có sự phát triển khác nhau

Trong quá trình phát triển, sự vật còn chịu sự tác động của các sự vật, các hiện tượng

hay quá trình khác, của nhiều yếu tố và điều kiện lịch sử cụ thể, sự thay đổi của các yếu tố

tác động đó có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật

Trang 8

c Ý nghĩa phương pháp luận

Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận khoa học để định hướng việc nhận thức và

cải tạo thế giới Trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải: Xem xét sự vật và

hiện tượng đòi hỏi phải xét sự vật trong sự phát triển, trong “sự tự vận động”, trong sự

biến đổi của nó”

- Luôn đặt sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên Phát triển là quá trình biện chứng, bao hàm tính thuận, nghịch, đầy mâu thuẫn

vì vậy, phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển

- Xem xét sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển cần phải đặt quá trình đó trong nhiều giai đoạn khác nhau, trong mối liên hệ biện

chứng giữa quá khứ, hiện tại và tương lai trên cơ sở khuynh hướng phát triển đi lên đồng thời phải phát huy nhân tố chủ quan của con

người để thúc đẩy quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng theo đúng quy luật

- Phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lập với sự phát triển

4 Liên hệ, vận dụng vào công tác của bản thân:

Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn khi đã thực hiện quan điểm toàn diện thì đồng

thời cũng cần phải kết hợp với quan điểm lịch sử - cụ thể

Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu trong việc nhận thức và xử lý các tình huống trong

hoạt động thực tiễn cần phải xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và

tình huống phải giải quyết khác nhau trong thực tiễn; phải xác định rõ vị trí, vai trò khác

nhau của mỗi mối liên hệ cụ thể trong những điều kiện cụ thể để từ đó có được những giải

pháp đúng đắn và có hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn Như vậy, trong nhận

thức và thực tiễn không những cần phải tránh và lhắc phục quan điểm phiến diện siêu hình

mà còn phải tránh và khắc phục quan điểm chiết trung, ngụy biện

Câu 3: Phân tích nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật thống nhất

và đấu tranh của các mặt đối lập? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân?

- Vai trò của quy luật là hạt nhân của phép biện chứng duy vật, chỉ ra nguồn gốc, động

lực của sự vận động Như vậy chính sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là

nguồn gốc của sự vận động, phát triển của sự vật

- Các khái niệm: mặt đối lập; thống nhất của các mặt đối lập; đấu tranh của các mặt đối lập; mâu thuẩn biện chứng

- Tính chất của mâu thuẩn: tính khách quan; tính phổ biến; tính đa dạng, phong phú

Trang 9

- Một số mâu thuẩn cơ bản:

+ Mâu thuẩn bên trong và mâu thuẩn bên ngoài

+ Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, mâu thuẩn chia

thành mâu thuẩn cơ bàn và mâu thuẩn không cơ bản

+ Căn cứ vào vai trò của mâu thuẩn đối với sự tồn tai và phát triển của sự vật, hiện

tượng trong 1 giai đoạn nhất định, các mâu thuẩn được chia thành mâu thuẩn chủ yếu và

mâu thuẩn thứ yếu

+ Căn cứ vào tính chất của quan hệ lợi ích, người ta chia mâu thuẩn trong HX thành

mâu thuẩn đối kháng và mâu thuẩn không đối kháng

-Nội dung quy luật (4 nội dung)

Những quy luật cơ bản của pháp biện chứng duy vật:

Quy luật là mối liên hệ bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp đi lặp lại giữa các sự vật,

hiện tượng, giữa các thuộc tính của các sự vật cũng như giữa các thuộc tính của cùng một

sự vật Dựa vào mức độ tính phổ biến, được chia thành quy luật riêng, quy luật chung và

quy luật phổ biến Dựa vào lĩnh vực tác động được chia thành quy luật tự nhiên, quy luật

XH và quy luật tư duy Phép biện chứng duy vật gồm ba quy luật cơ bản mang tính phổ

biến như sau:

Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn):

Quy luật mâu thuẫn là hạt nhân của phép biện chứng duy vật là cơ sở để nghiên cứu các

quy luật còn lại; là sự tác động lẫn nhau của các mặt đối lập Những mặt đối lập là những

mặt có khuynh hướng, thuộc tính biến đổi, phát triển trái ngược nhau trong cùng sự vật,

hiện tượng hay hệ thống sự vật, hiện tượng Thống nhất của các mặt đối lập bao gồm 3

nghĩa: Các mặt đối lập làm điều kiện, tiền đề tồn tại cho nhau; Các mặt đối lập tác động

ngang nhau, cân bằng nhau; Giữa hai mặt đối lập có điểm chung nhau, tương đồng nhau

Đấu tranh của các mặt đối lập là sự phủ định nhau, bài trừ nhau hay sự phát triển của các

mặt đối lập

Mỗi sự vật là một thể thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Các mặt đối lập vừa

liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau, vừa tác động qua lại theo xu hướng bài trừ, phủ định lân nhau

Khi cuộc đấu tranh của các mặt đối lập lên đên đỉnh cao nhất trong điều kiện nhất định thì

mâu thuẫn được giải quyết Sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời và quá trình như trên lặp lại

tiếp diễn Đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự phát triển.VD:

Trong xã hội các giai cấp luôn đối kháng nhau để biến chế độ phong kiến chế độ TBCN

chế độ XHCN

Phương pháp luận: Mâu thuẫn là khách quan, do vậy không nên né tránh mâu thuẫn.

Trang 10

Có nhiều loại mâu thuẫn như:

Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại của các mặt, các khynh hướng đối lập

của cùng một s.vật Mâu thuẫn bên ngoài là sự tác động qua lại giữa những mặt đối lập

thuộc các s.vật khác nhau Song sự phân biệt hai mâu thuẫn này có tính tương đối, phụ thuộc

vào phạm vi quan hệ được xem xét

Vai trò của hai mâu thuẫn này đối với sự vận động, phát triển của sự vật, đó là: mâu thuẫn

bên trong có vai trò quyết định sự vận động, phát triển của nguyên nhân của sự “tự thân vận

động” Nó không tách rời với mâu thuẫn bên ngoài Mâu thuẫn bên ngoài có ảnh hưởng đến

sự vận động, phát triển của sự vật mâu thuẫn bên ngoài phải thông qua mâu thuẫn bên trong

mới phát huy được tác dụng

Nếu mâu thuẫn bên trong quyết định sự vận động phát triển của sự vật thì trong thực

tiên muốn tác động làm cho sự vật vận động, phát triển Trước hết, cần phát hiện, tạo điều

kiện giải quyết mâu thuẫn bên trong Mặt khác, cũng không nên coi nhẹ những ảnh hưởng

của mâu thuẫn bên ngoài, vì giải quyết mâu thuẫn bên ngoài cũng có tác dụng rất quan

trọng đối với sự phát triển của sự vật VD: Trong quá trình học tập và công tác của bản

thân cần phát huy tính độc lập, tự chủ, phát hiện và giải quyết những mâu thuẫn của bản

thân, đồng thời cần chủ động tranh thủ sự giúp đơcủa bạn bè với tinh thần thực sự cầu thị

và sáng tạo

Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của s.vật, nó tồn tại từ khi

s.vật ra đời đến khi s.vật mất đi Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn không quy định

bản chất của sự vật

Vai trò của hai mâu thuẫn này đối với sự vận động, phát triển của sự vật, đó là: mâu

thuẫn cơ bản xuất phát từ bản chất của sự vật và có tác dụng chi phối và làm nảy sinh

những mâu thuẫn không cơ bản mâu thuẫn không cơ bản tuy đóng vai trò phụ thuộc,

nhưng cung có ảnh hưởng nhất định đối với sự phát triển của sự vật VD:…

Trong nhận thức cần phải xác định đúng mâu thuẫn cơ bản thì mới hiểu đúng được bản

chất của sự vật VD: Trong thực tiễn XH, có xác định đúng mâu thuẫn cơ bản thì mới xác

định được đường lối chiến lược của CM khoa học

Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát triển

nhất định của sự vật Mâu thuẫn không chủ yếu là mâu thuẫn mà việc giải quyết nó

không quyết định việc giải quyết các mâu thuẫn khác ở giai đoạn đó của sự vật

Trong đó, việc phân ranh giới giữa mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn không chủ yếu là

có ý nghĩa tương đối Bởi vì, tùy theo hoàn cảnh cụ thể, có những mâu thuẫn trong ĐK

này là chủ yếu, nhưng trong ĐK khác được coi là không chủ yếu và ngược lại Mặt khác,

Trang 11

mâu thuẫn chủ yếu thường là hình thức của mâu thuẫn cơ bản trong từng giai đoạn Do đó,

việc giải quyết mâu thuẫn chủ yếu cũng là quá trình giải quyết dần dần mâu thuẫn cơ bản

VD: Trong CM, việc xác định mâu thuẫn chủ yếu rất quan trọng Nó giúp cho CM xác

định được kẻ thù trước mắt, đề ra nhiệm vụ trung tâm cần giải quyết và có sách lược phù

hợp để đưa cuộc CM tiến lên Trong hoạt động thực tiên, mổi người, mổi ngành cũng cần

tìm ra mâu thuẫn chủ yếu của bản thân, của ngành mình để có hướng tập trung vào công

việc chính, trước mắt để giải quyết kịp thời

Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những GC, tập đoàn người, những

nhóm XH có lợi ích cơ bản đối lập nhau không thể điều hòa Mâu thuẫn không đối

kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng, khuynh hướng XH có đối lập về lợi ích nhưng

đó chưa phải là lợi ích cơ bản, mà chỉ là lợi ích cục bộ, tạm thời

Về tính chất: mâu thuẫn đối kháng có xu hướng phát triển ngày càng gay gắt lên, còn

mâu thuẫn không đối kháng có xu hướng ngày càng dịu đi

Về phương pháp và biện pháp giải quyết: Đối với mâu thuẫn đối kháng nhìn chung

thường được giải quyết bằng bạo lực CM Đối với mâu thuẫn không đối kháng thường

được giải quyết bằng phương pháp giáo dục, điều hòa giữa các mặt đối lập Song dù tiến

hành bằng phương pháp nào thì cả hai loại mâu thuẫn đó đều phải giải quyết bằng đấu

tranh, chứ không thể bằng cách dung hòa, điều hòa giữa các mặt đối lập

Trong thực tiễn CM không được lẫn lộn hai loại mâu thuẫn này để tránh phạm phải sai

lầm nghiêm trọng Nếu mâu thuẫn đối kháng mà xác định thành mâu thuẫn không đối

kháng thì sẽ dẫn đến “ hữu khuynh” Ngược lại, mâu thuẫn không đối kháng mà xác định

trở thành mâu thuẫn đối kháng thì sẽ dẫn đến “ tả khuynh” trong việc giải quyết mâu

thuẫn Do đó, cần phải phân tích và giải quyết một cách KH hai loại mâu thuẫn này

Do đó, trong hoạt động thực tiển cần xác định đúng mâu thuẫn, việc giải quyết không

được chủ quan, thỏa hiệp Muốn nhận thức và thúc đẩy sự vật phát triển, phải phát hiện,

phân tích, phân loại và tìm biện pháp giải quyết mâu thuẫn của nó Mâu thuẫn chỉ có thể

được giải quyết khi có đủ những điều kiện chín muồi Giải quyết mâu thuẫn phải băng con

đường đấu tranh dưới những hình thức, biện pháp khác nhau Chính vì thế, muốn giải

quyết mâu thuẫn thì phải tìm tòi nhận ra mâu thuẫn (thuộc loại gì?) để đề ra biện pháp giải

quyết mâu thuẫn đó cho phù hợp.Trong đấu tranh là sự tác động qua lại trong nội bộ như:

gặp gơ, trao đổi, kiểm điểm,v.v…

* Ý nghĩa phương pháp luận:

- Vì mâu thuẫn có tính khách quan, tính phổ biến và là nguồn gốc, động lực của sự vận

động, phát triển do vậy trong nhận thức và thực tiễn cần phải tôn trọng mâu thuẫn, phát

Trang 12

hiện mâu thuẫn, phân tích đầy đủ các mặt đối lập, nắm được nguồn gốc, bản chất, khuynh

hướng của sự vận động phát triển

Vì mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú do đó trong việc nhận thức và giải quyết mâu

thuẫn cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể tức là biết phân tích cụ thể từng loại mâu thuẫn

và phương pháp giải quyết phù hợp Trong quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn, cần

phân biệt đúng vai trò, vị trí của các loại mâu thuẫn trong từng hoàn cảnh, điều kiện nhất

định; những đặc điểm của mâu thuẫn đó để tìm ra phương pháp giải quyết từng loại mâu

thuẫn một cách đúng đắn nhất

*Liên hê ̣vận dụng vào công tác của bản thân:

- Không ngừng học tập để có tri thức mới tiến bộ hơn

- Rèn luyện bản thân để bản thân đủ sức đấu tranh với cái xấu, cái chưa tốt, đấu tranh chống lại cái tiêu cực

- Học thực chất, thi thực chất, nói không với tiêu cực trong thi cử

Là một giáo viên đang giang dạy trong nhà trường XHCN, bản thân phải không ngừng

học tập, nghiên cứu quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập để vận dụng vào

thực tiển, để có quan điểm đúng đắn, khoa học trong công tác của mình.Ra sức đấu tranh

loại bỏ cái xấu, cái chưa tốt, đấu tranh chống lại tiêu cực

Câu 4 Phân tích nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật chuyển hóa

từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại?Liên hệ vận

dụng vào công tác bản thân?

1.Khái niệm

Thế giới có vô vàn các sự vật hiện tượng Mỗi sự vật có, hiện tượng có những chất vốn

có làm nên chính chúng Nhờ đó mà có thể phân biệt sự vật hiện tượng này với sự vật hiện

tượng khác

Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự

vật, hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ

không phải là cái khác.

VD: chất của con người khác các động vật khác ở những thuộc tính; có ngôn ngữ, có tư

duy, biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động

Chất của sự vật là các thuộc tính khách quan vốn có của sự vật nhưng không đồng nhất

Trang 13

với khái niệm thuộc tính Mỗi sự vật, hiện tượng đều có những thuộc tính cơ bản và không

cơ bản Chỉ những thuộc tính cơ bản mới hợp thành chất của sự vật, hiện tượng Khi các

thuộc tính cơ bản thay đổi thì chất của sự vật thay đổi

Chất của sự vật, hiện tượng không những được xác định bởi chất của các yếu tố cấu

thành mà còn bởi cấu trúc và phương thức liên kết giữa chúng, thông qua các mối liên hệ

cụ thể do đó việc phân biệt thuộc tính cơ bản và không cơ bản, chất và thuộc tính chỉ có ý

nghĩa tương đối

Mỗi sự vật, hiện tượng không chỉ có một chất, mà có nhiều chất, tùy thuộc vào các mối

quan hệ cụ thể của nó với những cái khác Chất không tồn tại thuần túy tách rời sự vật,

biểu hiện tính ổn định tương đối của nó

- Lượng là gì?

Lượng là một phàm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự

vật về các phương diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp

điệu của các quá trình vận động, phát triển của sự vật.

Lượng biểu hiện kích thước dài hay ngắn, quy mô to hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, số

lượng nhiều hay ít

Ví dụ: Số lượng người trong một lớp học, vận tốc của ánh sáng

+Lượng cũng mang tính khách quan như chất, là cái vốn có của sự vật

+Lượng thường được xác định bởi những đơn vị đo lường cụ thể với con số chính xác

nhưng cũng có lượng biểu thị dưới dạng khái quát, phải dùng tới khả năng trừu tượng hóa

để nhận thức

Ví dụ: Trình độ nhận thức, phẩm chất đạo đức của một con người

+Có lượng biểu thị yếu tố bên ngoài (ví dụ: chiều cao, chiều dài cảu một vật ), có

lượng biểu thị yếu tố quy định kết cấu bên trong (ví dụ: số lượng nguyên tử của một

nguyên tố hóa học)

2.Nội dung quy luật

Mỗi sự vật, hiện tượng là sự thống nhất giữa hai cặp đối lập chất và lượng Hai mặt đối

lập không tách rời nhau mà tác động qua lại biện chứng làm cho sự vận động, biến đổi

theo cách thức từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất của sự vật

và ngược lại

-Lượng đổi dẫn đến chất đổi:

Khi sự vật đang tồn tại, chất và lượng thống nhất với nhau ở một độ nhất định

Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ giới hạn trong đó sự thay đổi về lượng của sự vật

chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật ấy.

Trang 14

VD:1 Độ tồn tại trong đời người từ lúc sinh ra đến lúc chết; 2 Độ tồn tại của nước

nguyên chất ở trạng thái lỏng từ 00C đến 1000C

Trong giới hạn của một độ nhất định, lượng thường xuyên biến đổi còn chất tương đối

ổn định Sự thay đổi về lượng của sự vật có thể làm chất thay đổi ngay lập tức nhưng cũng

có thể làm thay đổi dần dần chất cũ Lượng đổi đến một giới hạn nhất định-điểm nút, nếu

có điều kiện sẽ diễn ra bước nhảy làm thay đổi chất của sự vật

Điểm nút là phạm trù triết học dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng đã

làm thay đổi chất của sự vật.

VD: 00C và 1000C là điểm nút để nước chuyển sang trạng thái rắn hoặc trạng thái khí

(bay hơi)

Muốn chuyển từ chất cũ sang chất mới phải thông qua bước nhảy

Bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của sự vật do

những sự thay đổi về lượng trước đó gây nên.

VD: Một cuộc cách mạng, một kỳ thi, một đám cưới

Bước nhảy kết thúc một giai đoạn biến đổi về lượng và mở đầu cho một giai phát triển

mới Đó là gián đoạn trong quá trình vận động liên tục của sự vật đồng thời là một tiền đề

cho một quá trình tích lũy liên tục về lượng tiếp theo

Ví dụ chứng minh:

Trong xã hội: Sự phát triển của lực lượng sản xuất(lượng đổi) tới khi mâu thuẫn với

quan hệ sản xuất lỗi thời (chất cũ) sẽ dẫn đến đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao là cách mạng

xã hội (bước nhảy) làm cho xã hội cũ mất đi, xã hội mới tiến bộ hơn ra đời

- Chất mới ra đời , nó tác động trở lại lượng mới, làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ nhịp điệu của sự vận động phát triển của sự

vật.

Như vậy, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt

chất và lượng Sự thay đổi về lượng tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất thông qua

bước nhảy Chất mới ra đời sẽ tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới Quá trình đó

liên tục diễn ra, tạo thành phương thức phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của

sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, tư duy

1 Ý nghĩa phương pháp luận

Nhận thức sự vật phải nhận thức cả chất và lượng của nó Muốn thay đổi chất của sự

vật phải có sự thay đổi về lượng, cho nên không được chủ quan, nóng vội Khi tích lũy về

lượng đã đủ cần thực hiện bước nhảy, tránh bảo thủ, trì trệ, ngại khó Trong hoạt động

thực tiễn cần chống “tả khuynh”, tức là tuyệt đối hóa bước nhảy về chất khi chưa tích lũy

đủ về lượng Đồng thời, cần tránh xu hướng “ hữu khuynh”, tức là tuyệt đối hóa sự tích

Trang 15

lũy về lượng, không dán thực hiện bước nhảy về chất khi tích lũy về lượng đã đủ Muốn

giữ cho sự vật còn là nó thì phải nhận thức được giới hạn độ của nó và giữ cho sự thay đổi

về lượng không vượt quá giới hạn độ cho phép

2 Liên hệ công tác bản thân:

-Trong quá trình học tập cũng như làm việc, chúng ta cần từng bước tích lũy về lượng (

tri thức) để làm biến đổi về chất ( kết quả của công việc hoặc kết quả học tập) theo quy

luật cũng như ông cha ta thường có câu “ tích tiểu thành đại”, “ năng nhặc chặt bị” Những

việc làm vĩ đại của con người bao giờ cũng là sự tổng hợp của những việc làm bình

thường của người đó Quy luật này giúp chúng ta tránh được tư tưởng chủ quan trong công

việc hằng ngày

Câu 5 : Phân tích mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn? Ý nghĩa phương pháp luận

rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân?

I Khái niệm:

gắn kết giữa nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn luôn là một đòi hỏi cấp bách và là

một phương thức để mang đến thành công cho hoạt động của mỗi cá nhân, của tổ chức

Nhận thức đúng và giải quyết hợp lý mối quan hệ biện chứng tác động qua lại của lý luận

và thực tiễn, dùng lý luận làm kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn, tổng kết thực tiễn để

phát triển lý luận, thực tiễn phải là cơ sở, động lực của nhận thức và tiêu chuẩn của chân lý

luôn là chìa khóa để để giải quyết mọi vướng mắc trên con đường đi đến mục tiêu đã

định Ngược lại, nhận thức không đúng và giải quyết không tốt mối quan hệ giữa lý luận

và thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa kinh nghiệm hoặc chủ quan duy ý

chí, tất nhiên sẽ dẫn đến những thất bại, sự thất bại đó có thể dẫn đến những hậu quả

nghiêm trọng

Trước hết, ta đi vào các khái niệm cơ bản:

1 Khái niệm thực tiễn:

Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con

người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội

Từ khái niệm này chúng ta thấy thực tiễn có 03 đặc điểm:

- Hoạt động vật chất: là những hoạt động mà ở đó con người sử dụng công cụ, phương tiện vật chất tác động vào các đối tượng vật chất làmbiến đổi chúng theo những mục đích của mình Ví dụ: hoạt động sản xuất ra của cải vật chất như xây nhà, làm thủy lợi, đắp đê, cày ruộng…

Trang 16

- Mang tính lịch sử - xã hội: đây là những hoạt động của con người gắn với những

điều kiện lịch sử cụ thể ờ từng giai đoạn lịch sử cụ thể

- Mục đích của hoạt động thực tiễn là nhằm cải tạo tự nhiên xã hội: làm biến đổi tự

nhiên và xã hội theo hướng thúc đẩy sự tiến bộ của chúng

Có 03 hình thức thực tiễn cơ bản:

- Hoạt động sản xuất vật chất: đó là những hoạt động sản xuất ra của cải vật chất thỏa

mã nhu cầu tiêu dùng và trao đổi của con người

- Hoạt động đấu tranh chính trị - xã hội: hoạt động cải tạo các quan hệ chính trị - xã

hội Chẳng hạn như đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh giai cấp, biểu tình…

- Hoạt động thực nghiệm khoa học: ví dụ như hoạt động nghiên cứu thí nghiệm để tạo

ra vắcxin, các mô hình thí điểm…

2 Khái niệm lý luận:

Lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh

những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của các sự vật hiện tượng trong

thế giới và được biểu đạt bằng hệ thống nguyên lý, quy luật, phạm trù

Lý luận có các đặc trưng:

- Thứ nhất, lý luận có tính hệ thống, tính khái quát cao, tính logic chặt chẽ

- Thứ hai, cơ sở của lý luận là những tri thức kinh nghiệm thực tiễn

- Thứ ba, lý luận xét về bản chất có thể phản ánh được bản chất của sự vật hiện tượng

II.Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn là một sự thống nhất:

Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ với nhau, tác động qua lại nhau, trong đó thực

tiễn giữ vai trò quyết định

3

Vai trò quyết định của thực tiễn đối với lý luận:

- Thực tiễn là cơ sở nguồn gốc của nhận thức, lý luận

Thông qua và bằng hoạt động thức tiễn con người tác động vào tự nhiên vào xã

hội làm cho tự nhiên và xã hội bộc lộ thuộc tính, tính chất, đặc điểm và được những giác

quan của con người thu nhận, trải qua một quá trình với vô số lần lặp đi lặp lại dần dần

chúng ta có được tri thức hiểu biết về thế giới xung quanh và những tri thức kinh nghiệm

thực tiễn đó được các nhà khoa học khái quát lên thành các lý luận các học thuyết khác

nhau Như vậy nếu không có hoạt động thực tiễn thì chúng ta sẽ không có bất cứ hiểu biết

nào và cũng sẽ không có những cơ sở tiền đề, chất liệu cho các nhà khoa học xây dựng lên

thành các lý luận các học thuyết khác nhau Do đó, thực tiễn là nguồn gốc của của mọi tri

thức hiểu biết, lý luận của chúng ta Ví dụ, chính đo đạc ruộng đất trong chế độ chiếm hữu

nô lệ ở Hi Lạp – La Mã cổ đại là cơ sở cho định lý Talét, Pitago… ra đời

Trang 18

Thực tiễn còn là nơi rèn luyện giác quan của con người (ví dụ, thông qua sản xuất,

chiến đấu những cơ quan cảm giác như thính giác, thị giác … được rèn luyện) Các cơ

quan cảm giác được rèn luyện sẽ tạo ra cơ sở cho chủ thể nhận thức hiệu quả hơn, đúng

đắn hơn

Thực tiễn còn là cơ sở chế tạo công cụ, máy móc hỗ trợ con người nhận thức hiệu

quả hơn Ví dụ, kính thiên văn, hàn thử biểu, máy vi tính, … đều được sản xuất chế tạo

trong sản xuất vật chất Nhờ những công cụ máy móc này mà con người nhận thức sự vật

chính xác hơn, đúng đắn hơn Trên cơ sở đó thúc đẩy nhận thức phát triển

- Thực tiễn là động lực, mục đích của nhận thức, lý luận

Chúng ta đã biết nguồn gốc động lực của sự phát triển là cuộc đấu tranh giữa các

mặt đối lập để giải quyết các mâu thuẫn ngay trong chính bản thân thế giới này và điều đó

làm cho thế giới này luôn nằm trong quá trình phát triển cả trong tự nhiên, xã hội và trong

cả tư duy của chúng ta Quá trình hoạt động thực tiễn không phải là một quá trình hoạt

động giản đơn đây là một quá trình gian khổ và trong quá trình đó thường xuyên nảy sinh

ra những mâu thuẫn, những nhu cầu… và điều này buộc con người phải nghiên cứu, nhận

thức, nắm bắt để từ đó tìm ra biện pháp giải quyết mâu thuẫn thỏa mãn nhu cầu đó làm

cho nhận thức của con người ngày càng phát triển hơn Ví dụ: việc Bác Hồ ra đi tìm

đường cứu nước, động lực thôi thúc Bác đó chính là những mâu thuẫn của xã hội Việt

Nam đầu thế kỷ 20 mà trước hết là mâu thuẫn giữa quan hệ dân tộc Việt Nam ta với chủ

nghĩa đế quốc thực dân và thứ hai là mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với địa chủ

phong kiến Việt Nam tức là mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp đã trở thành động

lực thôi thúc nhiều nhà yêu nước phải nhận thức phải tìm ra con đường để cứu nước cứu

dân, đây là một động lực từ trong thực tiễn

Thực tiễn luôn đặt ra nhu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi nhận thức phải trả lời Nói cách

khác, chính thực tiễn là người đặt hàng cho nhận thức phải giả quyết Trên cơ sở đó thúc

đẩy nhận thức phát triển Ví dụ, dịch cúm gà H5N1, dịch Ebola đặt ra cho nhân loại nhiệm

vụ nghiên cứu chế tạo vắc xin cho các loại dịch cúm này

- Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý

Chỉ có lấy thực tiễn kiểm nghiệm mới xác nhận được tri thức đạt được là đúng hay

sai, là chân lý hay sai lầm Thực tiễn sẽ nghiêm khắc chứng minh chân lý, bác bỏ sai lầm

Tuy nhiên, cần phải hiểu tiêu chuẩn thực tiễn một cách biện chứng: tiêu chuẩn này vừa có

tính tuyệt đối vừa có tính tương đối Tính tuyệt đối là ở chỗ thực tiễn là tiêu chuẩn khách

quan duy nhất để kiểm nghiệm chân lý, thực tiễn ở mỗi giai đoạn lịch sử có thể xác nhận

được chân lý Nhưng tiêu chuẩn thực tiễn có tính tương đối vì thực tiễn không đứng im

Trang 19

một chỗ mà biến đổi và phát triển; thực tiễn là một quá trình và được thực hiện bởi con

người nên không tránh khỏi có cả yếu tố chủ quan Tiêu chuẩn thực tiễn không cho phép

biến những tri thức của con người trở thành những chân vĩnh viễn, tuyệt đích cuối cùng

Trong quá trình phát triển của thực tiễn và nhận thức, những tri thức đạt được trước kia và

hiện nay vẫn phải được kiểm nghiệm bởi thực tiễn tiếp theo Vì vậy, những tri thức được

thực tiễn chứng minh ở một giai đoạn lịch sử nhất định phải tiếp tục được bổ sung, điều

chỉnh, sửa chữa và phát triển hoàn thiện hơn Việc quán triệt tính biện chứng của tiêu

chuẩn thực tiễn giúp ta tránh khỏi những cực đoan sai lầm như chủ nghĩa giáo điều, bảo

thủ hoặc chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩa tương đối Ví dụ: Mác và Anghen nói “ Vô sản tất

cả các nước đoàn kết lại” thì Lênin nói “Vô sản các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn

kết lại” nói như vậy không có nghĩa là Mác và Anghen nói sai và Lênin đã phản bác lại mà

Lênin đã bổ sung cho khẩu hiệu của Mác và Anghen bởi vì trong thời đại của Mác và

Anghen thì chủ nghĩa tư bản chưa phát triển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa và nó phát

triển đang tương đối đồng đều giữa các nước còn đến thời đại của Lênin thì chủ nghĩa tư

bản đã phát triển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc cho nên lúc này trung tâm của cuốc

cách mạng không còn nóng ở các nước tư bản nữa mà nó chuyển sang các nước các dân

tộc thuộc địa và vì vậy để chống lại chủ nghĩa đế quốc thì phải thay đổi khẩu hiệu

4 Vai trò của lý luận đối với thực tiễn:

- Lý luận soi đường dẫn dắt cho thực tiễn

- Lý luận khoa học góp phần giáo dục, thuyết phục, động viên, tập hợp quần chúng để tạo thành phong trào hoạt động thực tiễn rộng

lớn của đông đảo quần chúng

- Lý luận định hướng, dự báo cho hoạt động thực tiễn

Lý luận có thể thúc đẩy tiến trình phát triển của thực tiễn nếu đó là lý luận khoa

học và ngược lại có thể kìm hãm sự phát triển của thực tiễn nếu đó là lý luận phản khoa

học, phản động, lạc hậu

Lý luận khoa học sẽ trở thành kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn Nó hướng

dẫn, chỉ đạo, soi sáng cho thực tiễn, vạch ra phương pháp giúp hoạt động thực tiễn đi tới

thành công Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: "Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt

mà đi" Lý luận đem lại cho thực tiễn những tri thức đúng đắn về những quy luật vận động

và phát triển của thế giới khách quan, giúp con người xác định đúng mục tiêu để hành

động có hiệu quả hơn, tránh được những sai lầm, vấp váp

Lý luận khoa học thâm nhập vào hoạt động của quần chúng tạo nên sức mạnh vật

chất, điều chỉnh hoạt động thực tiễn, giúp cho hoạt động của con người trở nên tự giác,

Trang 20

chủ động, tiết kiệm được thời gian, công sức, hạn chế những mò mẫm, tự phát.

Lý luận khoa học dự kiến sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng trong

tương lai, từ đó chỉ ra phương hướng mới cho sự phát triển Con người ngày càng đi sâu

khám phá giới tự nhiên vô cùng vô tận bằng những phương tiện khoa học hiện đại thì càng

cần có những dự báo đúng đắn Nếu dự báo không đúng sẽ dẫn đến những sai lầm, hậu

quả xấu không thể lường được trong thực tiễn Vì thế, chức năng dự báo tương lai là chức

năng quan trọng của lý luận Chẳng hạn như bây giờ chỉ mới đầu thế kỷ 21 nhưng con

người đã biết được đến cuối thế kỷ 21 nhiệt độ trái đất sẽ nóng lên bao nhiêu, nước biển sẽ

dâng cao bao nhiêu, bao nhiêu % diện tích đất đai sẽ bị ngập mặn, bao nhiêu % dân số thế

giới sẽ bị ảnh hưởng… từ đó loài người đề ra những biện pháp để ứng phó với sự thay đổi

khí hậu toàn cầu

II Ý nghĩa phương pháp luận:

Sự phân tích trên đây về vai trò của thực tiến đối với lý luận đòi hỏi chúng ta phải quán

triệt quan điểm thực tiễn trong các hoạt động:

5 Trong nhận thức:

- Xuất phát từ thực tiễn: có nghĩa là trong quá trình nhận thức chúng ta phải lấy thực

tiễn làm căn cứ, làm cơ sở làm điểm xuất phát để từ đó khái quát thành lý luận Nếu vi

phạm nguyên tắc này chúng ta sẽ mắc bệnh lý thuyết suông, lý luận suông

- Bám sát thực tiễn: để khi thực tiễn vận động biến đổi thì chúng ta phải kịp thời điều

chỉnh nhận thức, bổ sung nhận thức thậm chí thay đổi nhận thức cho phù hợp với thực tiễn

mới, có như thế thì lý luận mới phù hợp với thực tiễn Nếu vi phạm nguyên tắc này không

bám sát thực tiễn thì gọi là mắc bệnh giáo điều, rập khuôn, máy móc… Bệnh giáo điều: là

căn bệnh tuyệt đối hóa lý luận, nhận thức và hành động chỉ dựa vào lý luận, coi lý luận là

"chìa khóa vạn năng" cho tư duy và hành động, bất chấp điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Thể

hiện ở chỗ: coi tri thức là chân lý tuyệt đối, là cứng nhắc, tách lý luận khỏi thực tiễn, rơi

vào bệnh lý luận suông, không biết cụ thể hóa lý luận cách mạng cho thích hợp với điều

kiện, hoàn cảnh của từng lúc, từng nơi, không biết bổ sung lý luận mới rút ra từ trong thực

tiễn sinh động và vận dụng một cách máy móc, rập khuôn, cứng nhắc, thiếu sáng tạo vào

hoạt động nhận thức cũng như hoạt động cải tạo hiện thực mà không chú ý đến điều kiện

lịch sử cụ thể đối tượng, mang lại hiệu quả xấu cho hoạt động lý luận và thực tiễn Xét từ

khía cạnh trình độ nhận thức thì bệnh giáo điều có nguồn gốc từ sự yếu kém về tư duy lý

luận, nhất là lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Thường xuyên tổng kết thực tiễn: bởi vì thông qua hoạt động thực tiễn sẽ kiểm chứng

được tri thức, lý luận của mình đúng hay sai cho nên thông qua quá trình vận dụng lý luận

Trang 21

vào thực tiễn phải tổng kết thực tiễn để rút ra bài học kinh nghiệm có nghĩa là khẳng định

tính đúng sai Nếu tri thức đúng thì phát triển lên, nếu tri thức sai thì phải sửa chữa, điều

chỉnh Như vậy từ việc tổng kết thực tiễn rút ra bài học kinh nghiệm và góp phần xây dựng

lý luận, khi đã có lý luận thì trở lại điều chỉnh thực tiễn Do đó, giữa lý luận và thực tiễn

luôn thống nhất với nhau nên chúng ta phải tổng kết thực tiễn và việc này cần phải làm

thường xuyên

6 Trong hoạt động:thực hiện các nguyên tắc sau

- Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn: trong hoạt động thực tiễn muốn hoạt động thực tiễn có hiệu quả thì chúng ta cần quán triệt

nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: "Thống nhất lý luận với thực tiễn là nguyên tắc căn bản của triết

học Mác – Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận

suông", hai khuynh hướng này sẽ đưa đến hoạt động thực tiễn kém Lý luận có khoa học đến đâu mà không được vận dụng vào thực tiễn thì

nó vẫn không có giá trị cải tạo hiện thực cho nên trong quá trình tổ chức hoạt động thực tiễn để cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả thì

chúng ta cần chú trọng công tác triển khai gắn lý luận vào thực tiễn, đây là nguyên tắc quan trọng

- Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng: nguyên tắc này yêu cầu trong hoạt động chúng ta phải dựa vào lý

luận khoa học, lấy lý luận khoa học để soi đường, chỉ đạo cho thực tiễn Vi phạm nguyên tắc này gọi là bệnh kinh nghiệm Bệnh kinh

nghiệm khác với tri thức kinh nghiệm, tri thức kinh nghiệm được rút ra từ công việc thực tiễn có ưu điểm là giải quyết công việc nhanh hơn

trong điều kiện thực tiễn giống nhau, hạn chế là đôi khi tri thức kinh nghiệm cũng dẫn đến kết quả sai do điều kiện thực tiễn khác nhau,

thực tiễn rất sinh động và luôn biến đổi không ngừng đặt ra yêu cầu mới nhiệm vụ mới mà trong công việc nếu chúng ta tuyệt đối hóa các

tri thức kinh nghiệm ngại học tập, nâng cao trình độ lý luận khoa học để phù hợp với thực tiễn thì gọi là bệnh kinh nghiệm

- Trong công tác, mỗi cán bộ phải gương mẫu thực hiện phương châm “nói đi đôi với làm”, tránh nói một đằng, làm một nẽo; nói nhiều

làm ít, nói mà không làm,…

IV Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân:

-Chúng ta hay đề cập nhiều đến phương pháp giảng dạy mới: Lấy người học làm trung

tâm, tạo tính chủ động, tính sáng tạo cho bản thân người học, người dạy chỉ đóng vai trò

người định hướng, nhà tổ chức trong quá trình dạy học Theo chúng tôi, với đặc thù của

môn học lý luận Mác - Lênin thì phương pháp hiệu quả nhất là giảng dạy gắn lý luận vào

Trang 22

đời sống thực tiễn, gắn những nguyên lý, những phạm trù tưởng chừng rất trừu tượng của

bài giảng vào giải quyết những vấn đề rất cụ thể bên ngoài thực tiễn cuộc sống, để làm rõ

tính khoa học và cách mạng của các nguyên lý lý luận đó, nhằm cung cấp cho học sinh

những phương tiện tri thức để chuyển dịch từ lĩnh vực học tập sang lĩnh vực hoạt động

thực tiễn Trên cơ sở đó, người giáo viên mới có thể trở thành người định hướng, nhà tổ

chức giờ dạy học theo phương pháp nêu tình huống

Trang 23

Bài 2: Những vấn đề cơ bản của CNDVLS

Câu 6: Phân tích nội dung và ý nghĩa của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản

xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất? Liên hệ sự vận dụng quy luật

này trên đất nước ta?

I Phân tích nội dung và ý nghĩa của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình

độ của lực lượng sản xuất.

a) Khái niệm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Lực lượng sản xuất và các yếu tố cơ bản cấu thành lực lượng sản xuất Lực lượng sản

xuất là toàn bộ các nhân tố vật chất, kỹ thuật của quá trình sản xuất, chúng tồn tại trong

mối quan hệ biện chứng với nhau tạo ra sức sản xuất làm cải biến các đối tượng trong quá

trình sản xuất, tức là tạo ra năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới

tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội

Lực lượng sản xuất bao gồm: Người lao động (như năng lực, kỹ năng, tri thức ) và các

tư liệu sản xuất (gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động) trong đó nhân tố người lao

động giữ vai trò quyết định Sở dĩ như vậy là vì suy đến cùng các tư liệu sản xuất chỉ là

sản phẩm lao động của con người, đồng thời giá trị và hiệu quả thực tế của các tư liệu sản

xuất phụ thuộc vào trình độ sử dụng của người lao động Trong tư liệu sản xuất, nhân tố

công cụ lao động do con người sáng tạo ra phản ánh rõ nhất trình độ phát triển của lực

lượng sản xuất Ngày nay, với sự phát triển và ứng dụng nhanh chóng những thành tựu

của khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất làm cho các tri thức

khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thúc đẩy sự phát triển và chuyển

từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức

Lực lượng sản xuất phản ánh quan hệ giữa con người với giới tự nhiên trong quá trình

sản xuất Lực lượng sản xuất là nhân tố cơ bản, tất yếu tạo thành nội dung vật chất của quá

trình sản xuất Thế nhưng, chỉ có lực lượng sản xuất vẫn chưa thể diễn ra quá trình sản

xuất hiện thực Để quá trình sản sản xuất diễn ra còn phải có những quan hệ sản xuất đóng

vai trò là hình thức kinh tế của quá trình sản xuất ấy Quan hệ sản xuất là quan hệ kinh tế

giữa người và người trong quá trình sản xuất

Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ

chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm

Những quan hệ sản xuất này tồn tại trong mối quan hệ thống nhất và chi phối, tác động

Ngày đăng: 08/12/2022, 03:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w