Giáo trình Đọc văn (Lý thuyết và thực hành Đọc hiểu tác phẩm văn học trong chương trình Ngữ văn phổ thông): Phần 2 gồm có 2 chương như sau: Chương 3 đọc tác phẩm văn học trung đại, chương 4 đọc tác phẩm văn học hiện đại. Mời các bạn cùng tham khảo để biết thêm nội dung chi tiết.
Trang 11.ĐỌC THƠ CÑ TRUNG ĐẠI
1.1 Cách đọc thơ ca trung đại
1.1.1 (ách đọcthơ Đường luật
Đọc tác phẩm thơ Đường luật có rắt nhiều cách, giáo trình hướng
dan cách đọc tổng hợp từ góc độ thi pháp học, văn hóa học, có thể tham
khảo thêm kí hiệu học Với cách đọc này, cần tích lũy kiến thức về văn
hóa và kiến thức về đặc trưng thể loại Khi đọc văn bản thơ Đường luật,
it hat can nam được bốn đặc điểm sau:
(1) Thể thơ
'Thơ Đường gồm 2 thể thơ chính là cổ thể thi và cận thể thi Cổ thể
thì bao gồm cổ phong và nhạc phủ Cận (kim) thể thi là thể thơ cách luật
ngũ ngôn hoặc thất ngôn ra đời trong thời nhà Đường, bao gồm bát cú, tuyệt cú và bài luật Loại này còn gọi là thơ Đường luật (phải phân biệt thơ Đường và thơ Đường luật) Thơ bát cú, nhất là thất ngôn bát cú là dạng chính của thơ Đường luật, vì từ đó có thể suy ra hình thức của các loại tuyệt cú và bài luật
(2) Cấu trúc thơ Đường luật
Như đã nói ở trên, thơ bát cú là dạng cơ bản của thơ Đường luật, vì thế giáo trình phân tích cầu trúc thơ Đường luật chủ yếu thông qua loại này
Bồ cục: một bài thơ bát cú gồm 4 phần: đẻ, thực, luận, kết Phần Đề gồm 2 câu đầu, câu thứ nhất là “phá đề”, câu thứ hai là “thừa đề” Phá đề
mở ý của bài thơ, thừa để tiếp ý của phá để để chuyển vào thân bài Phần
Trang 2ý của Đẻ Phần Luận gồm câu thứ năm và thứ sáu, phát triển rộng ý của
Dé Phần Kết gồm hai câu cuối, kết lại ý của toàn bài Lưu ý, bổ cục 2/2/2/2
là bố cục phổ biến của thơ Đường luật Bên cạnh đó còn có những cách bố cục khác như bố cục 4⁄4, nửa trên và nửa dưới (Kim Thánh Thán đề xuất phân tích thơ bát cú Dưỡng luật theo theo bố cục này) Hoặc bồ cục 2/4/2,
cơ sở của cách chia này là 4 câu giữa nặng vẻ không gian, hai câu đầu, hai
câu cuối nặng vẻ thời gian Ngoài ra thậm chí còn có loại bố cục 1/7 như bài thơ Văn quan quân thu phục Hà Nam Hà Bắc của Đỗ Phủ
Niém: nghĩa đen của từ niêm là đán Ở đây niêm là dán các liên thơ
vào với nhau Niêm trong thơ Đường luật chỉ quan hệ âm luật giữa hai lên (một cặp câu) trong một bài thơ, Câu thơ thứ hai của liên trên niêm
với câu thứ nhất của liên dưới khi chữ thứ nhì của hai câu này cùng thanh Trong bài thơ bát cú Đường luật, những câu thơ sau niêm với nhau: 1-8,
23, 4-5, 6-7, Những bài làm không đúng quy định trên gọi là “thắt niêm”
Luật: Nếu như niêm là dán các liên thơ theo chiều doc thì luật là đán các liên thơ theo chiều ngang Một bài thơ Đường luật nhất thiết phải theo
sự quy định về thanh bằng, trắc trong từng câu và trong cả bài Hệ thống thanh bằng - trắc trong cả bài được quy định như sau: nêu chữ thứ hai của
câu thứ nhất là thanh bằng thì bài thơ thuộc luật bằng và ngược lại Ví dụ
bài thơ Thu lưng của Đỗ Phủ có chữ thứ hai mang thanh trắc (16) vi vay thuộc luật trắc Trong mỗi câu, xu hướng chung là các cặp bằng - trắc lần lượt thay nhau Nhưng nhìn chung ít người sáng tác rập khuôn như vậy
mà phổ biến hơn cả là công thức nhất tam ngũ bắt luận, nhị tứ lục phân
mình Nghĩa là: chữ thứ nhất, thứ ba, thứ năm không bị ràng buộc bởi luật bằng trắc nhưng chữ thứ hai, thứ tư, thứ sáu phải phân minh Ví dụ:
Ngọc lô điều thương phong thu lâm,
Trang 3
Vận: thơ Đường luật chỉ gieo một vần là vẫn bằng Vần này nằm ở chữ cuối cùng của các câu 1, 2,4,6, 8
Đối: đối trong thơ bát cá Đường luật nằm ở liên 1 và 2 tức phần thực
và phần luận của bài thơ (tuy nhiên cũng có ngoại lệ) Đối trong thơ Đường luật rất phong phú, cơ bản có công đối, tiểu đối, lưu thủy đối Công đối (đối chỉnh) là câu trên đối với câu dưới, các từ đối nhau theo nguyên tắc phải cũng từ loại (động - động, danh - danh ) Ví dụ:
Phong cấp! thién cao/ vidn khigie ai
Chie thanh/ sa bach điểu phí hồi
(Dang cao - Đỗ Phủ), Dich tho:
Gió gấp lrời cao viegn ni non
Bến trong cát trắng lượn chìm cồn
(Nam Trân dịch)
Tiểu đối (tự đối) là đối trong một dòng thơ Ví đụ:
Quốc phái sơn hà ti,
Thành xuân! thảo mộc thâm
(Xuân sọng - Đỗ Phú) Dịch thơ:
Nước mất nhường sông núi còn
Thành xuân quanh qué wm tìm cỏ gai
(Khương Hữu Dụng dịch) Lưu thuỷ đối (tẩu mã đối) thể hiện ở ý của câu thơ thứ hai là đo câu thứ nhất trượt xuống, câu hai không thể đứng một mình Ví dụ:
Đường quân hoài quy nhật,
Thị thiếp đoạn trường thì
Trang 4“Tứ thơ là cách cảm thụ, khám phá về đời sông và thể hiện sự cảm thụ khám phá đó bằng hình tượng thơ Đương nhiên cách thể hiện đó phải độc đáo, mang dau ấn riêng của từng nhà thơ Đặc trưng tứ thơ Đường là gợi chứ không tả Các nhà thơ đời Đường không trực tiếp miêu tả sự vật hiện tượng
mà thông qua các mỗi quan hệ Trên cơ sở hai quan hệ cơ bản là âm - dương, các nhà thơ đời Đường đã dựng lên trong thơ các mối quan hệ: tình - cảnh, thực - hư, động - tĩnh, thanh - trọc, không gian - thời gian, quá khứ - hiện tại Bằng việc dựng lên những mối quan hệ, các nhà thơ đã tạo ra những, khoảng trồng Ý nghĩa của bài thơ nằm trong chính những khoảng trống đó
(4) Ngôn ngữ thơ Đường
Ngôn ngữ thơ Đường mang tính khái quát cao, thể hiện tư duy
khát quát của con người đời Đường Thơ ca Trung Hoa thời của Kinh thi, Sở từ vẫn mang ngôn ngữ cụ thể Nhưng đến thơ Đường đã phát
triển một bậc, mang tính khái quát cao Ngôn ngữ thơ Đường còn có
tính cô đọng, hàm súc Các nhà thơ Đường có chung tâm niệm “Ngữ bắt kinh nhân tử bắt hưu” (Lời thơ không làm người ta sợ, chết không yên) (Đỗ Phú) Thơ Đường thường xuyên sử dụng phép tính lược và đảo trang trong cú pháp Biện pháp tỉnh lược nhằm tạo trường liên
tưởng cho người đọc Ví dụ:
Kê mình mao didn nguyét
Nhân tích bản kiểu sương
(Thường sơn tảo hành - Vì Trang) Dịch thơ:
Điếm tranh gà gáy ngm
Cafu tầm khách im sương
Trang 5Đảo trang là sự thay đổi trật tự cú pháp câu thơ Đây thường là tín hiệu nghệ thuật Ví dụ:
Tuy ngọa sử trường quân mạc tiếu
Cổ lai chỉnh chiến kỉ nhân hồi?
(Lương Châu từ - Vương Hàn) Dịch thơ:
Sa khướt sa trường anh ché mia
Xưa naự chỉnh chiến mấy ai v6?
(Irần Quang Trân dịch)
Mục đích chủ yếu của biện pháp này là nhắn mạnh Ở đây nó có tác dụng nhắn mạnh, khái quát quy luật chiến tranh và tâm lí của những con người tham chiến ra đi không hỉ vọng ngày về Câu thơ đây ý vị u uắt và
bi trang
Ngoài nắm vững các đặc trưng nghệ thuật của thể loại, việc đọc thơ Đường đối với độc giả Việt Nam còn yêu cầu một thao tác cơ bản đó là
đối chiều bản dịch (đặc biệt là bản dịch thơ) với phiên âm Sự khác biệt
giữa bản dịch thơ và bản phiên âm là điều tất yếu Người Việt Nam với
ưu thể đọc có từ hệ thống từ Hán Việt, những tương đồng về tư duy thẩm mĩ thời kì cổ trung đại, sự tiếp nhận tích cực hệ thống thể loại của văn học cổ đại Trung Quốc hoàn toàn có thể áp dụng hiệu quả thao tác đọc này,
1.1.2, (ách đạc Ngâm khúc
(1) Khái niệm thể loại
Ngâm khúc là thể loại văn học mang đậm đấu ấn của văn học dan
tộc Hầu hết các thể loại của văn học trung đại Việt Nam đều có nguồn gốc từ văn học cổ đại Trung Quốc Vì vậy, sự ra đời của ngâm khúc và
truyện thơ Nôm đánh đấu nỗ lực dân tộc hóa đã đạt đến trình độ tự giác
Trang 6Thuật ngữ “ngâm khúc” bao gồm “ngâm” và “khúc” Ngâm (I9) bao gồm chữ “khẩu” (LI) bên cạnh chữ “kim” (2), theo nguyên tắc hình thanh, chữ “ngâm” có nghĩa là đọc to, rõ ràng trước mặt mọi người Khúc ((l) cũng là một hình thức của ca, có sự gắn bó với âm nhạc Ngâm khúc trong nền văn học trung đại Việt Nam dùng để chỉ những tác phẩm thơ trữ tình trường thiên, thường viết bằng chữ Nôm, sử dụng thể thơ song thất lục bát để điễn đạt những tâm tình u ẩn, buồn thương,
của con người
Ngâm khúc có nguồn gốc bác học, khác với truyện thơ Nôm có nguồn gốc dân gian Sự ra đời của nó xuất phát từ nhu cầu phản ánh đời sống của tầng lớp quý tộc thế ki XVIH - XIX Các tác phẩm ngâm
khúc nổi tiếng có Chỉnh phụ ngâm khúc (Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm), Cung dán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Ai tư sân (Lê Ngọc Hân) (3) Đặc điểm thể loại
Kết cấu: Ngâm khúc giàu tính trữ tình hơn truyện thơ Nôm Nó ít chú trọng đến các yếu tố cốt truyện, nhân vật, sự kiện, tình tiết vốn là
hạt nhân của thể tự sự Nó chú ý phát triển các dòng mạch cảm xúc trữ
tình của tác giả, trong đó đặc biệt ưa chuộng những tâm sự ai oán, buồn thương, những nỗi niém day dứt, nhiều uẩn khúc như nỗi ai oán của người cung nữ, tình cảnh lẻ loi của người chỉnh phụ
Tác phẩm ngâm khúc chỉ có duy nhất một chủ thể trữ tình tự bạch tâm trạng mình, tự phô diễn dòng ý thức đang vận động trong tâm tư để
vẻ hiện tại, rồi từ hiện tại mơ ước đến tương lai, đôi khi theo chiều ngược
lại, hoặc đồng hiện trong dòng nội tâm nhân vật Quá khứ thường gan với hạnh phúc, hiện tại đi cùng khổ đau, còn tương lai chỉ là mộng ước mong manh, xa vời Có thể nói, kết cầu chủ đạo của thể loại ngâm khúc là
Trang 7Thể thơ: Ngâm khúc sử dụng thể song thất lục bát Hình thức song thất lục bát thích hợp để điễn tả những trường đoạn tâm trạng bỉ ai, sầu thám, những tiếng khóc than ai oán đúng như Phan Ngọc đã nhận định:
“cần phải có hình thức ấy thi tình cảm mới mang hình thái một đợt sóng,
đi lên với hai câu thắt, đừng lại ở câu lục ngắn gọn để tỏa ra trong câu bát đài nhất, rồi lại vươn lên một khổ mới, cứ thế như từng đợt sóng tình cảm lên xuống ăn khớp với hình thức của ngôn ngữ”!
Ngôn ngữ: Với mục đích thể hiện bỉ kịch tâm lí của nhân vật trữ tình, các tác giả ngâm khúc luôn lựa chọn những hình thức ngôn ngữ phù hợp
Về cấp độ từ vựng, các khúc ngâm sử dụng các tính từ chỉ trạng thái sầu
thảm với mật độ cao, tiêu biểu như: buồn, thảm, tiếc, sầu, oán sẫu, u sầu,
ngao ngan, sau tui Ben cạnh đó, khúc ngâm xuất hiện đa dạng các từ láy và phong phú vẻ các kiểu láy, như: ù ù, dõi dõi, thăm thảm, đau dau,
lan than, thơ thơ thần thần biệt, các tác giả trung đại còn sử dụng,
thành công các biện pháp tu từ từ vựng như ẩn dụ, so sánh, nhân hóa,
thậm xưng , đem lại giá trị biểu cảm đặc biệt cho tác phẩm Về cấp độ
1.2 Thực hành đọc thơ ca trung đại
1.2.1.Đạcbài thơ “Điển minh giản của Vương Duy
Phiên âm:
Nhân nhần quế hoa lạc,
Dạ tĩnh xuân sơn không
Nguyệt xuất kinh sơn điểu, Thời mình tại giản trung
Trang 8Dich nghia:
'Khe chim kêu
Người thành thơi, hoa quế rụng, Đêm im lặng, non xuân nắng không
Ánh trăng ló lên làm chim múi giật mình Thỉnh thoảng cất tiếng kêu trong khe suối
Đêm xuân lặng ngất trái đổi nắng lanh
Trăng lên chim nai giật mình, Tiếng kêu thủng thẳng đưa quanh khe đối
(Ngõ Tắt Tố dịch) (1) Vấn để tăn bản: Trước khi đọc một văn bản thơ Đường luật chữ Han, người đọc cần chú ý thao tác đối chiêu giữa bản dich tho va nguyên: tác Đây là điểu khó thực hiện với các tác phẩm truyện hoặc văn chính luận viết bằng tiếng Hán, tuy nhiên với khuôn khổ những bài thơ ngắn như tuyệt cú hoặc bát cú Dường luật thì hoàn toàn có thể, Bên cạnh đó, do chúng ta có hệ thống từ Hán Việt phong phú vẫn được sử dụng thường, xuyên đã trở thành điều kiện thuận lợi cho việc đọc thơ chữ Hán Đường luật Lưu ý, khi đọc bản dịch thơ ca can phai hết sức thận trong trong việc thẩm bình cách sử dụng ngôn ngữ
Bài thơ Điểu mình giản có hai vấn để về văn bản Thứ nhất là vấn để
Trang 9cuốn Thơ Đường tập 1„ tr67, Nam Trân giới thiệu va tuyén chon, NXB Van học, H 1987, Tuy nhiên, hai cuốn sách Đường thỉ hội bình, Trần Bá Hải chủ biên, Chiết Giang xuất bản xã, 1992 và Đường thỉ giám tưởng từ điển, Nhiễu tác giả, Thượng Hải từ thư xuất bản xã, đều chép là: “Thời minh xuân giản trung” (Thỉnh thoảng cắt tiếng kêu trong khe núi mùa xuân)
“Tại trung” là kết cầu chỉ địa điểm trong tiếng Trung (ví dụ: “tại học hiệu trung” có nghĩa là “ở trường”, “tại giản trung” là “trong khe suối”), đồng thời nếu dùng “tại giản trung” sẽ tránh lặp lại từ “xuân” trong một bài thơ chỉ có 20 chữ Nhưng liệu có ẩn ý gì không khi đã có “xuân sơn” lại
còn nhắn mạnh “xuân giản”? Vả chăng hai cuốn sách trên xuất bản
tại Trung Quốc, vì thế độ tin cậy cao hơn? Thứ hai là vấn đẻ đối chiếu
nguyên tác và bản Bản dịch của Tương Như đã giữ nguyên lối thơ ngũ tuyệt cùng với những quy tắc của nó Ngô Tắt Tố lại dịch bài thơ theo thể lục bát, một thể loại thơ quen thuộc với người Việt Nam Tuy không giữ được thể ngũ tuyệt trong nguyên tác nhưng bản dịch này rất uyển chuyển Nguyên tác bài thơ có một hệ thống các từ ngữ mang đậm mầu sắc Thiển tông là nhàn, tĩnh, không Đây vốn là các tính từ phổ biến trong tiếng Hán, tuy nhiên, dưới góc độ triết học Thiễn tông, đó lại là những khái niệm Vì vậy, ngôn ngữ địch như thảnh thơi, vắng lặng, vắng teo, vắng tanh không thể chuyển tải hết ý nghĩa đó
(9) “Điểu mình giản” là bài thơ được súng tác theo thể ngũ ngôn tuyệt cứ, tì tậu có thể đọc theo bỗ cục phổ biễn là 2/2 (hai câu đầu chú trọng tả cảnh, hai câu saw chú trong tả tình) hoặc đề, thực, luận, kết
Diéu minh giản là bài thơ nằm trong chùm năm bài thơ có tên Hoàng Phủ nhạc tâm khê tạp đề ngũ thủ Chùm thơ này Vương Duy vịnh phong cảnh tại nơi ở của một người bạn Năm bài thơ mỗi bài viết về một phong cảnh Ngoài khe chim kêu còn có con đập mang tên chim cốc (bài Lô Từ yến), ao bèo (bài Bình trì) Điểu mình giản được làm theo thể ngũ ngôn tuyệt cú (gọi tắt là ngũ tuyệt) Thơ ngũ tuyệt được đánh giá là thành tựu ưu tú nhất của Vương Duy Bài thơ được mở đầu bằng những hình ảnh hết sức tự tại, an nhiên: “Nhân nhàn quế hoa lạc” (Người nhàn hoa quế rụng) “Nhân nhàn”
là tư thế quen thuộc của ẩn giả Bình sinh, Vương Duy cũng sống cuộc đời
Trang 10
chốn quan trường, Vương Duy thường thấp hương tĩnh tọa và nghiên cứu
kinh Phật trong thâm Qua cau thơ còn thấy được tâm hồn tĩnh tại
của thi nhân “Quế hoa” là gì? Thực tế có rắt nhiều ý kiến giải đáp cho câu hỏi đó, Có người cho rằng đó là loài cây có thật ngoài đời sống, nó nở hoa vào mùa xuân Cũng có ý kiến cho rằng hình tượng này là kết quả sáng, tạo nghệ thuật của nhà thơ, không nên soi chiếu để tìm sự vật tương dong trong đời sóng thực Ý kiến sau được chấp nhận hơn cả: cây qué là loại cây cành lá thì rất sum suê nhưng hoa lại nhỏ lỉ tỉ Âm thanh của bông hoa quế rụng không đễ gì nghe thầy Vì thé, trong đêm tối mà biết được “qué hoa lạc” (hoa qué rụng) là điều rất đáng nói Rõ ràng là “nhân nhàn”, “dạ tĩnh”,
rõ ràng là không khí yên bình buổi Thịnh Đường Câu thơ đầu mang lại cho chúng ta ấn tượng vô cùng thi vị và tỉnh tế
có núi nhưng vẫn mang lại cảm giác lạ lùng nêu so với những bức tranh xuân hoa nở tưng bừng, khắp nơi chim ríu rít Lạ lùng ở chỗ sự vật mùa xuân đáng lẽ xôn xao thì lại vô cùng tịch mịch Sở dĩ có điều đó bởi một
loạt những tính từ đặc tả sự tĩnh lặng xuất hiện trong hai câu thơ: nhàn,
tĩnh, không Những từ đó không chỉ là những tính từ miêu tả trạng thái tĩnh, vắng của con người và sự vật mà nó còn mang đậm thiên ý Nhàn, tĩnh, không vốn là những trạng thái đặc thù của nhà Phật Trong thơ, Vuong Duy luôn bày tỏ ý muốn truy cầu nhàn thích va tư tưởng tịch diệt
Vì vậy Diểu mình giản là bài thơ vịnh cảnh mùa xuân nhưng vẫn mang vẻ
tĩnh của thiền
Một bài tuyệt cú thường gồm hai phần: hai câu đầu chú trọng tả cảnh, hai câu sau chú trọng tả tình Nhưng hai câu cuối của Điểu minh gián không theo quy luật ấy mà vẫn tiếp tục tả cảnh: “Nguyệt xuất kinh sơn điểu/ Thời mình lại giản trung” (Trăng lên chim núi hãi/ Dưới khe chốc chốc kêu) Thời gian có sự vận động với hình ảnh “nguyệt xuất (trăng
lên) Hai câu thơ này xuất hiện yếu tô động: trăng lên khiến chim núi giật mình, thỉnh thoảng lại cất tiếng kêu trong khe suối Về hai câu thơ
Trang 11
“không khí yên tĩnh tới mức mà một ấn tượng vẻ thị giác (trăng lên) da
tạo nên hiệu quả như một tiếng động!” ', Có thể nói từ “kinh” thực sự
là nhãn tự của bài thơ, Hai câu thơ này xứng đáng là điển hình của thủ pháp lấy động tả tĩnh Ông Phan Ngọc đã nhận định: thơ Đường là thơ của các mối quan hệ Khảo sát thơ Vương Duy chúng tôi nhận thấy có một mối quan hệ rất tiêu biểu đó là mối quan hệ thể hiện sự gắn kết, chuyển hóa giữa các mặt đối lập nhằm đạt đến một chân lí nào đó Cái
“thực” ở đây chính là các mặt đi giả nam bat được ngay
trên bể mặt ngôn ngữ, nhưng cái “hư” mà chúng ta cần đạt tới là chân
lí nhất định rút ra từ chính sự gắn kết, chuyển hóa giữa các mặt đối lập
đó Hình dung một cách cụ thể thì hai mặt đối lập như hai bờ, chân lí nghệ thuật như đòng chảy ở giữa tạo nên bởi hai bờ đó Mối quan hệ động ~ tĩnh là loại quan hệ tiêu biểu trong thơ Vương Duy Nói về mối quan hệ động - tĩnh có lẽ không bài nào vượt qua được Điểu minh giản
Có thể nhận xét về sự gắn kết, chuyển hóa giữa hai mặt đối lập động —
tinh trong thơ Vương Duy như sau: lầy động tả tĩnh, tĩnh hóa cái động Vương Duy, với sự kết hợp thơ và thiền, đã xử lí cực kì tỉnh tế mối quan
hệ này Trong bài thơ có hai hệ thông từ ngữ tạo sự đối lập động - tĩnh:
“nhàn”, “tĩnh”, “không” đặc tả cái tĩnh, “xuất”, “kinh”, “minh” đặc tả cái
động Thế nhưng cái động trong bài thơ được nêu ra chỉ nhằm cực tả cái tĩnh mà thôi Bài thơ khắc họa sự cực tĩnh của cảnh vật và của tâm
hồn thi nhân Vương Duy đặc biệt ưa thích sự tĩnh tại, an nhiên Chính
vi thé trong thơ sơn thủy, ông hay sáng tạo những ý cảnh ninh tĩnh để
phù hợp với tâm hồn thién ma Diéu minh gidn la mot vi du
(3) Khi đọc những bài thơ n
nhà nghiên cứu phê bình để có những sợi ý cần thiết
lồng, có thể tham khảo những ý kiếm của các
Nguyễn Khác Phi từng cho rằng: “Linh hồn của bài thơ là ở câu thứ ba: không khí yên tĩnh tới mức mà một ấn tượng vẻ thị giác (trăng lên) đã tạo nên hiệu quả như một tiếng động! Và tiếng động ở câu bốn cũng chỉ làm nổi thêm không khí tĩnh ở câu thứ ba mà thôi.“` Chương Bồi Hoàn, Lạc Ngọc Minh viết: “Chừng như Vương Duy vẫn thường tập trung tỉnh
Trang 12than để theo đõi sự động tĩnh, cũng như từng nhịp thở sâu kín của thiên nhiên, cảm ngộ được một sức sống nội tại không thể dùng lời nói để điễn
tả, rồi từ đó viết nên những vẫn thơ của mình”; “Nơi đây tác giả khởi đầu
từ những hình tượng tĩnh lặng như người nhàn, đêm tĩnh, núi vắng, rồi bắt đầu từ những hình tượng động như hoa rơi, trăng lên, chim kêu để miêu tả cảnh núi xuân, sau cùng mới dùng một chữ “kinh” (giật mình) để đánh thức một thế giới mà lúc nào cũng tương thông.”?
1.2.2, Đọc bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan
người đọc cần nắm được thông tin
sơ lược định hướng cho quá trình
(1) Đọc một oãn bản thơ ca trưng đại,
vb tiểu sử, sự nghiệp vitn hoc ctia tic giả n
phong vị hoài cổ
Đèo Ngang là con đèo thuộc dãy Hoành Sơn, ngày nay nằm ở ranh giới của hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình Địa danh này còn là một thắng cảnh nổi tiếng đã xuất hiện rắt nhiều trong thơ ca như Cao Bá Quát với Đăng Hoành Sơn, Nguyễn Khuyến với Quá Hoành Sơn ; trong đó, bài thơ Qua Đo Ngăng của Bà Huyện Thanh Quan được coi là một tuyệt phẩm (2) Đâu là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật, tì tậu người đọc có thé tiép cận bài thơ theo bố cục đề, thực, luận, kết hoặc bỗ cục 4 câu đầu oà 4 câu sau phổi biến của thơ Đường luật
Trang 13
Bon câu thơ đầu: Cảnh Đèo Ngang và tâm trạng man mác buồn của nhân vật trữ tình:
Bước lới Đèo Ngang bóng xế tà
Có câu chen đá lá chen hoa
Lm khom dưới núi tiểu vai chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà
Bài thơ mở đầu bằng bức tranh thiên nhiên Đèo Ngang buổi chiều tà: Bước tới Đèo Ngang bóng xé tà Chiều tà là một khung cảnh gợi buồn và gợi nhớ trong thơ cổ Đây là loại không thời gian nghệ thuật mang tính chất cổ điển của thơ ca trung đại Việt Nam Từ “bóng tịch đương” trong Thăng Long thành hoài cổ đến “bóng xế tà” trong Qua Đèa Ngang, quả thật, chiều tà đã trở thành tín hiệu quan trọng khơi gợi cảm thức thẩm mĩ hoài cổ trong thơ Bà Huyện Thanh Quan Và cảnh chiều tà của dải Hoành Sơn hùng vĩ hiện ra sinh động dưới hai góc độ là cảnh thiên nhiên và cảnh sinh hoạt của con người Bức tranh thiên nhiên hiện lên khoáng đạt mà heo hút: “Củ câu chơn
đá lắ chen hoa” Ảnh mắt của nhân vật trữ tình nhìn khái quát rồi lại đi vào cận
cảnh theo đúng nguyên tắc cận viễn của thơ cổ Động từ “chen” lặp lại hai Ian tưởng chừng khiến cho cảnh vật trở nên sinh động, thêm phản sinh khí
"Tuy nhiên, chút sinh khí đó không làm vợi bớt vẻ hiu hắt của chiều tà vốn là
một không gian gợi những nỗi niềm xa vắng Và cảm giác đó càng đậm nét trong khung cảnh sinh hoạt ở hai câu thực của bài thơ:
Lom khom dưới múi tiểu vai chú
Lắc đác bên sông chợ mấy nhà
Cuộc sống con người chỉ lên qua những hình ảnh thấp thoáng,
là “tiểu vài chú” và “chợ mấy nhà” Sự xuất hiện của dấu hiệu sự sống, con người thưa thớt càng nhắn mạnh sự hoang lạnh của bức tranh chiều hôm Cách đếm số ít một cách ước lượng “vài chú, mấy nhà” cùng với hai từ láy “lom khom, lác đác” được đảo lên đầu câu khiến cho những tin
hiệu sự sống sinh hoạt trở nên nhỏ nhoi trước sự hùng vĩ của cảnh vật,
Trang 14Bốn câu thơ đầu chủ yếu tả cảnh, tuy nhiên trong đó đã thấp thoáng cái tình của thỉ nhân Cảnh vật được nhìn qua đôi mắt đẫm buôn cũng, như trái tim tríu nặng niềm hoài cổ của nữ sĩ nên cả bức tranh Đèo Ngang đều toát lên vẻ cô liêu Bước chân lữ thứ trên đặm đường “ngàn mai gió cuốn” là những bước tâm tư Nguyên tắc “tả cảnh ngụ tĩnh” của thơ Đường luật được Bà Huyện Thanh Quan sử dụng hiệu quả và tỉnh tế
Bồn câu thơ sau thể hiện tâm trạng nhớ nước thương nhà và nỗi cô đơn tuyệt đối của nhân vật trữ tỉnh:
Nhớ nước đau lồng con quốc quốc Thương nhà mỗi m
cái gia gia Dừng chân đứng lại trời, non, nước Một mảnh tình riêng ta túi ta
Cau 5 va 6 (phan luận) trực tiếp bộc lộ hai cảm xúc chủ đạo day tinh
nhân văn của các trí thức phong kiến truyền thống, đó là nỗi nhớ nước và thương nhà Đây là hai câu thơ rất tỉnh tế trong việc chơi chữ cũng như:
sử dụng điển tích, điển có, vì vậy nó đã được liệt vào hàng “danh cú” Nỗi nhớ nước thương nhà ấy được nhà thơ gửi gắm thông qua hai hình ảnh
“con quốc quốc” và “cái gia gia”
Con chim cuc, Trung Quốc gọi là chim đỗ quyên, là loài chim gợi đến
điển cố tang thương vẻ việc Thục đề mắt nước, ôm hận mà chết biến thành con chim cuốc ngày đêm rút ruột kêu những tiếng thê lương “quốc quốc”
Âm thanh ấy đồng âm với chữ “quốc” (nước), cách chơi chữ tài tình đã biến tiếng kêu của con chim cuốc mỗi đêm hè trở thành tiếng khóc, tiếng than khắc khoải, sâu thảm của những kẻ vong quốc Tâm trạng đó sau này chúng,
ta còn bắt gặp trong thơ Nguyễn Khuyến với những dòng thơ huyết lệ:
“Năm canh máu chảy đêm hè vắng ~ Sáu khắc hỗn tan bóng nguyệt mờ”
“Cái gia gia” gần đồng âm với chữ “đa đa” gợi nhớ con chim đa da Con chim đa đa trong các câu chuyện của người Việt đều gắn với những sự tích buồn Đặc biệt tiếng kêu của nó vô cùng da diết, khắc khoải Ở đây, cách chơi chữ tinh tế của Bà Huyện Thanh Quan đã khiến âm thanh ấy nhuồm
Trang 15phụ nữ xa gia đình hướng đến một “nhà” cụ thể, đồng thời “thương nhà” cũng có thể hiểu là niềm thương nhớ triều Lê khi đứng ở đường biên đây cảm xúc giữa xứ Đàng Trong và xứ Đàng Ngoài Hai câu thơ ngắn mà trùng,
ệp ý nghúa, vời vợi cảm xúc đồng thời khiến cho độc giả cảm nhận trọn vẹn vẻ đẹp của hồn thơ Bà Huyện Thanh Quan, hồn thơ kết hợp giữa chất thi si tai hoa và ý thức công dân trọn vẹn trước vận mệnh quốc gia
nhìn nhuốm màu tâm trạng của nữ sĩ khiến cho thiên nhiên càng được tô
đậm vẻ hùng vĩ Và cũng vì thế con người càng trở nên nhỏ bé, đơn côi:
“Một mảnh tình riêng tu tới ta”
Nếu như thiên nhiên rợn ngợp trong một tổng thể kì vĩ với trời non
nước thì đến con người, tắt cả đều lẻ loi, đều “rất một mình”: “một mảnh”, tình “riêng”, “ta” với “ta” Đỉnh cao nỗi cô đơn của nhân vật trữ tình nằm
ở cụm từ “ta với ta” Hai đại từ “ta” đều chỉ ngôi thứ nhất, nhân vật trữ tình đã phân thân để đối điện với chính mình cùng “mảnh tình riêng” trăm mối ngàn tơ Qua Đèo Ngang là đi từ Đàng Ngoài để vào đến Đàng Trong, là hít thở bầu khí quyển của tân triểu mà lòng vẫn nhớ tiếc cựu triều Khi ấy, Đèo Ngang không chỉ còn là địa giới hữu hình mà nó còn là địa giới vô hình chất chứa tâm trạng của một trí thức phong kiến điển hình,
Do đó, “mảnh tình riêng” tuy rất riêng mà lại rất chung vì nó bắt gặp tâm: thức hoài cổ chung của thơ ca trung đại, đặc biệt, nó rắt nhân van
(3) Tổng kết
Qua Deo Ngĩng là một bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ ca Bà
Trang 16Đèo Ngang đẹp hùng vĩ, man mác buồn đồng thời khắc họa bức tranh tâm trạng mang đậm màu sắc hoài cổ của thỉ nhân Với ngôn ngữ trang trọng, tỉnh tế; cách sử dụng hình ảnh sáng tạo; lối dùng từ, chơi chữ tài tình bài thơ xứng đáng được coi là một tuyệt phẩm
1.2.3 Đạc đoạn trích “Tĩnh cảnh lẻ loi của người chỉnh phụ “của Đoàn Thị Điểm
(1) Khi đọc tác phẩm này cần đặc biệt lưu tâm đến tắn đề vin bin va vin đề lác giả
Tác giả của Chỉnh phụ ngâm là Đặng Trần Côn Ông sống ở thế kỉ XVIII, nổi tiếng là người thông minh học giỏi, đã từng làm quan trong một thời gian dài Dịch giả của tác phẩm này là Đoàn Thị Điểm, một người phụ nữ toàn bích Bà là người có tài năng Ngoài Chỉnh phụ ngâm khúc,
bà còn là tác giả của Truyên kì tân phả viết bằng chữ Hán
Về hoàn cảnh sáng tác, Đặng Trần Côn sáng tác Chính phụ ngâm vào khoảng nửa đầu thế kỉ XIX Đây là thời kì vô cùng rối ren của xã hội phong
kiến Chiến tranh xảy ra liên miên, hết Lê - Mạc đánh nhau đến Trịnh -
Nguyễn phân tranh, đất nước chia làm hai nửa Ngai vàng của nhà Lê mục ruéng, Nong dan bat bình nồi dậy khởi nghĩa ở khắp nơi Nhân dân sống,
trong cảnh loạn li nỗi da nâu thịt, cha mẹ xa con, vợ xa chồng, Văn học thời
kì này tập trung phản ánh bản chat tan bao, phản động của giai cấp thông, trị và nỗi đau khổ của những nạn nhân trong chế độ thối nát ấy Tác phẩm Chỉnh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận được sự đồng cảm rộng rãi của tầng lớp Nho sĩ Nhiều bản địch xuất hiện, trong đó bản dịch sang, chữ Nôm của bà Đoàn Thị Điểm được coi là hoàn hảo hơn cả, thể hiện thành công giá trị nội dung và nghệ thuật của nguyên tác
Tác phẩm thể hiện thái độ oán ghét chiến tranh phi nghĩa va thể hiện
tâm trạng khao khát tình yêu hạnh phúc lứa đôi, một đề tài ít được chú ý tới trong thời điểm bấy giờ Nội dung ấy được thể hiện bằng bút pháp tự
sự và trữ tình đặc sắc Đoạn trích Tình cánh lẻ loi của người chính phụ trích
trong Chỉnh phụ ngâm từ câu 193 đến câu 216 Đoạn trích có thể được chia làm ba phần Đoạn 1 từ câu 1 đến câu 16 thể hiện nỗi cô đơn của người
chỉnh phụ trong cảnh lẻ loi, cảm giác vẻ thời gian chờ đợi, có tìm cách giải
Trang 17người chồng ở xa, cảnh khiến lòng thêm ảm đạm Đoạn 3 là phần còn lại,
thể hiện tâm trạng người chỉnh phụ ở đâu, lúc nào, làm gì cũng chỉ gặp lại chính mình
(2) Doan trích nên phân thành đoạn nhủ để đọc, trong khi đạc cầm chú ý lầm đặc trưng của khúc ngâm đó là các dòng mạch cảm xúc của nhân nật trữ
tình mà phần lớn là ai odn, buồn thương, day dứt
Đoạn 1 (16 câu thơ đầu) thể hiện tâm trạng buôn, cô đơn, lẻ loi, khát
khao hạnh phúc lứa đôi, Tám câu thơ đầu thể hiện tâm trạng khắc khoải chờ chồng Người chỉnh phụ đi đi lại lại trong hiên vắng, hết rủ rèm xuống lại cuốn rèm lên Những hành động lặp đi lặp lại diễn tả s túng, bề tắc của người chinh phụ Nàng trách móc con chim thước chẳng,
báo tin, người chỉnh phụ chỉ còn biết làm bạn với ngọn đèn Đêm đêm
người thiếu phụ ngồi bên ngọn đèn cho đến khi bắc cháy rụi thành than hồng rực như hoa Không gian mênh mông càng đẩy sự cô đơn trằm lặng của con người lên cao độ Hình ảnh ngọn đèn, hoa đèn gợi cho người dọc nhớ đến ngọn đèn chẳng tắt của người thiếu nữ ở bài ca dao “đèn thương, nhớ ai mà đèn chẳng tắt với nỗi nhớ da diét, ding đặc Tám câu thơ tiếp
theo không gian bên ngoài phòng đã vắng càng thêm hoang vắng, tịch
minh: ga gay 5 canh, cây hòe phắt phơ rủ bóng, Sự vắng vẻ như bủa vay người chỉnh phụ, khiến nàng càng buồn Người thiếu phụ xa chồng đã thao thức suốt cả năm canh Người chinh phụ gắng gượng để thoát khỏi nỗi cô đơn, đau khổ bằng những hành động đốt hương, soi gương, gảy
đàn Nhưng đốt hương - hỗn “mê mải”, soi gương - “lệ lại châu chan”,
gay đàn - sợ đây đứt, phím chùng (điểm gở) Nàng không thoát được nỗi
cô đơn mà lại càng thêm đau khổ, Như vậy mười sáu câu thơ đầu là tâm trạng cô đơn, ngóng trông khắc khoải và ngày càng sâu đậm, đa diết khi người chồng đi chiến trận nơi xa không biết khi nào trở vẻ
và lòng người “Non Yên” là địa danh nơi người chồng chinh chiến
Trang 18nhờ gió đông đem theo hơi ấm của tình yêu thương đến với chồng nơi non Yên Hình ảnh gió đông và non Yên mang tính ước lệ gợi nên không gian rộng lớn và khoảng cách xa xôi muôn trùng giữa chỉnh phu và chỉnh phụ Khoảng cách đó càng nhân lên nỗi nhớ mong da
điết, khấc khoải của người chỉnh phụ Nỗi nhớ kéo dai vô tận và được
cụ thể bằng hình ảnh so sánh “đường lên” bằng trời “thăm thảm” Nỗi nhớ cứ chà đi xát lại, xâu xé tâm can người chỉnh phụ, được diễn tả qua từ “đau dau”, Hai từ “thăm thẳm” và “đau đầu” gợi lên một nỗi nhớ nhung đa điết khôn nguôi, một nỗi nhớ nhung luôn canh cánh trong lòng Nó diễn tả chân thực tâm trạng khắc khoải, nhớ thương của người chỉnh phụ Những câu thơ có sự gặp gỡ giữa hai tác giả
Kiều ở nguyên lí “Cảnh nào cảnh chẳng đeo
Chỉnh phụ ngâm và Tru
sầu - Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Đó chính là sự đồng cảm giữa thiên nhiên và tâm trạng con người Đoạn thơ là nỗi nhớ chồng
đa diết dày xé tâm can người chỉnh phụ
Doan 3 (phan còn lại) thể hiện tâm trạng cô đơn, sầu muộn của người chỉnh phụ, ở đâu, lúc nào, làm gì cũng chỉ gặp lại mình Đó là tâm trạng lo lắng cho sự an nguy của chồng nơi chiến trận; lo lắng buồn bã vì tuổi trẻ qua đi vội vã, hạnh phúc và tình yêu sẽ mất, khao khát hạnh phúc lứa đôi mãi cũng chỉ là khao khát Niềm tin vào tương lai của người chỉnh phụ thì mỏng manh, mờ nhạt
@) Tầng kết
Qua sự đồng cảm, sẽ chia với nối niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ, tác giả đã khẳng định được giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc của khúc ngâm, đồng thời gián tiếp phê phán chiến tranh phong
kiến phi nghĩa chia rẽ tình cảm gia đình, tạo nên bi kịch cho cuộc sống, con người Nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm trạng đặc sắc; tiếng nói độc thoại mang giá trị nhân văn cao cả; khắc họa hình tượng nhân vật qua cử
chỉ, hành động; sử dụng nhiều điệp ngữ, điệp từ, ẩn dụ, tượng trưng và
Trang 192 ĐỌC TRUYỆN TRUNG ĐẠI
2.1, Cách đọc truyện trung đại
3.1.1 (ách đọc iu thuyết chương hồi
(1) Khái niệm thể loại
“Tiểu thuyết chương hỏi” là một thể loại đặc thù của văn học cổ điển
Trung Quốc Thuật ngữ này dùng để chỉ những văn bản tự sự đạt đến trình độ mẫu mực, hoàn chỉnh, ra đời trong thời đại Minh Thanh và có hình thức chương hỏi độc đáo Vì vậy loại hình tự sự này còn được gọi là tiểu thuyết cổ điển Đa số các nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng, thể loại này được du nhập vào Việt Nam vào thế kỉ XVIII, mé dau voi Nam triều công nghiệp diễn chí (1791) của Nguyễn Khoa Chiêm, đạt tới hoàn thiện với Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái)
(2) Phân loại tiểu thuyết chương hồi
Lỗ Tắn trong cuốn Lược sử tiểu thuyết Trung Quoc (Trung Quốc tiểu thuyết sử lược) đã phân tiểu thuyết chương hồi đời Minh thành 4 loại là giảng sử, thần ma, nhân tình thế thái và thị dân; phân tiểu thuyết chương hồi đời Thanh thành sáu loại là giảng sử, chấm biếm, nhân tình, hiệp tà, hiệp nghĩa và khiển trách Về sau, nhiều nhà nghiên cứu Trưng Quốc dựa vào tiêu chí đề tài đã thống nhất chia tiểu thuyết chương hồi thành năm loại là giảng sử, anh hùng, thần ma, nhân tinh thé thai va loại thứ năm
là biến thể của tiểu thuyết chương hỏi là đoản thiên tiểu thuyết Ở Việt Nam, tiểu thuyết chương hồi chủ yếu là tiểu thuyết giảng sử, tiêu biểu là Hoàng Lê nhất thống chí của nhóm Ngô gia văn phái
(3) Đặc điểm thể loại
¡, tiểu thuyết chương hồi đời Minh Thanh rất phong phú
Như trên đã nói, các nhà nghiên cứu Trung Quốc phân loại thể loại này
u Đồng quan điểm với nhà nghiên cứu Đông phương học Xêmanóp phân tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc thành hai tiểu loại là tiểu thuyết anh hùng (bản chất cũng là giảng
Trang 20
trong tiểu thuyết chương hỏi là lịch sử và thế sự Đề tài lịch sử phổ biến
ở tiểu thuyết đời Minh như Tam quée dién nghia (La Quan Trung) và đề tài thé su đem đến những tác phẩm kết tỉnh ở đời Thanh như Hồng lâu mộng
(Tào Tuyết Cẳn) Ở Việt Nam, tiểu thuyết chương hồi chủ yếu hướng đến
để tài lịch sử
Tiểu thuyết chương hồi có kết cầu theo lối chương hồi độc đáo, đầu mỗi hồi đều có phần “nhập thoại” (nhập chuyện) bằng thơ hoặc một mầu chuyện nhỏ Tiếp theo là phân “chính văn” khắc họa rõ nét nhân vật và
sự kiện; phần này ngoài tự sự còn xen lẫn cả thơ, từ, phú có tác dụng làm sáng tỏ thêm câu chuyện đồng thời gián tiếp bộc lộ thái độ của tác giả Phần cuối cùng, kết thúc các hỏi thường bằng thơ hoặc từ, tác dụng chính của nó là thể hiện ý nghĩa khuyên răn Tiểu thuyết chương hỏi thường,
có kết cầu lớn với nhiều sự kiện, nhiều nhân vật và chủ yếu được kể theo trình tự thời gian tuyến tính
Về nhân vật, sự kiện, tiểu thuyết chương hỗi thường có số lượng,
nhân vật và sự kiện vô cùng đồ sộ Tam quốc diễn nghĩa (La Quán Trung)
có hơn 400 nhân vật với hàng trăm trận giao tranh lớn nhỏ; Hằng lâu mộng
(Tào Tuyết Cần) có 443 nhân vật (230 nam và 213 nữ) Nhân vật của tiểu:
thuyết chương hỏi về để tài lịch sử chủ yếu được khắc họa thông qua hành động và ngôn ngữ Nhân vật chủ yếu là nhân vật chức năng (hay còn được gọi là nhân vật nhất phiến hoặc nguyên phiến nguyên khối), vì vậy thủ pháp khắc họa nhân vật chú trọng ước lệ và cực tả Bên cạnh đó, tiểu thuyết chương hỏi viết về để tài thé sự bắt đầu có yếu t miêu tả tâm
lí, thậm chí có cả độc thoại nội tâm Điều đó khiến tiểu thuyết chương hỏi tiệm cận hơn với tiểu thuyết hiện đại
2,12, Cách đọc truyện truyền kì
(1) Khái niệm thể loại
Truyện truyền kì là thành tựu trác việt của văn xuôi Trung Quốc cổ đại
Dây là một thể loại gây nhiều tranh cãi về kh cũng như nguồn Thuật ngữ “truyền kì” có thể nói xuất hiện lần đầu tiên trong cuốn tuyển tập của Bùi Hình (học giả đời văn Đường) Ông tập hợp các tác phẩm tiểu
Trang 21
cuốn) Tiếp đó, học giả đời Tông Doãn Sư Lỗ cho rằng cuốn Nhạc Dương lâu kí của Phạm Trọng Yêm thuộc “thể truyền kì” Về sau, từ “truyền kì” dần được sử dụng với vai trò là một thể thức mới của tiểu thuyết Tiêu biểu như Hỗ Ứng Lân (đời Minh) phân tiểu thuyết làm sáu loại, trong đó
loại thứ hai chính là truyền kì Đặc biệt ông còn lấy ví dụ cụ thể cho thể
loại này bằng hai tác phẩm truyền kì Đường nổi tiếng là Oanh Oanh truyện
và Hoắc Tiểu Ngọc truyện, Có thể nói, truyền kì chính là một cái tên khác của thể loại tiểu thuyết ở thời nhà Đường
Truyện truyền kì đặc biệt nở rộ trong thời nhà Đường, được coi là
một đấu mốc rực rỡ cho sự phát triển của văn xuôi Trung Quốc cổ đại
Đây được coi là sự tiếp nói của tiểu thuyết chí quái, chi di đời Lục triều
Co thé chia sự phát triển của truyền kì Đường làm ba giai đoạn: sơ thịnh Đường, trung Đường, văn Đường, Giai đoạn sơ thịnh Đường được coi
là thời kì quá độ của thể loại này từ truyện chí quái, chí dị thời Lục triều sang truyền kì Giai đoạn này, các sáng tác truyền kì tương đối ít, nghệ thuật cũng chưa chín muổi, chủ yếu viết về những chuyện ma quỷ, quái
dị Sáng tác nổi bật thời kì này có Cổ kính kí của Vương Độ, Du Hên quật của Trương Trạc (Thốc) Giai đoạn trung Đường là thời kì mà truyền kì Đường, đặc biệt hưng thịnh Đề tài rất phong phú, từ chuyện tình yêu, lịch sử, chính trị cho đến chuyện thân tiên, mộng ảo, hiệp nghĩa Tác phẩm tiêu biểu thời kì này có Nhậm thị truyện của Thẩm Kí Tẻ, Liểu Nghị truyện của
Ly Tiiéu Uy, Ly Oa truyện của Bạch Hành Giản, Oanh Oanh truyện của Nguyên Chẩn, Hoắc Tiểu Ngọc truyện của Tưởng Phòng Văn Đường là thời kì suy thoái của truyện truyền kì, tuy nhiên thời kì này vẫn xuất hiện
những tác phẩm rất có giá trị như Cam trạch dao của Viên Giao, Truyền kì
Ở Việt Nam, truyện truyền kì xuất vào khoảng thé ki XIIL, XIV
và kết thúc vai trò lịch sử của nó vào khoảng nửa cuối thế kỉ XIX Đúng, như B.L Riptin khẳng định: “Thể loại trong văn học trung đại là một phạm trù chủ đạo được thể hiện trong cách thường xuyên nêu bật nó lên ở ngay tên gọi tác phẩm”, thể loại truyền kì xuất hiện rõ rệt ở ngay
Trang 22
tên gọi, nhu Truyén kì mạn lục (Nguyễn Dữ), Truyền kì tâm phả (Đoàn Thị Điểm), Tân truyền kì lục (Phạm Quý Thích) Dưới sự ảnh hưởng của văn học cổ đại Trung Quốc, các nhà văn trung đại Việt Nam bước đầu đã có
ý thức định danh thể loại Có thể nói, các thành tựu nổi bật nhất của văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam chủ yếu tập trung ở truyện truyền kì
Cùng có nguôn gốc từ văn học cổ đại Trung Quốc với kí, hịch, cáo chiều, biểu, tiểu thuyết chương hỏi nhưng có lẽ, truyện truyền kì là thể loại tiếp biến mạnh mẽ nhất Trong số các tác phẩm nói trên, nổi tiếng nhất phải kể đến chính là Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ với 20 truyện tập
hợp trong bốn quyền
(2) Đặc điểm thể loại
Văn bản truyền kì là loại văn bản tự sự, vì vậy khi đọc loại văn bản này phải chú ý hai vấn để cốt lõi của nó là cốt truyện và nhân vật Tuy nhiên, kim chỉ nam cho việc đọc truyện truyền kì chính là chữ “kì” Nói cách khác, yếu tố kì chính là tiêu chí trọng yếu của truyện truyền kì Cái
kì (ở Việt Nam, khái niệm này được chuyển dẫn thành cái kì ảo, kì lạ hoặc yếu tổ kì ảo, kì lạ) trong truyện truyền kì là phương tiện khúc xạ cái thực khiến cho kì - thực song trùng Đây cũng chính là tư duy triết học, tư
duy thẩm mĩ nhị nguyên quen thuộc của văn hóa Trung Hoa cổ đại Đọc truyện truyền kì có thể chú ý đến ba yếu tố: sự kiện kì lạ; nhân vật kì lạ,
ngôn ngữ, các thủ pháp kì lạ Cái kì sẽ trở thành hệ quy chiều để tìm hiểu các vấn đẻ then chốt của thể loại nay
Cốt truyện hiểu đơn giản là một hệ thống sự kiện, biến cố, hành
động trong tác phẩm tự sự và tác phẩm kịch, thể hiện mối quan hệ qua lại giữa các tính cách trong một hoàn cảnh nhất định nhằm thể hiện chủ
đề, tư tưởng của tác phẩm Chuỗi sự kiện làm nên cốt truyện của truyện truyền kì mang đặc trưng của những “kì sự” (sự kiện kì lạ) Các sự kiện của truyện truyền kì thường được tổ chức theo mô hình: các sự kiện “vệ tỉnh” xoay quanh một sự kiện chính, thường là một cuộc kì ngộ, một
tình, một vụ kiện, một bữa tiệ
Trang 23mô hình chuỗi sự kiện có vẻ đơn giản nhưng chính các sự kiện mang tính chất biến cố đã làm cho cốt truyện cũng như nhân vật trở nên hap dẫn, sinh động
Nhân vật của truyện truyền kì chủ yếu là nhân vật kì lạ và nhân
vật pham trân Nhân vật kì lạ trong truyệi
như Việt Nam đều rất phong phú Đó là những nhân vật siêu năng, diện mạo phi phàm, hành tung kì lạ Loại nhân vật này là sự khúc xạ bức
truyền kì Trung Quốc cũng
tranh hiện thực đồng thời phản ánh khát vọng, ước mơ của con người đương thời Họ có thể là tỉnh cây, hương hỏn phiêu dạt của các loài hoa cỏ (Chuyện kì ngộ ở trại Tầ), là các nàng tiên của cối bất tử (Chuyện Từ Thức lấu oợ tiên), cũng có thể là những nhân vật bí ẩn nơi thủy cung (Chuyện đối tụng dưới Long cung) Loại nhân vật thứ hai là nhân vật phàm trần Loại nhân vật này tuy không có năng lực siêu nhiên, không có xuất
thân kì lạ nhưng hâu hết đều gắn bó với thế lực kì lạ và vì thế có số
phận dị thường Đối với cả hai loại nhân vật, mô típ “xuyên không” (dịch chuyển giữa hai thế giới thực và ảo) và “li hỗn” trở nên rất phổ biến trong,
kì Chuyện Từ Thức lấu tợ tiên (nhân vật lạc vào cõi tiên),
Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (nhân vật xuống âm phủ gặp Diêm
Vương) là những ví dụ tiêu biểu Số phận lạ lùng của các nhân vật pham trần cũng là phương thức khắc họa điện mạo bức tranh hiện thực xã
và chuyển tải ước mơ của con người Do đó, kì mà thực, thực mà kì, kì - thực song trùng, đó là nguyên lí đặc thù của truyện truyền kì
'Yếu tô then chốt thứ ba làm nên truyện truyền kì chính là thủ pháp
hư cấu và tưởng tượng Truyền thống “phí kì bất truyền” của văn xuôi Trung Quốc đã khiến cho bút pháp kì ảo có sức sống lâu bẻn Bút pháp
kì ảo được phát huy cao độ để sáng tạo ra những nhân vật kì lạ, những không thời gian phi thường, những hiện tượng siêu nhiên Bút pháp
đó làm biến đổi hoàn toàn không thời gian vật lí, giúp xóa nhòa ranh giới thực - ảo Nhân vật truyện truyền kì thường thể nghiệm mộng ảo ở nhiều cắp độ khác nhau Có những cuộc mộng du tiên, có những giấc mơ xuống long cung, âm phủ Mẫu số chung của mộng ảo là dùng một thể giới phi nhân gian để thực hiện những khát vọng tốt đẹp vốn không thể
Trang 24
Tom lai, cing giống như đọc tác phẩm thuộc các thể loại khác, đọc
truyện truyền kì có thể dùng nhiều phương pháp công cụ như phương pháp tiểu sử học, thi pháp học, phương pháp loại hình (đọc tác phẩm văn học ở góc độ thể loại) Là một thể loại có nhiều thành tựu trong nên văn
hoe Việt Nam, để xuất cách đọc tối ưu cho truyện truyền kì là điều cần thiết
2.1.3, Céch doc truyén tho Nom
(1) Khái niệm thể loại
Truyện thơ Nôm là thành tựu rực rỡ của văn học trung đại Việt Nam
Nó ghi nhận những nỗ lực của ông cha ta trong việc dân tộc hóa nền văn học, nền văn hóa vốn nằm trong khu vực văn hóa Hán Truyện thơ Nôm có nguồn gốc từ các diễn ca, ca vịnh Thời kì đầu nó diễn ca các cốt truyện dân gian Thời kì sau truyện thơ Nôm lựa chọn các cốt truyện có nguồn gốc từ văn học cổ đại Trung Quốc Thời kì cuối cùng, các tác giả truyện thơ Nôm đã sáng tạo những cốt truyện hoàn toàn mới để kể và diễn Truyện thơ Nôm tiêu biểu có Hoa tiên (Nguyễn Huy Tự), Sơ kính tân trang (Phạm Thái), Truyện Kiểu (Nguyễn Du), Truyện Luc Vin Tiên (Nguyễn
của thể loại này Cốt truyện thơ Nồm được tổ chức theo trật tự thời gian
tuyến tính nhưng chứ trọng xung đột, mô hình chung là gặp gỡ - tai biến
- hội ngộ Nhân vật thơ Nôm sinh động và hấp dẫn Nhân vật được xây
dựng “đầy đặn” với điện mạo, số phận và tính cách Trong đó, nghệ thuật
khắc họa tâm lí nhân vật trong truyện thơ được đánh giá là điêu luyện, tĩnh tế Thậm chí, Truyện Kiểu của Nguyễn Du được đánh giá là đã diễn
tả được đòng chảy tâm lí phức tạp và sự phát triển tính cách của nhân vật theo “phép biện chứng tâm hồn” (Lev Tolstoy) Ngôn ngữ trần thuật phổ biến của truyện thơ Nôm nhìn chung vẫn là ngôn ngữ trần thuật gián
tiếp Bên cạnh đó, ngôn ngữ trần thuật trực tiếp cũng được sử dụng, đặc
Trang 25Điểm thứ hai cần chú ý khi đọc truyện tho Nom đó là tính trữ tình của
tác phẩm Dòng cảm xúc trữ tình trong nhiều trường hợp đã quyết định kết cầu của tác phẩm Tiêu biểu như Sơ kính tân trang của Phạm Thái Khi đó,
nó phá vỡ kết cầu tuyến tính của tác phẩm; nhân vật và các sự kiện sẽ được
phát triển theo mạch cảm xúc Thể thơ lục bát dân tộc phù hợp với việc thể
hiện dòng cảm xúc của nhân vật trước thiên nhiên cũng như cuộc sống
Cùng với ngâm khúc, truyện thơ là thành tựu văn học mang đậm dấu ấn của nỗ lực dân tộc hóa của tẳng lớp sĩ đại phu phong kiến trung đại Việt Nam Nó phù hợp để thể hiện những tâm tình của người sáng tác cũng như đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ của độc giả đương thời
2.2 Thực hành đọc truyện trung đại
2.2.1 Đọc “Hỗi trống cổ thành” (Tam quốc diễn nghĩa” của la Quán Trung)
(1) Đọc tiểu thuyết giảng sử cần chứ ý đến điện mạo bối cảnh lịch sử mà tác phẩm sẽ “diễn nghĩa”
Cuộc đời La Quán Trung (13997-14007) có rất ít tài liệu ghi chép lại Một số sử liệu cho biết ông tên là La Bản, người Tiền Đường, Thái Nguyên Ông là người học rộng, tài cao, thích cô độc, có chí đỏ vuong ba Tam quốc diễn nghĩa (tên đầy đủ của tác phẩm là Tam quốc chí thông tục diễn nghĩa) tiểu thuyết lịch sử nồi tiếng ra đời vào khoảng thể kỉ XIV (giai đoạn cuối Nguyên đầu Minh) Nó “diễn nghĩa” lại giai đoạn lịch sử gần 100 nam thời Tam quốc (184-280) với mâu thuẫn điền hình giữa hai yếu tố cát
cứ và phân tranh Tác phẩm được liệt vào hàng “tứ đại kì thư” của văn học cổ điển Trung Quốc
là
Đoạn trích Hồi trồng Cổ thành thuộc hồi 28 trong bộ tiểu thuyết Tin quốc diễn nghĩa có tiêu đề Chém Sái Dương anh em giải nghỉ, Hội Cổ thành tua tôi tu nghia Tên đoạn trích do ban biên soạn sách giáo khoa đặt
(2) Hài trắng Cổ thành là đoạn trích tiêu biểu cho nghệ thuật Hễu thuyết
chương hồi Minh Thanh, lại đị
fc biệt giàu tính kịch Vĩ vdy, khi đọc cầu chứ trọng xung đột (yếu tố tạo nên mút thất của tình tiết, điểm nhắn của mỗi hồi) uà cách
Trang 26Đoạn trích có thể được chia bó cục theo nhiều cách nhưng phải đảm
bảo được đặc trưng diễn tiến của sự kiện trong tiểu thuyết chương hỏi bao gồm thắt nút - phát triển - cao trào - mở nút
Đoạn trích có thể được chia làm hai phần, phần thứ nhất từ đâu đến cầu “Nếu ta bắt em tắt phải đem theo quân mã chứ” Nội dung chính của phần một là sự hoài nghĩ xen lẫn phẫn nộ phừng phừng của Trương Phi đối với Quan Vũ và bước đầu giải quyết mâu thuẫn bằng lời nói (lời giải thích của Quan Vũ) Phẩn thứ hai từ câu tiếp theo đến hét Nội dung chính của phần này là đẩy xung đột lên đỉnh điểm và gỡ thành công nút thắt của hỏi 28 bằng hành động của nhân vật
Cũng có thể chia nhỏ đoạn trích thành năm phần theo đúng mô hình phát triển tình tiết, sự kiện của tiểu thuyết chương hỏi, đó là: Phần Trình
bày (từ đầu đến “bảo Trương Phi ra đón hai chị”): Giới thiệu nhân vật,
sự việc, hoàn cảnh; phần Thắt nút (từ “Trương Phi từ khi” đến “cũng phải theo ra thành"): Mâu thuẫn giữa Trương Phi và Quan Công bắt dau; phần Phát triển (từ “Quan Vũ trông thấy Trương Phi ra” đến “Không phải quân mã là gì kia”): Các biến có tiếp diễn; phẩn Cao trào (từ “Quan Công ngoảnh lại” đến “Thừa tướng đến bắt mày”): Sự xuất hiện của
Sai Dương; phần “Mở nút (phần còn lại): Việc Quan Công chém rơi đầu
Sai Duong
(3) Đọc đoạn trích cần làm nổi bật tính cách của hai nhân oật là Quan Vũ
va Truong Phi Một Trương Phi tuyệt đối cương trực đĩ cùng đi một Quan Vũ đối nghĩa dũng Để khẳng định oẻ đẹp của ết
sử dựng thủ pháp cực lả trong xây dựng nhân ật Đây cũng là yêu tổ nghệ thuật cần chứ ý khi đọc tiểu thuyết chương hồi vé đề tai lich sử
Nhân vật Trương Phi có tính cách nóng nảy, cương trực, yêu ghét rõ
ràng, hồn nhiên, phục thiện Tác giả khắc họa tính cách nhân vật Trương, Phi thông qua diện mạo: mình cao tám thước, đầu báo mắt tròn, râu him
ham én, tiếng như sắm động (ở hỏi khác), mắt trợn tròn xoe, rau him vềnh ngược (đoạn trích Hỏi trồng Cổ thành) Ngoài ra, tác giả còn khắc họa tính cách nhân vật này thông qua ngôn ngữ Lập luận buộc tội của Trương Phi
Trang 27nghĩa; hàng Tào (quy hàng Tào Tháo) tức là bất trung; được phong hầu
tứ tước tức là vi phạm nguyên tắc đạo đức của kẻ sĩ “phú quý bắt năng dam, ban tiện bắt năng di, uy vũ bắt năng khuất; lừa em (tức Trương Phi) tức là bắt nhân La Quán Trung còn khắc họa tính cách nhân vật Trương Phi thông qua hành động Trương Phi có hành động trượng nghĩa sục sôi muốn lấy đầu kẻ phụ nghĩa: “chẳng nói chẳng rằng, lập tức mặc áo giáp, vác mâu lên ngựa”, “dẫn một nghìn quân đi tắt ra cửa Bắc”, “mắt trợn tròn xoe, râu hùm vềnh ngược, hò hét như sắm, múa xà mâu chạy lại đầm Quan Công” Hành động kịch tính sau khi hiểu lầm được hóa giải: “khóc và thụp lay Van Trường” cực tả tính cách hồn nhiên, biết phục thiện của Trương Phi,
Nhân vật Quan Vũ có tính cách trung nghĩa tuyệt đối, khiêm nhường, cẩn trọng Tác giả cũng khắc họa tính cách này thông qua điện mạo, thông, qua ngôn ngữ minh oan thống thiết Trước đó, khi bị Lưu Bị nghỉ ngờ và viết thư khiển trách, Quan Vũ đã thống thiết đáp rằng: “ Em có bụng khác, thần người cùng giết Moi gan rạch mật, bút giấy không nói hết lời Xin nhủ lòng soi xét”, Nay đối diện với sự căm phẫn ngùn ngụt của Trương Phi,
Quan Vũ một lần nữa phải thanh minh: “Hiển đệ đừng nói vậy, oan uống,
anh quá”, “Nếu ta đến bắt em, tắt phải đem theo quân mã chứ”, những lời thanh minh giản dị chứa đựng sự láng túng càng khắc họa hình ảnh một Quan Vũ trong sáng, trong tình Quan Vũ một mực né tránh mũi đạo của Trương Phi chứ không kháng cự lại Hóa giải hiểm nghỉ bằng hành động quyết liệt chém đầu Sái Dương sau hồi trồng thứ nhất cực tả sức mạnh của tài năng, uy vũ và lòng trung nghĩa ở Quan Văn Trường,
Cần lưu ý, bút pháp cực tả là yêu tô rất quan trọng trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của đoạn trích Hồi trồng Cổ thành nói riêng và tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa nói chung Thủ pháp này cực kì khả thủ trong việc miêu tả diện mạo, hành động, lời nói của nhân vật Nó khiến cho những nhân vật nhất phiến của tiểu thuyết giảng sử gây ấn tượng mạnh mẽ đối với độc giả Điểu này cũng rất phù hợp với hình thức chương hỏi của tác phẩm Thủ pháp cực tả sẽ khiến cho nhân vật của tiểu thuyết giảng sử trở thành những tượng đài về nhân cách theo ý đỏ mà tác giả sắp xếp trong quá trình cầu tứ tác phẩm Ví dụ Quan Vũ chém đầu Sái Dương chỉ sau
Trang 28
cho danh hiệu “tuyệt trung” mà người đời phong tặng cho Vần Trường, Kiểu nhân vật của Tam Quốc diễn nghĩa nói riêng và của tiều thuyết chương
hồi đời Minh nói chung là nhân vật nhất phiến (nhân vật một tính cách)
Nó chưa có (hoặc rất ít) cái gọi là tâm trạng hoặc độc thoại nội tâm Toàn
bộ tính cách nhân vật đều được bộc lộ qua diện mạo, ngôn ngữ, hành
động Khí tiếp cận đoạn trích Hồi trắng Cổ thành phải đặc biệt lưu ý điều
này Khi im hiểu đoạn trích này, cằn chứ ý tìm hiểu chỉ tiết nghệ thuật
“hồi trống” Đây là chỉ tiết mang nhiều ý nghía Đó là hồi trống gi
hồi trống đoàn tụ, hỏi trống cao trào của kịch tính
vô cùng đặc sắc, một không gian chiến trận đậm tính sử thi, ngôn ngữ kể chuyện sinh động, hắp dẫn
2.2.2 Đọc “Hoàng Lê nhất thống chí” (bối thứ 14) của Ngõ gia văn phái
(1) Tìm ố, sự nghiệp tác giả có ai trò quan trọng khi đọc tác phim van hoc, trong đó có tiểu thuyết chương hôi Bên cạnh đó, tìm hiểu bối cảnh lịch sử (bao gồm có bỗi cảnh được khắc họa trong tác phẩm, bắt cánh tác phẩm ra đời) là điều rắt cần thiết khi đọc tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết lịch sứ như
“Hoàng Lê nhất thông chí”
Ngô gia văn phái là nhóm tác giả thuộc đồng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai, nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội Tập thể tác giả này có đóng góp lớn cho sự phát triển của văn xuôi trung đại Việt Nam, đặc biệt là thể loại tiểu thuyết chương hỏi Các tác giả tiêu biểu của văn phái có Ngô Thì Sĩ (1726-1780), Ngô Thì Nhậm (1746-1803), Ngô Thì Chí (1758-1788), Ngô Thì Du (1772-1840) Các tác phẩm của nhóm tác giả
này sau được tập hợp thành bộ sách Ngé gia win phi rat bé thé, do s6
Hoàng Lê nhất thống chí là sáng tác tiêu biểu của Ngô gia văn phái Tác
Trang 29đài là 17 hồi, trong đó Ngô Thì Chí viết 7 hồi đầu, Ngô Thì Du viết 7 hỏi tiếp, còn lại 3 hỏi là đo một người khác viết Hoàng Lê nhất thống chí thuộc tiểu loại giảng sử, lẫy những sự kiện lịch sử của xã hội Việt Nam giai đoạn
30 năm cuỗi cùng của thế kỉ XVII, từ khi chúa Trịnh Sâm lên ngôi đến lúc Gia Long đăng cơ (1768-1802) làm nội dung chính Đây là giai đoạn lịch
sử được các nhà sử học Việt Nam và thế giới đánh giá là đây biến động
và đồ vỡ Nó phản ánh xu thế sụp đồ không gì có thể cứu văn nổi của các tập đoàn phong kiến đồng thời phản ánh khí thế long trời lở đất của khởi nghĩa Tây Sơn Hồi 14 có tên “Đánh Ngọc Hồi, quân Thanh bị thưa trận —
Bỏ Thăng Long, Chiêu Thống trỗn ra ngoài”
(2) Đây là lác phẩm tiểu thuyết chương hồi thuộc tiểu loại giảng sử, tì thể khi tiếp cận phải đặc biệt chú ý đến đặc
rưng thể loại nằm ở hai ấu tổ chính là nhân aft of sic kin Nhân oật trung tâm của đoạn trích là hình tượng người anh hùng
áo tải Quang Trung Ngm
như nhiều bộ liễu thuyết giảng sử khác chính là những trận đánh được đặc tả trên nền không gian chiến trận, ở đâu là trận Ngọc Hồi ở cửa ngõ thành Thăng Long
Huệ Sự kiện lrung tâm của đoạn trích cũng giống
Đoạn trích có bố cục gồm ba phản Phần thứ nhất từ đầu đến “hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng chạp năm Mậu Thân (1788)”: Được tin báo quân Thanh đã chiếm Thăng Long, vua Lê thụ phong, Bắc Bình Vương Nguyễn
n ngdi Hoang dé, tự mình đốc suất đại binh ra Bắc đẹp giặc Phẫn thứ
hai từ “Vua Quang Trung tự mình đốc suất đại bình” cho đến “vua Quang Trung tiến binh đến Thăng Long, rồi kéo vào thành ”: Cuộc hành quan thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung đối với quân Thanh
Phan thứ ba từ “Lại nói, Tôn Sĩ Nghị và vua Lê” cho đến hết: Thất bại thảm
Trong đoạn trích hình tượng Quang Trung Nguyễn Huệ
“đánh Ngọc Hỏi” được khắc họa hết sức nồi bật Quang Trung Nguyễn Huệ được khắc họa là một con người có lòng yêu nước nỗng nàn, có ý: chí quyết chiến quyết thắng, là vị tướng có tài năng quân sự xuất chúng
‘Tac giả khắc họa nhân vật thông qua ngôn ngữ, hành động Nghe tín giặc
đã chiếm Thăng Long nhưng không hể nao núng “định thân chỉnh cảm
sự kiện
Trang 30nhiều việc lớn: “tế cáo trời đất lên ngôi Hoàng đế, “đốc suất đại binh”
ra Bắc, gặp gỡ “người công sỉ ở huyện La Sơn”, tuyển mộ quân lính, mở
bình lớn ở Nghệ An, phủ dụ tướng sĩ, định kế hoạch hành quan, đánh giặc, bàn kế đối phó với nhà Thanh sau chiến thắng Hoàng,
để Quang Trung thân chỉnh cằm quần: tự thông lĩnh một mũi tiền công, cưỡi voi đốc thúc, xông pha tên đạn trong trận đánh đồn Ngọc Hồi (cảnh “khói hỏa mù trời” nổi bật hình ảnh nhà vua “cưỡi voi đi đốc thúc”
~ Có cuỗn sử đã ghỉ vào đến Thăng Long, tắm áo bào đỏ của vua đã sạm đen khói súng) Hình tượng vua Quang Trung đã được miêu tả với đầy
đủ những phẩm chất của một vi anh hùng, mang vẻ đẹp oai phong lắm liệt, Tác giả Ngô gia văn phái là con dân nhà Lê nhưng vẫn viết về vua Quang Trung với thái độ ngợi ca tích cực như vậy là vì họ đứng trên tỉnh
thần dân tộc mà phản ánh Nhờ vậy, tác phẩm càng trở nên chân thực, giàu sức thuyết phục, chứng tỏ tỉnh thần tôn trọng sự thật lịch sử, quan
điểm lịch sử khách quan và tiến bộ của tác giả Dây cũng là điểm đặc sắc của thể loại tiểu thuyết lịch sử Nó là những pho đã sử cung cấp một lãng kính lịch sử khách quan, hồn hau, gan gai với ý chí của quần chúng nhân dan đương thời
cuộc du!
Sự kiện trung tâm của hồi 14 chính là một trận đánh được ghi chép
trong sử sách, trận Ngọc Hồi nơi cửa ngõ kinh thành Thăng Long Đây
là trận chiến thắng vang đội trong chuỗi chiến thắng của công cuộc đại
phá quân Thanh do nghĩa quân Tây Sơn tiễn hành Như vậy, đoạn trích
đã thể hiện khả năng tái hiện sự thực lịch sử chính xác và sinh động của Ngô gia văn phái
Đoạn trích còn tai h
cảnh thảm bại của vua tôi Lê Chiêu Thống và sự kiện “bỏ Thăng Long” Ton Si Nghi bắt tài, không nấm được tình hình thực tế, kiêu căng tự mãn, trễ nai quan co: “chỉ chăm chú vào yến tiệc, vui mừng, không hễ lo chỉ đến việc bất trắc”; khi quân Tây Sơn đánh đến thì “sợ mắt mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, dẫn bọn lính kị mã của mình chuồn trước qua cầu phao” Binh lính hèn nhát, thảm bại, khi
éng quan Tay Son, quân Thanh ở trong đồn Hạ Hồi “ai nấy rụng
sự đại bại của quân tướng nhà Thanh, tình
Trang 31giầy xéo lên nhau mà chếf”, tướng thì tự thắt cổ chết; thấy nghỉ binh thì
“đều hết hôn hết vía, vội trốn”; khi nghe tin Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy “đều hoàng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều Lái au cầu lại bị đứt, quân lính đều rơi xuống nước, đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa.” Vua tôi Lê Chiêu Thống vì lợi ích của dòng họ, vị thé nha
Lê mà trở thành những kẻ phản động, công rắn cắn gà nhà, đi ngược lại
quyền lợi của dân tộc; đớn hèn, nhục nhã trước quân Thanh; tháo chạy thục mạng, cướp cả thuyền của dân mà qua sông, khi đuổi kịp Tôn Si Nghị thì “nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt”, rồi chấp nhận phân vong quốc, sau này phải cạo đầu tết tóc như người Mãn Thanh Tác giả chủ yếu vẫn sử dụng ngôn ngữ và hành động để khắc họa tâm địa nhân vật Cái đớn hèn của Tôn Sĩ Nghị bộc lộ qua một chuỗi hành động:
người thắng trận trước sự thất bại thảm hại của kẻ thù cướp nước: âm hưởng
nhanh, gợi tả sự tần loạn, tan tác Cảnh bỏ chạy của vua tôi Lê Chiêu Thông được miêu tả dai hơn, âm hưởng chậm hơn, toát lên vẻ chua xót, ngậm ngùi Đối với quân tướng nhà Thanh, tác giả miêu tả bằng một tâm thế khác với khi miêu tả cuộc tháo chạy của vua tôi Lê Chiêu Thống dẫu sao thì đó cũng là vương triều mình đã từng phụng thờ Rõ rằng, lãng kính lịch sử khách quan kết hợp với chủ quan của người sáng tác tiểu thuyết đã làm nên nét đặc sắc, hấp dẫn cho tiểu thuyết giảng sử
Trang 32
người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ với hinh anh dén hén, bac nhuge, thim hại của Tôn Sĩ Nghị, Lê Chiêu Thống; tương phản giữa sự kiện “đánh Ngọc Hồi“ đầy hào khí v‹ kiện “bỏ Thăng Long” thảm hại, tan tác; giọng điệu biến hóa khi sôi nổi hào hùng, khi căm phan, khi tram lang
2.2.3 Đọc “Chuyện chức Phán sự đến Tàn Viên” (“Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ)
(1) Khi đọc truyện truyền kì, trước hết cần chú ý đến các sự kiện kì lạ
Chuyện chức Phản sự đền Tản Viên được rút ra từ tập Truyền kì mạm lục (Ghi chép tản mạn những chuyện hoang đường), do Nguyễn Dữ, người Gia Phúc, Hồng Châu (Hải Dương), dựa trên các truyện kì ảo trong dân gian mà sáng tạo thêm, được viết vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVI
Sự kiện thứ nhất trong truyện là sự kiện Ngô Tử Văn đốt đền,
vạch tội hồn tướng giặc trước Diém Vuong Hanh động của Tử Văn xuất phát từ ý thức rõ ràng: “Thấy sự gian tà thì không chịu được” chứ
không phải việc làm động chạm thản linh Qua lời giới thiệu về Tử
Van và nguyên nhân đốt đền của chang, ta thấy Tứ Văn là con người
“kháng khái”, “nóng nảy” và “cương trực” Tử Văn là người coi trong công li, bat bình trước cái xấu, cái ác lộng hành làm mưa làm gió Cuộc đấu tranh giữa Ngô Tử Văn với hồn tên tướng giặc họ Thôi là cuộc đầu tranh giữa hai thể lực: công lí, chính nghĩa và phi nghĩa, gian tà Cuộc đấu tranh giữa hai thế lực này có ý nghĩa hiện thực cụ thể và ý nghĩa nhân đạo sâu sắc, một mặt lên án giặc ngoại xâm, tố cáo sự cầu kết của thần quyền, mặt khác phản ánh hiện thực xã hội với cái nhìn tin tưởng vào chân lí chính nghĩa thắng gian tà
Sự kiện thứ hai trong truyện là sự kiện Diêm Vương xử kiện ở âm phủ Sở dĩ có việc xử kiện ở âm phủ là đo hồn tên tướng giặc Bách Hộ họ Thôi kiện Ngô Tử Văn đót đền, Hồn tên tướng giặc đã giả mạo Thổ Thắn, lam hai dan, qua mặt cả Diêm Vương Sở dĩ Diêm Vương không hay biết
là vì các thân ở những đền miễu lân cận ăn của đút lót nên bao che cho ké
ác, vì các phán quan của Diêm Vương chưa làm hết trách nhiệm của mình, quan liêu, không theo sát thực tế Sự kiện Diêm Vương xử kiện ở âm phú
là chỉ tiết quan trọng đẩy kịch tính của truyện đến cao trào để nhân vật
Trang 33tiết này thể hiện khát vọng của người xưa về công lí chưa thể thực hiện
được nơi trần thế còn đầy rấy bắt công và tội ác Con người thời trung
ng bên cạnh cõi trằn còn có một thế giới khác là âm phủ, nơi con người sau khi chết sẽ phải đến để nhận sự phán xét, thưởng phạt về những việc làm của mình khi còn sống Điều đó có ý nghĩa khuyên răn,
1g thế nào cho đúng đắn, hợp lẽ phải, tránh làm điều ác để không bị trừng phạt
đại còn tin
giáo dục con người nên sống và hành
Sự kiện thứ ba là sự kiện Ngô Tử Văn được Thổ thản tiền cử nhậm chức Phán sự ở đền Tản Viên Chức Phán sự là một chức quan xem xét
về các vụ kiện tụng, giúp việc cho người xử án Đây là chức quan thực hiện công lí Ngô Tử Văn sở dĩ được Thổ Thần tiền cử nhậm chức này vì chàng đã giúp Thổ Thân đòi lại công lí, chàng dũng cảm bảo vệ công lí, chính nghứa ngay cả khi cái chết đe doạ Việc nhận chức Phán sự đẻn Tản Viên của Ngô Tử Văn chính là một hình thức thưởng công xứng đáng có
ý nghĩa noi gương cho đời sau, khích lệ mọi người dũng cảm đấu tranh chống cái ác, bảo vệ công lí Hình ảnh Ngô Tử Văn oai phong lẫm liệt xuất
iện ở cuối truyệi
(2) Khi doc truyén truyén ki ciing cin chit y dén cdc nhan vat ki la
Ngõ Tử Văn và các nhân vật thần linh, ma quỷ khác đều là những, nhân vật kì lạ Ngô Tử Văn là loại nhân vật phàm trần nhưng có số phận
kì lạ: nhậm chức Phan su dén Tan Viên; hành động đốt đèn, vạch tội hồn
tướng giặc trước Diêm Vương; tư thế oai phong lẫm liệt, tính cách khang khái quyết liệt, không thỏa hiệp với cái xấu, cái ác Các nhân vật thần linh,
ma quỷ khác bao gồm: Thổ công, Đức Thánh Tản Viên, Diêm Vương, hồn
ma tướng giặc Những nhân vật này đều lạ lùng, biến ảo, tuy nhiên họ chính là “âm bản” của thế giới con người
(3) Khi doc truyện truyền kì tần chú ý đến nghệ thuật kể chuyện đặc sắc
Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên bằng bút pháp kì ảo đã đưa người đọc bước vào thể giới li kì, biến ảo Truyện viết về thắn linh (Thổ công, Đức thánh Tản Viên), ma quỷ (Diêm Vương, hỗn ma tướng giặc) rồi chuyện
Trang 34của kịch tính và giải quyết một cách hợp lí, thoả đáng Người đọc hồi hộp
theo đối điễn biến các sự việc để rồi cuối cùng thở phào nhẹ nhõm, chủ
để tư tưởng của truyện vì thế được nổi bật
(4) Tầng kết
Chuyện chức Phám sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ có nhiều ý nghĩa nhưng chủ yếu là đề cao tinh thần khẳng khái, cương trực, đám đầu tranh chống lại cái ác trừ hại cho dân của Ngô Tử Văn, một trí thức yêu chính nghĩa, đũng cảm, cương trực, dám đấu tranh với cái ác, trừ hại cho dân Với hình thức nghệ thuật đặc sắc, truyện đã thể hiện khát vọng công lí, niềm tin công lí, chính nghĩa nhất định sẽ chiến thắng
2.2.4.Đọc đoạn trích “Trao duyên” (“Truyện Kiều” của Nguyễn Du)
(1) Khí đọc đoạn trích của một tác phẩm, trước hết cần tìm hiểu oị trí, bỗ cục
đoạn trích
Đoạn trích “Trao duyên” nằm trong kiệt tác Truyện Kiểu của Nguyễn
Du Về nguồn gốc, Truyện Kiểu dựa theo cốt truyện Kim Vần Kiểu truyện, cuốn tiểu thuyết chương hồi cỡ nhỏ (gồm 20 hỏi) của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) Trên cơ sở cót truyện đó, Nguyễn Du có những sáng tạo lớn
vẻ nhiều mặt Sáng tạo vẻ nội dung thể hiện ở chỗ biến một cầu chuyện tình đau khổ nhiều nước mắt thành khúc ca đau lòng thương người bạc mệnh, Nguyễn Du đã nói lên “những điều trông thấy” trong giai đoạn lịch
sử đây biến động cuối Lê - đầu Nguyễn Sáng tạo về nghệ thuật biểu hiện
ở chỗ Nguyễn Du đã biến các sự kiện chính của tác phẩm thành đối tượng
để bộc lộ cảm xúc, tình cảm của nhân vật và người kể chuyện, đặc biệt còn
bi n tỉnh tế những ie â â Sáng tạo vẻ thể loại
biểu hiện ở chỗ Nguyễn Du kế thừa truyện Nôm, ngâm khúc, thơ trữ tình
và ca đao để sáng tạo một tác phẩm tru
Trang 35
đó, Truyện Kiều đã trở thành một kiệt tác với những giá trị tư tưởng và nghệ thuật đỉnh cao,
Về giá trị tư tưởng, thứ nhất, Truyện Kiểu là bài ca tình yêu tự do, trong sáng, chung thủy dưới chế độ phong kiến Nhà thơ vượt qua những quy tắc lễ giáo phong kiến để trân trọng, nâng niu những tình yêu trong, sáng, chân thành Đồng thời Truyện Kiểu còn kín đáo thể hiện giấc mơ vẻ
tự đo và công lí (qua nhân vật Từ Hải) Thứ hai, Truyện Kiểu là tiếng khóc
đau đớn nhất cho số phận con người, khóc cho tình yêu trong trắng, chân thành bị tan vỡ; khóc cho tình cốt nhục bị lĩa tan; khóc cho nhân phẩm
bị chà đạp; khóc cho thân xác con người bị đày đoạ để từ đó khẳng định các giá trị đích thực của nhân sinh Thứ ba, Truyện Kiểu là bản cáo trạng
đanh thép đã tố cáo các thể lực đen tối trong xã hội phong kiến, tố cáo sức
mạnh của đồng tiền làm tha hoá con người Thứ tư, Truyện Kiều là tiếng, nói “hiểu đời” bằng tắm lòng bao dung, cảm thông với con người thông qua từng số phận nhân vật
Về giá trị nghệ thuật, thứ nhất, Truyén Kiểu thể hiện nghệ thuật xây dựng nhân vật bậc thẩy Nguyễn Du đã xây dựng những nhân vật sống động, chân thật, vừa có nét điển hình vừa có nét riêng nồi bật Ông đặc biệt thành công với nghệ thuật khắc hoạ tâm lí nhân vật Thứ hai, Truyện Kiểu
là một mẫu mực của nghệ thuật tự sự và trữ tình bằng thơ lục bát Nguyễn
Du thể hiện biệt tài trần thuật và giới thiệu nhân vật bằng hình thức trữ tình của thể thơ lục bát trang nhã, cổ điển đồng thời đậm tính dân tộc Thứ ba, tiếng Việt Truyện Kiều sử dụng là thứ ngôn ngữ trong sáng, trau chuốt, giàu sức biểu cảm
Đoạn trích Trao duyên từ câu 723 đến câu 756, Kim Trọng đi Liêu Dương hộ tang chú, tai họa bắt ngờ ập tới nhà họ Vương Không thể cầm lòng trước cảnh cha và em bị đánh đập, Kiều quyết định bán mình chuộc cha Việc nhà tạm ổn nhưng tình duyên lỡ dở, dit rat dau khổ, Thuý Kiểu cũng đành nhờ em gái thay mình trả nghĩa chàng Kim Đoạn trích là cảnh Thuý Kiều trao duyên cho Thuý Vần
Đoạn trích “Trao duyên” (34 câu) có thể chia làm 3 đoạn nhỏ: 12 câu
Trang 36theo (Thuý Kiều trao kỉ vật và dặn dò Thuy Van); 8 câu còn lại (Thuy Kiều tâm sự với Kim Trọng trong tưởng tượng) Tuy nhiên cũng có thể chia đoạn trích này thành hai đoạn nhỏ: 14 câu đầu (Kiều nhờ Thuý Van thay mình trả nghĩa Kim Trọng và 20 câu còn lại (tâm trạng Kiểu sau khi trao duyên),
tờ mây”) Đặc biệt là Kiều tưởng nhớ lại sự kiện đêm thể nguyễn thiêng
liêng: cảnh Kim Trọng cho thêm hương vào lò hương (“mảnh hương nguyễn”, “đốt lò hương ấy”); cảnh nàng đàn cho Kìm Trọng nghe (“phím đàn”, “so tơ phím này") Thuý Kiều nói với Thuý Văn mà như nói với chính mình và nói cùng chàng Kim Những từ ngữ trên cho thấy trong tâm hồn Kiều, những kỉ tình yêu có sức sống mãnh liệt Thuý Kiều
hi sinh tình yêu, trao duyên cho Thuý Vân nhưng con người lí trí không
ngăn được con người tình cảm Thuý Kiểu đã để trái tim minh thuộc về
tình yêu, sông với tình yêu Trong tình yêu, Thuý Kiều là người vô cùng
sâu sắc và tỉnh tế Tất cả những kỉ niệm tình yêu được nàng cất giữ cần
than Nàng trao duyên cho Thuý Vân nhưng không thể trao tình Nàng trao cho Thuý Vân những kỉ vật nhưng không thể trao những kỉ niệm tình yêu Bị kịch đó khiến Kiều vô cùng đau đớn
“Trong suốt đoạn trích, Kiều đã nhiều lần nghĩ đến cái chết Khi thuyết phục em nhận lời trao duyên, Kiều đã lấy cái chết làm lời uỷ thác (“Chị
dù thịt nát xương mòn/ Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”) Trao kỉ
ật cho Thuý Vân xong, Kiểu lại nghĩ đến cái chết Cả một đoạn thơ dài hiện lên mảnh hồn oan sau khi chết của Thuý Kiều như một nỗi ám ảnh:
Trang 37oan của mình với hồn ma Đạm Tiên và dự cảm cái chết của mình cũng,
đây oan nghiệt Tiếng nói của Thuý Kiểu là tiếng nói thương thân, xót phận của một người con gái tha thị
trong tình yêu, nguyện chung thuỷ vị
“đứt gánh tương tư”, “trâm gãy bình tan” Kiều nghĩ đến cái chết và cảm thấy đây là một cái chết đầy oan nghiệt
Van té thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn), Phan chiêu hồn, Độc Tiểu Thanh kí,
ta sẽ nhận thấy một mô-típ nghệ thuật, mô-típ chiêu hồn, gọi hồn, trỉ âm cùng hỗn người đã khuất Sở dĩ có điều này là vì nhà thơ chịu ảnh hưởng, của thuyết “luân hỏi” trong đạo Phật Nhưng sâu sắc hơn là nhà thơ luôn
quan tâm đến nỗi “kì oan” (nỗi oan kì lạ) của con người Con người chết
đi mà không được siêu thoát, những mảnh hỗn oan còn vật vờ cõi nhân gian Bằng cách này, nhà nhân đạo chủ nghĩa Nguyễn Du đã vượt qua biên giới của sự sinh hoá, trụ diệt để xót đau cho những kiếp đời bất hạnh, oan ức Đây là một phương diện độc đáo trong tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du
cử chỉ “lạy”) Kiểu coi việc nhận lời của em là một sự hi sinh và Kiều đã
“lay” su hi sinh ấy Tiếp theo, Thuý Kiều phân tích cho em hiểu vẻ tình cảnh hiện tại khiến nàng không còn cách lựa chọn nào khác (“Sóng gió bắt kì”, “hiểu tình” không thể vẹn) Rồi Kiều động viên, an ủi em: “Tuổi
xuân em hãy còn đài” Kiều viện đến tình máu mủ ruột rà:”Xót tình máu
Trang 38Cuối cùng, Thuý Kiều lấy cả cái chết của bản thân ra dé uỷ thác (“Chị
dù thịt nát xương mòn/ Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”) Như vậy, Nguyễn Du đã để cho Kiều nói bằng ngôn ngữ của lí trí còn rất
tỉnh táo Kiều không để Vần có cơ hội từ chối, cứ sau một giây thăm dò
Kiều lại viên thêm lí lẽ, lí lẽ nào cũng vừa có tình vừa có lí, trên hết vẫn
là tình, cách nói, lời nói, cử chỉ thiết tha, cầu khẩn như vậy khiến Thuý Vần không thể từ chối
Thuý Kiểu trao kỉ vật và đặn đò Thuý Van (14 câu tiếp theo) Tâm trạng Thuý Kiểu hết sức mâu thuần Điều đó được thể hiện trong thời
khắc trao kỉ vật cho Thuý Văn:
Chiếc thoa tới bức lờ mây
Duyén nay thi giữ, tật nay cia chung
Mau thi
nói của em với Kim Trọng nhưng lắng nghe từ trong đau khổ của con
in nằm trong hai chữ “của chung” Mới đọc tưởng Kiều
tim rớm máu sẽ thấy trong “của chung” có một phản của Kiều Vẻ lí trí, Kiều muốn em nên vợ nên chồng, về tình cảm, Kiều không thể nói đoạn tuyệt là đoạn tuyệt Kỉ vật là hiện thân của mối tình vàng đá Với Thuý Van né chỉ là vật làm tin nhưng với Thuý Kiểu, kỉ vật gắn với kỉ niệm, với những rung động đầu đời, cảm kỉ vật là kỉ niệm sóng dậy Nhưng kỉ
vật còn đó mà mối tình đành trao, kỉ vật chỉ gợi xót xa, đau khổ mà thôi
Sau khi trao kỉ vật, Kiều như người mắt hồn, lời Kiều không còn tỉnh táo nữa mà nửa phần người sống nửa phần hồn ma Trong lời đặn đò Thuý: Vần, Kiểu tưởng tượng ra tương lai, nàng là một oan hồn vật vờ, nàng xin em hãy “Tưới xin giọt lệ cho người thác oan” Nỗi đau trong tâm hồn
đến cùng cực, nàng mong với sự trở về (dù là hồn ma) có thể gặp được Kim Trọng nhưng cả sự trở về ấy cũng không thể an ủi được khiến nang càng đau đớn hơn
Thuý Kiểu tâm sự với Kim Trọng trong tưởng tượng (8 câu còn
lại): Tám câu cuối, Kiều quay sang tâm sự vớ ¡ Kim Trọng trong tưởng
Trang 39yêu mãnh liệt và hiện thực phũ phàng Khát vọng là “kể làm sao xiết
muôn vàn ái ân” còn hiện thực là “trầm gãy bình tan”, là “tơ duyên ngắn ngủi” là “phận bạc như vôi”, đau đớn tan nát, hiện thực đã trùm lên khát vọng Đặc biệt hai dòng thơ cuối: “Ôi Kim Lang/ hối Kim lang
~ Thôi thôi/ thiếp đã phụ chàng/ từ đây” là tiếng gọi tuyệt vọng của Kiều đối với Kim Trọng Kiều đã ngất lịm di trong hình bóng bao trùm của chàng Kim,
Đoạn trích là những dòng thơ lâm li, đau đớn bậc nhất trong Truyện
Kiều biểu hiện bi kịch tình yêu tan vỡ mà thực chất là bi kịch của một số
phận bắt hạnh, sự hi sinh của Kiều khiến nàng trở nên cao thượng Nỗi
chính là mâu thuẫn giữa các phạm trù đạo đức thời phong kiển với tâm
lữa lí trí và tình cảm
hồn con người Với Thúy Kiều, cả lí trí và tình cảm đều sâu nặng, tạo nên nhân cách của nàng, Đó là một nhân cách trong sáng, đẹp đế, cao thượng,
sơ với nhân vật Kiều trong trong Kim Vần Kiểu truyện của Thanh Tâm
Trang 403 DOC VAN CHINH LUẬN TRUNG ĐẠI
3.1 Gach doc van chinh luan trung dai
3.1.1 Cich doc Hich
(1) Khái niệm thể loại
Hịch (thuật ngữ đây đủ là “hịch văn”), cũng giống như một số thể loại văn chính luận khác, đều có nguồn gốc từ văn học cổ dai Trung
Quốc Hịch văn là thể loại văn xuôi dùng trong lĩnh vực quân sự Các
tác phẩm hịch được sáng tác với mục đích chiêu dụ, thảo phạt kẻ địch
trong bối cảnh chiến tranh Hịch văn thông qua việc ngợi ca đạo đức
và chính nghĩa của “ta”, tố cáo tội ác, tính chất phi nghĩa của “địch” để
từ đó cổ vũ, khích lệ tinh thần binh sĩ, nhằm cÌ thé thượng phong
trên chiến trường Là một thể loại văn học chức năng, hịch văn có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính thực dung va tinh thẩm mĩ Hịch văn
xuất hiện và được sử dụng trong nền văn học Việt Nam suốt thời kì
phong kiến Thậm chí, nó còn tiếp tục tổn tại trong thời hiện đại và phát huy sức mạnh chiến đầu của thể loại đưới thời kháng chiến chống
Pháp Thể loại này đặc biệt có nhiều thành tựu rực rỡ ở thời Lý Trần,
nổi bật nhất chính là tác phẩm Hịch tướng sĩ (Dụ chư tì tướng hich van) của Trân Quốc Tuần
(3) Đặc điểm thể loại
Đọc tác phẩm hịch cần chú ý bám sát các đặc trưng sau
Về bố cục, một tác phẩm hịch thường có bó cục 4 phản rất chặt chẽ, mỗi phần đều có chức năng khác nhau Phần mở đầu mang tính chất khái quát, nêu quan điểm lập luận của toàn văn bản Phản này sử dụng ngôn ngữ mang tính triết luận sắc bén để tạo lập cơ sở cho toàn bộ những lập luận chiêu dụ, thảo phạt ở phần giữa của tác phẩm hịch
Về mặt hình thức, phần này thường sử dụng từ “cái van" (fifi) (nghe nói), hoặc “phu” CK) (fa) để chuyển dẫn xuống phần sau Phan hai sử dụng lập luận để chứng minh vẻ đẹp đạo đức và tính chất chính