Đề cương bài giảng Kinh tế chính trị Mác - Lênin: Phần 2 gồm có những nội dung chính sau: Kinh tế hàng hóa trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân thời kỳ quá độ lên Xã hội chủ nghĩa,... Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1Chương VII CHU NGHIA TY BAN BOC QUYEN,
PHỦ NGHĨA TU BAN BOC QUYEN NHA NUGC
VA CHU NGHIA TU BAN NGAY NAY
fer!
| 1 CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN
lẻ: 1 Sự chuyển biến từ CNTB tự do cạnh tranh thành :-
CNTB độc quyền
Trong tiến trình phát triển của phương thức sản xuất TBCN,
xã hội tư bản trải qua hai giai đoạn cơ bản: giai đoạn thứ nhất gọi
la CNTB tu do cạnh tranh, giai đoạn thứ hai là giai đoạn CNTB độc quyền hay chủ nghĩa đế quốc
Vào lúc giao thời giữa thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, CNTB
bước sang giai đoạn mới, giai đoạn tư bản độc quyền Vận dụng sáng
tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác vào điều kiện lịch sử mới
của thế giới, Lênin đã phân tích một cách khoa học giai đoạn phát triển mới của CNTB
Công lao lịch sử của Lênin trước hết là phát hiện ra tính quy
luật khách quan của sự quá độ từ CNTB tự do cạnh tranh sang
CNTB độc quyển Giai đoạn độc quyển là sự kế tục trực tiếp của giai đoạn tự do cạnh tranh của cùng một phương thức sản xuất TBCN và
là giai đoạn cao hơn so với giai đoạn trước Theo Lênin, CNTEB trở
thành chủ nghĩa đế quốc chỉ ở giai đoạn nhất định trong quá trình
phát triển của nó
Cuối thế kỷ XIX, do các nhân tố cạnh tranh, do sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự xuất hiện những thành tựu mới về khoa học kỹ thuật, do sự tích tụ và tập trung sản xuất nên tư ban và lạo động phát triển mạnh ở các nước TBCN phát triển Ngoài ra, khủng hoảng kinh tế cũng là nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình phát
Trang 2
Việc tích tụ và tập trung sản xuất tư bản trong từng ngành „,
công nghiệp dẫn tới sự hình thành những công ty, xí nghiệp khổng lô
Để bảo đảm địa vị thống trị ở mỗi ngành, trong nhiều trường hợp, các
xí nghiệp, công ty đó thỏa thuận với nhau và thành lập các liên minh độc quyển; mặt khác, việc xuất hiện các xí nghiệp Íổn làm cho cạnh
tranh trở nên khó khăn, hơu Cạnh traeí gay gắt khác thường đòi hỏi phải có những nguồn tư bản hết sức to lớn và có thể trong một thời - gian dài không một đối thủ cạnh tranh nào giành được phần hơn đã dẫn đến khuynh hướng độc quyền hóa Việc tiếp tục và tập trung sản
xuất đã làm cho số lượng các công: ty giảm di; nhung wy mỡ thì tăng lên ý
"Như vậy, trong CNTB, tích tụ và tập trung tư bản và sản xuất phát triển đến một mức độ nhất định sẽ dẫn đến sự ra đời của các
tổ chức độc quyền, tập trung trong tay chúng phần lớn sản xuất xã hội Theo Lênin,:tích tụ sản xuất dé ra các tổ chức độc quyền là một
quy luật phổ biến và cơ bản trong giai đoạn phát triển hiện nay của
Các tổ chức độc e quyền trong lĩnh vực sản xuất có ý nghĩa quyết định Bản chất kinh tế của nó là một số ít xí nghiệp đớn, hay liên
minh các xí nghiệp này chiếm một tỷ lệ sản xuất bảo đảm sự thống
trị của chúng trong một hoặc nhiều ngành kinh tế; sản phẩm của chứng chiếm uu thé tiéu thu, bán hàng theo giá độc quyền và thu lợi
nhuận độc quyền cao
Ví dụ: Ở Mỹ, vào đầu thế kỷ XX, các xí nghiệp lớn (cố quy mô
trên 500 công nhân) chỉ chiếm hơn 1% tổng số các xí nghiệp, nhưng `
lại chiếm 1⁄3 tổng số công nhân Năm 1960, 500 công ty lớn nhất của Mỹ chỉ chiếm 0,3% tổng số công ty nhưng tập trung 54% số công
nhân, viên chức, làm ra hơn một nửa tổng sản phẩm công nghiệp và
thu gần 3⁄4 tổng số lợi nhuận của tất cả tác công tý Riêng 40 công ty của các nhà tỷ phú trong số 500 công ty lớn nhất đã bán một khối
lượng hàng hóa bằng khối lượng hàng hóa của 460 công ty còn lại Năm 1964, 500 công ty đó đã thu hút 10, 5 triệu' người làm việc
Xem V Í Lênin toàn tập, tập 27, NXB Tiến bộ, Hà Nội, 1989, tr.402
146
Trang 3(chiếm 60% số lao động trong ngành công nghiệp Mỹ) Đến những năm 70, 500 công ty công nghiệp của Mỹ chỉ chiếm 0,1% tổng số các
xí nghiệp nhưng lại làm ra 71,8% tổng số sản phẩm công nghiệp
(theo tổng doanh số)
Trên thực tế, các tổ chức độc quyền khổng lỗ đang giữ địa vị thống trị trong nên kinh tế My nhu General Motors, Ford Motors,
General Electrics và nhiễu công ty khác Trong các xí nghiệp của
các tổ chức độc quyền đó có hàng chục vạn người làm việc và chủ
hãng thu hang trăm triệu đô la lợi nhuận _
‘Nhu vay, su thay thế tự do cạnh tranh bằng độc quyền là nét đặc trưng cơ bản của CNTB trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa và cũng là bản chất chủ yếu của chủ nghĩa đế quốc
2 Những đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản
Cạnh tranh tự do và tích lũy tư bản dưới hình thức tích tụ và
tập trung trong điều kiện lực lượng sản xuất phát triển nhảy vọt vào
30 năm cuối thế kỷ XIX làm cho tập trung sản xuất cao đến mức sinh ra các tổ chức độc quyên
Tập trung sản xuất dẫn tới hình thành một số xí nghiệp
khổng lồ trong mỗi ngành công nghiệp chủ chốt bên cạnh số lớn các
xí nghiệp nhỏ và vừa Số ít những xí nghiệp lớn này cạnh tranh nhau, không thôn tính được nhau, đi đến phối hợp và thỏa hiệp với nhau, ký kết liên minh để chi phối, thống trị các xí nghiệp còn lại của ngành Tổ chức liên minh kinh tế đó của bọn đại tư bản được gọi
là tổ chức độc quyển Nói cách khác, tổ chức độc quyền là hình thức
tổ chức xí nghiệp liên hiệp hay công ty cổ phân, trong đó bọn đại tư bản hùn vốn lớn tạo thành một tư bản tập thể khổng lô Số tư bản
tập thể này được gọi là tư bản độc quyền
147
Trang 4ị
|
Do sở hữu nguồn vốn tu ban dé sé, bon tư bản độc quyển có |
thể chiếm đại bộ phận nguồn nguyên liệu, năng lực sản xuất về số -
lượng sản phẩm, từ đó chi phối được thị trường, quy định giá bán , cao, giá mua hạ Trên cơ sở đó, chúng có thể đánh bại các nhà tư | bản không độc quyển một cách dé dàng và thu được lợi nhuận cao © hơn lợi nhuận bình quân một cách bền vững v và lâu đài Đó là lạ
nhuận độc quyển cao
Các tổ chức độc quyển là những xí nghiệp lớn nhất hoặc là sự hợp nhất, liên minh của các nhà tư bản Các tổ chức độc quyển nắm | giữ phần lớn, thậm chí có lúc nắm đại bộ phận việc sản xuất và tiêu | thự một loại sản phẩm nhất định ở một hay một vài ngành kinh tế
Các tổ chức độc quyển có nhiều hình thức khác nhau, phát ; triển từ thấp tới cao Những bình thức cơ bản của các tổ chức độc
quyền TBCN là các-ten, Xanh-đi—ca, Tơ-rớt và Công- xoóc xi -om
+ Cdc-ien
Các-ten là một liên minh các nhà tư bản thỏa thuận với nhau
về giá cả hàng hóa, về thị trường tiêu thụ, khối lượng hàng hóa làm
ra, trao đổi bằng phát mỉnh và về điều kiện thuê mướn sức lao động Các xí nghiệp tham gia các-ten vẫn độc lập về sản xuất và thương mại và độc lập trong việc quản lý xí nghiệp của mình Phần thu được trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa gọi là hạn ngạch do những người tham gia các-ten ấn định Xét về cơ cấu và mục đích, những
các-ten hiện đại khác xa những các-ten ra đời vào cuối thế kỷ XIX
Chúng không hạn chế ở hoạt động nghiệp vụ buôn bán thuần túy,
mà can thiệp vào lĩnh vực sản xuất của các thành viên tham gia Giữa các thành viên trong các-ten diễn ra cuộc đấu tranh giành ưu
thế hạn ngạch, có nghỉa là đấu tranh để thu được phần lợi nhuận
lớn hơn nên có thể dẫn tới sự tan vỡ của các-ten
+ Xanh-đi-ca
Xanh-đi—ca là hình thức Hên hợp độc quyền ốn định hơn Các thành viên tham gia Xanh-đi—ca mất tính độc lập về thương mại, nhưng vẫn giữ tính độc lập về tổ chức sản xuất Việc tiêu thụ sản phẩm làm ra trong các xí nghiệp của Xanh-đi-ca, việc mua nguyên
148
Trang 5liệu, vật liệu đều tiến hành thông qua ban quản trị chung của Xanh-—
đi_-ca Những người tham gia Xanh-đi-ca buộc phải bán số hàng
hóa của mình cho ban quản trị theo giá ấn định của Xanh-đi—ca
Cũng như trong các-ten, ở đây diễn ra cuộc đấu tranh khốc liệt về
phân chia lợi nhuận và tiêu thụ hàng hóa
+ Tơ rớt
Tơ-rớt là một hình thức tổ chức độc quyền phổ biến nhất, liên
hợp chặt chẽ hơn cả Ở đây chủ xí nghiệp tư bản hoàn toàn mất
tính độc lập về sản xuất, thương mại và pháp lý, trở thành những cổ đông của công ty cổ phần và được nhận một món lợi nhuận phụ thuộc vào số cổ phần đã đóng góp Mọi hoạt động sản xuất, tiêu thụ, tài chính và các nghiệp vụ khác của Tơ-rớt đều do một ban quan trị
điểu hành, đứng đầu là ban giám đốc ĐT nhiên, những người chủ sở
hữu số cổ phiếu nhiều nhất sẽ chiếm phần l lớn số lợi nhuận đó
- + Công-xoóc-xi-om :
Công-xoóc-xi-om là một hình thức hết sức phức tạp của tổ chức độc quyển Công-xoóc-xi-om liên hợp các xí nghiệp thuộc các ngành công nghiệp khác nhau, ngân hàng, thương nghiệp, giao thông và công ty bảo hiểm trên cơ sở quyển lợi về tài chính chung của những nhà tư bản kếch xù Sự phụ thuộc của các xí nghiệp thể hiện ở chỗ mọi quyển lực và sự thống trị tập trung trong tay các nhà
tư bản có số cổ phiếu khống chế Tham gia Công-xoóc-xi-om không
những có các nhà tư bản cá biệt mà còn có cả Xanh-đi-ca và Tơ_- rớt Công-xoóc-xi-om là một hình thức tổ chức sản xuất lớn đem lai
nhiều ưu thế cho bọn độc quyển trong cuộc cạnh tranh giành lợi nhuận cao và ổn định
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, hình thức tổ chức cũng như quy mô và phạm vi ảnh hưởng của các tổ chức độc quyển
có những nét khác trước:
Liên kết đa dạng, phức tạp nhiều ngành nghề hầu như không
có liên quan về kỹ thuật, đó là hình thức Công-gơ-lô-mê-rát, mà
đa số các công ty xuyên quốc gia, những liên minh độc quyển nhà nước quốc tế tham gia Đây là biểu hiện mới về bản chất của CNTB
Trang 6Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia chính là người kiểm soát
va vận hành nên kinh tế TBCN trong đó vai trò chính thuộc về 600
công ty tư bản lớn nhất có tầm cỡ ngang với một quốc gia tư bản trung bình Các công ty quốc gia kiểm soát 40% sản lượng công nghiệp, 60% ngoại thương, 80% kỹ thuật mới của thế giới TBCN
b) Tư bản tài chính uà bọn đâu sé tai chính
Sự hình thành tư bản tài chính vào cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX là kết quả của sự tích tụ tư bản ở mức độ cao trong sản xuất
và trong ngành ngân hàng
Quy luật tích tụ, tập trung và độc quyền hóa trong ngân hàng cũng giống trong công nghiệp: Do cạnh tranh thúc đẩy các ngân hàng liên hợp lại hoặc thôn tính lẫn nhau, dần dần hình thành
những ngân hàng lớn Tư bản ngân hàng được tích tụ, tập trung và
độc quyển hóa trong công nghiệp thúc đẩy Khi các xí nghiệp công nghiệp lớn có nhiều tư bản bắt đầu chiếm địa vị thống trị thì những ngân hàng với quy mô nhỏ không thể đáp ứng được nhu cầu về tín dụng của các xí nghiệp đó, cho nên phải có những ngân hàng lớn
hơn Chính trong điểu kiện đó, các ngân hàng lớn lợi dụng ưu thé của nó, tìm cách thôn tính các ngân hàng nhỏ, biến các ngân hàng
nhỏ đó thành những chi nhánh của nó Các ngân hàng lớn hình thành, cạnh tranh ñhau, không thôn tính được nhau, để ra xu hướng thỏa hiệp giữa chứng với nhau và hình thành nên những tổ chức độc
quyển ngân hàng
Sự phát triển của các tổ chức độc quyền ngân hàng đã làm thay đổi quan hệ giữa tư bản ngân hàng và tư bản công nghiệp, làm cho ngân hàng bắt đâu có vai trò mới Ngân hàng từ chỗ chỉ là kẻ
trung gian trong việc thanh toán và tín dụng, nay do nắm được hầu hết tư bản tiền tệ xã hội nên đã trở thành kẻ có quyển lực vạn
năng, khống chế được mọi hoạt động kinh tế của xã hội tư bản Các
tổ chức độc quyển ngân hàng do nắm trong tay những vốn tư bản tiển tế lớn và cho các tổ chức độc quyển công hghiệp vay những số tiên lớn, lại có chi nhánh khắp nơi, nên buộc các nhà tư bản công `
_150
Trang 7
nghiệp phải có quan hệ chặt chẽ với tư bản ngân hàng -vễ-tất cả
Nhờ tập trung trong tay các tài khoản của tư ban công nghiệp)
các ngân hàng độc quyền biết được mọi hoạt động kinh doanh :cửá tử bản công nghiệp, trên cơ sở đó, tổ chức độc quyển ngân hàng :đŸ dụng tín dụng để khống chế hoạt động của các nhà tư bản công nghiệp, hướng các nhà công nghiệp hoạt động vì lợi ích của mình,
Để nắm chắc được hoạt động của công ty công nghiệp, tư bản độc quyền ngân hàng thâm nhập công ty công nghiệp bằng cách mua cổ phiếu và đưa người của mình vào ban quản trị của công ty công nghiệp Ngược lại, để nắm được ngân hàng, phục vụ lợi ích vay mượn đầu tư của mình, tổ chức độc quyển công nghiệp cũng xâm nhập ngân hàng bằng cách mua cổ phân trong ngân hàng hoặc lập ngân hàng riêng của mình Chính trên cơ sở xâm nhập và hòa hợp lẫn nhau giữa tư bản độc quyền ngân hàng và tư bản độc quyền công nghiệp mà xuất hiện một loại.tư bản mới — đó là tư bản tài chính
Tư bản tài chính là kết quả của sự hợp nhất (hay dung hợp)
giữa tư bản độc quyền ngân hàng với tư bản độc quyển công nghiệp
Tư bản tài chính là tư bản độc quyển phát triển cao và hoàn thành trong phạm vi quốc gia Chỉ có trên cơ sở tư bản tài chính, độc quyền mới có thể thống trị không những trong công nghiệp, ngân
hàng mà tất cả mọi ngành của nền kinh tế, vì nó nắm cả tư bản sản xuất và tư bản tiển tệ Từ đó, chế độ độc quyển TBCN mới thực su
vững chắc và mới phát huy đây đủ bản chất độc quyển của nó
Sự hình thành tư bản tài chính làm cho nó trở thành tư bản
sở hữu, còn tư bản công nghiệp và tư bản ngân hàng chỉ là những tự bản chức năng; ưu thế của tư bản ngân hàng so với tư bản công
nghiệp mất đi, nó trở thành bình đẳng với tư bản công nghiệp trong
tập đoàn tư bản tài chính :
— Bọn đầu sé tài chính, chủ nhân của tập đoàn tư bản tài ‘chink nắm ngân hàng khống chế, thông qua nó mà điều hành công MAO kinh doanh của tập đoàn cũng như cá thể, chi phối các xí nghiệp tập
Trang 8Sự thống trị của bọn đầu -sỏ tài chính được thiết lập trên cơ sở chế độ tham dự bằng cách nắm cổ phiếu khống chế Tập đoàn tài
chính tham dự tư bản vào các công ty bằng cách mua cổ phiếu Nếu
tư bản tài chính mua được quá nửa số cổ phiếu của công ty nào đó, thì nó có tiếng nói quyết định trong đại hội cổ đông và chi phối công
ty đó Số cổ phiếu quá bán đó gọi là cổ phiếu khống chế Nắm được
cổ phiếu khống chế ở công ty gốc (công ty mẹ), bọn đầu sỏ tài chính lại sử dụng tư bản mua cổ phiếu khống chế ở các công ty phụ thuộc
(các công ty con); cũng bằng cách đó các công ty này lại chỉ phối các công ty cháu v.v
Hình thức tổ chức hiện nay nhằm thực hiện vai trò thống trị của tư bản tài chính là các tập đoàn độc quyên tài chính quốc gia và liên quốc gia Những tập đoàn này hợp nhất các tổ chức độc quyển ở
các lĩnh vực khác nhau Hình thức chủ yếu hiện nay của tư bản tài
chính quốc tế là các công ty xuyên quốc gia Chúng điều khiển chính sách kinh tế, tài chính, tín dụng, đầu tư, nghiên cứu khoa học kỹ
thuật, xã hội, tư tưởng và chính sách quân sự, quyết định các hướng bành trướng kinh tế Vào đâu những năm 80, trong thế giới TBCN
có khoảng 90 tập đoàn độc quyền tài chính lớn, trong số đó có 2⁄3 ở Tây Âu, còn lại là ở Mỹ
c) Xuất khẩu tư bản
Xuất khẩu tự bản khác với xuất khẩu bàng hóa Xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài (đầu tư tư bản ra nước ngoài) nhằm sản xuất ra giá trị thặng dư một cách có hệ thống ở đó; còn
xuất khẩu hàng hóa là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài (đưa hàng
hóa ra bán ở nước ngoài) nhằm thực hiện ở đó giá trị thặng dư đã được sản xuất ra ở trong nước
Xuất khẩu tư bản là một trong những công cụ quan trọng để bọn đầu sỏ tài chính thống trị và bóc lột các đân tộc trên thế giới, đem lại cho chúng tỷ suất lợi nhuận cao, khối lượng lợi nhuận lớn
Xuất khẩu tư bản chính là xuất khẩu quan hệ sản xuất TBCN sang
các nước chậm và đang phát triển, mở rộng quyền thống trị và bóc lột của tư bản tài chính sang các nước khác
152
Trang 9Từ:sau chiến tranh thế giới lần thứ bai đến nay, đi đôi với xuất khẩu tư bản của các tổ chức tư nhân, việc xuất khẩu tư bản nhà nước của các cường quốc TBCN' trở thành hình thức xuất khẩu tư
bản quan trọng, nhằm vào các nước thuộc địa và phụ thuộc, gồm cả
hình thức công trái, tín dụng và tài trợ, cơ cấu xuất khẩu tư bản tư nhân cũng đang thay đổi Nếu trước đây, xuất khẩu tư bản chủ yếu hướng vào công nghiệp khai thác và đồn điền, thì ngày nay lại tăng cường đầu tư vào công nghiệp chế biến,- dư lịch, dịch vụ bọn tư bản độc quyển eó xu hướng hạn chế việc đầu tư, dùng tiền để mua chứng
khoán ở nước ngoài -
Ngày nay, các nước TBCN phát "triển đầu tư lẫn nhau ngày càng nhiều (do điều kiện kỹ thuật và công nghệ hiện đại) Thí dụ;
năm 1985, các nước TBCN đầu tư ra nước ngoài 687 tỷ đô la, trong
đó phần vốn các nước tư bản phát triển đầu tư lẫn nhau chiếm 75%
‘d) Cac té chite déc quyền: quốc tế chia nhau thế giới vé mat
kinh té
Thực chất của việc phân chia kinh tế thế giới giữa các tập đoàn
tu ban là sự phân chia thị trường tiêu thụ thế giới giữa các tổ chức độc quyền các nước đã liên hợp thành tổ chức độc quyền quốc tế
Nguyên nhân cơ bản quyết định sự phân chia thị trường thế
giới và sự hình thành tổ chức độc quyển quốc tế là sự tích tụ sản
xuất và:độc quyển hóa đã mở rộng ra phạm vi quốc tế Bản chất
kinh tế của độc quyên là khuynh hướng bành trướng sự thống trị,
cạnh tranh phân chia nhau độc quyển sản xuất và độc quyền chiếm thị trường về mặt hàng nhất định
Sau khi chia nhau thống trị thị trường trong nước, các tổ chức độc quyển tìm cách mở rộng sự thống trị ra thị trường thế giới, mà
thị trường TBCN thế giới đã được bản thân CNTB tạo ra từ lâu
Việc xuất khẩu tư bản làm tăng dần những quan hệ vê mọi mặt với nước ngoài, mở rộng dần những khu vực ảnh hưởng của các tập đoàn độc quyền từng nước Sự cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyển trong phạm vi quốc gia cũng mở rộng ra phạm vi thế giới Tất cả những điều đó dẫn đến những hiệp nghị liên minh độc quyên quốc
154
Trang 10tế, tức là những tổ chức độc quyển siêu quốc gia; quy luật hình thành tổ chức độc quyển nói chung Các tổ chức độc quyển khống lỗ © của các quốc gia cạnh tranh nhau trên thị trường thế giới, không thôn tính được nhau, đi đến liên minh để phân chia nhau độc quyển thị trường và khu vực ảnh hưởng trên thế giới
Tóm lại, tổ chức độc quyển quốc tế là tổ chức liên minh được
ký kết giữa các độc quyển lớn của các nước TBCN, biệp nghị liên minh đó quy định quy mô sản xuất, giá cả độc quyển, nguồn nguyên liệu và thị trường bán hàng trên phạm vi thế giới về một loại hàng hóa Về thực chất đó là một các-ten quốc tế
Nhưng sự phân chia thế giới về kinh tế không cố định mà luôn luôn diễn ra những cuộc đấu tranh để chia lại Nguyên nhân trực tiếp của sự tất yếu phân chia lại thế giới về kinh tế là quy luật phát triển không đều mang tính chất nhảy vọt giữa các nước TRCN dẫn tới sự thay đổi tương quan lực lượng giữa các thành viên của liên minh độc quyền quốc tế của các nước TBCN Cho nên sự hình thành tố chức độc quyển quốc tế không những không làm giảm những cuộc đấu tranh ngày càng gay gắt giữa các tập đoàn đó mà
còn có ảnh hưởng lớn đến tình hình chính trị thế giới và là lực
lượng chủ yếu đẩy chính phủ các nước đế quốc chuẩn bị chiến tranh
và gây chiến tranh, nhất là các tổ chức độc quyển sản xuất quân sự Chính các tổ chức độc quyển quốc tế đã đóng vai trò: quan trọng
trong việc làm nổ ra hai cuộc chiến tranh thế giới
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, có nhiều tổ chức độc quyển quốc tế mới phân chia thị trường thế giới ra đời như tổ chức “Liên
minh than thép châu Âu”, “Khối thị trường chung châu Âu”, “Khối mậu dịch tự do châu Âu”,“Khối thị trường chung các nước Bắc Âu
v.v những khối thị trường chung theo vùng nhự trên được các nước TBCN ký kết hiệp nghị và đảm bảo thực hiện, được gọi là các tổ chức độc quyển quốc tế nhà nước
Những tổ chức độc quyển quốc tế nhà nước ngày nay chẳng qua cũng là những hiệp nghị liên minh độc quyển quốc tế nhằm
phân chia thị trường và khu vực ảnh hưởng kinh tế giữa các tập
155
Trang 11đoàn độc quyền của các nước TBCN Trước kia những hiệp nghị này được ký kết đưới hình thức tư nhân, thì ngày nay được ký kết dưới hình thức nhà nước và được nhà nước bảo đảm thực hiện, nhằm tạo
ra một thị trường chung khu vực cho các tổ chức độc quyền nhà nước
và tư nhân của các nước tham gia, ngăn cản sự thâm nhập của các
tổ chức độc quyền nhà nước khác
đ) Sự phân chia thế giới ugê mặt lãnh thổ giữ cúc cường quốc lớn
Sự thống trị của tư bản tài chính không những dẫn đến sự phân chia thế giới vê kinh tế mà còn dẫn đến sự phân chia đất đai thế giới, độc chiếm làm thuộc địa Các tổ chức độc quyển đứng vững khi một mình chiếm đoạt được hết thảy mọi nguồn nguyên liệu, giữ được địa vị độc quyền của mình
Tích tụ sản xuất ngày càng cao, nguyên vật liệu càng thiếu
thốn, cạnh tranh càng gay gắt thì cuộc đấu tranh để chiếm thuộc địa càng quyết Hệt Khi chuyển sang thời kỳ CNTB độc quyển, các cường quốc đua nhau xâm chiếm thuộc địa, cho nên đất đai thế giới
bị phân chia hết Nhưng sự hoàn thành việc phân chia đó không
diễn ra một lần mà tất yếu diễn ra cuộc đấu tranh để phan chia di,
phân chia lại đo có sự thay đổi so sánh lực lượng dưới sự tác động của quy lúật phát triển không đều về kinh tế và chính trị giữa các nước TBCN Cuộc đấu tranh để phân chia và phân chia lại thuộc địa
đó trong điều kiện của CNTB thường được thực hiện bằng vũ lực Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các lãnh thổ và các nước
trước kia nằm đưới ách áp bức thuộc địa và nửa thuộc địa, đã nối
tiếp nhau giành độc lập chính trị và bước vào con đường phát triển độc lập về kinh tế — xã hội Trước tình hình đó, chủ nghĩa
đế quốc vẫn tìm cách duy trì các nước đã được giải phóng trong quỹ đạo ảnh hưởng của mình bằng chính sách thực dân mới Ở
đây có sự phân chia thế giới về mặt chiến lược quân sự, về ảnh
hưởng chính trị và kinh tế của các cường quốc TBCN Chủ nghĩa
thực dân mới là tổng thể những thủ đoạn bóc lột đế quốc chủ nghĩa nhằm kìm hãm các nước đang phát triển trong khuôn khổ
hệ thống thế giới TBCN
156
Trang 123 Cơ chế kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền
‹; - Chuyển sang CNTB độc quyền, sự thống trị của tư bản tự do cạnh tranh đã được thay thế bằng sự thống trị của tư bản độc quyên Song dù dưới bất cứ hình thức chiếm hữu nào: của tư bản riêng là,› của tập đoàn các nhà tư bản, của nhà nước tư sắn, thì sự thống trị
của độc quyền vẫn không xóa bỏ được cạnh tranh nói chung, ngược lại cạnh tranh lại càng trở nên sâu sắc hơn, quyết ligt hon va bao trùm bơn
_ Trọng giai đoạn CNTB độc auyen có các hình thức tách tranh
sau day:
- Cạnh tranh giữa các tổ: chức độc quyên và các xế nghiệp ngoài độc quyên Bọn độc quyển tìm sách tiêu diệt các xí nghiệp ngoài tổ chức độc quyển bằng các biện pháp kinh tế như: tung tiên mua nguyên liệu nguồn nhân công, bán phá giá để độc chiếm thị trường và dùng cả những thủ đoạn phi pháp để bắt các xí nghiệp
đó phục tùng Kết quả của cuộc cạnh tranh này thường là sự phá sản
của các xí nghiệp ngoài tổ chức độc quyền
_— - Cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyển với nhau trong cùng
một ngành hay giữa các ngành khác nhau nhằm giành giật nguôn nguyên liệu, nơi đầu tư và tiêu thụ hàng hóa
- Cạnh tranh trong nội bộ.tổ chức độc quyên nhằm giành giật quyền lợi và địa vị trong tổ chức độc quyển giữa bọn độc quyên chi phối công ty
- Cạnh tranh tự do trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa nhỏ và giữa bon tư bản không độc quyển, dưới sự chỉ phối của tư bản độc quyền
Mặc dù cạnh tranh có nhiều hình thức, nhiều loại và bằng nhiều biện pháp nhưng mục đích cuối cùng đều là thu được lới nhuận:
độc quyền cao : Đế hà CÔ Cờ oe
Ngày nay, ngoài cạnh tranh va giá, còn có những hình thức
khác như: cạnh tranh vê chất lượng giá trị sử dụng của hàng hóa,
về các dịch vụ sau khi bán hàng hóa (bảo hành, hướng dẫn sử
dụng v.v ) phạm vi cạnh tranh còn mở rộng ra trên thị trường
157
Trang 13TBCN thế giới; so với trước, mức độ và thủ đoạn cạnh tranh gay gắt
và quyết liệt hơn
Sự cạnh tranh giữa các nhóm tư bản tài chính và giữa các cường
quốc TBCN với nhau càng thêm sâu sắc: cạnh tranh tài chính và tiền
tệ, cạnh tranh ở Tây Âu và trong khối thị trường chưng, cạnh tranh
giữa ba trung tâm: Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản
b) Lợi nhuận độc quyên uà giá cả độc quyển
Sự hình thành tư bản độc quyển phản ánh sự thay đổi mối quan hệ sản xuất cơ bản của xã hội tư sản giữa lao động làm thuê và
tư bản, cũng như những mối quan hệ bên trong của giai cấp tư sản
Cơ cấu hình thành lợi nhuận bình quân và xu hướng hạ thấp tỷ suất lợi nhuận đã được hình thành trong điều kiện cạnh tranh tự do đang bị thay thế bằng sự thực hiện kinh tế của các tổ chức độc quyển trong giá cả độc quyền và lợi nhuận độc quyền
Việc tập trung một lực lượng kinh tế lớn vào trong tay các tổ chức độc quyển cho phép chúng hạn chế sự tác động của cạnh tranh trong nội bộ ngành, dẫn đến việc độc đoán định ra giá cả sản phẩm
của mình trên thị trường Giá cả riêng lễ như thế gọi là giá cả độc
quyển Giới hạn của giá độc quyền là: nếu các tố chức độc quyển định giá cao, thì hàng hóa bán ra có thé giảm nhiều, lượng lợi
nhuận có thể bị giảm sút
Các tổ chức độc quyển còn kiếm soát giá cả trên thị trường hàng hóa mà chúng mua Điều đó liên quan tới sản phẩm của những người sản xuất nhỏ và trung bình không độc quyên Thông thường, những giá cả thích hợp là những giá cả độc quyển thấp Nhưng không thể hạ thấp dưới mức những đơn vị kinh tế cung cấp nguyên liệu và các thành phân khác cho các tập đoàn lớn trong suốt một,
thời gian dài
Sự giảm bớt những chi phí sản xuất không dẫn đến sự hạ thấp giá cả một cách tự động trên các thị trường độc quyển; đồng thời sự tăng thêm chi phí được các tổ chức độc quyên sử dụng để
buộc những người tiêu thụ phải nhận những giá cao hơn Trong cơ cấu đó chứa đựng một khuynh hướng chung là nâng cao giá cả
158
Trang 14Sự thống trị của các Công-xoóc-xi-om đa ngành, trơng khi bảo đảm chuyển tư bản của chúng từ ngành này sang ngành khác, từ đó ngăn chặn sự xâm nhập của các tổ chức độc quyển khác và không cho phép san bằng tỷ suất lợi nhuận của ngành Hạn chế cạnh
tranh trong nội bộ ngành và giữa các ngành, cho phép thu được lợi nhuận độc quyền
Nguồn chính của lợi nhuận độc quyển là giá trị thặng dư được
tạo ra bởi lao động của công nhân làm thuê trong các xí nghiệp của các Công-xoóc-xi-om Ở đây, khả năng chiếm đạt giá trị thặng, dư
thường được giữ vững trong một thời gian dài Vì nó gắn với những
yu thế về trình độ kỹ thuật và quy mô sản xuất, về sự đảm bảo
nguồn dự trữ, gắn với mức thấp hơn về hao phí vật chất và lao động trên một đơn vị sản phẩm Đảm bảo cho mình những điều kiện có
lợi hơn về tiêu thụ sản phẩm và mua nguyên liệu, mua những bán
thành phẩm của các công ty nhd va vừa "Bốc lột những người lao động của các nước đang phát triển cũng là một nguồn lớn'èữa' lời
W CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN NHÀ NƯỚC
=1, Nguyên nhân hình thành và sự phát triển của la chủ
nghĩa tư ban độc quyền nhà nước
CNTE độc quyển nhà nước là sự kết hợp “hai lực lượng khổng
lộ là CNTB và nhà nước thành một bộ máy duy nhất, trong đó hàng chục triệu con người đêu là thành viên của một tổ chức, tổ chức của
CNTE độc quyển nhà nước”°',
Như vậy, CNTB độc quyển nhà nước là một hình thức của 'CNTB độc quyển có đặc điểm là kết hợp sức mạnh của các tổ chức độc quyển với sức mạnh của nhà nước thành một cơ chế thống nhất nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp tư bản độc quyền, duy trì và củng
cố chế độ TBCN, tăng lợi nhuận tối đa của các tổ chức độc quyền '
` V J Lânin, Toàn tập, tập 32, NXB Tiến bộ ,Hà Nội, 1986 ~ tr.106
189
Trang 15CNTB độc quyền nhà nước là sản phẩm tất yếu của giai đoạn độc quyển của CNTB và được sinh ra trước tiên là do có sự phát triển hơn nữa của quá trình tích tụ và tập trung tư bản
Sự tích tụ sản xuất và tư bản trong điều kiện thống trị của các
tổ chức độc quyển ở các ngành kinh tế then chốt làm cho tư bản độc quyển tập trung trong tay mình sự kiểm soát hết thảy những bộ phận chủ yếu và có ý nghĩa quyết định của nên kinh tế TBCN Tích
tu và tập trung tư bản càng lớn thì tích tụ và tập trung sản xuất,
càng cao Từ đó đẻ ra những cơ cấu kinh tế to lớn đòi hỏi một sự điều tiết xã hội đối với sản xuất và phân phối, một sự kế hoạch hóa
trong phạm vi toàn xã hội Sự phát triển hơn nữa của trình độ xã
hội hóa lực lượng sản xuất đã tạo khả năng xuất hiện và phát triển CNTB déc quyền nhà nước
CNTB độc quyền nhà nước xuất hiện từ chiến tranh thế giới lần thứ nhất và được đẩy nhanh từ sau chiến tranh thế giới lần thứ
quyển: những Công-gơ-lô-mê—-ra, những công ty xuyên quốc gia và
đa quốc gia , nhưng bản thân những tổ chức độc quyển khổng lễ này cũng không chứa đựng nối lực lượng sản xuất mới Cuộc cách mạng khoa học — kỹ thuật đã làm đảo lộn cơ cấu nền kinh tế và đòi hỏi những vốn lớn để cải tạo cơ cấu sản xuất, để nghiên cứu sử dụng những thành tựu mới của khoa học và kỹ thuật mà không một tổ
chức độc quyển tư nhân nào, thậm chí tập thể nào, có thể đảm
đương được, nếu không có sự can thiệp rộng và sâu hơn nữa của nhà:
nước vào kinh tế
Sự xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất và cuộc cách mạng
khoa học — kỹ thuật còn dẫn đến sự phát triển không đều càng tăng
thêm giữa các nước làm cho cạnh tranh quốc tế của tư bản càng
quyết: liệt, và cũng do sự gay gắt của hàng loạt mâu thuẫn bên trong
160
Trang 16_ wa bên ngoài của CNTB đã làm cho CNTB độc quyển nhà nước phát
, xriển nhanh và trở thành phổ biến
Hiện nay, quá trình chuyển biến từ CNTB độc quyển thành CNTB độc quyển nhà nước ở các nước tự ‘pan phát triển đã kết thúc tính chất độc quyển của CNTEB hiện đại thường xuyên, sâu sắc hơn, thể hiện ở chỗ nhà nước sử dụng các đòn bẩy như: kích thích tích tụ sản xuất và tư bản theo kiểu độc quyển, giao cho các tổ chức độc quyên các đơn đặt băng của nhà nước, chính phủ cấp phát vốn cho các chương trình va đưa ra các chính sách liên kết độc quyền Tất
cả cái đó đều đem lại lợi ích cho giai cấp tư sản
2 Bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước
Sự thống trị xã hội TBCN là CNTB độc quyển nhà nước CNTB độc quyền nhà nước là sự kết hợp các tổ chức độc quyển và bộ máy nhà nước thành một cơ cấu thống nhất nhằm bảo đảm lợi nhuận độc quyên cao cho các tổ chức độc quyển củng cố và mở rộng
sự thống trị của tư bản tài chính
Nhà nước có tính độc lập tương đối với cơ sở kinh tế sinh ra
nó, nhưng về sâu xa phụ thuộc vào cơ sở kinh tế và giai cấp thống trị nền kinh tế Đối với nhà nước của CNTB, độc quyền nhà nước là
cơ chế chính trị bắt nguồn từ kinh tế Trong sự kết hợp giữa các tổ chức độc quyển tư nhân và bộ máy nhà nước thì bộ máy nhà nước phụ thuộc vào các tổ chức độc quyển, phục vụ lợi ích của các tổ chức độc quyền
CNTB độc quyển nhà nước là một hình thức vận động mới của
quan hệ sản xuất TBCN hình thành trong giai đoạn độc quyền Một mặt, sở hữu độc quyền nhà nước Hay tư bản độc quyển của nhà nước tư sản hình thành và kết hợp với tư bản độc quyén tư nhân
là những bộ phận cấu thành chủ yếu của quan hệ sản xuất TBCN trong
giai đoạn hiện thời của CNTB độc quyển; mặt khác, nhà nước vốn là
một cơ quan chính trị thuộc thượng tầng kiến trúc phân biệt với cơ sở
hạ tầng, nhưng khi CNTB độc quyển nhà nước hình thành thi nhà nước trở thành một nhà tư ban tập thể khống lô và cũng là người chủ
Trang 17sở hữu những xí nghiệp và doanh nghiệp lớn tiến hành kinh doanh sản
xuất và bóc lột lao động làm thuê Vì vậy, CNTB độc quyển nhà nước
không phải chỉ là chính sách của nhà nước tư sản trong giai đoạn độc quyển, mà còn là hệ thống các quan hệ kinh tế và giai cấp của CNTB
độc quyền làm nảy sinh một hệ thống các chính sách đối nội và đối ngoại của nhà nước tư sản độc quyển phù hợp với cơ sở hạ tầng đó Do
đó, CNTB độc quyển nhà nước là một hiện tượng kinh tế, chính trị và :
xã hội, không đứng ngoài kinh tế mà có quan "hệ trực tiếp với lĩnh vực kinh tế của xã hội TBCN
Với tính chất là một hiện tượng kinh tế, chính trị, xã hội, một
mặt CNTB độc quyền nhà nước vừa trực tiếp tham gia sản xuất — kinh doanh, thực hiện quyền sở hữu của nhà nước; mặt khác, với chức năng quản lý xã hội trong điêu kiện xã hội hóa phát triển cao, nó tham gia quản lý về mặt nhà nước đối với kinh tế — xa hội bằng điều tiết kinh tế
— xã hội
3 Những biểu hiện chủ yếu của chủ nghĩa tư bản độc
quyền nhà nước
Bản chất của CNTB độc quyền nhà nước biểu hiện trên nhiều
mặt của đời sống kinh tế ~ xã hội, nổi bật nhất là những mặt chủ vế: sau đây:
: Sự hình thành uà phát triển của sở hữu độc quyền nhà nước
Từ sau chiến tranh thể giới thứ hai, chế độ sở hữu nhà nước hình thành và phát triển Đây là sở hữu tập thể chung của giai cấp
tư bản độc quyển có nhiệm vụ ủng hộ và phục vụ lợi ích của tư bản độc quyền Tư bản độc quyển của nhà nước tư sản được tạo ra bằng
con đường thuế khóa, công trái, huy động vốn qua tiết kiệm, tích lũy
từ các công việc kinh doanh của nhà nước và bằng các con đường
phân phối lại thu nhập quốc dân
- Sở hữu độc quyền nhà nước bao gồm cả một, hệ thống những xí nghiệp độc quyền về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải v.v cả một hệ thống cơ quan tài chính, tín dụng, trong đó ngân sách nhà nước và ngân hàng trung ương là những bộ phận quan trọng của khu vực kinh tế nhà nước
162
Trang 18Các xí nghiệp và doanh nghiệp thuộc khu vực nh nước được hình thành nên bằng con đường quốc hữu hóa TBCN, bằng việc nhà
nước đầu tư xây đựng mới hoặc kết hợp cổ phần với tư bản tư nhân Nhà nước quốc hữu hóa xí nghiệp hay ngành kinh tế nào đó hòng cứu văn một số nhà tư bản hay một số tập đoàn tư bản khỏi bị phá
sản và thường là trả cho xí nghiệp toàn bộ giá trị xí nghiệp Những
xí nghiệp thuộc hạ tầng cở sở của nền kinh tế như than, điện, nước,
bến tàu, hải cảng, sân bay thường lạc hậu về kỹ thuật và ít lãi,
nhưng lại cần thiết cho việc sản xuất của các ngành nhiều lãi do bọn
tư bản độc quyền kinh doanh: Đó là những ngành nhà nước quốc
hữu hóa hoặc đâu tư xây dựng Ngày nay, những ngành nghiên cứu khoa học và kỹ thuật mới tuy có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ nên kinh tế, nhưng lại đòi hỏi những vốn đầu tư lớn, vừa ít lãi ban
đầu, vừa có thể nhiều lần thất bại khi nghiên cứu thí nghiệm, là những ngành mà nhà nước quan tâm đầu tư, khi thí nghiệm đã
thành công, kinh doanh đã có lãi thì các xí nghiệp đó lại được giao
cho bọn tư bản độc quyền tư nhân thâu lại với thuế suất thấp
Cùng với quá trình quốc hữu hóa cũng diễn ra quá trình tư
hữu hóa xí nghiệp nhà nước: khi xí nghiệp nhà nước được đầu tư cải tạo kỹ thuật, kinh doanh đã có lãi thì bọn tư bản độc quyển lại đấu
tranh đòi hoàn trả xí nghiệp đã quốc hữu hóa hoặc mua lại xí nghiệp do nhà nước xây dựng mới, với giá cả thấp
Sở hữu độc quyền nhà nước và quốc hữu hóa TBCN không chống lại tư bản độc quyền, bản chất xã hội các xí nghiệp quốc hữu hóa và sở hữu độc quyển nhà nước không thay đổi tính chất của quan hệ sản xuất TBCN, nó giữ nguyên giai cấp các nhà tư bản và giai cấp công nhân làm thuê, nhà nước trở thành “nhà tư
bản tập thể”
b) Sự phát triển của thị trường nhà nước
Nhà nước tư sản xây dựng thị trường bên trong cho tư bản độc quyền nhằm giải quyết tình trạng thị trường ngày càng thu hẹp Tích tụ sản xuất càng cao, sản phẩm làm ra càng nhiều, nhưng khả năng tiêu dùng của quần chúng cơ bản ở trong nước có hạn Mâu
163
Trang 19thuẫn đó đòi hỏi bọn tư bản độc quyển phải dựa vào nhà nước bảo đảm thị trường bằng cách mở rộng sự tiêu thụ của nhà nước, vì thế thị trường nhà nước là một trong những biện pháp chống khủng hoảng sản xuất thừa và bảo đảm tiến trình bình thường của tái sản
xuất Trong thời kỳ đầu, nhà nước đã dùng việc bao mua để thoát ra
khỏi những cuộc khủng hoảng, ngày nay tích lũy thừa tư bản đã trở
nên thường xuyên nên biện pháp bao mua của nhà nước càng thông dụng
Sự tiêu thụ của nhà nước được thực hiện qua những đơn đặt
hàng do xí nghiệp nhà nước hợp đồng mua bán thông thường với xí nghiệp độc quyền tư nhân Các đơn đặt hàng nhà nước đóng vai trò rất lớn đối với lợi nhuận của độc quyển tư nhân: đó là thị trường mua tập trung với giá rẻ, tránh được thiếu thốn nguyên liệu và vật Hiệu chiến lược, đó lại là thị trường bán chắc chắn với giá cao và lãi
c) Sự điêu chỉnh tà kiểm soát của nha nước đốt vdi kinh tế
Sự can “thiệp trực tiếp của nhà nước tư bản độc quyền vào quá
trình kinh tế nhằm duy trì tiến trình bình thường của tái sản xuất khi khã năng tự điều chỉnh của CNTB đã bị giảm sút nghiêm trọng
Cuộc khũng hoảng sản xuất thừa 1929 -1933 đã gây ra những tác
hại khủng kHiếp trong thế giới TBCN, đòi hỏi nhà nước tư sản phải
điều tiết nền kinh tế
- Việc điều chỉnh và kiểm soát đối với kinh tế được thực hiện
thô:ig qua sự can thiệp trực tiếp của nhà nước vào các khâu của
quá trình tái sản xuất xã hội của tư bản, từ việc cung cấp tư bản
tiên tệ, bảo đảm nguyên liệu và sức lao động cho tư bản độc quyển
đến việc bảo đảm thị trường tiêu thụ Để thực hiện các biện pháp kinh tế đó, nhà nước để ra và thực biện một hệ thống các chính sách điểu chỉnh: từ kế hoạch hóa, chương trình hóa kinh tế chống khủng hoảng và chống lạm phát tùy tình hình phát triển của kinh
tế: từ chính sách nghiên cứu khoa học và kỹ thuật, chính sách nh lương, giá cả, trợ cấp kinh doanh đến quân sự hóa kinh tế và:
164
Trang 20công cụ điều chỉnh quan trọng nhất là ngân bàng quốc gia và ngàn sách nhà nước
' Trơng những hoàn cảnh và điều kiện nhất định, những biện pháp điều chỉnh kinh tế có tác dụng nhất định trong việc chống đỡ khủng hoảng, thúc đẩy kinh tế phat triển với nhịp độ cao
d Sy can, thiệp của nhà nước uào các quan hệ kinh tế đối ngoại Trong giai đoạn cạnh tranh tự do và ngay cả trong thời kỳ độc quyền đơn thuần, chủ thể của các mối quan hệ kinh tế quốc tế của tư
bản chủ yếu là các tư bản tư nhận Sau chiến tranh thế giới thứ hai,
nhà nước tư sản ngày càng can thiệp sâu vào các quan hệ thương
mại và tín dụng quốc tế, vào việc xuất khẩu tư bản, vào việc phân chia kinh tế và lãnh thổ thế giới Những biểu hiện về sự can thiệp
của nhà nước vào các quan hệ kinh tế đối ngoại như sau
— Việc điều chỉnh ngoại thương, tiền tệ và tín dụng quốc tế
được tiến hành dưới các hình thức: nhà nước quy định nhập khẩu,
bảo đảm xuất khẩu, ưu đãi về thuế khóa; về tín dụng, trợ cấp bán
phá giá tranh chiếm thị trường, các nhà nước tư sản ký kết những
hiệp nghị về thương mại, tiền tệ, tín dụng, đấu tranh với nhau trong những hội nghị liên minh về thuế quan, phân chia thị trường mua
bán nguyên liệu và nhiên liệu chiến lược
— Xuất khẩu tư bản nhà nước là một biếu hiện mới của CNTB độc quyển, có mục đích mở đường cho xuất khẩu của tư bản tư nhân mang hình thức phổ biến là “viện trợ” kinh tế, kỹ thuật, quân sự và
không nhất thiết bị hạn chế bởi sự chi phối của quy luật lợi nhuận độc quyển cao, mà còn nhằm mục đích trước tiên là dùng kinh tế để xâm
nhập chính trị và chuẩn bị những cơ sở hạ tầng của kinh tế như sân bay, bến cảng, đường giao thông, điện nước để mở đường cho bọn độc quyển tư nhân đầu tư Xuất khẩu tư bản nhà nước cũng là bình thức quan trọng để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa và là công cụ quan
trọng của chủ nghĩa thực dân mới
- Tổ chức độc quyển nhà nước quốc tế là những hình thức phát triển của CNTB độc quyển nhà nước trên phạm vi thế giới lạ
186
Trang 21những hiệp nghị liên minh quốc tế của tư bản độc quyển nhằm phần
chia khu vực kinh tế và thị trường thế giới hoặc nhằm điều tiết quan hệ tài chính, tín dụng và thương mại quốc tế của tư bản, được
ký kết dưới hình thức liên hợp các nhà nước và dựa vào quyền lực các nhà nước để thể biện Khối “Thị trường chung châu Âu”, khối
“Mậu dịch tự do châu Âu”, “Ngân hàng tái thiết và phát triển”, “Quỹ
tiên tệ quốc tế”, “Hiệp định chung về mậu dịch thuế quan” v.v là điển hình của các tổ chức độc quyền nhà nước quốc tế
~ Liên hợp các nhà nước tư sản điều chỉnh kinh tế thế giới: Sự
can thiệp của các nhà nước tư sản vào các qưan hệ kinh tế quốc tế
với mưu đồ “kế hoạch hóa” toàn bộ nền kinh tế TBCN thế giới từ một “trung tâm chỉ đạo” Sự quốc tế hóa đời sống kinh tế ngày nay
đã đạt được tới mức độ mà mọi sự biến động kinh tế và xã hội sản sinh ra ở một nước ngày càng tác động trực tiếp lên tình hình của
toàn bộ thế giới TBCN
đ) Sự liên hợp vé con người giữa các tổ chúc độc quyên uà nhà
nước tư sản
Với sự phát triển của CNTB độc quyển nhà nước, bọn tư bản
độc quyển ngày càng sử dụng những thủ đoạn che dấu hoặc công
khai trực tiếp nắm lấy bộ máy nhà nước để phục vụ lợi ích kinh
doanh của mình
Ở các nước TBCN ngày nay, bọn tư bản độc quyển lập nên
những “Hội của các giới chủ”, những hội này là bộ tham mưu chủ
yếu của chúng và thông qua các hội đó chúng chi phối đường lối chính trị của các nhà nước tư sản , ,
Việc nắm nhà nước còn được thực hiện bằng thâm nhập đại
biểu của các công ty độc quyền vào bộ máy nhà nước, hoặc ngược lại:
bằng sự kết hợp của các nhân viên chính phủ vào ban quản trị các công ty độc quyền, mua chuộc nhân viên chính phủ Mức độ xâm nhập của bọn nhân viên của các tổ chức độc quyên, rồi bản thân bọn tư bản
độc quyền vào bộ máy nhà nước có thể dùng làm thước đo mức độ phụ
thuộc của bộ máy nhà nước vào bọn tư bản độc quyền
Trang 22Những biểu hiện của CNTB độc quyển nhà nước nêu trên:đã phát sinh một cách không đầy đủ và không vững chắc từ trơnỳ
chiến tranh thế giới thứ nhất, đưới hình thức chín muồi nhất, lúc bấy giờ là ở Đức và cũng xuất hiện ở Mỹ, Anh, Pháp, tuy mức độ và quy mô không lớn như ở Đức
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, CNTB bước vào thời kỳ phát triển tương đối ổn định thì giai cấp tư bản độc quyển thấy không cần tới sự can thiệp của nhà nước nhiều Các cuộc khủng
hoảng kinh tế 1920—1921, 1929-1933, 1937-1938 nổ ra ngày một
trầm trọng Một mặt để chống đỡ khủng hoảng và chống phong trào cách mạng của quân chúng lên cao; mặt khác, để chuẩn bị đi vào
cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, bọn tư bản độc quyền lại trực tiếp
sử dụng quyển lực của bộ máy nhà nước CNTB độc quyển nhà nước
dần dần phát triển
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, những biếu hiện của
CNTE độc quyển nhà nước trở thành hiện tượng thường xuyên, phát triển cao và phổ biến ở tất cả các nước tư bản
Những hiện tượng kinh tế ~ xã hội mới trên đây, hiện nay là
phổ biến, tôn tại thường xuyên có tính chất ổn định và thống trị
trong các quan hệ kinh tế — xã hội của các nước TBCN
4 Cơ chế kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền
nhà nước
Cơ chế kinh tế của CNTB độc quyển nhà nước là tổng thể những hình thức và phương pháp điều tiết đời sống kinh tế — xã hội của xã hội TBCN Mỗi cơ chế kinh tế đều ứng với những hình thức của một trình độ nhất định trong giới hạn của sở hữu TBCN và thể hiện bằng các phạm trù: giá cả, tiền tệ, tiền lương, tín dụng, lợi
nhuận, lợi tức, thuế v.v cùng với các hình thức tổ chức của tư bản như: các hãng, công ty, các liên minh độc quyền, các ngân hàng và
một số cơ quan của bộ máy nhà nước, những chính sách, thể chế
kinh tế Những phạm trù, tổ chức và chính sách thể chế này đều
mang đặc điểm bán chất của CNTB nói chung và CNTB độc quyển
167
Trang 23nhà nước nói riêng Mỗi cơ chế đều có những chức năng nhất định
Cơ chế kinh tế của CNTB độc quyền nhà nước có những chức năng
sau đây:
- Bảo đảm các tỷ lệ của quá trình tái sản xuất xã hội;
— Điều tiết các tỷ lệ của quá trình tái sản xuất xã hội;
~ Giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong quá trình phát triển của xã hội
Các chức năng này biểu hiện bản chất kinh tế của CNTB thể
hiện trong sự vận động của kinh tế và làm nảy sinh những hình
thức tổ chức kinh tế — xã hội, những quan hệ kinh tế mới và các quy luật kinh tế mới tác động vào nền kinh tế
Xét quá trình phát triển của nên kinh tế TBCN, cơ chế quản
lý kinh tế của CNTB độc quyên nhà nước là sự thể hiện tổng hợp những hình thức sở hữu mang bản chất của CNTB và có những
trình độ khác nhau qua các giai đoạn:
Tư bản độc quyền Tư bản độc quyển
Tư bản độc quyển nhà nước
Đó cũng là sự vận động, tống hợp của ba loại cơ chế tương ứng:
Cơ chế cạnh tranh —>+[ Cơ chế cạnh tranh——>{ Cơ chế cạnh tranh
Cơ chế độc quyển Cơ chế độc quyển"
Cơ chế điều tiết của nhà nước
.Các cơ chế đó xen lổng vào nhau, cùng tác ` động Và có mất
quan hệ hữu cơ với nhau
168
Trang 24Trong quá trình phát triển của CNTB, cạnh tranh phát triển cao sinh ra độc quyền, độc quyên tập trung cao thì phát triển thành độc quyền nhà nước, và tất cả đều nằm trong khuôn khổ của CNTB Chẳng hạn, độc quyên nhà nước thống trị tất cả các mặt kinh tế —
xã hội, nhưng không hề thủ tiêu quan hệ cạnh tranh, trái lại quan
hệ cạnh tranh vẫn ngày càng phát triển gay gắt hơn trong nền kinh
tế TBCN; mỗi cơ chế đó vẫn có vai trò và vị trí tác động của nó trong một nền kinh tế hỗn hợp Chúng được kết hợp lại bằng cơ chế
tự điều chỉnh của thị trường và cơ chế điều tiết thông qua quản lý vĩ
mô của nhà nước TBCN
Đặc điểm của cơ chế quản lý kinh tế của CNTB độc quyển nhà
nước là:
- Nhà nước tham gia giải quyết các vấn để kinh tế trên phạm
vi vĩ mô có hạn chế vận động tự phát của kinh tế
— Cơ chế này không chỉ tác động trong lĩnh vực kinh tế mà còn có cả trong lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao có liên quan
tới kinh tế
- Kết hợp và sử dụng được các cơ chế cạnh tranh, cơ chế độc quyển và cơ chế độc quyển nhà nước để thống trị nền kinh tế TBCN
CNTB hiện đại đang thích nghi được với tình hình mới của thời đại vì ngoài việc sử dụng được thành tựu khoa học — kỹ thuật hiện đại, nó còn sử dụng động lực của cạnh tranh, của độc quyền và của độc quyển nhà nước, kết hợp được các hình thức, các trình độ
của sở hữu TBCN
.CNTB độc quyền nhà nước là một hiện tượng kinh tế, chính trị và xã hội, không đứng ngoài kinh tế mà đã trực tiếp can thiệp sâu rộng vào các quan hệ kinh tế - xã hội bằng chính sách điều chỉnh, điêu tiết có ý nghĩa quan trọng thể hiện như sau:
- Nhà nước TBCN dùng chương trình hóa, kế hoạch hóa kinh
tế làm cơ chế điểu tiết kinh tế — xã hội cùng với cơ chế tự điều chỉnh của thị trường, xây dựng các chương trình chiến lược chống
Trang 25khủng hoảng, chống lạm phát, sử dụng các chính sách thuế khóa, chính sách tài chính để tài trợ, thực biện chính sách tiên tệ, tín
dụng với lãi suất phấn biệt, khi cần thiết, nhất là khi cơ chế thị trường có những bất lực và tác động không hợp với yêu câu chủ quan của lợi ích của bọn tư bản độc quyền nhà nước, nhà nước thực hiện chính sách đầu tư nhà nước và các chính sách kinh tế khác :
~ Nhà nước của tư bản độc quyển dùng cả một bộ máy khổng
lê đủ sức mạnh, với tất cả những phương tiện, phương pháp cân
thiết để điều tiết tất cả các khâu trong quá trình tái sản xuất xã hội: cấp tín dụng ưu đãi khi tư bản thiếu vốn, thiếu vật tử, nguyên vật liệu hiếm; nhà nước sẵn sàng điều tiết từ thị trường bên ngoài vào; nếu thiếu lao động kỹ thuật, cán bộ chuyên môn, cán bộ quản lý:
nhà nước chịu chi phí đào tạo, chi phí nghiên cứu khoa học, chỉ phí xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế để bảo đảm cho quá trình sản xuất phát triển
- Nhà nước bao mua, làm hợp đồng tiêu thụ hàng hóa, thực hiện chế độ ưu đãi trong việc xuất khẩu, thậm chí miễn cả thuế, nhà nước còn can thiệp vào các quan hệ kinh tế đối ngoại giúp tư bản
trong nước vươn ra quốc tế
- Nhà nước đứng ra phân chia thị trường mua bán cho các độc quyền, trực tiếp chi phối các quỹ tiền tệ, tín dụng, ngân hàng mà nó khống chế được làm công cụ để thống trị cả thế giới Tư bản độc quyển nhà nước còn dừng chính sách quân sự hóa nền kinh tế, kích
thích chạy đua vũ trang để mở rộng sản xuất — kinh doanh, thực hiện chính sách tăng cung, để kích thích tiêu dùng, CNTB độc
quyền nhà nước còn sử dụng cả tín dụng tiêu dùng, nhằm vừa kiếm lãi khi cho vay hàng hóa vừa kích thích tăng cầu bảo đảm cho tư bản độc quyển thu được lợi nhuận
Ii CHU NGHĨA TƯ BAN NGAY NAY
1 Nhiing đặc điểm chủ nghĩa tư bản ngày nay
_ Trải qua một quá trình phát triển gần một thế kỷ, ngày nay,
CNTB độc quyển nhà nước đã có sự phát triển mạnh mẽ
170
Trang 26Đặc điểm nổi bật nhất, quan trọng nhất của tất cả mọi sự biến
đổi của CNTB sau chiến tranh thế giới lần thứ hai là sự phát triển chưa từng có và rộng khắp của CNTEB độc quyền nhà nước, biểu hiện chủ yếu là:
Tỷ trọng của kinh tế thuộc nhà nước trong nên kinh tế quốc
dân TBCN được nâng lên rõ rệt, phạm vi của nó vừa bao gồm các xí
nghiệp thuộc nhà nước trong các ngành sản xuất vật chất, vừa bao gồm các cơ cấu ngân hàng tài chính thuộc ngân hàng, ngành kinh tế
thứ ba (dịch vụ) cùng những công trình cơ: sở bạ tầng xã hội mới xây
dựng do nhà nước đâu tư
Kinh tế thuộc nhà nước và tư nhân kết hợp tăng lên mạnh
mẽ Năm 1979, trong 40 công ty công nghiệp lớn nhất của Tây Âu
có 7 công ty hỗn hợp vốn giữa nhà nước và tư nhân, trong đó vốn
nhà nước chiếm khoảng một nửa Trong công ty dầu lửa của Mỹ, cổ
phần do chính phủ nắm là 46% Ở Cộng hòa Liên bang Đức đã có
1.000 xí nghiệp thuộc nhà nước và tư nhân kết hợp
Chi tiêu tài chính của các nhà nước tư bản phát triển dùng để điều tiết quá trình tái sản xuất xã hội tăng lên nhiều Trước chiên tranh thế giới lần thứ nhất, khoản chị này chiếm khoảng 10% tỷ trọng tổng giá trị sản phẩm quốc dân Đến đầu những năm 80,
khoản chi này đã chiếm 1⁄9, cá biệt có nước vượt quá một nửa
Nguyên nhân phát triển mạnh mẽ và rộng khấp của CNTB
"độc quyển nhà nước là do:
Sự phát triển của lực lượng sản xuất và trình độ xã "hội hóa sản xuất nâng cao đã đặt ra một loạt vấn đề mới đòi hỏi phải có sự giải quyết của nhà nước (sự thay đổi kết cấu sản xuất, sự ô nhiễm
môi trường, đổi mới thiết bị, công nghệ, xây dựng những ngành công ` nghiệp mới nghĩa là những đòi hỏi phải có vốn đầu tự lớn)
Do cạnh tranh trong và ngoài nước gay gắt đòi hỏi nhà nước phải đứng ra để mở thị trường
Do điều kiện của cách mạng khoa học và công nghệ làm cho
lực lượng sản xuất phát triển mạnh, nên nhà nước tư sản phải tham
171
Trang 27dự vào quá trình kinh tế —- xã hội là một xu thế tất t yéu và nhu cầu
Thực chất của sự thay đổi này không phải là xóa bỏ vai trò:
của nhà nước trong đời sống kinh tế như một số nhà kinh tế học
phương Tây theo trường phái tự do nêu ra mà chỉ là tìm kiếm một phương thức thích hợp hơn cho sự điều tiết của CNTB độc quyên nhà nước Xu hướng chủ yếu của sự thay đổi mới ấy là giảm sở hữu nhà nước, giảm sự can thiệp trực tiếp của nhà nước, tăng tính năng động của kinh tế tư nhân theo phương châm “Nhà nước ít hơn, tư nhân nhiều hơn”, hướng sự điểu tiết của nhà nước vào tầm vĩ mô
bằng các công cụ tài chính, tiên tệ Từ đó, hình thành cái gọi là nền
kinh tế hỗn hợp hay nên kinh tế thị trường có sự điêu tiết của nhà
nước, kết hợp tính linh hoạt của cơ chế thị trường cạnh tranh tự do
với sự hoạt động của các tổ chức độc quyển tư nhân và sự điều tiết của nhà nước Trong xu hướng chung ấy, đã xuất hiện những mô hình điều tiết của nhà nước tư bản mang những sắc thái khác nhau, dưới ảnh hưởng của những điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội cụ thể của mỗi nước Người ta đi đến kết luận rằng, chiến lược tốt nhất là , kết hợp cạnh tranh tự do với sự điều tiết của nhà nước Hầu hết các nhà nước đều thay đổi hình thức, mô hình, thủ đoạn tác động vào
tiến trình vận động của nên kinh tế theo hướng đỡ bỏ những trở ` ngại do sự can thiệp quá sâu của nhà nước gây ra Ở đây không xóa `
bỗ các chức năng kinh tế của nhà nước đã hình thành một cách
khách quan đưới tác động của xã hội hóa sản xuất, mà là điều chỉnh _ lại mối quan hệ giữa nhà nước với khu vực tư nhân, không đối lập
khu vực nhà nước với khu vực tư nhân Ở Cộng hòa Liên bang Đức,
các nhà kinh tế nêu ra phương châm “Thị trường ở mọi lúc, mọi nơi, nhà nước ở những lúc, những nơi cần thiết”
Trang 28Vẻ kinh tế, những điểm quan trọng nhất của mo hinh điểu
tiết mới là:-
" Thứ nhất, hạn chế sự quan liêu hóa c của nhà nước Bệnh ¢ quan
liêu đã hạ thấp khả năng sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, làm tê liệt sáng kiến của tư nhân Thực hiện “Giải quan liêu hóa” bằng
cách xem xét lại hệ thống luật kinh tế, đơn giản hóa các pháp quy
và xây dựng những đạo lưật mới thích hợp với cơ chế thị trường có
sự điều tiết của nhà nước
Thứ hai, xác định lại sự trợ cấp của nhà nước - Quy định về
mức trợ cấp hằng năm của nhà nước đã tạo ra những ngành và
những xí nghiệp chỉ sống được nhờ sự tài trợ của nhà nước dưới
những hình thức ưu đãi về thuế hoặc chỉ tiêu trực tiếp của nhà nước Những khoản trợ cấp này phần nhiễu lại do những quyết định mang tính chất phi kinh tế và tăng lên nhanh, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng sản phẩm xã hội (từ 5 đến 10% tùy từng nước) Trợ cấp được thực hiện nhân danh lợi ích quốc gia nhưng thực tế thường
là do tác động của các thế lực tư bản, các lực lượng chính trị và bộ
máy quan liêu của nhà nước Trong thập niên 80, ở hầu hết các nước
TBCN phát triển đã diễn ra một cuộc vận động mạnh mẽ giảm bớt
khối lượng trợ cấp
Thứ ba, thực hiện tư nhân hóa khu vực kinh tế nhà nước với qui mô lớn ở nhiều nước do nhu cẩu tăng khả năng cạnh tranh của các đoanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, do tình trạng nhiều
doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả
Tuy nhiên, CNTB độc quyên nhà nước ngày nay không chủ
trương xóa bỏ khu vực kinh tế nhà nước mà chỉ điều chỉnh, thu hep,
duy trì doanh nghiệp nhà nước ở mức thích hợp để thực hiện các
chức năng kinh tế vĩ mô
Thứ tư, nới lỏng sự điều tiết của nhà nước, xóa bỏ những quy định của nhà nước có thế dẫn đến hạn chế cạnh tranh trên thị trường: Trong nên kinh tế của các nước TBCN phát triển, có tới 50%
GNP (theo thống kê chính thức) không theo cơ chế thị trường hoặc
173
Trang 29thị trường chỉ đóng vai trò cục bộ (chẳng hạn, sự can thiệp của nhà nước để giữ giá nông sản trên thị trường là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước) Ở Mỹ và nhiều nước Tây Âu đã giảm diéu tiết giá cước vận tải trên một số tuyến để xóa bỏ độc quyền, khuyến-khích cạnh tranh
_— Thú năm, xác định lại các thứ tự ưu tiên trong chính sách kinh tế, hướng chủ yếu vào sự tăng trưởng lâu dài, tiến bộ khoa học
- kỹ thuật, giảm chi tiêu ngân sách cho nhu cầu xã hội, chống lạm phát, giảm thuế để khuyến khích kinh doanh
Thú sáu, tăng cường sự phối hợp chính sách kinh tế giữa các
nước trong những lĩnh vực có tầm quan trọng đối với ổn định tình
hình kinh tế — xã hội Chú trọng nhiều hơn việc thực hiện các chính
sách xã hội nhằm vừa đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất, vừa duy trì tính ổn định chính trị — xã hội
Nổi bật hơn cả trong những biểu hiện mới của CNTB độc quyên
nhà nước là việc thực hiện các chính sách xã hội Cách mạng khoa
học và công nghệ đã dẫn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế Các ngành công nghiệp truyền thống (như khai thác nguyên liệu, nhiên liệu) giảm dân vai trò; các ngành công nghiệp có hàm lượng khoa bọc cao tiêu biểu cho tiến bộ khoa học — kỹ thuật và các ngành dịch vụ ngày: càng đóng vai trò quan trọng dẫn đến biến đổi cơ cấu lao động: nhu
câu về lao động khoa học — kỹ thuật (lao động trí tuệ nói chung) ngày
càng tăng nhanh, còn nhu cầu về lao động giản đơn hoặc lao động có
kỹ năng thấp giảm xuống: tỷ trọng lao động trong lĩnh vực dịch vụ trong tổng số lao động tăng lên (có nước tới trên 70%), tỷ trọng lao động trong nông nghiệp và công nghiệp giảm xuống
_b) Phương thức điều tiết của nhà nước linh hoạt, mềm dẻo hơn uới phạm uì rộng hơn
Phương thức điều tiết của nhà nước cũng thay đổi một cách linh hoạt, mềm dẻo hơn, kết hợp điều tiết tình thế với điều tiết dài
hạn Các công cụ và phạm vi điều tiết của nhà nước cũng đa dạng và
mở rộng hơn:
174
Trang 30~ Điêu tiết bằng chương trình uờ kế hoạch Thí dụ: chỉ ngân sách được thực hiện theo các chương trình kinh tế — x4 hội trung hạn”
và dài hạn, như chương trình phục hồi kinh tế, chương trình phát
triển và ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, chương trình cải biến cơ cấu kinh tế, chương trình phát triển kết cấu hạ tầng
Mỗi chương trình trung hạn và dài hạn lại được cụ thể hóa
thành các kế hoạch nhằm giải quyết những nhiệm vụ kinh tế - xã hội nhất định trong một tài khóa Mỗi chương trình cụ thể được phân chia thành nhiều dự án Những dự án này được nhà nước ký kết với
các doanh nghiệp bằng một hợp đồng về kèm theo hợp đồng là đơn đặt hing cu thé cho những loại hàng hóa và dịch vụ nhất định
~ Điều tiết cơ cấu kinh tế bằng quan hệ thị trường thông qua
hợp đồng, đồng thời hỗ trợ những ngành truyền thống cân được tiếp
tục duy trì và những ngành mũi nhọn với công nghệ cao Như vậy, nhu câu của nhà nước đã trở thành một công cụ tác động vào chuyển
dịch cơ cấu kinh tế một cách chủ động
- Điều tiết tiến bộ khoa học uà công nghệ bằng tăng chỉ ngân sách cho nghiên cứu và phát triển (R&D), tăng tài trợ cho nghiên
cứu ứng dụng của các công ty tư nhân, để xuất những hướng ưu tiên
nghiên cứu khoa học hoặc mua công nghệ của nước ngoài
- Điều tiết thị trường lao động Việc ứng dụng các thành tựu
của cách mạng khoa học và công nghệ vào sản xuất và thay đổi cơ
cấu kinh tế thích ứng với công nghệ mới trong chế độ TBCN tất yếu dẫn đến tăng số người thất nghiệp, vì vậy, để xoa dịu mâu thuẫn
giữa tư bản và lao động, nhà nước tư bản phải điều tiết thị trường
lao động Ngoài việc đào tạo và đào tạo lại, khuyến khích phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ để thu hút những người thất nghiệp, thực hiện bảo hiểm thất nghiệp, nhà nước còn trực tiếp can thiệp vào các
hợp đồng lao động bằng cách quy định mức tối thiểu cho mỗi khoản
mà hai bên ký kết phải tuân theo, như mức tiển công, độ dài ngày lao động, số ngày nghỉ việc trong năm, quy tẮc sa thải, quy chế làm việe trong doanh nghiệp và các phương tiện bảo hộ lao động
175
Trang 31- Điều tiết thị trường tài chính, tiền tệ, chống Ì lạm phát, điều
._ = Điều tiết các quan hệ kinh tế đối ngoại, hệ thống tài chính —
tiên tệ quốc tế
2 Hệ thống kinh tế thế giới của chủ nghĩa tư bản độc
quyền ngày nảy
a Sự phát triển không đều gia các nước trong hệ thống kinh ' tế thế giới tư bản chủ nghĩa ngày cùng tăng
Tuy trong thế giới TBCN ngày nay không còn phân chia ra
chính quốc và thuộc địa, nhưng vẫn phân chia thành nhóm những nước phát triển cao, giàu có như nhóm 7 nước TBCN công nghiệp phát triển (G7), tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (0ECD) và các
nước đang phát triển Các nước đang phát triển lại đang trong quá trình phân hóa mạnh mẽ, hình thành bốn nhóm:
_ Những nên kinh tế mới công nghiệp hóa (NIEs), nhất là các
NIEs châu Á, với tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối nhanh trong
nhiều năm qua;
—- Những nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC);
- Những nước phụ thuộc vào xuất khẩu sản phẩm sơ chế;
— Những nước nghèo khổ hay là “Thế giới thứ tư” —- “Một sản phẩm kỳ quái” của CNTB bị giam hãm trong tình trạng nghèo khổ tuyệt đối (thiếu ăn, thất học, bệnh tật)
Khoảng cách giữa các nước TBCN phát triển và các nước đang phát triển ngày càng tăng ©
Sự phát triển không: đều không chỉ diễn ra giữa khu vực trung
tâm với khu vực ngoại vỉ, mà cũng diễn ra ngay cả giữa các nước TBCN phát triển, giữa các trung tâm với nhau, thể hiện rõ nhất là giữa Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản
Tuy nhiên, sự thay đổi tương quan lực lượng đã dẫn đến xu
hướng đa trung tâm hóa trong hệ thống kinh tế TBCN Trong thời
Trang 32kỳ chiến tranh lạnh, đặc biệt là sau chiến tranh Thế giới thứ hai, với sức mạnh kinh tế và quân sự, Mỹ đã xác lập được quyển thống
trị thế giới TBCN, trở thành trung tâm duy nhất Nhưng từ cuối thập niên 80, sức mạnh của Mỹ suy giảm Trong khi Mỹ liên kết với các nước châu Mỹ thì ở châu Âu hình thành EU thu hút thêm nhiêu
nước liên kết chung quanh EC trước đây và vai trò trung tâm của
Nhật Bản ngày càng nổi rõ ở châu Á -Thái Bình Dương Ngoài ra,
- với sự phát triển nhanh chóng của các NIEs, đặc biệt là các NIEs
châu Á, đã hình thành những trung tâm tài chính khu vực
b) Các công ty xuyên quốc gia ngày càng đóng udi trò to lớn trong nên kinh tế thế giới
Công ty xuyên quốc gia đang trở thành hình thức chủ yếu của
:sự quốc tế hóa tư bản độc quyền Đó là những xí nghiệp độc quyển
cỡ lớn có tính chất quốc tế của các tập đoàn tư bản lớn chủ yếu của các nước đế quốc Do thực lực mạnh mẽ của chúng, các công ty xuyên quốc gia đang thao túng nền kinh tế chính trị của các nước sở tại, từ
đó tăng cường thế lực của các trùm tài chính trên lĩnh vực kinh tế
và chính trị quốc tế
Các công ty xuyên quốc gia có những đặc điểm mới mà các tổ chức độc quyền khác không có Các công ty xuyên quốc gia có “Chiến lược toàn câu” của mình Chúng lấy thị trường toàn thế giới làm mục tiêu cạnh tranh, lấy nhân dân toàn thế giới làm đối tượng bóc lột
Hệ thống các công ty con rải rác khắp thế giới bảo đảm cho việc
hoàn thành kế hoạch kinh doanh và việc thực hiện mục tiêu lâu dài
của các công ty siêu quốc gia
Hiện nay, trong nên kinh tế thế giới có khoảng 3.700 công ty xuyên quốc gia thực thụ (chưa kể các công ty mang hình thức hoạt động xuyên quốc gia) với khoảng 150.000 chỉ nhánh nước ngoài Trong đó, 500 công ty xuyên quốc gia đầu đàn trong từng lĩnh vực ngân hàng, công nghiệp, dịch vụ chiếm lĩnh những vị trí then chốt trong nền kinh tế thế giới Chúng kiểm soát 80% hoạt động nghiên
177
Trang 33cứu và triển khai (R&D), 60% mậu dịch quốc tế, 40% sản lượng công nghiệp, 90% đầu tư trực tiếp ở nước ngoài
Với tiểm lực kinh tế to lớn, với hệ thống chỉ nhánh trải rộng
khắp thế giới, các công ty xuyên quốc gia vừa là sản phẩm của quá trình quốc tế hóa sản xuất và tư bản lại vừa thúc đẩy mạnh hơn nữa
quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế, vừa hợp tác vừa cạnh tranh dưới những hình thức mới phong phú, da dạng Hợp tác và cạnh tranh là hai mặt của nền kinh tế thế giới hiện đại .Nó vừa tạo thời
cơ cho những nước đi sau có thể rút ngắn quá trình phát triển của mình, vừa đặt ra những thách thức lớn dẫn đến nguy cơ tụt hậu xa
hơn nữa của những nước đang phát triển, nguy cơ phụ thuộc của
những nước này vào các thế lực tư bản độc quyển dưới những hình
thức tỉnh vi hơn
Cùng với sự thúc đẩy phát triển nền kinh tế thế giới, sự phát triển của các công ty xuyên quốc gia lại làm gay gắt hơn các mâu thuẫn của CNTB trên phạm vi toàn thế giới, thể hiện tính ăn bám của các nước phát triển; mâu thuẫn giữa các nước phát triển, giữa
các nước phát triển và các nước đang phát triển ngày càng mở rộng
và sâu sắc thêm
c) Tốc độ tăng trưởng của các nước tư bản nói chung có xu
hướng giảm sút, tài chính - tiên tệ quốc tế không ổn định
Năm 1995, các nước G7 đều có.tốc độ tăng trưởng trung bình
hằng năm thấp: Cộng hòa Liên bang Đức 2,6%; Pháp 2,7%; Anh
2,7%, Italia: 2,8% Tăng trưởng kinh tế của 24 nước OECD cũng chỉ
ở mức 2,5% Theo Ủy ban châu Âu, tốc độ tăng trưởng của các nước
này ăm 1996 khoảng 2,6% và năm 1997 khoảng 2,9% '
Hệ thống ngân hàng bị trục trặc, đặc biệt là cú sốc ngân hàng tháng 10-1987, nhiều ngân hàng phải đóng cửa (ở Thụy S1, 100/692 ngân hàng) Trong năm 1997, cuộc khủng hoảng tiển tệ khởi phát từ các nước ASEAN đã lan ra nhiều khu vực trên thế giới Nhiều trung tâm tài chính thế giới với hệ thống ngân hàng cực mạnh đã tổ ra
không đứng vững được trong cuộc khủng hoảng Thâm hụt ngân sách
178
Trang 34vẫn lớn ở hầu hết các nước Các nước đang phát triển nợ nước ngoài
đi 1.530 ty USD và khó có khả năng trả nợ
Cuộc khủng hoảng tiền tệ từ năm 1997 có thể còn kéo dài trong những năm tới đây chứng tỏ rằng, nền kinh tế TBCN thế giới rong quá trình toàn cầu hóa chứa đựng nhiều điểm yếu, nhiều bất trắc và rủi ro Các cơ chế kinh tế và tài chính của CNTB độc quyển
nhà nước xuyên quốc gia mặc dù đã phát triển rất tỉnh vi vẫn không
thể bảo đảm cho CNTB ngày nay tránh khỏi khủng hoảng
d) Xu hướng tăng cường quân sự hóa trong thời kỳ “Hậu chiến tranh lạnh”
Ngoài các nguyên nhân chính trị và an nỉnh, tỷ suất lợi
- nhuận cao do độc quyển về các phương tiện chiến tranh đã trở thành động lực làm cho các ông chủ tư bản kết hợp chặt chẽ với các
ì : quan chức cao cấp trong bộ quốc phòng và bộ tham mưu chiến tranh
| cua các nước đế quốc, hướng các chính phủ đi theo đường lối tầng cường chạy đua vũ trang
Sự bành trướng thế lực của các tổ hợp công nghiệp quân sự của Mỹ buộc các cường quốc TBCN khác và cả các nước đang phát :triển cũng phải tăng cường chỉ phí quốc phòng Theo tính toán, khoảng 20% số nợ của các nước đang phát triển là do các khoản chỉ
' vào mua vũ khí Từ năm 1960, ngân sách quân sự của những nước
: đang phát triển đã tăng gấp 5 lần, vượt từ 10% đến 20% của toàn cầu Chính phủ các nước đó cho rằng, việc mua vũ khí là để bảo đảm :an ninh cho đất nước, nhưng thực ra trước hết là làm giàu cho các
nước phát triển Trong khi thế giới cẩn 180 tỷ USD để giảm: các
edn họa môi sinh đang đe dọa trái đất thì tổng chi phí quip yea ' thế giới hằng nam la khodng 1.000 ty USD an de ta
AV VAI TRO LICH SU CUA CHU NGHIA TU: HẾN
Nói đến nền văn minh là nói tới một trình độ phát triển
‘chung của nên sản xuất vật chất, nền văn hóa tỉnh thần của xã hội, [Hưiệt trình độ tổ chức sinh hoạt cao của con n người và các cộng đồng
[trong quá trình phát triển lịch sử
179
Trang 35Mỗi nên văn mỉnh nhân loại đều là kết quả của những giá trị
chân chính do loài người sáng tạo ra và được tổn tại qua các phương
thức sản xuất xã hội hay các thời đại nhất định
Trong vài trăm năm tôn tại của CNTE và vài chục năm tổn tại của CNTB độc quyển nhà nước, bên cạnh việc gây ra những đau khổ,
những tội lỗi, những hiểm họa đối với loài người, CNTB đã thực hiện những bước phát triển vượt bậc so với các phương thức sản xuất trước
nó trên nhiều lĩnh vực
Nhân loại đã ghi nhận những thành tựu do CNTB nói chung
và CNTB độc quyển nhà nước nói riêng góp phần vào sự tiến bộ
chung của lịch sử loài người Đó là:
— Những bước nhảy vọt vĩ đại của lực lượng sản xuất đưới tác động của cuộc cách mạng kỹ thuật bắt đầu từ thế kỷ XvII-XIX diễn ra đầu tiên tại nước Anh — một nước tư bản phát triển nhất, hồi bấy giờ
— Cuộc cách mạng khoa bọc tự nhiên hồi thế ký XIX đầu
thế kỷ XX ở các nước tư bản Tây Âu khi CNTB độẻ quyền ra đời
— Cuộc cách mạng trong khoa học - kỹ thuật hiện đại thế kỷ:
XX được bắt đầu thực hiện từ nước Mỹ vào những năm 40; sau đại chiến thế giới lần thứ hai, lan nhanh sang các nước Tây Âu và hiệnv|
nay biếu hiện là cuộc cách mạng công nghiệp mới — giai đoạn pháp
triển cao của cuộc cách mạng khoa học — kỹ thuật hiện đại
Những cuộc cách mạng trên từ khoa học chuyển sang kỹ th
và công nghệ đã lân lượt thực sự đưa nên văn minh đầu tiên củ# nhân loại là văn minh công nghiệp, thủ công nghiệp với công nghệ thủ công chuyển thành nền văn minh công nghệ máy móc và ngày nay đang tiến vào nên văn mịnh công nghệ mới: công nghệ tin h
180
Trang 36thành nên văn minh hiện đại Đó là sự thích nghỉ cúa CWTB ÂWê
quyển nhà nước trước yêu cầu phát triển của khoa học — kỹ thuật vă
chính CNTB độc quyển nhà nước có nhiễu điểu kiện để thích nghĩ
trước yêu câu đó Sự thích nghi của CNTB độc quyển nhà nước với những thành tựu của cuộc cách mạng công nghệ mới trên thế giới đã góp phân làm cho hực lượng sản xuất của loài người có những sự phát triển vượt bậc Cơ sở vật chất của xã hội đã có sự thay đổi về chất, đúng tầm vóc của thời đại với những rô bớt, những nhà máy,
xưởng máy tự động, những nguyên, nhiên, vật liệu nhân tạo mới rất phong phú và hiện đại như: năng lượng hạt nhân, năng lượng mặt trời, năng lượng địa nhiệt, năng lượng sóng biển những vật liệu tổng hợp, những chất dẻo mới, những đổ gốm mới, những chất bán dẫn và siêu dẫn .Cùng với những kỹ thuật hiện đại đó là nên công
nghệ mới cho phép sản xuất có năng suất cao, chất lượng và số lượng hàng hóa tăng lên Nền kinh tế cũng có sự biến đổi từ nội tại
kỹ thuật và công nghệ, từ “Nền kinh tế tư bản” thành “Nền kinh tế sạch”, “Kinh tế trí tuệ”, từ một nền kinh tế lao động tập trung vào sản xuất là chính, chuyển thành nền kinh tế dịch vụ, kinh tế tiêu dùng chiếm phần chính
Điều tất yếu là trong nền văn minh mới, xã hội loài người sẽ nảy sinh nhiều hình thức tổ chức mới, hình thành những quan hệ mới giữa người với người Nhân loại sẽ bước vào thời kỳ mới đẩy tính đa dạng, phức tạp của quá trình phát triển Vì những lợi ích giai cấp, dân tộc khác nhau tất yếu có đấu tranh, đối lập, đối đầu
và đối thoại, vì lợi ích chung của toàn cầu còn có sự hợp tác, phân
công, phối hợp với nhau ở phạm vi rộng hơn với mức độ sâu hơn giữa các quốc gia, các khu vực trong phạm vi quốc tế trên nhiều lĩnh vực
Hiện nay, trên thực tế đã xuất hiện không chỉ sự hợp tác giữa
các nước tư bản với nhau, mà còn có sự hợp tác của các quốc gia, các
lực lượng trước đây đối lập, tách biệt nhau, nay trở thành có quan
hệ ràng buộc với nhau, phụ thuộc vào nhau về nguyên liệu sản xuất,
về kỹ thuật sản xuất, về vốn, về thị trường, về môi sinh, hợp tác để
181
Trang 37chống chiến tranh hủy diệt bằng vũ khí bạt nhân, vũ khí hóa học,
vũ khí sinh học, chống sự hủy hoại, phá vỡ môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn đất, nguôn nước, nguồn ánh sáng, bầu không khí và
các tài nguyên thiên nhiên khác như rừng, biển, hầm mỏ
Với nên văn minh mới, con người sẽ thực sự đi vào một thời
kỳ mới — thời kỳ phát triển có hiệu quả hơn và đứng trên quan điểm toàn diện, phát triển mà xem xét thì con người có sự phát triển một bước cao hơn về mặt vật chất, tỉnh thần và trí tuệ
Với vai trò góp phần to lớn vào việc hình thành nền văn minh
mới của nhân loại, CNTB độc quyển nhà nước là bước quá độ trực tiếp
từ CNTB phát triển lên chủ nghĩa xã hội, chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật
chất — kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, chuẩn bị một bộ máy tinh vi dé quản lý đời sống kinh tế — xã hội hiện đại, tạo sẵn những nhân tố
kinh tế, chính trị, xã hội cho việc hình thành một chế độ xã hội mới
nhưng với bản chất cố hữu nó luôn luôn là một lực cẩn sức phát triển mạnh mẽ của nên văn minh ấy
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Trình bày những đặc điểm kinh tế cơ bản của CNTB độc quyền,
đặc điểm nào giữ vai trò quyết định nhất? Vì sao?
2 Phân tích mối quan hệ giữa độc quyền và cạnh tranh, sự biểu hiện
của quy luật giá trị và quy luật giá trị thặng dư trong giai đoạn
CNTB độc quyền
3 Phân tích nguyên nhân ra đời và bản chất của CNTB độc quyền nhà nước
4 Trình bày những biểu hiện chủ yếu c của CNTB độc quyển nhà nước
và cơ chế điều tiết của nó
5 Phân tích những đặc điểm của CNTB ngày nay
6 Trình bày nội dung, đặc điểm của hệ thống kinh tế thế giới của CNTB độc quyền ngày nay
182
Trang 38PHẦN THỨ HAI NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ CHÍNH TRỊ CỦA THỜI KỲ QUÁ ĐỘ
LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Chương VIII
LÝ LUẬN CUA CHU NGHIA MÁC - LÊNIN VE PHUONG, THUC SAN XUAT
CONG SAN CHU NGHIA VA SU QUA 80 TU CHU NGNIA TY BAN
LÊN CHO NGHIA CONG SAN
_ - Ta nhiing phan tich vé CNTB, Mac va Ăngghen đã rút ra kết luận về sự diệt vong tất yếu của phương thức sản xuất TBCN và sự thay thế nó bằng phương thức sản xuất CSCN
Khi chỉ rõ sự tiến bộ lịch sử của CNTB và vai trò to lớn của nó
trong việc phát triển sức sản xuất và xã hội hóa lao động, Mác và Ăngghen cũng chỉ ra những giới hạn tạm thời về mặt lịch sử của chế độ
đó Hai ông dự báo rằng: “Sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hóa
lao động đạt đến cái điểm mà chúng không còn thích hợp với cái về
TBCN của chúng nữa Cái vỏ đó vỡ tung ra Giờ tận số của chế độ tư
hữu TBCN đã điểm Những kẻ đi tước đoạt bị tước đoạt”! CNTB đá tạo
ra nhừng tiền để kinh tế — xã hội cho CNXH, CNXH thầy thế CNTB
như một quá trình lịch sử tự nhiên
I NHUNG DU BAO CUA C MAC VA PH ANGGHEN về cat NGHĨA CỘNG SẢN VÀ SỰ QUÁ ĐỘ TỪ CHỦ NGHĨA TƯ
“BẢN LÊN CHỦ NGHĨA CỘNG SAN
1 Những đặc trưng kinh tế - xã hội cơ bản của chủ nghĩa cộng sản
C Mác và Ẳngghen sống và hoạt động trong thế kỷ XIX, thời kỳ
CNTB ở giai đoạn tự do cạnh tranh, thời kỳ chuẩn bị cách mạng vô sản
và CNXH chưa có điều kiện trở thành hiện thực trong đời sống xã hội
%
= MÁC
te Mác va Ph Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, t 23, tr 1059
183
Trang 39Mặt khác, với quan điểm cho rằng cách mạng vô sản chỉ có thể giành thắng lợi ở những nước tư bản phát triển nên hai ông nghiên cứu CNXH mới chỉ ở mức dự báo một số nét đặc trưng nhất và chủ yếu tập
trung ở những nước TBCN đã phát triển cao đi lên CNXH Những dự
báo thiên tài của hai ông đã được V I Lênin bảo vệ, tiếp tục phát triển trong điều kiện lịch sử mới và vận đựng sáng tạo trong điều kiện cụ thể
của các nước xây dựng CNXH
CSCN, xã hội sẽ thay thế xã hội TBCN, với những đặc trưng kinh tế —
xã hội cơ bản như sau:
+ Lực lượng sản xuất xã hội phát triển cao
ƠNGS là hình thái kinh tế xã hội thay thế CNTB, bởi vì nó đem lại một lực lượng sản xuất cao hơn CNTB Đó là điều kiện để làm cho tất cả mọi thành viên trong xã hội đều có thể phát triển như
nhau một cách xứng đáng với con người Những lực lượng sản xuất ở trình độ cao mới có thể xóa bỏ sự khác biệt giai cấp, và thực hiện được nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo nhu câu” Những lực lượng sản xuất đó phải dựa trên cơ sở áp dụng những thành tựu khoa học và
công nghệ phát triển nhất Đó là một “nền sản xuất với quy mô lớn và được tiến hành phù hợp với những yêu cầu của khoa học hiện đại”
Lộ Chế độ sử hú, vã hội v8 tự Hiệu sản suất được xác lập, chế độ
người bóc lột người b‡ thủ tiêu
Mác và Ăngghen cho rằng, CNCS là một chế độ xã hội mà quyển
lực thuộc về người lao động: nhờ có chế độ sở hữu xã hội thay thế cho
chế độ sở hữu tư nhân, chế độ người bóc lột người bị thủ tiêu, quan hệ
giữa người với người là quan hệ hợp tác của những người lao động Đặc
trưng kinh tế cơ bản của hình thái xã hội CSCN không phải là sự kết thúc của chế độ sở hữu nói chung mà là sự kết thúc của chế độ sở hữu tư sản và sự mở đầu chế độ sở hữu công cộng Tuy nhiên, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác cũng cho rằng, không thể thủ tiêu chế độ tư hữu ngay
lập tức mà chỉ có thể thực hiện dần dân, và chỉ khi nào đã tạo được một, lực lượng sản xuất hiện đại, xã hội hóa cao độ với năng suất lao động
rất cao thì khi đó mới xóa bỏ được chế độ tư hữu Sự phát triển tới một
184
Trang 40
trình độ cao ấy là điều kiện cho mỗi thành viên trong xã hội đều: sôieg bội phát triển như nhau Khi đó, “sự phát triển tự do, của mỗi người l điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” -
+ Sản xuất nhằm thỏa mãn nhu câu của mọi thành uiên trong
Mục đích của nên sản xuất xã hội dưới CNCS là đảm bảo cho ngọi thành viên trong xã hội có đời sống vật chất và văn hóa ngày càng phong phú, bảo đảm cho họ phát triển và vận dụng một cách
tự do những năng khiếu về thể lực và trí lực Trong tác phẩm
“Chống Đuy-rinh”, Ăngghen cho rằng, nhờ sự sản xuất có tính xã hội, khả năng đảm hảo cho tất cả mọi thành viên của xã hội một đời sống không những hoàn toàn đầy đủ về phương diện vật chất và
-_ pgày càng dổi dào thêm lên, mà lại còn đảm bảo cả cho họ được
- phát triển tự do và đây đủ, vận dụng được tự do va đầy đủ các năng khiếu về thể lực và trí tuệ của họ Như vậy, trong xã hội mới, con
- pgười và nhu cầu của họ trở thành động lực và mục tiêu của sản
_ xuất Đó cũng là tính ưu việt cơ bản của CNCS
+ Nền sản xuất được tiến hành theo một kế hoạch trên phạm
._ Để toàn xã hội
Mác và Ăngghen dự báo xã hội CSCN là một nên sản xuất
¡ lớn, có điều kiện phát triển nền kinh tế quốc dân có kế hoạch, cân đối trên phạm vi toàn xã hội Mọi khả năng sản xuất, mọi nhu cầu tiêu dùng được chủ động tính toán, cân đối phù hợp với sự phát triển của sản xuất và đời sống Ăngghen cho rằng, giai cấp vô sản - đoạt lấy quyên lực xã hội và nhờ quyên lực đó mà biến những tư liệu sản xuất xã hội đã giành được trong tay giai cấp tư sản thành : ®ở hữu của toàn thể xã hội Vì vậy, một nên sản xuất xã hội theo
t hột kế hoạch đã được định trước từ nay là một điều có thể thực -