LỜI CAM ĐOANĐề tài “Quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường trên địa bàn quận Hà Đông”là luận văn tốt nghiệp thạc sĩ quản lý công của tác giả tại trường Học viện Hành chí
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN MINH HIẾU
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ CÔNG ÍCH VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI - 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN MINH HIẾU
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ CÔNG ÍCH VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Mã số: 8 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS CHU XUÂN KHÁNH
HÀ NỘI - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “Quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường trên địa bàn quận Hà Đông”là luận văn tốt nghiệp thạc sĩ quản lý công của tác giả
tại trường Học viện Hành chính Quốc gia
Tác giả cam đoan đây là công trình của riêng tác giả Các số liệu, kếtquả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các côngtrình nghiên cứu khác
Tác giả
Trần Minh Hiếu
iii
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến quý thầy, cô giáo củaHọc viện Hành chính Quốc gia đã tạo điều kiện tốt nhất cho tác giả trong thờigian học tập và nghiên cứu tại trường
Tác giả xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Chu Xuân Khánh đã quantâm, giúp đỡ tận tình, hướng dẫn và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luậnvăn Đồng thời, tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến UBND quận
Hà Đông, Ban Quản lý dự án đầu tư và xây dựng, Công ty cổ phần Môitrường đô thị Hà Đông, Công ty cổ phần Minh Quân và các cơ quan liên quan
đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu, thu thập số liệu cầnthiết để tôi có thể hoàn thành luận văn của mình
Cuối cùng, tôi xin cảm ơnlãnh đạo cơ quan, bạn bè, đồng nghiệp đãquan tâm, tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiệnluận văn
Xin chân thành cảm ơn./
Tác giả
Trần Minh Hiếu
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 3
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 7
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 8
6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 8
7.Kết cấu của luận văn 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀDỊCH VỤ CÔNG ÍCH VỆ SINH MÔI TRƯỜNG 10
1.1 Một số khái niệm cơ bản 10
1.1.1 Dịch vụ công ích 10
1.1.2 Dịch vụ công ích vệ sinh môi trường 12
1.2 Quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường 14
1.2.1 Khái niệm 14
1.2.2.Sự cần thiết quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi
trường 15
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường 17
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường 23
1.3.1 Yếu tố chính sách, pháp luật 23
1.3.2 Yếu tố kinh tế - xã hội 24
1.3.3 Ý thức hợp tác của người dân 25
1.3.4 Xã hội hóa dịch vụ công ích vệ sinh môi trường 26
1.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường của một số địa phương và bài học cho quận Hà Đông 26
1.4.1 Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 26
Trang 61.4.2 Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 27
1.4.3 Thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình 28
1.4.4 Bài học kinh nghiệm cho quận Hà Đông 29
TIểU KếT CHƯƠNG 1 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ CÔNG ÍCHVỆ SINH MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG,THÀNH PHỐ HÀ NỘI 31
2.1 Giới thiệu chung về quận Hà Đông 31
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 31
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 32
2.1.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của quận Hà Đông tác động tới hoạt động đến hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường 35
2.2 Thực trạng hoạt động dịch vụ công ích vệ sinh môi trường trên địa bàn quận Hà Đông 37
2.2.1 Phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn quận Hà Đông 38
2.2.2 Hoạt động duy trì vệ sinh khác 40
2.3 Phân tích thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường trên địa bàn quận Hà Đông 42
2.3.1 Xây dựng kế hoạch, chính sách về cung cấp dịch vụ công ích vệ
sinh môi trường 42
2.3.2 chứcTổ bộ máy quản lý theo phân cấp trong dịch vụ công ích vệ sinh môi trường 44
2.3.3 Phát huy vai trò làm chủ của người dân trong sử dụng dịch vụ công
ích vệ sinh môi trường 49
2.3.4.Công tác thanh toán và thu giá dịch vụ công ích vệ sinh môi trường 50
2.3.5 Kiểm tra, giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ công ích vệ sinh
môi trường 53
Trang 72.4 Đánh giá chung hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ
sinh môi trường trên địa bàn quận Hà Đông 56
2.4.1 quảKết đạt được 56
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 57
TIểU KếT CHƯƠNG 2 59
CHƯƠNG 3: PHƯỚNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆNQUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ CÔNG ÍCH VỆ SINHMÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 60
3.1 Phướng hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về dịchvụ công ích vệ sinh môi trường trên địa bàn quận Hà Đông 60
3.1.1 Quan điểm 60
3.1.2 Mục tiêu 60
3.1.3 Định hướng 62
3.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về dịchvụ công ích vệ sinh môi trường trên địa bàn quận Hà Đông 63
3.2.1 Đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung cấp dịch vụ công ích vệ sinh môi trường 63
3.2.2 Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức của người dân trong hoạt động duy trì vệ sinh môi trường 66
3.2.3 Giải pháp tài chính 68
3.2.4 Xã hội hóa dịch vụ công ích vệ sinh môi trường 70
3.2.5 Tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm 72
3.3 Một số kiến nghị 73
3.3.1 Đối với Chính phủ 73
3.3.2 Đối với quận Hà Đông 74
TIểU KếT CHƯƠNG 3 76
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HĐND : Hội đồng nhân dânQLDA : Quản lý dự án
QLNN : Quản lý nhà nước UBND : Ủy ban nhân dân VSMT : Vệ sinh môi trường
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Ba loại hình tổ chức cung ứng dịch vụ công 11Hình 2.1: Mô hình thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt 40Hình 2.2: Cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng 46
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, cải cách hành chính, Nhànước không chỉ tổ chức, quản lý xã hội bằng các thiết chế pháp luật mà cònphải thông qua việc thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của người dân - cungứng các dịch vụ công nói chung và dịch vụ công ích nói riêng Nhà nước cótrách nhiệm xây dựng và ban hành chính sách, xác lập hành lang pháp lý làm
cơ sở để quản lý và tổ chức cung ứng các dịch vụ công ích Thông qua cácvăn bản pháp lý, nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi, khuyến khích các tổchức, cá nhân tham gia cung ứng dịch vụ công ích theo định hướng xã hộihóa, tăng tính tự chủ trong tham gia cung ứng dịch vụ công ích; quản lý việccung ứng dịch vụ công ích một cách hiệu quả; tạo thuận lợi cho người dântrong tiếp cận dịch vụ công ích một cách công bằng
Theo Nghị định số 130/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ
về sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, dịch vụ công ích ở đô thịbao gồm: dịch vụ vận tải công cộng tại các đô thị; dịch vụ cấp, thoát nước đôthị; dịch vụ thu gom, phân loại, xử lý chất thải rắn, vệ sinh công cộng; dịch vụquản lý công viên, trồng và quản lý chăm sóc cây xanh, hoa cảnh vỉa hè,đường phố, dải phân cách, vòng xoay; dịch vụ cấp điện, chiếu sáng đô thị;dịch vụ tang lễ, nghĩa trang đô thị
Quận Hà Đông là một trong những quận của thành phố Hà Nội có tốc
độ đô thị hóa nhanh, hàng loạt các khu đô thị mới hình thành trên địa bàn vàdân số cũng tăng rất nhanh, đã tạo ra sức ép không nhỏ về công tác bảo vệmôi trường Trước thực trạng đó, quận Hà Đông đã kịp thời cân đối, bổ sungnguồn lực để đáp ứng cho công tác vệ sinh môi trường (VSMT), thu gom rácthải sinh hoạt; đã bố trí lực lượng hợp lý kiểm tra, đôn đốc việc thực hiệncông tác vệ sinh môi trường đảm bảo rác thải được vận chuyển ra khỏi thànhphố trước 7h hàng ngày Đặc biệt, thời gian gần đây, quận Hà Đông đã phốihợp với UBND các phường và doanh nghiệp chuyên trách thu gom rác thải
10
Trang 11sinh hoạt, khảo sát, đề xuất dịch chuyển 20 điểm tập kết rác thải gây mất mỹquan và vệ sinh môi trường ra khỏi khu vực trung tâm quận; thực hiện lắp đặt
và đưa vào hoạt động 6 container chứa xe gom rác hợp vệ sinh và cải thiện
mỹ quan đô thị Song song với đó, quận Hà Đông còn phối hợp với các đơn
vị, nghiên cứu tập trung sắp xếp, dồn các điểm tập kết rác trên các trục đườngchính về nơi xa dân cư
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, nhưng hoạt động quản lý dịch vụ công ích
vệ sinh môi trường trên địa bàn quận Hà Đông cũng gặp một số khó khăn, cụthể như: Do ý thức bảo vệ môi trường, tham gia các hoạt động tập thể vệ sinhmôi trường của một số người dân còn hạn chế (đổ rác không đúng giờ, đúngnơi quy định); việc sử dụng vỉa hè để kinh doanh, để xe (không theo quyđịnh) gây khó khăn cho công tác duy trì vệ sinh môi trường Công tác phốihợp giám sát xử lý hiện trường với UBND các phường, các đơn vị, phòng,ban, vẫn còn hạn chế do đặc thù công việc chủ yếu diễn ra trong thời gianngoài giờ, ban đêm.Trên địa bàn thành phố có nhiều dự án, công trình đangthi công, gây mất vệ sinh môi trường; hiện tượng chở cát, đất đá làm rơi vãi rađường, đổ trộm phế thải xây dựng, đất trôi sau các cơn mưa do dự án san gạtvẫn còn tồn tại, gây khó khăn cho việc duy trì và đảm bảo vệ sinh môi trường.Ngoài ra, bộ quy trình, định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá của dịch vụduy trì VSMT áp dụng trong thực tế còn thiếu một số quy trình, định mứcthực hiện ngoài hiện trường dẫn tới việc xây dựng khối lượng mời thầu chưasát với thực tế Do đó, trong quá trình triển khai có nhiều khối lượng phát sinhnằm ngoài khối lượng đã được trúng thầu mà chưa có hướng dẫn xử lý cụ thể.Công tác phối hợp giữa các sở chuyên ngành và quận Hà Đông nóiriêng, các quận, huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung trong việcthực hiện các quy định của pháp luật về sản xuất và cung ứng dịch vụ côngích VSMT, cũng như việc tổ chức bàn giao phạm vi, lĩnh vực được quản lýtheo phân cấp chưa thường xuyên, chặt chẽ và hiệu quả Quận Hà Đông chưa
Trang 12chủ động xây dựng phương án tổng thể quản lý việc thực hiện duy trì VSMT,công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm còn chưa triệt để…
Để khắc phục những tồn tại này, quận Hà Đông cần tiếp tục nâng caohiệu quả hoạt động quản lý nhà nước(QLNN) đối với dịch vụ công ích vệ sinhmôi trườngtrên địa bàn Đồng thời, tổ chức triển khai đấu thầu dịch vụ côngích đô thị; kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện nhiệm vụ theo hợp đồng củacác đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp cung ứng đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả
Từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài“Quản lý Nhà nước về
dịch vụ công ích vệ sinh môi trường trên địa bàn Quận Hà Đông” là nội
dung nghiên cứu luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý công
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Trong lĩnh vực quản lý nhà nước về dịch vụ công nói chung và dịch vụcông ích vệ sinh môi trường nói riêng đã nhận được sự quan tâm tìm hiểu củanhiều tác giả, các nhà nghiên cứu ở nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau
vụ công mà đại diện là nhà nước, và một bên 1à cầu về dịch vụ công mà đạidiện 1à đòi hỏi của mọi người dân trong xã hội Nội dung gồm 4 chương: (1)Quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công, (2) Quản lý nhà nước đốivới cung ứng dịch vụ công của một số nước trên thế giới; (3) Quản lý nhànước đối với cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam Giai đoạn vừa qua; (4) một
số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụcông ở Việt Nam trong giai đoạn tới(2007-2020).[13]
Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (2017), Cơ chế chính sách cung ứng dịch vụ công ích tại các đô thị ở Việt Nam, Hội thảo khoa học Nội
Trang 13dung của hội thảo xoay quanh vấn đề, nhà nước đóng vai trò quan trọng trongviệc cung ứng hàng hoá và dịch vụ công: đảm bảo các dịch vụ công cơ bảnđược cung cấp cho xã hội ở mức độ và chất lượng tối thiểu và đảm bảo tínhcông bằng cho người dân Nhà nước cũng có vai trò tạo ra các điều kiệnkhung để khuyến khích đầy đủ được chức năng điều phối từ sự cạnh tranh,cũng như khuyến khích việc sẵn sàng cung cấp các dịch vụ công, đồng thờithực hiện việc kiểm tra, giám sát việc cung ứng và chất lượng dịch vụ côngnói chung và dịch vụ công ích nói riêng Và đề xuất nên thay đổi từ quản lý
“đầu vào” theo cơ chế hành chính sang quản lý “đầu ra” theo cơ chế kinh tếthị trường để tạo dư địa cho các doanh nghiệp đổi mới, sáng tạo, tăng lợinhuận và nâng cao sức cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ công [27]
Phạm Thị Hồng Điệp (2013), Quản lý nhà nước đối với dịch vụ công – kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam, bài viết trên Tạp chí
Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế và kinh doanh, số 3/2013 Bàiviết phân tích kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với dịch vụ công của một sốnước trên thế giới và rút ra một số khuyến nghị cho Việt Nam: (1) tăng cườngtạo lập cơ sở pháp lý (ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách,chế độ, thể lệ…), đảm bảo sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển của hệ thốngcung ứng dịch vụ công cho toàn xã hội; (2) cần phân định rõ những dịch vụcông do các cơ quan, tổ chức nhà nước trực tiếp cung ứng, từ đó cơ cấu lại chitiêu ngân sách theo hướng tập trung đầu tư thích đáng; (3) đa dạng hóaphương thức quản lý đối với cung ứng dịch vụ công của các đơn vị thuộc sởhữu nhà nước; (4) hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổchức ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ công cho cộng đồng và xãhội trên cơ sở giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội vàcủa tổ chức, công dân; (5) ban hành cơ chế, chính sách, quy định tiêu chuẩn,định mức, chất lượng, giá, phí… của dịch vụ công và công khai các tiêuchuẩn này trên các phương tiện thông tin đại chúng.[10]
Trang 14Lê Chi Mai (2018), Áp dụng giá dịch vụ trong cải cách cung ứng dịch
vụ công, Tạp chí Quản lý nhà nước điện tử Tác giả cho rằng việc áp dụng giá
dịch vụ công sẽ tạo ra những thay đổi đáng kể trong quá trình cải cách cungứng dịch vụ công, khuyến khích các đơn vị sự nghiệp công lập có điều kiệnchuyển đổi cơ chế hoạt động theo hướng doanh nghiệp, tự bù đắp chi phí,nâng cao chất lượng dịch vụ và có tích lũy đểmở rộng hoạt động Cơ chế giádịch vụ cũng làm tăng khả năng cạnh tranh của các đơn vị cung ứng dịch vụcông công lập với các tổ chức cung ứng dịch vụ công thuộc khu vực tư Ápdụng giá dịch vụ cũng là một giải pháp để giảm chi tiêu từ ngân sách nhànước cho các đơn vị này, phần kinh phí ngân sách đó sẽ được dùng để tăngcường năng lực quản lý nhà nước, đồng thời hỗ trợ cho những người nghèo vàcác đối tượng chính sách trong thụ hưởng các dịch vụ công thiết yếu Đươngnhiên, áp dụng giá dịch vụ công cũng sẽ có các tác động đa chiều đến các bênliên quan, vì vậy cần phân tích đầy đủ các khía cạnh, từ đó có những bước điphù hợp để không gây ra những biến động tiêu cực, đặc biệt không làm giảmkhả năng tiếp cận của người dân đến các dịch vụ công.[19]
Đào Ngọc Báu (2019), Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp cung ứng dịch vụ chuẩn công ích, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 10(386)-
2019 Bài viết đã chỉ ra rằng để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp chuẩn công ích, đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực do đặcđiểm của loại hình doanh nghiệp này gây ra, chúng ta phải tác động vàodoanh nghiệp chuẩn công ích theo hai hướng sau đây: (1) khuyến khíchcạnh tranh trong khu vực chuẩn công ích; (2) kiểm soát độc quyền đối vớidoanh nghiệp cung ứng dịch vụ chuẩn công ích Và để thực hiện cạnh tranhtrong khu vực này, có các biện pháp như cần phân tách rõ ràng mạng lướiđộc quyền tự nhiên ra khỏi nghiệp vụ kinh doanh có khả năng cạnh tranh.Đối với lĩnh vực nghiệp vụ, cần cho phép cạnh tranh như các loại hình doanh
nghiệp thông thường [2]
Trang 15Phạm Thị Giang (2015), Nâng cao hiệu quả công tác quản lý duy trì
vệ sinh môi trường trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, luận văn
thạc
Trang 16sĩ quản lý đô thị và công trình, Đại học kiến trúc Luận văn đã đưa ra các giảipháp quản lý hiệu quả trên cơ sở khoa học để quản lý duy trì vệ sinh môitrường trên địa bàn quận Hà Đông Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác
đó, tìm ra những tồn tại và khó khăn Và đưa ra 06 nhóm giải pháp chính: giảipháp kỹ thuật để nâng cao hiệu quả công tác duy trì vệ sinh môi trường trênđịa bàn quận Hà Đông; giải pháp về cơ chế chính sách, thể chế pháp lý; giảipháp về công tác tổ chức quản lý; giải pháp về tài chính, về xã hội hóa côngtác duy trì vệ sinh môi trường và công tác tuyên truyền giáo dục [12]
Bounkeomanyxay Khamsouk (2017), Quản lý nhà nước về dịch vụ công cộng trên địa bàn tỉnh Xiêng Khoảng, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, luận văn thạc sĩ quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia Luận văn
đã đóng góp hoàn thiện thêm cơ sở lý luận về hoạt động QLNN đối với cácdịch vụ công cộng nói chung và QLNN của UBND tỉnh đối với dịch vụ côngcộng ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay Vềmặt thực tiễn luận văn cũng cấp một số vấn đề về thực trạng công tác QLNN
về dịch vụ công cộng cho cán bộ, công chức của tỉnh để từng bước đổi mớicách thức điều hành, quản lý và cung ứng dịch vụ nhằm hoàn thiện quản lýnhà nước đối với các dịch vụ công cộng của tỉnh Xiêng Khoảng.[3]
Âu Thị Vui (2018), Quản lý dịch vụ công ích đô thị tại thành phố Bắc Kạn, luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế, Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh,
Thái Nguyên Luận văn đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn vềquản lý hoạt động dịch vụ công ích đô thị, dịch vụ vệ sinh môi trường, cụ thểquản lý hoạt động thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt; Phân tích, đánh giáthực trạng quản lý hoạt động dịch vụ công ích đô thị tại thành phố Bắc Kạn;Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng công tác quản lý dịch vụ công ích đô thị (cụthể là dịch vụ vệ sinh môi trường) tại thành phố Bắc Kạn; Đề xuất một số giảipháp nhằm nâng cao công tác quản lý dịch vụ công ích đô thị tại thành phốBắc Kạn [29]
Trang 17Nhìn chung, các công trình đều tập trung nghiên cứu làm rõ những nộidung, bản chất của dịch vụ công, dịch vụ công ích và đưa ra cơ sở xác địnhnội dung, tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ Các tác giả cũng chỉ ra cácphương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ côngnói chung và công ích nói riêng Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chưa
cụ thể về tình hình, thực trạng hoạt động QLNN về dịch vụ công ích vệ sinhmôi trường trên địa bàn quận Hà Đông Chính vì vậy, luân văn hy vọng sẽlàm rõ các khái niệm cơ bản hơn nữa và đề xuất các giải pháp thiết thực đónggóp cho hoạt động QLNN về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường tại quận HàĐông trong thời gian tới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích nghiên cứu: luận văn nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận QLNN về
dịch vụ công ích VSMT; phân tích thực trạng QLNN về dịch vụ công íchVSMT trên địa bàn quận Hà Đông; từ đó nghiên cứu đề xuất các giải phápnhằm hoàn thiện QLNN về dịch vụ công ích VSMT tại quận Hà Đông trongthời gian tới
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Hệ thống hoá lý luận và thực tiễn về dịch vụ công ích VSMT, QLNN đối với dịch vụ công ích VSMT
+ Phân tích thực trạng QLNN về dịch vụ công ích VSMT trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
+ Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện hoạt động QLNN vềdịch vụ công ích VSMT trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: hoạt động QLNN về dịch vụ công ích VSMT
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: quận Hà Đông, thành phố Hà Nội (Ban Quản lý dự
án đầu tư xây dựng quận Hà Đông, Công ty cổ phần môi trường đô thị HàĐông và một số đơn vị khác có liên quan)
Trang 18+ Về thời gian: nghiên cứu thực trạng từ năm 2017 đến năm 2019 và đềxuất giải pháp trong thời gian tới.
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận:Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng HồChí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng về dịch vụ công ích
- Phương pháp nghiên cứu:Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các
phương pháp phân tích-tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống kê, hệ thống hóa
+ Các phương pháp tổng hợp, phân tích các công trình nghiên cứu hiện
có và các tài liệu khác để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, pháp lý và thựctiễn liên quan đến QLNN về dịch vụ công ích VSMT cấp quận (ở Chương I)
+ Các phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh các tài liệu,báo cáo chuyên môn của chính quyền và phương pháp quan sát thực tế đểđánh giá thực trạng QLNN về dịch vụ công ích VSMT trên địa bàn quận HàĐông, thành phố Hà Nội (ở Chương II)
+ Các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để đề xuất các quanđiểm, giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động QLNN về dịch vụ công íchVSMT trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội trong thời gian tới (ởChương III)
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về dịch vụ công ích,
hoạt động VSMT, QLNN đối với dịch vụ công ích VSMT trên địa bàn quận HàĐông, thành phố Hà Nội
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Phân tích, đánh giá và xác định được nguyên nhân của thực trạngQLNN đối với dịch vụ công ích VSMT trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố
Hà Nội
Trang 19+ Đề tài có thể làm tài liệu cho các nhà quản lý dịch cụ công, chínhquyền địa phương tham khảo trong thực hiện QLNN đối với dịch vụ công íchVSMT trong thời gian tới.
+ Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu thamkhảo cho những người quan tâm
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dungchính của luận văn có ba chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về dịch vụ côngích vệ sinh môi trường
- Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môitrường trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về dịch
vụ công ích vệ sinh môi trường trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Trang 20Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
DỊCH VỤ CÔNG ÍCH VỆ SINH MÔI TRƯỜNG 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Dịch vụ công ích
Khái niệm dịch vụ công được sử dụng phổ biến rộng rãi ở châu Âu sauchiến tranh thế giời thứ hai Dịch vụ công theo từ điển tiếng Anh là “publicservice” Trên thế giới hiện nay có nhiều cách tiếp cận đối với dịch vụ công,mỗi cách tiếp cận đều có ưu và nhược điểm riêng, vì thế không có định nghĩachung nhất nào về dịch vụ công Trong bối cảnh thực tiễn Việt Nam cùng vớihướng tiếp cận về bản chất, chức năng và vai trò của nhà nước, có thể đưa rakhái niệm về dịch vụ công như sau: “dịch vụ công là những dịch vụ đáp ứngcác nhu cầu cơ bản, thiết yếu chung của người dân và cộng đồng, bảo đảm ổnđịnh và công bằng xã hội do nhà nước chịu trách nhiệm, hoạt động không vìmục tiêu lợi nhuận
Theo tác Chu Xuân Thành, dịch vụ công là những hoạt động của các tổchức nhà nước hoặc của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân được nhànước ủy quyền để thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vụ trựctiếp những nhu cầu thiết yếu của cộng đồng, công dân; theo nguyên tắc không
vụ lợi; đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội; và cho rằng dịch vụ công baogồm dịch vụ sự nghiệp công (hoặc phúc lợi công), dịch vụ công ích và dịch
vụ hành chính công, đồng thời nhấn mạnh là không được lẫn lộn với hoạtđộng công vụ là hoạt động hàng ngày của bộ máy công quyền [23]
Cũng liên quan đến khái niệm dịch vụ công, tác giả Nguyễn Xuân Lan(2012) lại cho rằng: Dịch vụ công là những hàng hóa, dịch vụ nhà nước canthiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng Theo đó, dịch
vụ công là tất cả những hoạt động nhằm thực hiện những chức anwng vốn cócủa chính phủ, bao gồm từ hoạt động ban hành chính sác, pháp luật, tòaán cho đến những hoạt động y tế, giáo dục, giao thông công cộng Dịch vụ
Trang 21công còn được hiểu là những hàng hóa dịch vụ phục vụ trực tiếp nhu cầu củacác tổ chức và công dân mà chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm mụctiêu hiệu quả, công bằng.[16]
Từ những khái niệm trên, có thể khái quát lại: Dịch vụ công là nhữnghoạt động phục vụ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu của người dân, vì lợi íchchung của xã hội, do nhà nước trực tiếp cung ứng hoặc ủy quyền cho các chủthể khác cung ứng nhằm bảo đảm ổn định và công bằng xã hội
Hình 1.1: Ba loại hình tổ chức cung ứng dịch vụ công
NGƯỜI SỬ DỤNG DỊCH VỤ
Trang 22Căn cứ vào tính chất và tác dụng của dịch vụ công có thể phân dịch vụcông thành ba loại:
- Dịch vụ hành chính công: là dịch vụ gắn với chức năng quản lý hành chính nhànước, thường do các cơ quan hành chính thực hiện
- Dịch vụ sự nghiệp công: là hoạt động cung cấp các phúc lợi xã hội thiết yếucho người dân như giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao…
- Dịch vụ công ích: là hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ có tính kinh tế đápứng nhu cầu vật chất thiết yếu cho sinh hoạt của người dân và cộng đồng, tạo
ra cơ sở hạ tầng cơ bản cho sản xuất và sinh hoạt của các tổ chức và dân cư
Dịch vụ công ích bao gồm: vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch,thoát nước, vận tải công cộng, cấp điện, bưu chính Những dịch vụ nàykhông cung cấp miễn phí mà có thu phí nhưng chịu sự quản lý chặt chẽ củanhà nước về định giá và sản lượng cung cấp
1.1.2 Dịch vụ công ích vệ sinh môi trường
Vệ sinh môi trường là các biện pháp nhằm cải tạo và làm sạch môitrường sống, góp phần bảo vệ sức khoẻ nhân dân Đó là các biện pháp đượcthực hiện để bảo đảm vệ sinh thực phẩm, vệ sinh nước sinh hoạt, vệ sinh côngcộng, vệ sinh khi chôn cất người chết , như: xây dựng hệ thống cống rãnhthoát nước, thu gom và xử lí rác thải; cung cấp đầy đủ nước sạch cho ngườidân, không phóng uế và đổ rác bừa bãi, thường xuyên phun thuốc diệt muỗi,diệt côn trùng, chôn cất người chết tại các khu tập trung, xa khu dân cư [12]
Như vậy, dịch vụ công ích VSMT là dịch vụ thu gom, vận chuyển và
xử lý chất thải rắn, vệ sinh công cộng Dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh,thoát nước đường phố và khu dân cư cung cấp cho tổ chức, cá nhân (kể cả tổchức, cá nhân trong và ngoài khu công nghiệp) bao gồm các hoạt động thu,dọn, vận chuyển, xử lý rác và chất phế thải; thoát nước, xử lý nước thải; bơmhút, vận chuyển và xử lý phân bùn, bể phốt; thông tắc công trình vệ sinh, hệ
Trang 23thống thoát nước thải; quét dọn nhà vệ sinh công cộng; duy trì vệ sinh tại cácnhà vệ sinh lưu động và thu gom, vận chuyển xử lý chất thải khác Trong đó,thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạmthời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơquan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận Lưu giữ chất thải rắn là việc giữchất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi được cơ quan cóthẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý.
Dịch vụ công ích VSMT là một dạng của dịch vụ công nên nó cũngmang những đặc điểm của dịch vụ công là: có tính chất xã hội cao, có mụctiêu là phục vụ lợi ích cộng đồng, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội,công bằng và có tính quần chúng rộng rãi Vì vậy, tính kinh tế, lợi nhuậntrong cơ chế thị trường không phải là điều kiện cần có của hoạt động dịch vụcông íc VSMT
Thị trường dịch vụ công ích VSMT rất khác so với thị trường dịch vụ
cá nhân về phương thức vận hành, do hàng hóa công cộng mà thị trường nàycung ứng rất khác với hàng hóa dịch vụ cá nhân Vì đây là dịch vụ công íchthiết yếu nên dù do ai cung ứng thì chính quyền đô thị cũng phải kiểm soátgiá cả và chịu trách nhiệm trước nhân dân về sự cung ứng kịp thời cả về chấtlượng và số lượng theo đúng quy định của chính quyền
Nhà nước có trách nhiệm can thiệp vào quá trình cung ứng dịch vụcông ích VSMT để đảm bảo quá trình cung ứng dịch vụ theo định hướng củanhà nước, đáp ứng đòi hỏi của các công dân và xã hội
Việc cung ứng dịnh vụ công ích VSMT có thể do cơ quan nhà nước (cóthể là cơ quan công quyền hoặc đơn vị sự nghiệp hay doanh nghiệp nhà nước)đảm nhiệm hoặc nhà nước có thể ủy quyền cung ứng cho các đơn vị nhànước
Các hoạt động dịch vụ công ích VSMT luôn vận động và phát triểncùng sự phát triển của đô thị theo hướng mở rộng về quy mô, khối lượng, loạihình dịch vụ đồng thời đòi hỏi ngày càng nâng cao chất lượng dịch vụ
Trang 241.2 Quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường
1.2.1 Khái niệm
Trong từ điển tiếng Việt, “Quản lý được hiểu là việc tổ chức, điều khiển
hoạt động của một số đơn vị, cơ quan; việc trông coi, gìn giữ và theo dõi việcgì” [28, tr.130]
Các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý đưa ra khái niệm cụ thể hơn là
sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản
lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra Để thực hiện công tác quản lý cần phải dựavào các công cụ quản lý là các chính sách về luật pháp, chiến lược phát triển,quy hoạch, đề án bảo vệ và phát huy di sản, nguồn lực, tài chính, các côngtrình nghiên cứu khoa học nhằm đạt được các mục đích đã đề ra
Có nhiều dạng quản lý của nhiều chủ thể quản lý khác nhau trong sự vậnđộng và phát triển của xã hội Trong đó, QLNN là một dạng quản lý có ýnghĩa quan trọng nhất và có nhiều cách hiểu về QLNN Theo nghĩa chungnhất, QLNN vừa là chức năng, vừa là quyền hạn và nhiệm vụ của nhà nước,
nó được hiểu là việc nhà nước sử dụng quyền lực chung đã được thể chế hóatác động thường xuyên và liên tục đến các quá trình, lĩnh vực hay quan hệ xãhội nhằm đạt được mục đích quản lý
Chúng ta có thể định nghĩa quản lý nhà nước theo hai bình diện:
+ Theo nghĩa rộng: QLNN là hoạt động tổ chức, điều hành của hệ thốngcác cơ quan trong bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chứccủa quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành phápvà tư pháp.+ Theo nghĩa hẹp: QLNN được hiểu là hoạt động chấp hành và điềuhành của các cơ quan hành chính nhà nước, đó là quá trình tổ chức, điều hànhcủa hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội vàhành vi của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầunhiệm vụ quản lý nhà nước” [14, tr11]
Trong giới hạn của luận văn, khái niệm QLNN được hiểu theo nghĩa hẹp
Trang 25Như vậy, từ những khái niệm trên, có thể hiểu QLNN về dịch vụ công íchVSMT là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực của bộ máy nhà nước lênđối tượng bị quản lý (các cơ quan chức năng quản lý cung cấp dịch vụ công íchVSMT được ủy quyền và công dân sử dụng dịch vụ công ích VSMT) trongviệc đảm bảo các dịch vụ công ích VSMT cho mọi người dân một cách côngbằng, ổn định, hiệu quả và phi lợi nhuận.
1.2.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi
trường
Dịch vụ công nói chung và dịch vụ công ích VSMT nói riêng ra đời vàtồn tại trên cơ sở cho phép của nhà nước bằng các quy định của chính sách,pháp luật, ngược lại hoạt động QLNN về dịch vụ công ích VSMT rất cần thiết
do đòi hỏi của thực tiễn để điều chỉnh hành vi, hoạt động của các chủ thể liênquan đến việc cung ứng dịch vụ công ích VSMT
Thứ nhất, QLNN về dịch vụ công ích VSMT tạo ra các khuôn mẫu cho
hành vi của các chủ thể tham gia vào dịch vụ
Các chủ thể tham gia dịch vụ công ích VSMT bao gồm: các cơ quannhà nước, các tổ chức, đơn vị thực hiện cung cấp dịch vụ công ích VSMT;các cá nhân, tổ chức là người yêu cầu và hưởng thụ dịch vụ Mỗi chủ thể có tưcách khác nhau khi tham gia vào hoạt động cung ứng dịch vụ công íchVSMT Do đó, nếu để các chủ thể tự do thực hiện những hành vi mà họ mongmuốn thì hành vi của chủ thể này có thể sẽ cản trở hoặc làm tổn hại đếnquyền, nghĩa vụ hợp pháp của chủ thể khác, làm cho việc cung cấp dịch vụcông ích VSMT bị rối loạn, dịch vụ công sẽ phát triển theo hướng không theomục đích điều chỉnh của nhà nước Vì vậy, các cơ quan nhà nước có thẩmquyền phải ban hành pháp luật làm khuôn mẫu cho hành vi của các chủ thể,quy định quyền và nghĩa vụ phù hợp với từng chủ thể trong dịch vụ công íchVSMT Với các chủ thể cung cấp dịch vụ, pháp luật quy định rõ phạm vi dịch
vụ mà chủ thể được cung cấp hoặc tham gia cũng cấp, các yêu cầu, điều kiệncung cấp, chất lượng dịch vụ, đối tượng phục vụ cụ thể Thậm chí hoạt động
Trang 26QLNN có đề xuất cả biện pháp, chế tài đối với cá nhân, tổ chức cung cấp dịch
vụ công ích VSMT không thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ Với các chủthể yêu cầu và hưởng thụ dịch vụ, pháp luật quy định điều kiện, năng lực củachủ thể, quyền và nghĩa vụ của chủ thể, cách thức đưa ra yêu cầu và hưởngthụ dịch vụ, những giới hạn trong yêu cầu dịch vụ Bên cạnh đó, nhà nước cònquy định các biện pháp, chính sách hỗ trợ cá nhân, tổ chức có hoàn cảnh đặcbiệt, tạo điều kiện thuận lợi cho họ tiếp cận và sử dụng dịch vụ
Nhà nước càng quy định chi tiết, cụ thể bao nhiêu càng dễ cho các chủthể trong cung cấp, sử dụng dịch vụ công ích VSMT bấy nhiêu, nếu các chínhsách quy định của nhà nước chung chung, không rõ nghĩa, không rõ yêu cầu
dễ tạo ra sự tùy tiện của các chủ thể tham gia vào dịch vụ công íchVSMT.Hoạt động QLNN về dịch vụ công ích VSMT sẽ tạo ra hành lang pháp
lý cho các chủ thể tham gia dịch vụ xác định được hành vi của mình được haykhông được làm gì, tránh hành vi tùy tiện, không có căn cứ pháp lý
Thứ hai, hoạt động QLNN về dịch vụ công ích VSMT chính là sự cam
kết của nhà nước về việc cung cấp dịch vụ Xuất phát từ bản chất nhà nước ta
là nhà nước của dân, do dân và vì dân Bởi vậy, nhà nước sẽ sử dụng phápluật – hình thức phản ánh ý chí của nhà nước, phản ánh yêu cầu, nguyện vọngcủa nhân dân, để thể hiện sự cam kết của nhà nước về việc cung cấp các dịch
vụ nói chung và dịch vụ công ích VSMT nói riêng nhằm đáp ứng nhu cầuthực tế của người dân
Nội dung các quy định của pháp luật thể hiện sự trương quan giữa nhucầu của nhân dân với khả năng đáp ứng của các cơ quan nhà nước, tổ chức,đơn vị cung cấp dịch vụ Nếu quy định của pháp luật lạc hậu hơn khả năngđáp ứng của nhà nước về các dịch vụ công ích VSMT thì sẽ không thỏa mãnđược nhu cầu của nhân dân và gây ra những trở ngại trong tiếp nhận, hưởngthụ dịch vụ Ngược lại, nếu pháp luật quy định vượt quá khả năng cung ứngdịch vụ của nhà nước thì các quy định trở thành bất khả thi, vai trò điều chỉnh
Trang 27của pháp luật không được phát huy, dễ tạo ra những lộn xộn trong cung cấp
và hưởng thụ dịch vụ công ích, gây mất niềm tin trong dân chúng
Thứ ba, thông qua việc quy định các điều kiện hoạt động của các chủ
thể tham gia dịch vụ công ích VSMT, nhà nước không chỉ giải quyết tìnhtrạng gây ô nhiễm môi trường từ chính các hoạt động của cong người mà từchính hoạt động này còn thúc đẩy sự phát triển của các dịch vụ công íchVSMT theo hướng hiện đại hơn về công nghệ, an toàn hơn trong hoạt động từ
đó đạt hiệu quả cao hơn về kinh tế Điều đó cũng có nghĩa là nhà nước sẽ tạo
ra hành lang pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của các dịch vụ công íchVSMT
Thứ tư, hoạt động quản lý của nhà nước sẽ góp phần thay đổi và nâng
cao nhận thức của cộng đồng theo hướng có lợi, bảo vệ môi trường QLNN vềdịch vụ công ích VSMT sẽ định hướng cho cộng đồng về cách xử sự có lợicho môi trường khi tiến hành các hoạt động có liên quan tới dịch vụ công íchVSMT Sự định hướng này góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng trongbảo vệ môi trường Mặt khác, nhà nước bắt buộc người dân không được thựchiện những hành vi gây hại cho môi trường trong quá trình sử dụng dịch vụcông ích VSMT
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi
trường
1.2.3.1 Xây dựng chiến lược và cơ chế chính sách về cung cấp dịch vụ công ích vệ
sinh môi trường
Để quản lý và bảo đảm trách nhiệm của mình trước xã hội về dịch vụcông nói chung và dịch vụ công ích VSMT nói riêng, nhà nước phải xây dựngchiến lược cung ứng dịch vụ công ích nhằm đề ra định hướng và các giải phápbảo đảm về số lượng và chất lượng dịch vụ công ích VSMT cho xã hội gắnvới tầm nhìn dài hạn Việc xây dựng chiến lược về dịch vụ công tập trungvào:
Trang 28- Xác định các mục tiêu chiến lược bảo đảm cung ứng dịch vụ công ích VSMT,bao gồm các chỉ tiêu cả về số lượng và chất lượng.
Xác định các yêu cầu đặt ra đối với việc cung ứng dịch vụ công ích VSMT Xác định mối tương quan giữa khu vực công và khu vực tư về cung ứng dịch
-vụ công ích VSMT
Trên cơ sở chiến lược cung ứng dịch vụ công ích VSMT trong dài hạn,Nhà nước tiến hành hoạch định chính sách và cơ chế cung ứng dịch vụ côngnày Hệ thống cơ chế chính sách này là căn cứ pháp lý để tổ chức, chỉ đạothống nhất hoạt động cung ứng dịch vụ công ích VSMT Việc xây dựng hệthống chính sách, cơ chế cung ứng dịch vụ công ích VSMT này là để bảo đảmdịch vụ công có đủ số lượng và đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, bảo đảmdịch vụ công được cung ứng đến tận tay người hưởng thụ, khắc phục sự thấtthoát
Đồng thời đó cũng là cơ sở để các tổ chức xã hội và công dân có thểlựa chọn và tham gia vào việc cung ứng dịch vụ công ích VSMT một cáchhiệu quả Các chính sách về cung ứng dịch vụ công cần đáp ứng các yêu cầusau đây:
- Làm rõ đặc thù của dịch vụ công ích VSMT và tầm quan trọng đối với xã hội
- Xác định rõ phạm vi và nội dung của loại dịch vụ công ích này
- Xác định rõ vai trò của nhà nước đối với việc bảo đảm cung ứng loại dịch vụcông íchVSMT
- Xác định rõ vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ sở cung ứngdịch vụ công này
- Xác định cơ chế hoạt động của các cơ sở cung ứng dịch vụ công
- Quy định các biện pháp tổ chức cung ứng và trách nhiệm của các bên tham giavào quá trình cung ứng dịch vụ công ích VSMT
1.2.3.2 Phân cấp quản lý trong dịch vụ công ích vệ sinh môi trường
Trang 29Nếu xem xét hoạt động của nhà nước bao gồm việc QLNN và việccung ứng dịch vụ công ích VSMT, có thể thấy việc thực hiện chức năngQLNN tập trung nhiều ở cấp quản lý cao hơn, trong khi đó chức năng cungứng dịch vụ công ích lại tăng lên theo sự dịch chuyển từ cấp trên xuống cáccấp dưới Về nguyên tắc, các cấp chính quyền bên dưới chủ yếu thực hiện cácnhiệm vụ gắn với cung ứng dịch vụ công ích.Hơn nữa, các cấp chính quyền
cơ sở là những cấp gần dân nhất, họ là người nắm vững nguyện vọng của dân
và có khả năng đáp ứng trực tiếp nhất các nhu cầu gắn với đời sống của dân
cư trên địa bàn Trên thực tế, đa số dịch vụ công ích VSMT phù hợp với cấpđịa phương Hiệu quả kinh tế đã khẳng định ưu thế của việc chuyển giao tráchnhiệm cung ứng dịch vụ công ích VSMT cho các cấp chính quyền địaphương, nhằm làm cho dịch vụ đó gần với người dân hơn, đồng thời tăngtrách nhiệm giải trình và tính năng động của chính quyền địa phương Điều đócũng cho thấy nguồn lực tài chính cho hoạt động của bộ máy nhà nước ở địaphương sẽ phục vụ chủ yếu cho việc cung ứng dịch vụ công nói chúng và dịch
vụ công ích VSMT nói riêng Việc xác định dịch vụ công ích VSMT thuộcphạm vi cung ứng của trung ương hay địa phương căn cứ vào các yếu tố sau:
Thứ nhất, dịch vụ công ích VSMT có lợi chủ yếu cho quốc gia hay chođịa phương? Nếu như lợi ích này thuộc về địa phương và không có tác độnglan truyền nào khác, thì việc cung ứng chúng có thể chuyển giao cho cấpchính quyền địa phương để đạt hiệu quả lớn nhất Về nguyên tắc, các đơn vị ởcấp cơ sở gắn trực tiếp với người hưởng lợi sẽ là người cung ứng dịch vụcông ích thích hợp và có hiệu quả nhất, vì họ hiểu rõ nhất nhu cầu của ngườidân và có thể tạo ra sự thuận lợi nhất cho người dân trong việc tiếp nhận và sửdụng các dịch vụ công ích
Thứ hai, dịch vụ công ích VSMT do địa phương đảm nhận sẽ đượccung ứng bằng nguồn tài chính địa phương Khi địa phương sử dụng ngânsách của mình để trang trải kinh phí cho các dịch vụ công ích thì địa phương
đó cũng có quyền ra quyết định và quyền quản lý dịch vụ công ích này
Trang 301.2.3.3 Phát huy vai trò làm chủ của người dân trong sử dụng dịch vụ công ích vệ sinh
vụ công ích VSMT định hướng khách hàng, cụ thể:
- Công dân không phải là người tiếp nhận một cách thụ động dịch vụ công ích
do các tổ chức nhà nước độc quyền cung ứng;
- Nhà nước phải có trách nhiệm trước công dân và tạo điều kiện cho công dânđược phát biểu ý kiến của mình về quá trình cung ứng dịch vụ công ích VSMT
Có hai yếu tố cơ bản để tăng cường quyền lực của khách hàng, đó là: Thứ nhất,tạo điều kiện cho người dân có quyền lựa chọn giữa các nhà cung ứng dịch vụkhác nhau
Thứ hai, tạo điều kiện cho người dân phát biểu ý kiến của mình nhằmcải thiện khả năng tiếp cận đến dịch vụ và nâng cao chất lượng dịch vụ côngích VSMT Để người dân có điều kiện và cơ sở phát biểu ý kiến của mình,Nhà nước phải thông tin cho người dân những vấn đề liên quan đến chínhsách và thực trạng cung ứng dịch vụ công ích VSMT, đồng thời tạo điều kiện
và hỗ trợ người dân mạnh dạn đưa ra ý kiến của mình Cụ thể là:
- Thông tin về chủ trương, chính sách của Nhà nước về dịch vụ công íchVSMT
- Công khai ngân sách và việc sử dụng ngân sách cho cung ứng dịch vụ công íchVSMT, cụ thể: Thông tin về kết quả hoạt động cung ứng dịch vụ công íchVSMT; Thông tin kiểm toán các lĩnh vực cung ứng dịch vụ công ích VSMT;Thông tin về các sai phạm, thất thoát, tham nhũng trong cung ứng dịch vụcông ích VSMT
Trang 31- Hỗ trợ các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh sự phản hồi về cung ứngdịch vụ công ích VSMT của các tổ chức nhà nước.
1.2.3.4 Công tác thanh toán và thu giá dịch vụ vệ sinh môi trường Trong suốt một thời
kỳ dài, nhà nước áp dụng chung một cơ chế quản
lý cho tất cả các cơ quan đơn vị thuộc nhà nước, từ các cơ quan hành chínhnhà nước đến các đơn vị sự nghiệp trực thuộc các bộ ngành, địa phương Cơchế đó thích ứng trong thời kỳ bao cấp, khi toàn bộ hoạt động của các tổ chứcnày đều sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước (NSNN) và hoạt động theocách thức xin – cho Để khuyến khích các nhà cung ứng tăng cường dịch vụcông ích cả về số lượng và chất lượng, Chính phủ đang từng bước đổi mới cơchế quản lý tài chính đối với các đơn vị cung ứng dịch vụ công ích
Các cơ sở cung ứng dịch vụ công ích hoạt động theo luật doanh nghiệp,với nguồn kinh phí được cấp theo kế hoạch, đặt hàng hoặc đấu thầu từ NSNN
Cơ chế quản lý mới đối với các đơn vị cung ứng dịch vụ công ích tạo ra được
sự tự chủ lớn hơn cho các đơn vị này trên các mặt sau:
Thứ nhất, có quyền tự chủ lớn hơn trong việc xác định tổ chức bộ máy
và nhân sự phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao Xác định rõ chứcnăng, nhiệm vụ của các phòng ban, bộ phận trực thuộc; bố trí hợp lý lao động,phân công nhiệm vụ cho từng cán bộ công chức hoặc người lao động, trên cơ
sở đó xác định số biên chế hợp lý, tinh giản những lao động dư thừa hoặc làmviệc không có hiệu quả Thứ hai, đơn vị được chủ động hơn trong quản lý và
tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao Các doanh nghiệp cung ứng dịch vụcông ích, bên cạnh các hoạt động công ích theo kế hoạch, đặt hàng hoặc đấuthầu của nhà nước, có quyền tổ chức hoạt động kinh doanh thêm phù hợp vớikhả năng của doanh nghiệp và nhu cầu của thị trường
Thứ ba, đơn vị được trao quyền lớn hơn trong quản lý tài chính, thủtrưởng đơn vị được quyết định các khoản thu và nhiệm vụ chi đối với phầnkinh phí được giao tự chủ
Trang 32Thứ tư, với phần kinh phí dôi ra sau khi trang trải các chi phí hoạt động
và trích lập các quỹ theo quy định, các đơn vị này được sử dụng để tăng thêmthu nhập cho người lao động
Thứ năm, việc chi trả thu nhập cho người lao động được thực hiện dựavào mức độ đóng góp của mỗi người
Việc đổi mới cơ chế hoạt động của các tổ chức cung ứng dịch vụ côngnói chung và dịch vụ công ích VSMT nói riêng đã góp phần đa dạng hoá cáchoạt động cung ứng dịch vụ công ích, mở rộng cung ứng dịch vụ cả về sốlượng dịch vụ, địa bàn, số cơ sở cung ứng và nâng cao chất lượng dịch vụ đápứng nhu cầu ngày càng lớn của các tổ chức và công dân
1.2.3.5 Kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động cung ứng dịch vụ công ích vệ sinh
môi trường
Dịch vụ công nói chung và dịch vụ công ích VSMT nói riêng do nhànước chịu trách nhiệm cung ứng để bảo đảm tính hiệu quả (khắc phục cáckhiếm khuyết của thị trường) và công bằng xã hội Tuy nhiên, do hoàn cảnhphát triển nền kinh tế thị trường, với sự tham gia của các thành phần kinh tếvào quá trình cung ứng dịch vụ công ích, trong điều kiện phát triển khôngđồng đều giữa các vùng, do các đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các địaphương không giống nhau, vì vậy nhà nước cần có sự chỉ đạo, điều hànhthống nhất trên cả nước theo các nguyên tắc cơ bản trong cung ứng dịch vụcông nói chung và dịch vụ công ích VSMT nói riêng, bảo đảm việc cung ứngdịch vụ công có hiệu quả và đến đúng các đối tượng thụ hưởng Dưới sự chỉđạo tập trung thống nhất của nhà nước, các địa phương, các ngành và các cơ
sở cung ứng dịch vụ công ích phải có những điều chỉnh trong việc cung ứngdịch vụ công ích về số lượng, loại hình, chất lượng và giá cả cho phù hợp Sựđiều hành của nhà nước nhằm bảo đảm:
- Duy trì việc cung ứng các dịch vụ công ích VSMT một cách liên tục, ổn định;
Trang 33- Thiết lập được môi trường chung, thống nhất cho các chủ thể tham gia cungcấp dịch vụ công ích VSMT để họ tự nguyện cùng tham gia giải quyết cácvấn đề của cộng đồng;
- Thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ công íchVSMT;
- Tạo điều kiện cho người tiêu dùng là khách hàng có quyền lựa chọn; bảo đảmquyền lợi của người tiêu dùng;
- Bảo đảm cung ứng các loại dịch vụ công ích VSMT, cơ bản đáp ứng yêu cầu
đề ra cả về số lượng, chất lượng và có giá cả hợp lý
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hình thành xã hội dân
sự, việc khu vực tư và các tổ chức xã hội tham gia cung ứng các dịch vụ côngích là một tất yếu khách quan Sự tham gia của nhiều chủ thể trong cung ứngdịch vụ công ích VSMT góp phần làm cho các sản phẩm, dịch vụ đa dạnghơn, giả cả rẻ hơn và chất lượng được nâng cao Tuy nhiên, trên thực tế khôngphải lúc nào các đơn vị cung ứng dịch vụ công ích VSMT cũng bảo đảm cungứng dịch vụ theo đúng các yêu cầu của nhà nước Vì vậy, nhà nước cần tăngcường kiểm tra, kiểm soát, thực hiện sự can thiệp kịp thời, bảo đảm tính côngbằng trong cung ứng dịch vụ công nói chung và dịch vụ công ích VSMT nóiriêng
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường
1.3.1 Yếu tố chính sách, pháp luật
Một hệ thống văn bản pháp luật hoàn chỉnh đảm bảo tính đồng bộ, nhấtquán, ổn định và minh bạch là nhân tố thúc đẩy nền kinh tế nói chung và hoạtđộng QLNN về dịch vụ công ích VSMT nói riêng Chính vì vậy, để quản lýhoạt động dịch vụ công ích VSMT cần ban hành các văn bản quy phạm phápluật một cách rõ ràng, cụ thể, trong quá trình thực hiện nếu có nhiều bất cập,
Trang 34kiến nghị sửa đổi thì cần phải được xem xét, nghiên cứu để sửa đổi, bổ sungban hành cho phù hợp với thực tiễn.
Nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhanh chóng lạc hậu sau khi đượcban hành, cần thay thế hoặc sửa đổi, bổ sung, nhiều quy định còn chồng chéonhau Tính ổn định thấp gây ra nhiều khó khăn cho việc tổ chức thực hiện vìbất kỳ một văn bản quy phạm pháp luật nào trước khi thực hiện cũng cần phảichuẩn bị về nhân lực, điều kiện vật chất Pháp luật thường xuyên thay đổi sẽlàm phát sinh nhiều chi phí tốn kém cho triển khai thực hiện, các chủ thể cungcấp trong thực hiện dịch vụ chưa kịp quen cái cũ đã phải đổi sang cái mới,chất lượng dịch vụ công ích VSMT vì thế khó bảo đảm Ngoài ra, pháp luậtthường xuyên thay đổi thì tính dự báo thấp khó định hướng phát triển dịch vụcông ích VSMT trung và dài hạn
1.3.2 Yếu tố kinh tế - xã hội
Sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô là tiền đề cơ bản và quan trọng chomọi sự tăng trưởng nói chung Khi nền kinh tế phát triển ổn định sẽ có nhữngtác động thuận lợi đến hoạt động của các doanh nghiệp, do đó khi đề xuất xâydựng các dịch vụ công ích VSMT địa phương và đơn vị phải phân tích kỹcàng các biến động của môi trường kinh tế để có thể đưa ra những sản phẩm
có tính thiết thực, hiệu quả
Ngoài ra, với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ trên thếgiới làm cho các doanh nghiệp cũng như nhà nước phải nghiên cứu, đầu tưthay đổi công nghệ, máy móc trang thiết bị để đáp ứng được đòi hỏi của thịtrường và thời đại Vì vậy, cần phải có kế hoạch đầu tư, lựa chọn các máymóc vừa phù hợp với trình độ phát triển của thời đại, vừa phù hợp với kếhoạch phát triển và ngân sách của địa phương
Hội nhập kinh tế quốc tế cũng đem lại cho các địa phương những cơhội: học hỏi những kinh nghiệm quản lý dịch vụ công ích VSMT của thế giới,
kế thừa những thành tựu khoa học công nghệ trong lĩnh vực VSMT Tuynhiên, bên cạnh những cơ hội cũng là những thách thức mà các địa phương
Trang 35phải đối đầu: chất lượng nguồn nhân lực cũng như năng lực của đội ngũ cán
bộ, công chức, người lao động khi được chuyển giao các công nghệ khoa họctrong lĩnh vực VSMT
1.3.3 Ý thức hợp tác của người dân
Người dân với tư cách là khách hàng sử dụng dịch vụ, là một bên trongquan hệ cung ứng dịch vụ công ích VSMT Chính vì vậy, sự nhận thức củangười dân, ý thức tuân thủ pháp luật, trách nhiệm cùng tham gia hoạch địnhchính sách và giám sát việc cung ứng dịch vụ công ích VSMT sẽ là nhân tốquan trọng tác động vào chất lượng quản lý và cung ứng dịch vụ công íchVSMT Chính vì vậy, Nhà nước cần thực hiện nhiều biện pháp nâng cao ýthức pháp luật của nhân dân, xây dựng cơ chế để nhân dân có thể tham giatích cực vào quá trình cung ứng dịch vụ công ích VSMT
Ngày nay việc giữ gìn VSMT đang trong tình trạng báo động Môitrường lâu nay đang có sự “ô nhiễm” mà đối tượng gây ô nhiễm môi trườngkhông ai khác chính là con người chúng ta Thế nhưng, một số người dân lạidửng dưng làm ngơ, quên đi và thậm chí là không hay biết Chính nhữngthành phần này cũng thể hiện ý thức rất kém trong việc duy trì VSMT Dẫubiết rằng,việc tuyên truyền giữ gìn vệ sinh môi trường xanh-sạch-đẹp ở bất kìnơi đâu đã được trang bị và thông tin Song, ở những khu vực hay bị ô nhiễmnhư khu công nghiệp lớn, khu đông dân cư người dân vứt rác bừa bãi, vứt rácmột cách thiếu ý thức, thậm chí những hình ảnh này còn mang tính chất rấtphổ biến Nguyên nhân của những hành động thiếu ý thức đó là do thói lườibiếng, lối sống ích kỷ chỉ biết nghĩ đến quyền lợi cá nhân của một số người
Đa số mọi người nghĩ rằng, những nơi công cộng không phải nhà mình, vậythì việc gì mà phải mất công giữ gìn, đã có đội lao công dọn dẹp
Một nguyên nhân nữa là do thói quen vứt rác bừa bãi đã có từ lâu, khósửa đổi khi ở nhà cũng như ở các nơi công cộng Mặc dù, địa phương đãtuyên truyền, vận động, hợp đồng với người lao động thu gom rác vào nhữngbuổi sáng hay có những buổi lao động công ích từ các ban, ngành, đoàn thể
Trang 36của địa phương nhưng vẫn không thể nào giữ cho môi trường biển luôn trong
- sạch - đẹp Đây chỉ là những ví dụ điển hình, bề nổi đã trực tiếp làm ảnhhưởng đến môi trường, trên thực tế có những hoạt động của chúng ta vì nhiều
lý do vô tình hay cố ý cũng đã ảnh hưởng đến môi trường
1.3.4 Xã hội hóa dịch vụ công ích vệ sinh môi trường
Hiện nay, nhà nước đang chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa, huy độngđược nhiều nguồn lực xã hội để cùng với ngân sách nhà nước đầu tư cho lĩnhvực dịch vụ công ích nói chung và dịch vụ công ích VSMT nói riêng
Tuy nhiên, hiện nay, việc tăng nhanh số lượng các cơ sở cung ứng dịch
vụ ngoài công lập đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước phải có những biệnpháp quản lý mới, nội dung và phương thức quản lý cần thay đổi do có nhiềuvấn đề nảy sinh trong việc kiểm soát chất lượng dịch vụ Không ít các doanhnghiệp trong khu vực tư nhân thường chú trọng đến lợi nhuận nhiều hơn nên
có xu hướng đẩy cao giá dịch vụ, các loại phí dịch vụ bị điều chỉnh tùy tiện,chất lượng dịch vụ không tương xứng, cơ chế tài chính thiếu minh bạch.Nhiều cơ sở tư nhân được thành lập tự phát khó kiểm soát được chất lượng.Tất cả đang đặt ra vấn đề về kiểm soát chất lượng đối với các dịch vụ đượckhối tư nhân cung ứng cho xã hội Tất nhiên, tình trạng kém chất lượng trongcung ứng dịch vụ không bắt nguồn từ việc xã hội hóa, song mức độ xã hộihóa ồ ạt, thiếu kiểm soát rõ ràng đã tác động tiêu cực đến quyền lợi của ngườithụ hưởng dịch vụ…
1.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường của một số địa phương và bài học cho quận Hà Đông
1.4.1 Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Những năm gần đây, Thành phố Hạ Long có tỷ lệ đô thị hóa cao, nhiềucông trình, dự án được đầu tư mạnh, góp phần tạo thuận lợi cho thành phốphát triển.Để khắc phục những tồn tại trong công tác bảo vệ môi trường, từđầu năm 2019 đến nay, thành phố đã chi trên 202,2 tỷ đồng phục vụ công tácthu gom, xử lý nước thải, rác thải và đầu tư công trình tiêu, thoát nước, trồng
Trang 37cây xanh, duy trì hệ thống điện chiếu sáng trong khu dân cư Là đơn vị nòngcốt trong công tác phối hợp chỉnh trang đô thị, trên cơ sở nguồn kinh phí dothành phố cấp, từ năm 2019 đến nay, Ban Quản lý các dịch vụ công ích TP
Hạ Long đã chủ động triển khai nhiều gói thầu để phục vụ công tác chỉnhtrang đô thị, bảo vệ môi trường
Điển hình là gói thầu: Duy trì, thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạttrị giá trên 84 tỷ đồng; tưới nước rửa đường chống bụi, vận hành hệ thốngbơm và duy trì vệ sinh dải phân cách bằng máy các tuyến đường chính trị giátrên 6 tỷ đồng; quản lý, vận hành hệ thống thu gom và xử lý nước thải sinhhoạt trên địa bàn thành phố trị giá trên 15,68 tỷ đồng Công tác chăm sóc câyxanh, vườn hoa tiểu cảnh cũng được đơn vị thực hiện tốt Từ năm 2019 đếnnay, đơn vị duy trì các gói thầu chăm sóc 50 vườn hoa cây xanh của thànhphố với trị giá gần 30 tỷ đồng
Hiện nay, Ban Quản lý các dịch vụ công ích TP Hạ Long được giaophối hợp quản lý 2 nhà máy và 3 trạm xử lý nước thải sinh hoạt với công suất13.477m3/ngày, đêm Theo đó, đơn vị đã thực hiện tốt việc nạo vét các hố ga,giếng tách, duy tu bảo dưỡng thường xuyên các thiết bị trạm bơm Nước thảiđược thu gom triệt để từ các trạm bơm về nhà máy để xử lý, hạn chế tối đanước thải chưa qua xử lý chảy tràn ra biển Đối với việc thu gom rác thải,bình quân mỗi ngày trên địa bàn thành phố phát sinh khoảng trên 350 tấn.Trước đây, nhiều điểm tập kết rác nằm ở gần khu dân cư gây ô nhiễm môitrường, nhưng từ năm 2019 đến nay, Ban Quản lý các dịch vụ công ích thànhphố đã phối hợp với các địa phương rà soát, điều chỉnh một số điểm tập kết,nên đã giảm từ 198 điểm xuống còn 96 điểm Đơn vị còn bố trí 6 containerchứa rác tại một số khu vực có nhiều rác thải sinh hoạt được tập kết, đồngthời quây bạt, đào hố chứa rác tạm thời ở nhiều khu vực
1.4.2 Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Năm 2013, Nha Trang là địa phương đầu tiên trong tỉnh tổ chức thíđiểm đấu thầu xã hội hóa dịch vụ công ích Thành phố đã tổ chức đấu thầu xã
Trang 38hội hóa thu gom rác thải trên địa bàn phường Phước Long và xã Vĩnh Hiệp.Công ty TNHH một thành viên Môi trường đô thị Nha Trang trúng thầu trongthời gian 24 tháng (bắt đầu từ tháng 10-2013), với nhiệm vụ: thu gom và vậnchuyển rác từ đường hẻm đến điểm tập kết rác theo quy định; quét và thu gomvận chuyển rác đường chính đến vị trí tập kết.
Sau hơn 05 năm thực hiện, chất lượng dịch vụ được các đơn vị trúngthầu thực hiện tương đối tốt Trước mắt, việc đấu thầu giúp tăng khả năngcạnh tranh chất lượng dịch vụ của các đơn vị, tiết kiệm chi ngân sách từ 30 -33% so với thực hiện theo hình thức đặt hàng Thời gian tới, TP Nha Trang
sẽ tiếp tục nhân rộng thực hiện thí điểm đấu thầu dịch vụ công ích ở một sốkhu vực trên các lĩnh vực vệ sinh môi trường để giảm chi ngân sách Tươnglai sẽ đấu thầu toàn bộ các dịch vụ công ích
Hiện nay, TP Nha Trang đã triển khai mô hình thu gom rác tự quảntrên địa bàn các xã, phường: Vĩnh Nguyên, Vĩnh Ngọc, Vĩnh Thạnh, PhướcĐồng, Phước Hải, Ngọc Hiệp, Vĩnh Phước và Vĩnh Nguyên với tổng cộng 35
tổ tự quản đang hoạt động Mô hình này xây dựng các cộng đồng dân cư tựlực thu gom rác trong hẻm về điểm tập kết, chủ động về tài chính, cân đối thuchi trong các dịch vụ công ích trên cơ sở phí vệ sinh thu được từ các hộ dân.Đến nay, các địa phương được thực hiện đã giải quyết tốt vấn đề vệ sinh môitrường ở nông thôn, đường hẻm Thời gian tới, TP Nha Trang sẽ triển khai
mô hình này ở 27 xã, phường trong toàn thành phố.
1.4.3 Thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
Để đảm bảo hoạt động thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địabàn thành phố, trong thời gian qua UBND thành phố đã yêu cầu Công ty Cổphần Môi trường và Phát triển đô thị Quảng Bình thực hiện thu gom rác thảirắn sinh hoạt đúng thời gian quy định; vận chuyển toàn bộ lượng rác thảiđược thu gom trên địa bàn thành phố đến chôn lấp tại Bãi rác chung ĐồngHới - Bố Trạch đúng quy trình và đảm bảo vệ sinh môi trường; chỉ đạo lựclượng công nhân thu gom triệt để rác thải và thường xuyên vệ sinh tại vị trí
Trang 39tập kết rác thải; không để xảy ra tình trạng ứ đọng rác tại các nơi công cộng,nơi tập trung đông người; bố trí thời gian thu gom rác thải sinh hoạt tại khudân cư phù hợp với sinh hoạt của người dân và đảm bảo vệ sinh môi trường
đô thị; vận hành có hiệu quả, đảm bảo vệ sinh môi trường bãi rác chung ĐồngHới - Bố Trạch và Bãi tập kết phế thải xây dựng do đơn vị quản lý
UBND các xã, phường trên địa bàn thành phố tăng cường tuyên truyền,vận động nhằm nâng cao nhận thức của người dân, cá nhân, tổ chức, cơ sởsản xuất, kinh doanh và dịch vụ trên địa bàn về quản lý rác thải; duy trì tốthoạt động vệ sinh tại khu dân cư, các hoạt động xã hội hóa trong công tác vệsinh môi trường; hướng dẫn, vận động người dân tập kết rác thải đúng thờigian, đổ rác thải đúng nơi quy định thu gom; vận động tất cả người dân trênđịa bàn ký hợp đồng thu gom rác thải sinh hoạt với Công ty Cổ phần Môitrường và Phát triển đô thị Quảng Bình, trường hợp không chấp hành cần xử
lý theo đúng quy định; tăng cường kiểm tra, xử lý kịp thời các điểm đổ chấtthải sinh hoạt, chất thải xây dựng không đúng nơi quy định trên địa bàn, đảmbảo mỹ quan đô thị, vệ sinh môi trường
Hội đồng Kiểm tra, giám sát, nghiệm thu sản phẩm dịch vụ công íchthành phố thường xuyên chỉ đạo các đơn vị liên quan kiểm tra công tác thugom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn do Công ty Cổphần Môi trường và Phát triển đô thị Quảng Bình thực hiện, đảm bảo đúngquy trình và vệ sinh môi trường
1.4.4 Bài học kinh nghiệm cho quận Hà Đông
Một là, tăng cường cơ sở pháp lý, tạo hành lang pháp lý cơ bản và hoànthiện để điều chỉnh các quan hệ liên quan đến QLNN về dịch vụ công ích VSMT trên địa bàn quận, đảm bảo sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển của hệthống cung ứng dịch vụ công cho toàn xã hội; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch định hướng phát triển mạng lưới cung ứng dịch vụ công ích VSMT cho đại phương
Trang 40Hai là, thiết lập cơ chế kiểm tra, kiểm soát hợp lý, quan trọng là phải ban hành được các chuẩn về chất lượng dịch vụ công ích VSMT Hiện nay, các dịch vụ công ích mới chỉ cung ứng tới người dân và xã hội một cách thụđộng, mức độ cung ứng cơ bản, thiết yếu so với nhu cầu và chưa có một hệ thống chuẩn mực để so sánh, đánh giá và hướng tới.
Ba là, đẩy mạnh hơn nữa xã hội hóa dịch vụ công ích VSMT trên địa bàn quận Xã hội hóa dịch vụ công ích VSMT đồng nghĩa với việc giảm thiểu trách nhiệm của nhà nước trong cung cấp các dịch vụ, nhà nước đóng vai trò điều tiết bảo đảm sự có mặt của dịch vụ công đó thay vì trực tiếp cung cấp cácdịch vụ công Việc cung ứng dịch vụ được giao cho các thành phần kinh tế tư nhân, cá nhân thực hiện Như vậy, vai trò của nhà nước lúc này dần trở thành người "lái thuyền" thay vì người "chèo thuyền" như trước đây
Bốn là, tăng cường đầu tư xây dựng, thiết lập quy trình và phát triển cơ
sở hạ tầng, công nghệ thông tin đồng bộ trong việc cung ứng dịch vụ công íchVSMT; hiện đại hóa công sở nhằm nâng cao hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức và chất lượng cung ứng dịch vụ công ích
Tiểu kết chương 1
Tại chương 1, tác giả đã đi vào trình bày và chỉ ra những khái niệm cơbản nhất về dịch vụ công, dịch vụ công ích và dịch vụ công ích VSMT;QLNN về dịch vụ công ích VSMT Từ đó chỉ ra sự cần thiết của hoạt độngQLNN đối với dịch vụ công ích này và các nội dung của hoạt động QLNN vềdịch vụ công ích VSMT Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt độngQLNN về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường và thông qua thực tiễn triểnkhai, thực hiện hoạt động QLNN này tại một số địa phương, đã rút ra bài họckinh nghiệm cho quận Hà Đông Và chương 1 cũng là cơ sở lý luận để tác giảphân tích, đánh giá thực trạng QLNN về dịch vụ công ích VSMT tại quận HàĐông, thành phố Hà Nội trong chương 2 của luận văn