Câu 1 Chính phủ ra ban hành nghị đinh, chính sách, chỉ thị nào để thúc đẩy phát triển kinh tế số, Có các hệ thống pháp luật nào, Trong quá trình thực hiện các chỉ thị chính sách đó thì đã đạt được thà.
Trang 1Câu 1: Chính phủ ra ban hành nghị đinh, chính sách, chỉ thị nào để thúc đẩy phát triển kinh tế
số, Có các hệ thống pháp luật nào, Trong quá trình thực hiện các chỉ thị chính sách đó thì đã đạt được thành tựu gì, Hạn chế ra sao và đưa ra một số giải pháp cho các chính sách ?
1.1 Nghị định, chính sách, chỉ thị mà Chính phủ ban hành để thúc đẩy phát triển kts
* Các văn bản luật chính
- Luật giao dịch điện tử 2005
- Luật sở hữu trí tuệ 2005
- Luật công nghệ thông tin 2006
- Luật công nghệ cao 2008
- Luật viễn thông 2009
- Luật tần số vô tuyến điện 2009
- Luật viễn thông 2009
- Luật an ninh mạng 2018
- Luật chuyển giao công nghệ 2018
* Nghị đinh, chính sách, chỉ thị mà Chính phủ ban hành để thúc đẩy phát triển kinh tế số.
• Quyết định số 418/2012/ QĐ – Ttg về việc phê duyệt chiến lượng phát triển khoa học công nghệ giai đoạn 2011-2020, tập trung phát triển công nghệ số
• Nghị định số 25/2011/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Viễn thông
• Quyết định số 1072/2018/QĐ-Ttg về việc thành lập Uỷ ban Quốc gia về
• Nghị định số 154/2013/NĐ-CP về khu công nghiệp thông tin tập trung
• Nghị định số 26/2007/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết về Luật Giao dịch điện tử
• Nghị định số 71/2007/ NĐ-CP hướng dẫn chi tiết về Luật Công nghệ thông tin
• Chỉ thị số 16/CT-Ttg về nâng cao năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghê 4.0
• Nghị định số 35/2007/NĐ-CP và số 27/2007/NĐ-CP về ngân hàng điện tử và tài chính điện tử
• Nghị định số 5/2/2013/NĐ- CP về thương mại điện tử
• Nghị định số 9/7/2008/NĐ- CP về dịch vụ internet và thông tin điện tử trên internet
• Quyết định số 1563/2017/QĐ-Ttg phê duyệt kế hoạch tổng thể về phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2016-2020
Trang 2• Nghị quyết số 01/2019/NQ-CP về Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và Dự toán Ngân sách Nhà nước năm 2019, phê duyệt chiến lược quốc gia về thực hiện cuộc CMCN 4.0; Nghị quyết về nâng cao năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghệ 4.0 hướng tới năm
2025, Giải pháp phát triển nguồn nhân lực tiếp đáp ứng nhu cầu của cách mạng công nghệ 4.0
• Nghị quyết số 17/NQ-CP về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để phát triển chính phủ điện tử 2019-2020
• Nghị quyết số 02/2019/NQ-CP về việc cải thiện môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019, hướng tới 2021, xây dựng đề án Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia, đề xuất giải pháp để làm chủ các công nghệ, đặc biệt là Trí tuệ nhân tạo, và triển khai đề án “ Tri thức Việt số hóa” và đẩy mạnh thanh toán điện tử
* Chỉ thị, chiến lược, kế hoạch
- Chiến lược phát triển bưu chính viễn thông và CNTT đến 2010, định hướng tới 2020
- Kế hoạch tổng thể về ngành điện tử Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020
- Quy hoạch phát triển an ninh CNTT trong năm 2020
- Chương trình mục tiêu phát triển CNTT năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025
- Chương trình phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông băng tần đến năm 2020
- Chương trình hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đến năm 2025
- Chiến lược phát triển CNTT&TT đến năm 2010, định hướng năm 2020
1.2 Thành tựu đạt được trong quá trình thực hiện chỉ thị chính sách
- Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2019 đã và đang có những chủ trương, chính sách và thông qua các văn bản luật nhằm phát triển kinh tế số phù hợp với điều kiện chung của cả nước cũng như hội nhập quốc tế Số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin từ năm 2015 – 2018 tăng mạnh
- Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông, viễn thông đang ngày càng được cải thiện hơn với sự đầu tư của Nhà Nước và những doanh nghiệp tư nhân, tốc động mạng internet nhanh hơn, ổn định hơn
- Các khoa học về công nghệ đang dần vươn lên đi đầu và được so sánh với thế giới, đặc biệt là công nghệ 5G
- Lượng doanh thu từ công nghệ thông tin và truyền thông theo lĩnh vực của Việt Nam tăng khá cao trong những năm gần đây
- Thu nhâp trung bình của lao động trong lĩnh vực công nghệ thông tin ngày càng dần cải thiện, hấp dẫn và thu hút nhân lực tham gia và nhóm nghành công nghệ thông tin
Trang 31.3 Những hạn chế của chỉ thị chính sách
Mặc dù đã đạt được một số thành công trong phát triển kinh tế số, song, so với khu vực và thế giới, thành tựu của Việt Nam vẫn còn khiêm tốn Để đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tế
số đạt 20% GDP năm 2025, hành trình chuyển dịch sang nền kinh tế số của Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn, thách thức
Thứ nhất, hạn chế về nhận thức của cộng đồng xã hội.
- Kiến thức của nhiều cán bộ, doanh nghiệp và người dân về kinh tế số, cùng những thời cơ và thách thức đối với sự phát triển chưa đồng đều ở các cấp, các ngành dẫn tới nhu cầu, kế hoạch
và hành động nắm bắt xu thế kinh tế số chưa kịp thời
- Nhận thức về phát triển kinh tế số ở cả cấp độ quản lý nhà nước, cấp độ doanh nghiệp và của người dân chưa cao
- Chuyển đổi số ở một số cấp, ngành, địa phương và các doanh nghiệp hạn chế
Theo Báo cáo kinh tế Việt Nam thường niên do Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (2019) công bố đã chỉ ra, có tới 85% doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam vẫn nằm ngoài nền kinh tế
số và chỉ có 13% ở cấp độ mới bắt đầu
=> Nhận thức về kinh tế số, nhu cầu và hành động theo xu thế kinh tế số còn chậm chạp, chưa đồng đều, thống nhất từ trên xuống dưới là những hạn chế góp phần làm chậm xu hướng số hóa nền kinh tế Việt Nam
Thứ 2, hạn chế về nguồn nhân lực
Nhận thức của người dân về nền kinh tế số còn chưa cao
Thu nhập trung bình của lực lượng lao động Công nghệ thông tin so với các quốc gia trong khu vực vẫn còn thấp
Chưa đáp ứng được đủ cho các doanh nghiệp cả về số lượng và các kỹ năng của ngành công nghệ thông tin và truyền thông
Thứ hai, hạn chế về nguồn nhân lực
Việt Nam hiện có khoảng 900.000 nhân lực công nghệ thông tin, trong đó có số lượng lớn kỹ sư
về AI, IoT, khoa học dữ liệu Số người được cấp chứng chỉ nhiều Tuy nhiên, dù có những cải thiện nhưng nguồn nhân lực công nghệ thông tin của Việt Nam vẫn xếp hạng trung bình khá về chất lượng, về lao động chuyên môn cao và năng lực sáng tạo trong kinh tế số khi so với thế giới Tỷ lệ lao động qua đào tạo tay nghề chỉ đạt 60%, vẫn còn khoảng cách xa so với yêu cầu chuyển đổi số Sự thiếu hụt nguồn nhân lực công nghệ thông tin về cả số lượng và chất lượng được xem là một trong những mối thách thức lớn đối với sự phát triển kinh tế số của Việt Nam
Thứ ba, hạn chế về môi trường pháp lý và thể chế cho phát triển kinh tế
Trang 4- Thể chế phát triển kinh tế số vừa thiếu, vừa nhiều lỗ hổng, chưa chặt chẽ, đồng bộ, minh bạch
và mang tính kiến tạo
- Sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ, sự bùng phát dịch Covid-19, các phương thức kinh doanh và ý tưởng sáng tạo mới xuất hiện khiến cho việc quản lý các hoạt động kinh tế số khá lúng túng
- Vấn đề quản lý và thu thuế đối với các hoạt động thương mại trực tuyến, đặc biệt là kinh doanh qua các mạng xã hội và cung cấp dịch vụ xuyên biên giới, vấn đề bảo đảm quyền lợi cho người lao động và người tiêu dùng qua thế giới mạng, việc xử lý, giải quyết những tranh chấp, xung đột về lợi ích của các chủ thể tham gia các hoạt động kinh doanh, thương mại và dân sự trên môi trường số
- Hệ thống văn bản pháp luật ban hành còn thiếu đồng bộ, thiếu các quy định về giao dịch dữ liệu, bảo vệ cơ sở dữ liệu, dữ liệu cá nhân, thông tin riêng tư, cũng như tạo lập niềm tin trên không gian số; thiếu quy định về quyền cá nhân, khi ứng dụng AI Các quy định về định danh
số và xác thực điện tử cho người dân chậm được ban hành
Thứ tư, hạn chế về hạ tầng phục vụ
- Quá trình chuyển đổi số chậm, thiếu chủ động do hạ tầng phục vụ quá trình chuyển đổi số còn nhiều hạn chế
- Thể chế và quy định pháp luật cho chuyển đổi số và các hoạt động kinh tế số của Việt Nam được đánh giá là chậm hoàn thiện
- Hành lang pháp lý cho thí điểm triển khai áp dụng các mô hình kinh doanh, dịch vụ mới còn thiếu
- Việc xây dựng cơ sở dữ liệu và kết nối dữ liệu còn gặp nhiều khó khăn Nhiều bộ, ngành xây dựng cơ sở dữ liệu còn phân tán và thiếu sự kết nối liên thông Để những mô hình nền tảng dịch
vụ về công nghệ, những mô hình dịch vụ công nghệ số triển khai tốt, đảm bảo thì rất cần sự kết nối chia sẻ dữ liệu từ các cơ quan Nhà nước
Hạn chế về giao dịch thương mại điện tử
An toàn thông tin ngày càng bị xâm hại
Luật an ninh mạng, luật thương mại điện tử, hệ thống bảo mật chưa cao, chưa thể kịp thời bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng
Khó có thể kiểm soát nguồn gốc xuất xứ của các loại mặt hàng
Dịch vụ chăm sóc khách hàng kém
Không có đủ thông tin mặt hàng cần mua để ra quyết định
* Một số giải pháp cho các chính sách
Trang 5Để kinh tế số Việt Nam phát triển mạnh, đạt 30% GDP (ngang bằng với đóng góp của công nghiệp chế biến, chế tạo), đứng trong nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới, thứ 3 trong khu vực ASEAN và đáp ứng được mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc năm 2030, cần tập trung thực hiện đồng bộ những giải pháp sau
Thứ nhất, đổi mới tư duy đạo quản lý và năng lực điều hành kinh tế
- Chuyển đổi số tạo ra một hệ sinh thái thống nhất, có sự kết hợp chặt chẽ giữa con người và hệ thống công nghệ Cho nên, việc chuyển đổi số cũng cần kèm theo sự phát triển năng lực của lãnh đạo
- Để số hóa nền kinh tế thành công, chất lượng bộ máy quản trị quốc gia là một trong những yếu
tố then chốt, có ý nghĩa quyết định Cần tuyên truyền nâng cao nhận thức xã hội về kinh số để
có sự chuẩn bị tốt nhất, thích ứng xu hướng phát triển kinh tế số Nhận thức thông tin đúng về bản chất, xu hướng phát triển kinh tế số giúp nắm bắt các cơ hội cũng như bảo đảm tính cạnh tranh quốc tế trong kinh tế số Mỗi cá nhân và người lãnh đạo cần tự trang bị và nâng cao kỹ năng sử dụng công nghệ số giúp phục vụ công việc trong tương lai và tự biết bảo vệ trước các nguy cơ bị đe dọa lấy cắp thông tin cá nhân trực tuyến
Thứ hai, hoàn thiện thể chế, tạo khuôn khổ pháp luật đẩy mạnh phát triển kinh tế số
- Chuyển đổi số, phát triển kinh tế số không phải là cuộc cách mạng về công nghệ mà là cuộc cách mạng về thể chế Thể chế cần đi trước một bước và được điều chỉnh linh hoạt để chấp nhận những cái mới: Công nghệ mới, sản phẩm mới, dịch vụ mới, mô hình mới Chỉ có đổi mới sáng tạo, Việt Nam mới thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình
- Thể chế, chính sách là yếu tố quyết định chứ không phải là công nghệ Khung thể chế và pháp
lý đóng vai trò quan trọng trong quá trình số hóa Những chính sách hợp lý về bản quyền, quyền
sở hữu trí tuệ và tự do hóa thị trường nghiên cứu khoa học sẽ tạo ra những bước đột phá cho Việt Nam trong quá trình chuyển đổi số
Thứ ba, đầu tư nâng cấp hạ tầng kỹ thuật số
Phát triển hệ thống hạ tầng số quốc gia đồng bộ, rộng khắp đảm bảo đáp ứng yêu cầu kết nối, lưu trữ, xử lý dữ liệu, thông tin, các chức năng về giám sát, bảo đảm an ninh, an toàn mạng
Xây dựng, phát triển hạ tầng băng thông rộng chất lượng cao Nâng cấp mạng di động 4G, phát triển mạng di động 5G để có thể theo kịp xu hướng thế giới
Công nghệ 5G sẽ tạo cơ sở hạ tầng tốt cho việc kết nối theo xu hướng IoT, mở ra nhiều
cơ hội kinh doanh lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ
và vừa (SMEs)
Mở rộng kết nối Internet trong nước, khu vực và quốc tế; chuyển đổi toàn bộ mạng Internet Việt Nam sang ứng dụng giao thức Internet thế hệ mới
Trang 6 Mở rộng kết nối Internet trong nước, khu vực và quốc tế; chuyển đổi toàn bộ mạng
Internet Việt Nam sang ứng dụng giao thức Internet thế hệ mới
Triển khai việc tích hợp cảm biến và ứng dụng công nghệ số vào hệ thống hạ tầng giao thông, điện, nước, quản lý đô thị Xây dựng hệ thống hạ tầng thanh toán số quốc gia đồng
bộ, thống nhất để thúc đẩy việc thanh toán không dùng tiền mặt Khuyến khích mọi thành phần kinh tế có đủ năng lực tham gia xây dựng hạ tầng kỹ thuật số Trong chiến lược hạ tầng số, Việt Nam đặt mục tiêu xếp hạng Top 30thế giới trước năm 2025
Thứ tư, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin phục vụ cho chuyển đổi kinh tế số.
Phát triển nguồn nhân lực theo hướng tăng cường năng lực tiếp cận, tư duy sáng tạo và khả năng thích ứng với môi trường công nghệ liên tục thay đổi và phát triển
Nghiên cứu nội dung, phương pháp đào tạo nhằm xây dựng nguồn nhân lực có khả năng tiếp nhận các xu thế công nghệ sản xuất mới; tập trung vào thúc đẩy đào tạo về khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học, ngoại ngữ, tin học; xây dựng chương trình đào tạo, đào tạo lại kiến thức nghề nghiệp; cung cấp khả năng tự học tập một cách linh hoạt, phù hợp đối với từng tổ chức, cá nhân…
Có chính sách kết nối với cộng đồng khoa học, công nghệ trong nước với nước ngoài, đặc biệt với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
Thứ năm, bảo đảm an toàn, an ninh mạng
Việt Nam xếp thứ 25/194 quốc gia về an toàn, an ninh mạng toàn cầu năm 2020, tăng so với thứ hạng 50 trên thế giới (năm 2018)
Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng hiện đại, băng thông đủ rộng để vượt qua các cuộc tấn công gây nghẽn mạng, thành lập hệ thống máy lưu trữ dự phòng để chuyển hướng dữ liệu trước các cuộc tấn công và phục hồi sau tấn công mạng
Thường xuyên rà soát, phát hiện, khắc phục lỗ hổng bảo mật trên toàn hệ thống, bổ sung thiết bị, phần mềm chuyên dụng có khả năng kiểm tra, kiểm soát an ninh, an toàn thông tin trên môi trường mạng viễn thông, Internet, tần số vô tuyến điện…
Xây dựng, triển khai thực hiện các giải pháp kỹ thuật nhằm kiểm tra, phát hiện các nguy
cơ gây mất an ninh thông tin Đảm bảo xử lý kịp thời các nguy cơ gây mất an ninh, đe dọa gây mất an ninh thông tin ở Việt Nam
Thứ sáu, tăng cường hợp tác quốc tế về công nghệ số và kinh tế số
Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và áp dụng hiệu quả công nghệ số là một trong những giải pháp quan trọng, góp phần tạo động lực mới cho tăng trưởng và phục hồi kinh tế, bảo đảm phát triển bền vững, bao trùm và toàn diện
Trang 7 Đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực số hóa là một nhân tố góp phần xây dựng môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển giữa các quốc gia
Việt Nam đã tham gia xây dựng nhiều quy tắc mới về thương mại điện tử trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) như Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP, 2020) và Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA, 2010) Việt Nam hợp tác với các nước để xây dựng khung pháp lý phù hợp, giúp kinh tế số phát triển đúng hướng, hiệu quả và hài hòa với lợi ích chung của toàn xã hội Tăng cường kết nối cộng đồng khoa học công nghệ giữa các quốc gia, khu vực để nâng cao trình độ kỹ năng số Tận dụng các cam kết trong các FTA Việt Nam đã ký với các nước đối tác để khôi phục,
mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư
Tóm lại, phát triển kinh tế số đang là xu thế và động lực thúc đẩy kinh tế toàn cầu Việt
Nam hiện có 17 FTA với 60 đối tác (năm 2021) với thị trường nội địa gần 100 triệu người, dân số trẻ chiếm tỷ lệ cao với 70% dân số sử dụng Internet, có tinh thần đổi mới sáng tạo và khả năng thích ứng nhanh với công nghệ số, là một trong những nước có tốc
độ phát triển công nghệ số cao nhất thế giới
Tiềm năng phát triển kinh tế số của Việt Nam rất lớn
Quy mô kinh tế số Việt Nam thậm chí có thể đạt 43 tỷ USD năm 2025 và sẽ tăng trưởng nóng nhất trong các lĩnh vực gồm thương mại điện tử, du lịch trực tuyến, truyền thông trực tuyến và gọi xe công nghệ