Các nghiên cứu về tác động của đại dịch COVID - 19 đến tình hình lao động tại Việt Nam .... Mặc dù Việt Nam thuộc nhóm nước tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới trong năm 2020, nhưng mứ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - -
BÀI BÁO CÁO GIỮA KÌ Môn: Kinh tế phát triển
Đề tài:
TÁC ĐỘNG CỦA COVID – 19 ĐẾN TÌNH HÌNH LAO ĐỘNG
TẠI VIỆT NAM
Đỗ Lan Hương Đào Phương Anh Nguyễn Đức Thắng
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
Mở đầu 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Tổng quan tài liệu 7
2.1 Các nghiên cứu về tác động của đại dịch COVID - 19 tới nền kinh tế thế giới 7
2.2 Các nghiên cứu về tác động của đại dịch COVID - 19 tới nền kinh tế Việt Nam 7
2.3 Các nghiên cứu về tác động của đại dịch COVID - 19 đến tình hình lao động tại Việt Nam 8
3 Khoảng trống nghiên cứu 8
4 Mục tiêu nghiên cứu 9
4.1 Mục tiêu chung 9
4.2 Mục tiêu cụ thể 9
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
6 Đối tượng nghiên cứu 9
7 Phạm vi nghiên cứu 9
8 Phương pháp nghiên cứu 9
9 Cấu trúc bài nghiên cứu 10
Chương 1: Cơ sở lý luận 11
1.1 Cơ sở lí luận về lao động 11
1.1.1 Khái niệm về lao động, nguồn lao động và lực lượng lao động 11
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng lao động 11
1.1.3 Vai trò của lao động với phát triển kinh tế 13
1.2 Cơ sở lý luận về việc làm 14
1.3 Cơ sở lý luận về thất nghiệp 14
1.3.1 Khái niệm và các hình thức thất nghiệp 14
Trang 3Chương 2: Đánh giá tình hình lao động Việt Nam giai đoạn 2019-2022 17
2.1 Tình hình lao động Việt Nam trước đại dịch COVID-19 (2019) 17
2.1.1 Số người tham gia lực lượng lao động và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động 17
2.1.2 Lượng lao động có việc làm 20
2.1.3 Lượng lao động thiếu việc làm và tỷ lệ thất nghiệp 24
2.2 Tình hình lao động Việt Nam trong đại dịch COVID-19 (2020 - 2022) 28
2.2.1 Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực 28
2.2.2 Số người tham gia lực lượng lao động & tỷ lệ tham gia lực lượng lao động 30
2.2.3 Lượng lao động có việc làm 32
2.2.4 Lượng lao động thiếu việc làm và Tỷ lệ thất nghiệp 35
Chương 3: Dự báo tình hình lao động thế giới và Việt Nam trong năm 2022 37 3.1 Dự báo tình hình lao động thế giới 37
3.2 Dự báo tình hình lao động Việt Nam 38
Chương 4: Kiến nghị một số giải pháp cho Chính phủ, doanh nghiệp và người lao động VIệt Nam 39
4.1 Kiến nghị giải pháp cho Chính phủ 39
4.2 Kiến nghị giải pháp cho phía doanh nghiệp 40
4.3 Kiến nghị giải pháp cho người lao động 40
KẾT LUẬN 41
1 Đóng góp của đề tài: 41
2 Hạn chế của đề tài: 41
3 Định hướng nghiên cứu 41
Tài liệu tham khảo 42
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu 1: Số lượng và phân bố lực lượng lao động năm 2019 17 Biểu 2: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động năm 2019 18 Biểu 3: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chia theo quý năm 2019 19 Biểu 4: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đặc trưng theo nhóm tuổi và giới tính 2019 (Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam) 20 Biểu 5: Cơ cấu lao động có việc làm theo trình độ học vấn và giới tính năm 2019 20 Biểu 6: Số lượng và cơ cấu nghề nghiệp của lao động có việc làm năm 2019 (Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam) 21 Biểu 7: Cơ cấu lao động đang làm việc theo 3 nhóm ngành kinh tế thời kỳ 2000 -
2019 22 Biểu 8: Cơ cấu lao động chia theo vùng và khu vực kinh tế năm 2019 (Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam) 23 Biểu 9: Cơ cấu lao động theo vị thế việc làm thời kỳ 2009 - 2019 (Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam) Error! Bookmark not defined Biểu 10: Cơ cấu lao động thất nghiệp theo nhóm tuổi, thành thị/nông thôn và giới tính năm 2019 (Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam) 24 Biểu 11: Cơ cấu lao động thất nghiệp theo trình độ học vấn cao nhất đạt được năm
2019 (Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam) 25 Biểu 12: Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị theo nhóm tuổi và giới tính năm 2019 25 Biểu 13: Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2019 (Nguồn: Tổng cục thống
kê Việt Nam) 26 Biểu 14: Số lượng và cơ cấu lao động thiếu việc làm theo một số đặc trưng cơ bản, giới tính và thành thị/nông thôn năm 2019 (Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam) 27 Biểu 15: Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động năm 2019 (Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam) 28 Biểu 16: Tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực chia theo tình trạng tham gia thị trường lao động, quý II và quý III năm 2021 (Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam) 29 Biểu 17: Số người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực quý IV năm 2021 và quý
I năm 2022 (Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam) 30 Biểu 18: Lực lượng lao động theo quý giai đoạn 2020 - 2022 (Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam) 31
Trang 5Biểu 19: Lao động có việc làm các quý, giai đoạn 2019-2021 (Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam) 32 Biểu 20: Lao động có việc làm các quý, giai đoạn 2019-2021 (Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam) 33 Biểu 21: Lao động có việc làm chia theo khu vực kinh tế, quý III các năm 2019-2021 (Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam) 34 Biểu 22: Số người và tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động theo quý giai đoạn
2020 – 2022 (Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam) 36
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Có thể nói lao động từ trước tới nay vẫn luôn là một nguồn lực sản xuất chính và vô cùng cần thiết trong các hoạt động kinh tế ở mọi quốc già và đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Chính vì vậy, vấn đề lao động và việc làm luôn nhận được sự quan tâm lớn của hầu hết các quốc gia trên thế giới Lao động - việc làm góp phần làm tăng thu nhập, cải thiện đời sống và giảm đói nghèo thông qua chính sách lao động mà nhà nước ban hành Từ đây ta có thể thấy lao động có vai trò là động lực quan trọng trong tăng trưởng và phát triển kinh tế Ngược lại, tình trạng thất nghiệp sẽ dẫn đến
sự giảm sút trong tổng thu nhập quốc gia, gia tăng lạm phát, ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của người lao động và ảnh hưởng đến trật tự xã hội,
Trong những năm gần đây đại dịch COVID - 19 đã lan rộng ra toàn cầu và vẫn tiếp tục để lại những di chứng nặng nề cho cả thế giới Bởi sự nguy hiểm của loại virus này
mà Chính phủ, Nhà nước, các cơ quan đoàn thể đã ra yêu cầu tạm dừng các hoạt động kinh doanh,dịch vụ, nhà hàng, đồng thời siết chặt quản lý các hoạt động xã hội đặc biệt tại các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, Do tạm dừng đa số các hoạt động kinh tế nên điều này cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới tình hình lao động không chỉ trong nước mà còn trên toàn cầu Mặc dù Việt Nam thuộc nhóm nước tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới trong năm 2020, nhưng mức tăng GDP 2,91% trong năm 2020
là mức tăng trưởng thấp nhất của Việt Nam kể từ năm 2000 đến nay cùng với đó là sự gia tăng về tỷ lệ thất nghiệp đồng thời kéo theo những khó khăn về việc làm đối với người lao động
Trước thực trạng đó, các cơ quan nhà nước đã ban hành chính sách để hỗ trợ người lao động và nhằm cải thiện tình hình lao động do đại dịch COVID - 19 Các Bộ, ngành, địa phương đã tập trung xây dựng kế hoạch hành động; Nỗ lực triển khai các hoạt động sản xuất, kinh doanh, đời sống xã hội; Khắc phục những khó khăn, thách thức, tận dụng cơ hội để đẩy nhanh quá trình phục hồi và phát triển kinh tế Số lao động bị ảnh hưởng tiêu cực bởi đại dịch Covid-19 đã giảm mạnh, tuy nhiên tình hình lao động vẫn còn nhiều bất cập, vẫn là vấn đề nan giải đối với xã hội
Trước những lí do nêu trên, nhóm đã quyết định lựa chọn đề tài “Tác động của COVID - 19 đến tình hình lao động tại Việt Nam” Bài nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi: Tác động của COVID - 19 đến vấn đề lao động trước, trong và đặc biệt là sau đợt dịch? Và thông qua bài nghiên cứu, nhóm cũng tìm ra điểm thiếu sót trong cách xử lý nhằm tạo bản lề cho phương hướng khôi phục nền kinh tế nói chung và thị trường việc làm nói riêng
Trang 72 Tổng quan tài liệu
2.1 Các nghiên cứu về tác động của đại dịch COVID - 19 tới nền kinh tế thế giới
Nghiên cứu của Akbulaev và cộng sự (2020) tập trung vào tác động của COVID-19 tới nền kinh tế thế giới Tác giả đã mô tả tác động kinh tế của COVID-19 đối với các quốc gia trong hoạt động xuất nhập khẩu, tác động của đại dịch tới tình hình sản xuất, việc làm
Từ đó tiến tới phân tích sự hỗ trợ của Nhà nước đối với người sản xuất trong chế độ kiểm dịch
Nghiên cứu của Luis Varona và Jorge R Gonzales (2021) đã tiến hành phân tích các động lực hành vi ngắn hạn của hoạt động kinh tế, cũng như giải thích mối quan hệ nhân quả trong bối cảnh đại dịch COVID-19 dựa trên số lượng lan truyền cơ bản của COVID-19 mỗi ngày Dữ liệu nghiên cứu được thu thập với các biến kinh tế, như: chỉ số hoạt động kinh tế, chỉ số chi tiêu công, chỉ số lãi suất thực, chỉ số tỷ giá hối đoái, chỉ số giá đồng quốc tế,
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Bùi Đức Thọ và Phạm Xuân Nam (2021) đã đánh giá chung về kinh tế thế giới năm 2020 thông qua đánh giá về tăng trưởng kinh tế chung, thương mại và đầu tư quốc tế Bài nghiên cứu cũng phân tích tình hình kinh tế tại một số nước là bạn hàng lớn của Việt Nam như Mỹ, Nhật Bản, EU, Trung Quốc, Hàn Quốc và ASEAN; và phân tích một số thị trường hàng hóa và tài chính Phần cuối cùng, các tác giả đưa ra một số triển vọng kinh tế năm 2021
2.2 Các nghiên cứu về tác động của đại dịch COVID - 19 tới nền kinh tế Việt Nam
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hà (2021) đã đánh giá tác động của Covid - 19 đối với yếu tố cung và cầu của nền kinh tế nước ta đặc biệt chú trọng vào nguồn cung lao động Bên cạnh đó, nguyên cứu còn chỉ ra ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch lên các ngành chủ yếu như: Lĩnh vực nông - lâm nghiệp và thủy sản, Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, Lĩnh vực công nghiệp chế biến - chế tạo, Lĩnh vực dịch vụ, Ngành Logistics, Lĩnh vực bán
lẻ, Lĩnh vực tài chính - ngân hàng - bảo hiểm, Lĩnh vực dịch vụ y tế và Lĩnh vực giáo dục
và đào tạo
Trong nghiên cứu của Bạch Hồng Việt (2021), tác giả đã phân tích tác động của đại dịch COVID-19 đến sự tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững ở Việt Nam Nghiên cứu cho thấy hoạt động thương mại, đầu tư, du lịch, sản xuất, kinh doanh trên thế giới bị đình trệ Trước tình hình đó, các quốc gia đều phải tung ra các gói hỗ trợ kinh tế trong nước Ngoài ra, một trong những nhân tố tạo động lực cho sự phục hồi và tăng trưởng kinh tế là việc đẩy mạnh đầu tư công
Bên cạnh đó nghiên cứu của Hồ Ngọc Khương (2021) đã chỉ ra những cơ hội và thách thức của nền kinh tế Việt Nam sau đại dịch Trong đó, tác giả chú trọng làm nổi bật
cơ hội của Việt Nam trong xuất khẩu hàng hóa bởi lợi ích từ nhiều hiệp định thương mại
tự do được ký kết Về mặt thách thức, nghiên cứu nêu lên thách thức đối với doanh nghiệp thuộc các ngành như thương mại, du lịch, vận tải, xuất nhập khẩu,nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản; thách thức với vấn đề việc làm và nguồn nhân lực; vấn đề đầu
Trang 8tư, nợ công và vấn đề về tăng trưởng kinh tế Ngoài ra còn có nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hương (2021) đã chỉ ra những thành tựu và hạn chế của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2020
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hoàng Nam (2022) đã tiến hành phân tích tác động của đại dịch trên nhiều khía cạnh đặc biệt tập trung vào tỉ giá hối đoái, giá vàng, giá dầu, giá bạc, giá đồng và chỉ số VN-Index Từ đó đưa ra một số kiến nghị cho doanh nghiệp
và Chính phủ nhằm cải thiện nền kinh tế, đặc biệt chú trọng đến vấn đề giá trị trường như giá vàng, giá dầu, giá bạc, giá đồng, tỷ giá hối đoái,
2.3 Các nghiên cứu về tác động của đại dịch COVID - 19 đến tình hình lao động tại Việt Nam
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Lê (2020) đã chỉ ra cơ hội từ thích ứng gắn với việc làm thời COVID – 19 Nghiên cứu đã khẳng định, mặc dù trong thời kỳ khó khăn của đại dịch nhưng Việt Nam nhiều cơ hội để thích ứng và phát triển
Nghiên cứu của hai tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương và Nguyễn Thị Hương Giang (2021) cho thấy đại dịch COVID-19 đã có tác động lớn đến lao động việc làm ở Việt Nam qua phân tích số liệu thống kê Bài viết phân tích tác động của đại dịch lên thị trường việc làm tại Việt Nam với những số liệu rõ ràng, đi sát thực tế thị trường lao động
Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Thanh Bình (2021) đã đưa ra đánh giá tổng quan về những tác động của đại dịch Covid - 19 tới nhóm lao động dễ bị tổn thương Đặc biệt, nghiên cứu tập trung hơn vào nhóm đối tượng là lao động nữ để làm rõ tác động của COVID-19 đến thị trường lao động của Việt Nam từ góc độ giới
Bên cạnh đó, còn có nghiên cứu của Trần Thanh Hồng Loan (2021) chỉ ra ảnh hưởng của đại dịch covid đến lao động di cư khu vực phi chính thức tại Việt Nam Bài nghiên cứu của nhóm tác giả Phạm Minh Thu, Hoàng Thị Bích Thủy, Trịnh Minh Thúy, Nguyễn Phúc Thư, Nguyễn Thị Thương (2022) đã thông qua những tác động mà Covid - 19 gây ra cho nền kinh tế cũng như thị trường lao động để từ đó làm rõ hơn tình trạng thất nghiệp trước, trong và sau đại dịch
3 Khoảng trống nghiên cứu
Các nghiên cứu nêu trên đã chỉ ra được tác động của đại dịch COVID-19 lên việc làm và lao động nói chung đồng thời có những đề xuất liên quan đến chính sách hỗ trợ của chính phủ cũng như kiến nghị cho doanh nghiệp trong thời kỳ đại dịch nhằm giải quyết vấn đề vô cùng nan giải về lao động
Tuy nhiên, các bài nghiên cứu vẫn còn tồn tại một số khoảng trống Hiện nay Việt Nam đang bước sang thời kỳ “Bình thường mới”, và đây cũng là thời điểm tình hình lao động bắt đầu có sự hồi phục từ sau đại dịch, dù vậy Việt Nam vẫn còn xuất hiện những tác động tiêu cực mà đại dịch đã để lại đối với lao động Đây là điểm mà các nghiên cứu
đi trước chưa chỉ ra được Bên cạnh đó, các nghiên cứu vẫn chưa có những dự đoán về
Trang 94 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định tác động của COVID-19 lên tình hình lao động Việt Nam
- Dự đoán về vấn đề lao động - việc làm tại Việt Nam sau đại dịch
- Có những kiến nghị phù hợp giúp doanh nghiệp và chính phủ nhằm cải thiện tình trạng thất nghiệp và các vấn đề liên quan đến lao động - việc làm ở nước ta
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu và phân tích số liệu thống kê về tình hình lao động Việt Nam trước, trong
và sau đại dịch COVID - 19
- Đưa ra những kết luận hợp lý về tác động của COVID - 19 tới lao động - việc làm của người dân thông qua những phân tích trên
- Đưa ra những dự đoán đối với tình hình lao động tại Việt Nam trong thời kỳ bình thường mới hiện nay
- Dựa vào thực trạng, dự đoán để đề xuất những kiến nghị phù hợp giúp doanh nghiệp và chính phủ giải quyết vấn đề lao động - việc làm sau đại dịch
6 Đối tượng nghiên cứu
Tác động của đại dịch COVID - 19 tới tình hình lao động tại Việt Nam
7 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nước CHXHCN Việt Nam
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2019 - 2022 (Từ khi dịch COVID-19 xuất hiện cho đến nay)
8 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thông qua
các tài liệu về báo cáo, thống kê, ấn phẩm của các cơ quan, tổ chức có liên quan đến vấn đề tình hình - việc làm lao động như: Tổng cục Thống kê Việt Nam, Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Viện khoa học lao động và xã hội, Nghiên cứu một
Trang 10số công trình của các tác giả trong và ngoài nước về tác động của dịch Covid – 19 đến lao động và việc làm
- Phương pháp phân tích: Bài nghiên cứu thu thập và sử dụng các thông tin đã được
xử lý trong giai đoạn 2019 – 2022 để tìm hiểu thực trạng tác động của COVID - 19 đối với tình hình lao động tại Việt Nam Phân tích thực trạng để từ đó đưa ra dự đoán đối với lao động - việc làm trong tương lai và đề xuất kiến nghị giúp doanh nghiệp và chính phủ giải quyết vấn đề lao động - việc làm sau đại dịch
9 Cấu trúc bài nghiên cứu
Ngoài mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, bài nghiên cứu bao gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng tình hình lao động ở Việt Nam giai đoạn 2019 - 2022 Chương 3: Dự báo tình hình lao động thế giới và Việt Nam trong năm 2022 Chương 4: Kiến nghị cho Chính phủ và doanh nghiệp nhằm cải thiện vấn đề lao động - việc làm sau đại dịch COVID - 19
Trang 11CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Cơ sở lí luận về lao động
1.1.1 Khái niệm về lao động, nguồn lao động và lực lượng lao động
Lao động là một hoạt động có mục đích của con người, trong quá trình lao động, con người vận dụng sức lực của bản thân, sử dụng công cụ lao động để tác động vào các yếu tố tự nhiên, biến đổi chúng và làm chúng trở nên có ích cho đời sống con người Trong phát triển kinh tế, quá trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động để đưa các tư liệu lao động vào sản xuất để tạo ra sản phẩm, của cải vật chất cho
xã hội Nguồn lao động và lực lượng lao động là những khái niệm có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở cho việc xác định và tính toán cân đối lao động – việc làm trong xã hội
Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân Việc quy định cụ thể về độ tuổi lao động là khác nhau giữa các quốc gia, thậm chí khác nhau qua các thời kỳ trong cùng một quốc gia, tùy thuộc trình
độ phát triển của nền kinh tế Ở nước ta, theo quy định của Luật Lao động (1994), độ tuổi lao động đối với nam từ 15 tuổi đến 60 tuổi và nữ là từ 15 tuổi đến 55 tuổi
Nguồn lao động luôn được xem xét trên 2 mặt biểu hiện là số lượng và chất lượng Xét về mặt số lượng, nguồn lao động bao gồm: Bộ phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm; Và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác Còn chất lượng của nguồn lao động về cơ bản được đánh giá ở trình độ chuyên môn, tay nghề và sức khỏe của người lao động
Lực lượng lao động theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định, thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp đang có nhu cầu tìm việc làm
Ở nước ta hiện nay, lực lượng lao động được xác định là bộ phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp Lực lượng lao động theo quan niệm như trên là đồng nghĩa với dân số hoạt động kinh tế và nó phản ánh khả năng thực tế về cung ứng lao động của xã hội
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng lao động
Theo lí thuyết trong kinh tế học, lực lượng lao động phản ánh số lượng lao động mà
hộ gia đình đem trao đổi trên thị trường Vậy nên số lượng lao động phụ thuộc vào một
số yếu tố sau:
Thứ nhất, dân số - cơ sở hình thành lực lượng lao động Dân số được coi là yếu tố
cơ bản quyết định số lượng lao động Sự biến động của dân số có ý nghĩa quyết định đến quy mô và cơ cấu của nguồn lao động Tình hình tăng dân số trên thế giới hiện nay có
sự khác nhau giữa các nước Mức tăng dân số bình quân của thế giới hiện nay là 1,8%,
ở nước châu Âu thường ở dưới mức 1%, trưởng khi đó ở các nước châu á là 2% - 3%
Trang 12và các nước châu Phi là 3% - 4% Nhìn chung, các nước phát triển có mức sống cao thì
tỷ lệ tăng dân số thấp; ngược lại ở những nước kém phát triển thì tỷ lệ tăng dân số cao Hiện nay ¾ dân số thế giới sống ở các nước đang phát triển, ở đó dân số tăng nhanh trong khi phát triển kinh tế tăng chậm, làm cho mức sống của nhân dân không tăng lên được và tạo ra áp lực lớn trưởng việc giải quyết việc làm
Sự biến động của dân số thường bao gồm biến động tự nhiên và biến động cơ học Biến động dân số tự nhiên là sự thay đổi quy mô dân số do tác động của sinh đẻ và
tử vong Tỷ lệ sinh đẻ và tử vong phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế và mức độ thành công của chính sách kiểm soát dân số Đây được coi là yếu tố có ảnh hưởng mạnh
mẽ nhất đến sự thay đổi quy mô dân số của một quốc gia Các nước đang phát triển có
tỷ lệ sinh cao hơn so với các nước phát triển do vậy tốc độ tăng dân số tự nhiên cũng cao hơn
Biến động dân số cơ học là sự thay đổi quy mô dân số do tác động của việc di chuyển dân cư hay di dân Ở các nước đang phát triển, di dân là một trong những nhân
tố rất quan trọng tác động đến quy mô và cơ cấu lao động, đặc biệt cơ cấu lao động khu vực thành thị và nông thôn bởi dân số và lao động có xu hướng di chuyển từ nông thôn
ra thành thị Điều này làm tăng cung lao động ở thành thị, thúc đẩy tốc độ đô thị hóa và gia tăng tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị Phần lớn người di cư là là thanh niên ở độ tuổi 15-
24 có trình độ học vấn nhất định và người nghèo
Thứ hai, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của
dân số trong độ tuổi lao động là tỉ số phần trăm giữa số người trong độ tuổi thuộc lực lượng lao động trên dân số trong độ tuổi lao động Tỷ lệ này có sự khác nhau giữa các nhóm tuổi, giới tính và bị tác động bởi kinh tế, văn hóa, xã hội Chỉ số này được sử dụng
để phân tích dữ liệu việc làm, thất nghiệp và được đánh giá là đáng tin cậy hơn so với tỉ
lệ thất nghiệp Việt Nam có tỷ lệ tham gia lực lượng tương đối cáo, khoảng 67,7% trong năm 2021
Thứ ba, thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp Thất nghiệp gồm những người không có
việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm Số người thất nghiệp sẽ ảnh hưởng đến số người làm việc và ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của nền kinh tế Hiện nay, thất nghiệp là vấn đề trung tâm của mọi quốc gia vì nó không chỉ tác động về kinh tế mà tác động cả về khía cạnh xã hội Còn tỷ lệ thất nghiệp tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa tổng số người thất nghiệp và tổng số nguồn lao động Đối với các nước đang phát triển tỷ lệ thất nghiệp còn phản ánh về nguồn lao động cha sử dụng hết
Bên cạnh những ảnh hưởng về mặt số lượng, chất lượng lao động cũng là vấn đề đáng lưu ý, sự đóng góp của lao động được thể hiện thông qua chất lượng Chất lượng của lao động chủ yếu bị tác động bởi các yếu tố:
Thứ nhất, giáo dục - đào tạo giúp cải thiện chất lượng lao động Có thể hiểu giáo
dục là tất cả các dạng học tập của con người nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng của
Trang 13con người, trong đó giáo dục phổ thông nhằm cung cấp kiến thức cơ bản, còn giáo dục nghề và đại học lại mang lại kỹ năng chuyên môn cho người lao động
Giáo dục có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng lao động Trước hết, giáo dục giúp tăng tích lũy vốn tri thức từ đó sáng tạo ra công nghệ mới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn Ngoài ra, giáo dục tạo ra lực lượng lao động có trình độ, năng suất cao thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững Bằng cách so sánh chỉ số “tỷ suất lợi nhuận cho giáo dục”, các nhà kinh tế nhận thấy đầu tư giáo dục ở cấp tiểu học có hiệu quả hơn Do vậy các nước phát triển đưa ra các chính sách chủ yếu tập trung nhiều và
ưu tiên hơn cho giáo dục tiểu học Bên cạnh đó, giáo dục giúp cung cấp kiến thức và những thông tin để người dân đặc biệt là phụ nữ có thể sử dụng công nghệ nhằm cải thiện một số vấn đề sức khỏe cho con cái như: tỷ lệ tử vong trẻ em giảm, tỷ lệ dinh dưỡng trẻ em tăng,
Thứ hai, dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe có tác động tích cực đến chất lượng lao động Sức khoẻ làm tăng chất lượng của nguồn nhân lực, người lao động có sức khoẻ
tốt có thể mang lại những lợi nhuận trực tiếp bằng việc nâng cao sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung trong khi đang làm việc Sức khỏe của người lao động một mặt phụ thuộc vào yếu tố dinh dưỡng song mặt khác còn phụ thuộc vào dịch vụ chăm sóc sức khỏe thường xuyên và chính sách bảo hiểm y tế đối với người lao động Đặc biệt, bên cạnh việc quan tâm tới chất lượng lao động hiện tại, việc nuôi dưỡng và chăm sóc sức khoẻ tốt cho trẻ em sẽ là yếu tố làm tăng năng suất lao động trưởng tương lai, giúp trẻ
em phát triển thành những người khoẻ về thể chất, lành mạnh về tinh thần
Thứ ba, tác phong lao động, tính kỷ luật nâng cao chất lượng lao động Trong các
khu vực thành thị, điều kiện làm việc ngày càng có xu hướng hiện đại dẫn đến sự phối hợp trong công việc giữa các cá nhân có xu hướng tăng Điều này đòi hỏi người lao động phải có tác phong công nghiệp, thái độ hợp tác và tính kỷ luật cao
1.1.3 Vai trò của lao động với phát triển kinh tế
Lao động là một yếu tố đầu vào cơ bản và không thể thiếu cho mọi quá trình sản xuất, do vậy việc xem xét tác động của yếu tố lao động đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn luôn được các nhà kinh tế quan tâm Tuy nhiên, khác với các yếu tố sản xuất khác (vốn, khoa học kỹ thuật, vv) vai trò của lao động đối với phát triển kinh tế luôn có
Trang 14Vai trò của lao động còn thể hiện ở khía cạnh thứ hai Lao động - một bộ phận dân
số của một quốc gia, là người được hưởng thụ lợi kết quả của quá trình phát triển Thỏa mãn các nhu cầu của người lao động luôn được xem là mục đích cuối cùng của phát triển kinh tế Mọi quốc gia đều nhấn mạnh đến mục tiêu "phát triển vì con người và coi đó là động lực của sự phát triển"
Việc nâng cao năng lực cơ bản của các cá nhân, của người lao động sẽ giúp họ có nhiều cơ hội việc làm hơn Khi thu nhập từ việc làm tăng, họ sẽ có điều kiện cải thiện đời sống, nâng cao chất lượng cuộc sống Kết quả là tăng nhu cầu xã hội, đồng thời tác động đến hiệu quả sản xuất trong kiện năng suất lao động tăng Như vậy, lao động có vai trò quan trọng trong tăng trưởng và phát triển kinh tế
Hiện nay, một trong những lợi thế của các nước đang phát triển là lao động nhiều, giá lao động rẻ Tuy nhiên ở hầu hết các nước này, lao động lại chưa phải là động lực mạnh cho tăng trưởng và phát triển kinh tế nhất là các nước mà lao động nông nghiệp - nông thôn còn chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lực lượng lao động Lao động nhiều nhưng lại có biểu hiện của sự "dư thừa" hay tình trạng thiếu việc làm Lao động với năng suất thấp, phần đóng góp của lao động trong tổng thu nhập còn hạn chế
1.2 Cơ sở lý luận về việc làm
Việc làm là một khái niệm tiền đề cơ bản giúp chúng ta nhận dạng một cách chính xác và thống nhất về mối quan hệ giữa lao động và việc làm trong nền kinh tế thị trường
Có thể hiểu, việc làm là sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao động theo mục đích của con người
Theo “Luật lao động” nước ta, khái niệm việc làm được xác định là: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” Vậy ta cũng có thể hiểu, các hoạt động lao động của con người nhưng không có mục đích tạo ra thu nhập, hoặc không được pháp luật thừa nhận thì sẽ không được coi là việc làm
1.3 Cơ sở lý luận về thất nghiệp
1.3.1 Khái niệm và các hình thức thất nghiệp
Thất nghiệp từ lâu luôn là vấn đề kinh tế xã hội nóng bỏng của các quốc gia, tình trạng thất nghiệp không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế mà còn là nguyên nhân của rất nhiều vấn đề xã hội
Theo khái niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn có việc làm nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công nhất định
Như vật, người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, không có việc làm và đang có nhu cầu tìm việc làm
Trang 15Từ quan niệm nêu trê, tình trạng thất nghiệp của nền kinh tế được đánh giá bằng chỉ tiêu “Tỷ lệ thất nghiệp” Nó được xác định bằng tỷ lệ phần trăm giữa số người thất nghiệp và lực lượng lao động trong độ tuổi lao động
Thất nghiệp có thể được biểu diễn dưới hai hình thức: Thất nghiệp tự nguyện và thất nghiệp cưỡng bức Thất nghiệp tự nguyện là tình trạng thất nghiệp xảy ra khi một người lao động sẵn sàng chấp nhận mức giá cả của thị trường lao động nhưng không đồng ý tham gia lao động Khi đó người lao động tự nguyện đặt họ vào tình trạng thất nghiệp Còn thất nghiệp cưỡng bức là tình trạng người lao động sẵn sàng và đồng ý tham gia lao động ở một mức giá cả nhất định và với những điều kiện lao động do thị trường đưa ra những vẫn không có việc làm Trong trường hợp này, người lao động bị “cưỡng bức” rơi vào tình trạng thất nghiệp
1.3.2 Thất nghiệp ở các nước đang phát triển
Đối với các nước đang phát triển, quan niệm thất nghiệp và chỉ tiêu tỷ lệ thất nghiệp như đã nêu trên chưa phản ánh đúng và đầy đủ thực trạng lực lượng lao động chưa được
Ở khu vực thành thị, dạng thất nghiệp này tồn tại dưới dạng khác nhau như: làm việc với năng suất thấp, không góp phần tạo ra thu nhập cho xã hội mà chủ yếu chỉ tạo thu nhập đủ sống (nhiều khi dưới mức sống tối thiểu), có việc làm nhưng công việc không phù hợp với chuyên môn đào tạo Dạng thất nghiệp này còn được gọi là thất nghiệp vô
hình
Ở khu vực nông thôn, thất nghiệp trá hình chủ yếu tồn tại dưới dạng thiếu việc làm Nguyên nhân là do giới hạn của đất đai nông nghiệp, do khu vực kinh tế phi nông nghiệp nông thôn chậm phát triển Mức độ thiếu việc làm ở nông thôn càng trầm trọng hơn khi hoạt động sản xuất ở nông thôn mang tính thời vụ Chẳng hạn ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của các chuyên gia kinh tế, trong thời gian mùa vụ, một nông dân có thể làm việc 11 giờ/ngày, trong khi đó, ở thời kỳ nông nhân họ chỉ làm việc 3 giờ/ngày Thất nghiệp tồn tại dưới dạng này còn được gọi là bán thất nghiệp
Trang 16Để đánh giá tình trạng thất nghiệp ở các nước đang phát triển, cùng với việc sử dụng chỉ tiêu "tỷ lệ thất nghiệp", phải sử dụng chi tiêu "tỷ lệ sử dụng thời gian lao động" Ngoài hai dạng thất nghiệp phổ biến nêu trên, ở các nước đang phát triển còn tồn tại một
số hình thức thất nghiệp khác như: thất nghiệp tự nguyện (ẩn náu trong những người làm công việc nội trợ gia đình do các mức tiền lương thấp không đủ bù đắp) và thất nghiệp tạm thời hay thất nghiệp cơ cấu là thất nghiệp trong thời gian thay đổi nghề nghiệp, thay đổi nơi làm việc vì muốn tìm việc làm tốt hơn Ở nước ta, dạng thất nghiệp này tồn tại khá đa dạng ở khu vực nông thôn Theo kết quả khảo sát của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, nếu một lao động chuyển từ nông nghiệp sang một nghề khác, thu nhập
sẽ tăng khoảng 30 - 50% Hiện tại có khoảng 22% lao động nông thôn thay đổi nghề, và
số này đã góp phần đáng kể tăng số lao động thất nghiệp tạm thời trong khu vực nông thôn
Trang 17CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH LAO ĐỘNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2019-2022 2.1 Tình hình lao động Việt Nam trước đại dịch COVID-19 (2019)
2.1.1 Số người tham gia lực lượng lao động và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động
Quy mô lực lượng lao động trung bình cả nước năm 2019 là 55,77 triệu người, tăng
so với năm trước 413 nghìn người (0,75%) Lực lượng lao động bao gồm 54,66 triệu người có việc làm và hơn 1,1 triệu người thất nghiệp Nữ giới (47,3%) chiếm tỷ trọng thấp hơn nam giới (52,7%)
Mặc dù có sự tăng lên về tỷ trọng lực lượng lao động ở khu vực thành thị, vẫn còn 67,6% lực lượng lao động nước ta tập trung ở khu vực nông thôn Tỷ lệ lao động nữ trong lực lượng lao động giữa thành thị và nông thôn chênh lệch không đáng kể, nhưng lại có
sự khác biệt giữa các vùng Đồng bằng sông Cửu Long ở mức thấp nhất (44,0%) và cao
Biểu 1: Số lượng và phân bố lực lượng lao động năm 2019
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
Trang 18
nhất là 49,3% ở Đồng bằng sông Hồng Số liệu cũng cho thấy, có sự ngược chiều về mức độ tham gia vào lực lượng lao động giữa hai giới ở hai vùng đồng bằng lớn của nước ta
Xét tổng thể trong năm 2019, có hơn ba phần tư (76,8%) dân số từ 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chênh lệch đáng kể giữa nam (81,9%) và nữ (71,8%) và không đồng đều giữa các vùng Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị tới 11,0% Cả nam giới và nữ giới đều có sự chênh lệch này, song mức độ chênh lệch của nữ giới (khoảng 12,0%) lớn hơn của nam giới (8,9%)
Đáng chú ý, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động cao nhất là ở vùng Trung du và miền
Nội (68,2%) cao hơn thành phố Hồ Chí Minh (65,9%) Số liệu điều tra còn cho thấy, ở cả
6 vùng kinh tế - xã hội và 2 thành phố lớn nhất cả nước, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ giới đều thấp hơn nam giới Thêm vào đó, mức chênh lệch tỷ lệ tham gia lực lượng lao động giữa nam giới và nữ giới tăng dần từ Bắc vào Nam
Biểu 2: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động năm 2019
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
Trang 19Xét theo từng quý ta thấy tỷ lệ tham gia lực lượng lao động có xu hướng thấp nhất
ở quý II và cao nhất ở quý I Ở khu vực thành thị, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động quý
II giảm 0,9% so với quý I, nhưng quý III lại tăng 0,3% so với quý II, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động thấp nhất ở quý IV (69,4%) Ở khu vực nông thôn, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động không có sự thay đổi nhiều giữa các quý, trừ quý IV tỷ lệ này cao nhất trong 4 quý (80,7%) tăng 0,5% so với quý I, tăng 0,6% so với quý III
Xét theo giới tính, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ thấp hơn nam ở tất cả các nhóm tuổi, và khác biệt ở nhóm 55-59 tuổi là cao nhất, với tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ giới thấp hơn nam giới là 24,8% Nguyên nhân một phần là do quy định tuổi về hưu (55 tuổi với nữ và 60 tuổi với nam) và sau khi về hưu phụ nữ thường có xu hướng không tiếp tục tham gia vào thị trường lao động
Biểu 3: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chia theo quý năm 2019
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
Trang 20Biểu 4: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đặc trưng theo nhóm tuổi và giới tính 2019
( Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
2.1.2 Lượng lao động có việc làm
Cơ cấu lao động có việc làm theo trình độ học vấn
Tỷ trọng lao động có việc làm chưa bao giờ đi học chiếm 3,1% trong tổng số người
có việc làm, trong đó nữ chiếm tỷ lệ cao hơn nam (61,2%) Gần một phần ba số lao động trong nền kinh tế đã tốt nghiệp trung học cơ sở (29,5%) Số liệu cho thấy, ở các trình độ học vấn thấp (từ chưa bao giờ đi học cho đến tốt nghiệp Trung học phổ thông) thì nữ chiếm tỷ lệ cao hơn nam, tuy nhiên càng ở các trình độ cao (có trình độ chuyên môn kỹ thuật) thì nam lại chiếm tỷ lệ cao hơn nữ
Biểu 5: Cơ cấu lao động có việc làm theo trình độ học vấn và giới tính năm 2019
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
Trang 21Cơ cấu lao động có việc làm theo nghề nghiệp
Năm 2019, có 34,5% "Lao động giản đơn" (18,8 triệu người) Các nhóm nghề cơ bản khác bao gồm "Dịch vụ cá nhân, bảo vệ và bán hàng" (9,5 triệu người tương đương 17,4%); "Lao động có kỹ thuật trong nông, lâm, ngư nghiệp" (4,0 triệu ngời tương đương 7,3%) và "Thợ thủ công và các thợ khác có liên quan" (7,8 triệu người tương đương 14,3%) Ngược lại, lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật bậc cao và lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật bậc trung chiếm tỷ trọng khiêm tốn tương ứng là 7,8% và 3,4% Trong 9 nhóm nghề thì nữ giới chiếm 5 nhóm cao hơn nam giới nhưng chỉ có 24,7%
nữ giới là "Nhà lãnh đạo" Các nghề sử dụng nhiều lao động nữ hơn nam giới là dịch vụ
cá nhân, bảo vệ và bán hàng, chuyên môn kỹ thuật bậc cao, chuyên môn kỹ thuật bậc
trung và lao động giản đơn
Cơ cấu lao động có việc làm theo khu vực kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, quá trình này tất yếu làm thay đổi tỷ trọng lao động trong các ngành kinh tế
Năm 2019, lao động trong khu vực "Nông, lâm, thuỷ sản" chiếm 34,5% Khu vực
"Công nghiệp và xây dựng" chiếm 30,1% (tăng 3,4% so với năm 2018), khu vực "Dịch vụ" giảm nhẹ 0,2% với năm 2018 đạt mức 35,4%
Biểu 6: Số lượng và cơ cấu nghề nghiệp của lao động có việc làm năm 2019
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)