1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ứng dụng công nghệ số vào trong hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng

12 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ứng dụng công nghệ số vào trong hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng
Tác giả Nguyễn Thị Thiều Quang, Nguyễn Cao Nguyên, Nguyễn Thị Huyền Trâm, Phan Thị Thu Hồng, Nguyễn Văn Minh Thuận
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Thị Thiều Quang
Trường học Đại Học Kinh Tế - Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Ngân hàng
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 311,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số ứng dụng công nghệ được sử dụng vào hoạt động thanh toán trong ngân hàng:...2 1.. Cùng với sự phát triển của thời đại công nghệ số, việc nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ mới v

Trang 1

THANH TOÁN QUỐC TẾ

Ứng dụng công nghệ số vào trong hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng

ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

KHOA NGÂN HÀNG

Giáo viên giảng dạy: Nguyễn Thị Thiều Quang

NHÓM 12 Nguyễn Cao Nguyên Nguyễn Thị Huyền Trâm Phan Thị Thu Hồng Nguyễn Văn Minh Thuận

Đà Nẵng

Trang 2

Mục lục:

Lời mở đầu 1

I Khái niệm về ứng dụng công nghệ số vào hoạt động thanh toán trong ngân hàng:.2 II Một số ứng dụng công nghệ được sử dụng vào hoạt động thanh toán trong ngân hàng: 2

1 Công nghệ SWIFT: 2

a Khái niệm: 2

b Lợi ích của việc sử dụng SWIFT: 3

2 Công nghệ Blockchain: 3

a Khái niệm: 3

b Lợi ích của việc sử dụng Blockchain: 4

3 BPO 5

a Khái niệm: 5

b Lợi ích của việc sử dụng BPO: 5

III Ưu nhược điểm của việc áp dụng công nghệ số vào hoạt động thanh toán trong ngân hàng: 6

1 Ưu điểm: 6

2 Nhược điểm: 6

IV Thực trạng và giải pháp cho công nghệ số trong thanh toán quốc tế tại Ngân hàng ở Việt Nam 7

1 Thực trạng ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thanh toán của ngân hàng:7 2 Giải pháp: 9

Trang 3

Lời mở đầu

Công nghệ số trong hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng đóng vai trò vô cùng quan trọng Cho đến hiện tại gần như hầu hết các thao tác trong hoạt động TTQT tại ngân

hàng đều được kết nối, xử lý, lưu trữ bằng công nghệ Có thể mỗi ngân hàng sẽ có mô hình công nghệ riêng phù hợp với bộ máy hoạt động của từng ngân hàng nhưng trên cơ sở chung vẫn là với mục đích thuận tiện, nhanh chóng nhất trong hoạt động TTQT với các bên liên quan

Và có thể một phần do sự ảnh hưởng của dịch bệnh khiến cho mọi hoạt động của con người phải hạn chế nhất có thể việc tiếp xúc và gặp mặt nên những dịch vụ đăng ký giao dịch, đề nghị giao dịch online qua Internet được đẩy mạnh phát triển và khá là được ưa chuộng vì sự ngày càng thuận tiện của nó

Thanh toán quốc tế tại ngân hàng các phương thức thanh toán quốc tế đều có thể nhìn thấy rõ được điểm chung là sau khi nhận được ủy thác từ các bên liên quan (bên nhập khẩu/xuất khẩu) thì ngân hàng của 2 bên sẽ làm việc với nhau và cũng do vấn đề về địa lý các ngân hàng sẽ làm việc với nhau bằng các phương thức Online là chủ yếu Như vậy, công nghệ là nhân tố chính, hỗ trợ các ngân hàng thực hiện nghiệp vụ TTQT và giải quyết các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực này Cùng với sự phát triển của thời đại công nghệ số, việc nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ mới vào hoạt động TTQT tại ngân hàng là cần thiết

Trang 4

I Khái niệm về ứng dụng công nghệ số vào hoạt động thanh toán trong ngân hàng:

 Để thực hiện hoạt động TTQT, các ngân hàng đã sử dụng một số công nghệ để kết nối các khâu tác nghiệp trong nội bộ ngân hàng Ngoài Core banking là hệ thống ngân hàng lõi quản lý tích hợp mọi hoạt động giao dịch của ngân hàng, mỗi ngân hàng còn thiết kế những chương trình công nghệ riêng phù hợp cho sự vận hành

mô hình hoạt động TTQT Bên cạnh đó, nhờ sự phát triển của mạng Internet, các ngân hàng đã cho ra đời những sản phẩm TTQT giao dịch trực tuyến, cho phép khách hàng gửi đề nghị giao dịch và nhận kết quả xử lý trên Internet

 Công nghệ số là quá trình thay đổi mô hình từ truyền thống sang doanh nghiệp số bằng cách áp dụng công nghệ mới ví dụ như: dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây (Cloud), Internet vạn vật (IoT) thay đổi phương thức điều hành, lãnh đạo, quy trình làm việc và văn hóa công ty

II Một số ứng dụng công nghệ được sử dụng vào hoạt động thanh toán trong ngân hàng:

Việc thanh toán thông qua các ứng dụng khá phổ biến, có thể kể đến 3 ứng dụng nổi bật như dưới đây:

 Công nghệ SWIFT

 Phương thức thanh toán BPO (Bank Payment Obligations)

 Công nghệ Blockchain

1 Công nghệ SWIFT:

a Khái niệm:

 SWIFT (Society for Worldwide Interbank Financial Telecommunication:Hiệp hội Viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu), được thành lập năm 1973 thay thế Telex và hiện được hơn 11.000 tổ chức tài chính sử dụng để gửi tin nhắn và thực hiện các giao dịch thanh toán an toàn

Trang 5

 Đây là một hiệp hội mà thành viên là các ngân hàng và các tổ chức tài chính, mỗi ngân hàng tham gia là một cổ đông của SWIFT SWIFT giúp các ngân hàng trên thế giới là thành viên của SWIFT chuyển tiền cho nhau hoặc trao đổi thông tin Mỗi thành viên được cấp 1 mã giao dịch gọi là SWIFT code Các thành viên trao đổi thông tin/chuyển tiền cho nhau dưới dạng các SWIFT message, là các bức điện được chuẩn hóa dưới dạng các trường dữ liệu, ký hiệu để máy tính có thể nhận biết

và tự động xử lý giao dịch SWIFT cung cấp các dịch vụ truyền thông an ninh và phần mềm giao diện cho các ngân hàng và tổ chức tài chính

 Do tính chất là điều khiển luồng tiền của cả thế giới nên tính bảo mật của SWIFT rất cao, hacker chưa bao giờ tấn công được vào hệ thống này

b Lợi ích của việc sử dụng SWIFT:

 Đây là một mạng truyền thông chỉ sử dụng trong hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính nên tính bảo mật cao và an toàn

 Tốc độ truyền thông tin nhanh cho phép có thể xử lý được số lượng lớn giao dịch

 Chi phí cho một điện giao dịch thấp so với Thư tín và Telex vốn là phương tiện truyền thông truyền thống

 Sử dụng SWIFT sẽ tuân theo tiêu chuẩn thống nhất trên toàn thế giới để hòa nhập vào với cộng đồng ngân hàng trên thế giới

2 Công nghệ Blockchain:

a Khái niệm:

 Blockchain là một cơ sở dữ liệu phân tán được chia sẻ giữa các nút của mạng máy tính Là một cơ sở dữ liệu, một chuỗi khối lưu trữ thông tin điện tử ở định dạng kỹ thuật số Blockchains được biết đến nhiều nhất với vai trò quan trọng của chúng trong các hệ thống tiền điện tử, chẳng hạn như Bitcoin, để duy trì hồ sơ giao dịch

an toàn và phi tập trung Sự đổi mới với blockchain là nó đảm bảo tính trung thực

và bảo mật của bản ghi dữ liệu và tạo ra sự tin cậy mà không cần bên thứ ba đáng tin cậy

Trang 6

 Quy trình giao dịch của Blockchain được hiểu như sau:

- Khi có một mã giao dịch mới được nhập vào sẽ được truyền tới một mạng lưới các máy tính có liên kết nhau nằm rải rác trên thế giới, các mạng máy tính này

sẽ thiết lập giải các mã phương trình để xác định tính hợp lệ của giao dịch

- Sau khi được xác nhận là các giao dịch hợp pháp, chúng được nhóm lại với nhau thành các khối

- Các khối này được liên kết với nhau và được lưu trữ vĩnh viễn với nhau

b Lợi ích của việc sử dụng Blockchain:

 Tiết kiệm chi phí: cắt giảm được các quy trình xác minh không cần thiết, giảm thiểu các lỗi và một phần là nó giảm tải việc lưu trữ bằng giấy truyền thống

 Tính bảo mật cao: Dữ liệu một khi được cập nhật vào hệ thống thì rất khó giả mạo

và chỉnh sửa, bởi nó sẽ được chia sẻ và được xác nhận bởi hàng triệu máy tính trong mạng lưới

 Dữ liệu không bị mất: Trong mạng Blockchain, nếu như một máy tính bị sập thì dữ liệu trên đó hoàn toàn không bị mất bởi các máy tính khác trong hệ thống đó đã sở hữu bản sao cuốn sổ cái

 Giao dịch xuyên biên giới: Nếu như các giao dịch trước kia bị hạn chế bởi múi giờ

và cần phải có sự xác nhận của tất cả các bên thì Blockchain hạn chế sự tham gia của con người vào quá trình xử lý, điều này tạo điều kiện cho các giao dịch xuyên biên giới

Trang 7

 Đảm bảo sự minh bạch: Bạn không bao giờ có thể giả mạo trên mạng Blockchain nhờ sự minh bạch và khả năng kiểm toán của công nghệ này Vậy nên rất nhiều tổ chức đã tận dụng ưu điểm này để chống rửa tiền

 Giảm thiểu sự chậm trễ khi xử lý giao dịch

3 BPO

a Khái niệm:

 BPO viết tắt của Business Process Outsourcing, là thuê một công ty khác thực hiện một dịch vụ nhất định Các ngành như CNTT, y tế, tài chính, dịch vụ khách hàng

và kế toán là một trong số những ngành sử dụng dịch vụ thuê ngoài BPO nhiều nhất

 Vậy tại sao phải sử dụng BPO :

- Các công ty hoạt động với hiệu suất cao, cố gắng đạt được nhiều mục tiêu cùng lúc, dẫn đến việc đặt nguồn lực của họ gặp phải rất nhiều áp lực và cuối cùng, làm cho năng suất bị giảm Vì vậy đây là lúc BPO được sinh ra

để giải quyết các vấn đề đó Điều này có nghĩa là “nhờ” những công ty khác

có khả năng làm tốt hơn công ty của mình để các quy trình kinh doanh khác nhau có thể hoàn thành cùng một lúc với sự chính xác cao Thay vì mình phải tiến hành đào tạo nội bộ sâu rộng để giúp nhân viên của mình hiểu rõ hơn về các việc cần làm giờ đây với dịch vụ thuê ngoài BPO, mình có thể làm việc với một nhóm các chuyên gia có trình độ cao Bằng cách này, mình

có thể loại bỏ một khối lượng lớn các công việc để tập trung vào việc khác

b Lợi ích của việc sử dụng BPO:

 Giảm chi phí

- Giúp doanh nghiệp bạn cắt giảm chi phí và tiết kiệm tiền

- BPO đem đến một đội ngũ nhân viên có năng và và chuyên nghiệp với mức lương thấp hơn dẫn đến việc giảm chi phí đáng kể, tăng doanh thu cho công ty

Trang 8

 Có sẵn các chuyên gia có kinh nghiệm

- Thay vì phải tốn thời gian và chi phí đào tạo nhân viên mới thì giờ đây mình

có thể thuê một công ty khác ở bên ngoài làm giúp mình với kết quả tốt nhất

 Tập trung vào kinh doanh cốt lõi

- Một số lượng lớn công việc được giao cho một công ty ngoài khác dẫn đến năng suất làm việc tốt hơn giúp đưa ra những quyết định kinh doanh đúng đắn và sáng suốt hơn

 Nguồn nhận phản hồi của khách hàng

- Các nhân viên BPO ở một số lĩnh vực như chăm sóc khách hàng có kinh nghiệm liên hệ trực tiếp với khách hàng, họ có thể nhận được những phản hồi trực tiếp về sản phẩm, dịch vụ nhằm đưa ra những cải thiện các dịch vụ được cung cấp

 Truy cập vào các công nghệ được cập nhật mới nhất

- Việc đầu tư vào công nghệ và các phần mềm mới nhất thực sự gây tốn kém Đôi khi nó còn gây rủi ro đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ không có nguồn ngân sách ổn định Việc thuê ngoài giúp các công ty có quyền truy cập vào những công nghệ có chuyên môn, lĩnh vực với chi phí rẻ hơn nhưng vẫn đem lại lợi ích

III Ưu nhược điểm của việc áp dụng công nghệ số vào hoạt động thanh toán trong ngân hàng:

1 Ưu điểm:

 Công nghệ số mang đến nhiều thuận lợi cho hoạt động thanh toán quốc tế trong ngân hàng như :

- Tiết kiệm thời gian, chi phí

- Tạo ra nơi hoạt động và kết nối chung cho các ngân hàng trên thế giới và khiến cho việc trao đổi, chia sẻ thông tin, dữ liệu trở nên dễ dàng nhưng vẫn

có tính bảo mật cao

Trang 9

 Đối với mỗi quốc gia thì điều kiện, nhu cầu, quy định pháp lý và phương thức hoạt động tại các ngân hàng cũng đã có sự khác biệt Việc tạo ra quy định, thống nhất phương thức hoạt động, nói ra thì có vẻ dễ nhưng lại có khá nhiều vấn đề

 Chưa kể đến nhu cầu của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các cá nhân, tổ chức

có nhu cầu thanh toán quốc tế có thể không quan tâm hay còn nhiều lo sợ về tính pháp lý, an toàn hay chi phí các các giải pháp công nghệ này nên không lựa chọn

sử dụng

IV Thực trạng và giải pháp cho công nghệ số trong thanh toán quốc tế tại Ngân hàng ở Việt Nam.

1 Thực trạng ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thanh toán của ngân hàng:

 Ngay từ khi triển khai nghiệp vụ TTQT, các NHTM Việt Nam luôn xác định công nghệ là chìa khóa để mở cánh cửa hoạt động TTQT Hầu hết các NHTM Việt Nam đều là thành viên của SWIFT và chủ yếu sử dụng công nghệ này trong TTQT Tất

cả các giao dịch TTQT đều được ngân hàng thực hiện bằng cách gửi điện qua hệ thống SWIFT Ngoài ra, mỗi ngân hàng còn thiết kế những chương trình công nghệ riêng nhằm hiện đại hóa quá trình quản lý và vận hành mô hình hoạt động TTQT

 Việc ứng dụng các công nghệ mới như công nghệ so khớp dữ liệu trong phương thức BPO hay công nghệ Blockchain trong hoạt động TTQT tại các ngân hàng Việt Nam còn khiêm tốn Thực tế, cho đến nay, gần 10 năm kể từ khi phương thức thanh toán BPO ra đời với tính năng trao đổi cơ sở dữ liệu điện tử, vẫn chưa có một NHTM Việt Nam nào triển khai BPO Trong khi đó, công nghệ Blockchain đang được chú ý ngày càng cao và đã được thử nghiệm trong các giao dịch TTQT tại thị trường Việt Nam từ năm 2019

- Mở đầu cho cuộc thử nghiệm này là giao dịch L/C của ngân hàng HSBC chi nhánh Việt Nam được thực hiện giữa bên mua là Công ty Cổ phần Sản xuất Nhựa Duy Tân của Việt Nam và bên bán là công ty INEOS Styrolution Korea của Hàn Quốc, hai doanh nghiệp lớn trong ngành sản xuất nhựa Trong đó, HSBC Việt Nam đóng vai trò là ngân hàng phát hành và HSBC

Trang 10

Hàn Quốc đóng vai trò là ngân hàng thông báo và ngân hàng được chỉ định Giao dịch này được tiến hành trên Voltron một nền tảng của Blockchain

- Tháng 9 năm 2020, NHTM cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)

đã thực hiện thành công giao dịch phát hành L/C xác nhận liên ngân hàng trên mạng lưới tài chính thương mại toàn cầu Contour và trở thành NHTM Việt Nam đầu tiên ứng dụng công nghệ Blockchain trong hoạt động TTQT Giao dịch này diễn ra giữa bên mua là Công ty Cổ phần nhựa Opec của Việt Nam và bên bán là một tập đoàn lớn tại Thái Lan với sự tham gia của BIDV Việt Nam là ngân hàng phát hành, ngân hàng thông báo và xác nhận L/C là Standard Chartered Thái Lan với sự phối hợp của Standard Chartered Việt Nam, ngân hàng bảo lãnh xác nhận là Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) Khác với giao dịch L/C sử dụng công nghệ Blockchain đã được thực hiện cách đây một năm của HSBC Việt Nam, đây là giao dịch phát hành L/C đầu tiên tại Việt Nam được thực hiện giữa các ngân hàng khác hệ thống

- Tiếp theo sau đó, HDBank và Vietinbank cũng chính thức công bố về giao dịch phát hành L/C đầu tiên của mình trên nền tảng ứng dụng Contour một nền tảng tài trợ thương mại sử dụng công nghệ Blockchain vào tháng 11 năm 2020

 Sở dĩ công nghệ so khớp dữ liệu điện tử trong phương thức BPO và công nghệ Blockchain chưa được sử dụng rộng rãi tại các NHTM Việt Nam xuất phát từ nhiều nguyên nhân Ở góc độ vĩ mô, cơ sở pháp lý và cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tại Việt Nam chưa tạo ra các điều kiện cần thiết để các ngân hàng mạnh dạn áp dụng các công nghệ mới này vào hoạt động TTQT Ở góc độ vi mô, các ngân hàng còn ngần ngại về vấn đề chi phí khi gia nhập vào TSU hay ứng dụng công nghệ Blockchain và chưa thực sự tin tưởng vào tiềm năng phát triển mô hình công nghệ số này trong lĩnh vực TTQT Hơn nữa, một số ngân hàng e ngại rằng BPO sẽ làm cho nhu cầu sử dụng sản phẩm thư tín dụng bị giảm đi trong khi sản phẩm này mang lại nguồn thu phí hấp dẫn cho ngân hàng Về phía khách hàng, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng không “mặn mà” với những phương thức giao

Trang 11

dịch sử dụng công nghệ mới bởi tâm lý thói quen với giao dịch theo kiểu truyền thống và không đủ điều kiện tài chính để đổi mới công nghệ

2 Giải pháp:

 Hoàn thiện và phát triển các công nghệ đang sử dụng

- Các ngân hàng phải quyết các vấn đề công nghệ kỹ thuật còn đang gặp phải trong quá trình TTQT.Thêm vào đó là học hỏi kinh nghiệm từ các ngân hàng trên thế giới, tận dụng những tiện ích của công nghệ để nghiên cứu phát triển kênh ngân hàng trực tuyến trong quy trình xử lý nghiệp vụ TTQT (Chẳng hạn như trong giao dịch chuyển tiền bằng điện T/T với quy trình nghiệp vụ và hồ sơ giấy tờ đơn giản, doanh nghiệp có thể nhập thông tin đề nghị chuyển tiền và Scan hồ sơ (có chữ ký điện tử) trên hệ thống ngân hàng trực tuyến Ngân hàng

xử lý và trả điện chuyển tiền cho doanh nghiệp thông qua hệ thống này.)

 Đẩy mạnh việc ứng dụng các công nghệ mới trong hoạt động TTQT như sử dụng phương thức thanh toán BPO với công nghệ so khớp dữ liệu và công nghệ Blockchain

- Tuy các công nghệ mới này đã được ứng dụng trong thực tiễn hoạt động TTQT trên toàn cầu nhưng vẫn chưa được ứng dụng rộng rãi Hoạt động TTQT liên quan đến nhiều bên tham gia ở các quốc gia với quy mô, khả năng và nhu cầu

số hóa khác nhau Việc sử dụng phải được thống nhất, với các tiêu chuyển pháp

lý, hoạt động và dữ liệu chung cho nên thực sự cần thiết trong việc tăng số lượng các ngân hàng cùng sử dụng các công nghệ này Nâng cao sự phổ biến và lực lượng ứng dụng thì những tiện ích công nghệ này mới thực sự phát huy được tiện ích của chúng

- Nói đến pháp lý thì các quốc gia cũng cần có những điều luật riêng dành cho các hoạt động ứng dụng công nghệ số trong TTQT tại quốc gia mình Nhằm hợp thức hóa các hoạt động này và cũng là để cho các ngân hàng trong nước có nền tảng dựa vào khi sử dụng các công nghệ này

- Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng cần cập nhật kiến thức và thông tin liên tục và nhanh chóng về các công nghệ cũng như hoạt động TTQT để có thể tìm

Ngày đăng: 07/12/2022, 19:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w