1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ USSH việc hòa nhập môi trường học tập của trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV từ góc nhìn công tác xã hội (nghiên cứu trường hợp phường trung tâm, thị xã nghĩa lộ, tỉnh yên bái)

102 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Việc hòa nhập môi trường học tập của trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV từ góc nhìn công tác xã hội (nghiên cứu trường hợp phường trung tâm, thị xã nghĩa lộ, tỉnh yên bái)
Tác giả Lệ Thị Quỳnh Trang
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Công tác xã hội
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm góp phần trả lời những câu hỏi này, trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ công tác xã hội, tác giả triển khai đề tài nghiên cứu “Việc hòa nhập môi trường học tập của trẻ em bị ảnh hưởng

Trang 1

Đại học quốc gia hà nội

trƯỜng đại học khoa học xã hội và nhân văn

=====================

Lấ THỊ QUỲNH TRANG

VIỆC HếA NHẬP MễI TRƯỜNG HỌC TẬP CỦA TRẺ EM

BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI HIV TỪ GểC NHèN CễNG TÁC XÃ HỘI

(NGHIấN CỨU TRƯỜNG HỢP PHƯỜNG TRUNG TÂM, THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YấN BÁI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CễNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội - 2016

Trang 2

Đại học quốc gia hà nội

TrƯỜNG đại học khoa học xã hội và nhân văn

=====================

Lấ THỊ QUỲNH TRANG

VIỆC HếA NHẬP MễI TRƯỜNG HỌC TẬP CỦA TRẺ EM

BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI HIV TỪ GểC NHèN CễNG TÁC XÃ HỘI

(NGHIấN CỨU TRƯỜNG HỢP PHƯỜNG TRUNG TÂM, THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YấN BÁI)

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện

Các số liệu, kết quả nghiên cứu và các kết luận được trình bày trong luận văn hoàn toàn trung thực và chưa được công bố ở bất kỳ một nghiên cứu nào khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên

Lê Thị Quỳnh Trang

Trang 4

Xin chân thành cảm ơn Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các phòng, đoàn thể phường Trung Tâm, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái, cùng các anh chị trong Phòng Lao động - Thương binh và xã hội, Trung tâm Y tế thị xã Nghĩa Lộ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành tốt công trình nghiên cứu này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các gia đình, các em nhỏ bị ảnh hưởng bởi HIV đã hợp tác với tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài

Đề tài nghiên cứu liên quan đến HIV/AIDS - lĩnh vực nhạy cảm nên tôi gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập thông tin Dù đã rất cố gắng và tâm huyết với

đề tài nhưng do kiến thức của bản thân về lĩnh vực nghiên cứu chưa thực sự chuyên sâu, thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía các thầy cô giáo để Luận văn của tôi được hoàn chỉnh và chất lượng hơn

Hà Nội, tháng 3 năm 2016

Tác giả

Lê Thị Quỳnh Trang

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5

2.1 Nghiên cứu nước ngoài 6

3 Ý nghĩa của nghiên cứu 13

4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 13

5 Mục tiêu nghiên cứu 14

6 Phạm vi nghiên cứu 14

7 Câu hỏi nghiên cứu 14

8 Phương pháp nghiên cứu 15

9 Kết cấu của luận văn 18

NỘI DUNG 19

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 19

1.1 Các khái niệm công cụ 19

1.1.1 Trẻ em 19

1.1.2 HIV/AIDS 19

1.1.3 Trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV 20

1.1.4 Môi trường học tập 21

1.1.5 Hòa nhập xã hội và hòa nhập môi trường học tập 21

1.2 Các lý thuyết vận dụng 22

1.2.1 Thuyết nhu cầu của Maslow 22

1.2.2 Thuyết hệ thống sinh thái 26

1.2.3 Lý thuyết nhận thức – hành vi 27

1.3 Một số văn bản luật, chính sách liên quan đến vấn đề nghiên cứu 29

1.3.1 Công ước Quốc tế về quyền trẻ em 29

1.3.2 Luật phòng chống HIV/AIDS 30

1.3.3 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 31

1.3.4 Các văn bản, chính sách của Nhà nước hỗ trợ trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS 31

1.3.5 Chính sách về y tế đối với người nhiễm HIV 33

Tiểu kết chương 1 35

Trang 6

Chương 2 THỰC TRẠNG HÕA NHẬP MÔI TRƯỜNG HỌC TẬP CỦA

TRẺ EM BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI HIV 36

2.1 Khái quát chung về phường Trung Tâm, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái 36

2.2 Việc hòa nhập môi trường học tập của trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV 39

2.2.1 Tổng quan về nhóm người nhiễm HIV 39

2.2.2 Trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV và việc hòa nhập môi trường học tập 43

2.3 Những rào cản đối với việc hòa nhập môi trường học tập của trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV 45

2.3.1 Rào cản từ cộng đồng 45

2.3.2 Rào cản từ nhà trường 54

2.3.3 Rào cản từ gia đình 59

2.3.4 Rào cản từ bản thân trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV 63

2.4 Nguyên nhân dẫn đến rào cản đối với việc hòa nhập môi trường học tập của trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV 66

2.4.1 Nguyên nhân chủ quan 66

2.4.2 Nguyên nhân khách quan 67

2.5 Nhu cầu của trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV 70

Tiểu kết chương 2 73

Chương 3 NHU CẦU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC HỖ TRỢ TRẺ BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI HIV HÕA NHẬP MÔI TRƯỜNG HỌC TẬP 74

3.1 Hoạt động giáo dục 74

3.2 Hoạt động biện hộ 77

3.3 Hoạt động tham vấn 80

3.4 Hoạt động kết nối nguồn lực 81

3.5 Làm việc nhóm với trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV 84

Tiểu kết chương 3 86

KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

PHỤ LỤC 94

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Các nhà lãnh đạo của Việt Nam và thế giới đã công nhận, đại dịch HIV/AIDS được coi là gánh nặng bệnh tật lớn và bệnh ưu tiên toàn cầu Dịch là mối hiểm họa với tính mạng, sức khỏe con người và tương lai của các quốc gia, có tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, trật tự và an toàn xã hội, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước Ở Việt Nam, nhiễm HIV có gánh nặng bệnh tật trong các bệnh truyền nhiễm Tính đến 30/9/2014, Việt Nam có 224.223 người nhiễm HIV và 69.617 người đã chuyển sang giai đoạn AIDS được báo cáo là còn sống, tổng số người tử vong liên quan đến HIV/AIDS lũy tích là 70.734 trường hợp

Tỷ lệ nhiễm HIV chung trong cộng đồng là khoảng 0,26% dân số [5] Theo số liệu

về tháng hành động Quốc gia phòng chống HIV/AIDS cũng chỉ ra rằng, mỗi ngày

cả nước phát hiện thêm 34 người nhiễm HIV/AIDS Tuy dịch HIV/AIDS ở Việt Nam đã bị kiềm chế ở mức thấp, số người mới phát hiện nhiễm dịch đã giảm liên tục trong 4 năm gần đây nhưng con số này vẫn chưa đủ bền vững Nếu dịch bệnh HIV/AIDS ban đầu chỉ có tại các thành phố lớn thì nay nó đã xuất hiện trên tất cả các tỉnh, thành phố dọc theo chiều dài đất nước Dịch bệnh này không những sẽ ngày đêm cướp đi sinh mạng của hàng nghìn người mà còn tạo ra những gánh nặng

về vật chất và tinh thần cho gia đình nạn nhân và toàn xã hội

Dịch HIV/AIDS vẫn tiếp tục lây lan với xu hướng tăng về số người nhiễm HIV/AIDS vốn được coi là những người có ít nguy cơ như phụ nữ mang thai Trong

số những đứa trẻ được sinh ra từ những cha mẹ bị nhiễm HIV/AIDS thì một phần không nhỏ trong số đó chết trước khi chúng được một tuổi, hơn một nửa số đó có thể sống lâu hơn nếu được chăm sóc tốt Điều đó cũng có nghĩa là, trẻ bị nhiễm HIV/AIDS vẫn có quyền được sống, được vui chơi và trẻ cần được đến trường để phát triển trí tuệ và năng lực xã hội, bởi trẻ có HIV không thể truyền bệnh cho người khác qua những hoạt động thông thường [24]

Nhận thức từ thực tế qua việc trẻ bị nhiễm HIV/AIDS bị hạn chế các hoạt động

và giao tiếp xã hội, từ những nỗi sợ hãi có căn cứ như: bệnh có tính nguy hiểm, không

có thuốc chữa; tốc độ lây bệnh nhanh trong cộng đồng; do sự hiểu biết cơ bản về bệnh

Trang 8

trong người dân còn hạn chế; một bộ phận truyền thông sử dụng các hình ảnh chết chóc gắn liền với căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS…và chính những điều đó đã khiến việc chống lại sự kỳ thị và phân biệt đối xử với trẻ ngày càng khó khăn hơn

Trẻ em luôn là đối tượng được sự quan tâm, chăm sóc đặc biệt của Đảng, Nhà nước, việc bảo vệ các quyền của trẻ em trở thành nguyên tắc hiến định, và trách nhiệm đó thuộc về Nhà nước, cụ thể là các cơ quan trong bộ máy nhà nước có liên quan, các tổ chức xã hội và mọi công dân Để tiến đến kết thúc đại dịch HIV/AIDS, chương trình phối hợp về HIV/AIDS của Liên hợp quốc đã đưa ra mục

tiêu “Ba không” bao gồm: Không có trường hợp nhiễm HIV mới, không có người

tử vong vì HIV/AIDS và không còn kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người nhiễm HIV/AIDS Chính vì tầm quan trọng này, Thủ tướng Chính phủ đã ký phê duyệt Kế

hoạch hành động quốc gia vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS giai đoạn 2014 –

2020, phấn đấu đến năm 2020 có đến 90% trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS trong diện quản lý được cung cấp dịch vụ về y tế, giáo dục, tư vấn, hỗ trợ dinh dưỡng và phát triển thể chất, chăm sóc thay thế, vui chơi giải trí và các chính sách

xã hội theo quy định [23]

Thị xã Nghĩa Lộ nằm ở phía Tây của tỉnh Yên Bái, cách trung tâm thành phố 84km dọc theo quốc lộ 32 Nơi đây tập trung nhiều dân tộc anh em sinh sống như Kinh, Tày, Thái, Mông…, với việc mở rộng địa giới hành chính theo Nghị định số 167/2003/NĐ-CP ngày 24/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính mở rộng thị xã Nghĩa Lộ và thị trấn Yên Thế thuộc huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái đã giúp thị xã tăng thêm nguồn lao động tích cực tham gia lao động sản xuất, đảm bảo chất lượng cuộc sống Nhưng xuất phát từ việc đáp ứng những nhu cầu cần thiết cho cuộc sống mà một phần lớn nhóm đối tượng có tư tưởng sai lệch, lười lao động hay thích tìm tòi cái mới, mạo hiểm và sa vào các tệ nạn xã hội,

để lại hậu quả chính là nhiễm căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS Thêm việc quan hệ tình dục không lành mạnh của bố mẹ chúng nên những đứa trẻ được ra đời, được sinh ra

và lớn lên từ những gia đình có người thân nhiễm HIV/AIDS và chính bản thân chúng bị nhiễm HIV/AIDS có xu hướng gia tăng, cản trở đến sự phát triển chung của kinh tế - xã hội tại địa phương

Trang 9

Cùng với mục đích tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS, từ năm 2012, Bộ Lao động, Thương binh và

xã hội đã triển khai thí điểm mô hình kết nối dịch vụ chăm sóc trẻ em bị nhiễm

HIV/AIDS tại 08 tỉnh: Thái Nguyên, Hải Phòng, Bà Rịa – Vũng Tàu, Nam Định, Khánh Hòa, Phú Thọ, Quảng Nam và Yên Bái Tỉnh Yên Bái là tỉnh có số trẻ em

được đến trường với tỷ lệ cao, tuy nhiên nhóm trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV được chia làm 2 nhóm nhỏ: nhóm trẻ có HIV và nhóm trẻ có người thân bị nhiễm HIV

Phường Trung Tâm là một trong số bốn phường của thị xã tập trung đông dân cư,

có số lượng người nhập cư chiếm tỷ lệ cao nên việc du nhập những trào lưu mới, sự pha trộn giữa nhiều phong tục tập quán cũng làm thay đổi suy nghĩ, nhận thức của người dân Một lượng lớn dân cư tại phường chưa có việc làm ổn định, hơn nữa là lao động trẻ nên dẫn đến việc lười lao động, thích tìm tòi cái mới, hoặc nếu có du nhập từ nơi khác tới cũng chính là cơ hội tiêu cực mang bệnh tật từ vùng miền khác tới, khiến mất kiểm soát trong việc quản lý nguồn lao động và dịch bệnh tại cộng đồng Đây được đánh giá là nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng lây nhiễm của căn bệnh thế kỷ, mà nhóm bị ảnh hưởng nhiều nhất là trẻ em [35] Thực tế này đặt

ra các câu hỏi đáng lưu ý dưới góc nhìn công tác xã hội là: Quá trình hòa nhập môi trường học tập của trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV ở địa phương này như thế nào? Có những rào cản nào đối với việc hòa nhập môi trường học tập của trẻ em ở đây?

Nhằm góp phần trả lời những câu hỏi này, trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ công

tác xã hội, tác giả triển khai đề tài nghiên cứu “Việc hòa nhập môi trường học tập

của trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV từ góc nhìn Công tác xã hội (Nghiên cứu trường hợp phường Trung Tâm, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái)”

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Trẻ em được coi là khách thể nghiên cứu chủ yếu trong những công trình nghiên cứu gần đây, đặc biệt nhóm trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV được quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều ngành khoa học tiêu biểu như y học, yã hội học, giáo dục học, mỗi tài liệu nghiên cứu đều đưa ra những kết luận dựa trên sự quan sát nghiên cứu từ thực tiễn Phần sau, tác giả xin đề cập tới một số nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Trang 10

2.1 Nghiên cứu nước ngoài

Một nghiên cứu đánh giá của dự án Phòng chống HIV/AIDS cho các nhóm Dân tộc thiểu số khu vực thượng nguồn sông Mekong của UNESCO khu vực châu

Á Thái Bình Dương chỉ ra rằng: hoạt động truyền thông dựa vào cộng đồng mang lại nhiều hiệu quả Truyền thông qua băng đĩa hình không phải là một sản phẩm công nghệ cao nhưng nó mang sức hấp dẫn lớn đối với dân làng khi xem để giải trí

Truyền thông bằng áp phích cũng được xem là có giá trị, nhưng chỉ trong thời gian ngắn Các giáo viên được đào tạo về HIV/AIDS, định kỳ họ đi xuống các thôn bản

và gia đình tổ chức các buổi tập huấn phòng chống HIV/AIDS cho dân bản và đem lại hiệu quả lớn [42]

Nghiên cứu đánh giá về kiến thức và thái độ về HIV/AIDS tại Mashhad, Iran gồm 960 người ở độ tuổi 13-58 tuổi được tiếp cận trên đường phố và đồng ý tham gia hoàn thành một bảng câu hỏi vô danh Có những quan niệm sai lầm quan trọng

về lây nhiễm HIV chẳng hạn như HIV lây qua ôm, thực phẩm, quần áo, nơi công cộng và côn trùng cắn Phân tích hồi quy cho thấy rằng phụ nữ có thái độ khoan dung hơn so với nam giới và người có trình độ học vấn cao thì kiến thức và thái độ đối với HIV/AIDS tốt hơn [43]

Một nghiên cứu khác được thực hiện trên quy mô lớn ở Trung Quốc với sự tham gia của hơn 6.000 người tại sáu thành phố: Bắc Kinh, Thượng Hải, Côn Minh, Thẩm Quyến, Vũ Hán, Trịnh Châu được tiến hành bởi đại học Renmin, UNAIDS và Liên minh doanh nghiệp toàn cầu về HIV/AIDS, lao và sốt rét (GBC) Kết quả nghiên cứu này cho kết quả rằng: các mối quan hệ với người nhiễm HIV vẫn bị cộng đồng kỳ thị

và có những quan niệm sai lầm như: sinh viên/trẻ em nhiễm HIV không nên học chung với trẻ không nhiễm; không muốn ăn chung với người nhiễm HIV; không muốn sống chung với người nhiễm HIV [44]

2.2 Nghiên cứu trong nước

Bên cạnh các nghiên cứu nước ngoài, các tác giả trong nước quan tâm đến vấn đề này cũng thể hiện quan điểm của mình về toàn cảnh cuộc sống của trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS qua các nghiên cứu sau:

Trang 11

Trong nghiên cứu về “Tình hình các gia đình và trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS ở Việt Nam” – Bộ Lao động Thương binh và xã hội, Unicef, Hà Nội,

2005 đã chỉ rõ tình hình của đại dịch ở Việt Nam, trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS và những người chăm sóc các trẻ em này ở Việt Nam, từ đó xây dựng các biện pháp đối phó dựa vào cộng đồng Tài liệu chủ yếu tập trung nhằm đảm bảo

sự bảo vệ và hỗ trợ trẻ em mồ côi, trẻ em ở các gia đình bị tổn thương do HIV/AIDS Ngoài ra còn nêu sự thỏa đáng của chính sách và pháp luật; cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội; các biện pháp bảo vệ trẻ em bị nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tránh khỏi bạo lực, bóc lột và lạm dụng Và đưa ra những chiến lược hoạch định chương trình trên diện rộng cho trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS [2]

Tài liệu “Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam: Đánh giá pháp luật

và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam”

do Bộ Lao động Thương binh xã hội và Unicef cùng phối hợp thực hiện năm 2009

là sự phối hợp giữa các chuyên gia của một số bộ, ngành liên quan tiến hành đánh giá các văn bản pháp luật, tập trung đến pháp luật đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, so sánh với các chuẩn mực quốc tế, tìm ra những thiếu hụt và hạn chế của pháp luật Việt Nam, trên cơ sở đó kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, đảm bảo từng bước hài hòa với pháp luật và các chuẩn mực quốc tế [3]

Cuốn tài liệu “Sự thật về trẻ em và HIV/AIDS” của Nhà xuất bản Thông tin

năm 2010, là tài liệu truyền thông dành cho cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, cha

mẹ học sinh và cộng đồng Tài liệu cung cấp một số thông tin liên quan đến trẻ em

và HIV/AIDS, góp phần xóa bỏ các quan niệm sai lầm, qua đó giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS Trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS cũng như những trẻ em khác đều có quyền cơ bản được quy định trong Công ước về quyền trẻ em của Liên hợp quốc và Luật phòng chống HIV/AIDS của Việt Nam [1]

Nội dung của ”Hướng dẫn tổ chức hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tuyến

xã, phường” năm 2012 của Nguyễn Thanh Long và Chu Quốc Ân đã nêu ra các

hoạt động tại tuyến xã, phường có vai trò quan trọng vì đây là tuyến cuối cùng triển khai thực hiện các quy định, hướng dẫn cũng như các hoạt động phòng, chống

Trang 12

HIV/AIDS đến từng hộ gia đình và từng người dân như thông tin giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi trong phòng, chống HIV/AIDS Đề tài cũng đưa ra cách thức huy động toàn dân tham gia phòng, chống HIV, đẩy mạnh truyền thông, tuyên truyền nâng cao nhận thức và giảm thái độ kỳ thị, xa lánh [18]

Trong tính hiệu quả của liệu pháp ARV bậc I ở trẻ nhiễm HIV Việt Nam –

Phân tích sau 12 tháng của Lư Doanh Doanh – HAIVN (Chương trình AIDS của Đại học Harvard tại Việt Nam) cho thấy dạng lây truyền HIV chủ yếu từ mẹ sang

con Điều trị ARV giúp trẻ phục hồi miễn dịch và giảm tỷ lệ mắc các nhiễm trùng

cơ hội, tuy vậy tỷ lệ tử vong cao nhất trong 3 tháng đầu điều trị ARV [15]

Nghiên cứu “Kiến thức – Thái độ - Thực hành về phòng chống HIV/AIDS”

qua tiến hành cắt ngang mô tả trên 750 học sinh trung học phổ thông trong năm

2005 – 2006 tại thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, kết quả phần lớn học sinh

đã có nhận thức đúng về phòng chống HIV/AIDS cao nhưng không đầy đủ, quan hệ tình dục ngoài hôn nhân không sử dụng bao cao su và hành vi sử dụng ma túy trong học sinh là điều chúng ta đáng quan tâm trong thời gian tới

Đề tài nghiên cứu “Trẻ em nhiễm HIV ở Việt Nam: các nhân tố xã hội ảnh hưởng tới tiếp cận chăm sóc y tế, từ tháng 8/2009 đến tháng 6/2011” của Hà Thúc

Dũng – Trung tâm Xã hội học và Bùi Đức Kính – Trung tâm Nghiên cứu môi trường Viện Khoa học Xã hội đăng trên tạp chí Khoa học xã hội số 7(179)-2013,

được nghiên cứu tại 04 cơ sở y tế đang điều trị cho trẻ nhiễm HIV tại Hà Nội (bệnh viện Nhi Trung ương) và thành phố Hồ Chí Minh (bệnh viện Nhi đồng I, Nhi đồng II

và phòng khám An Hòa) theo độ trẻ từ dưới 3 tháng đến 50 tháng tuổi trở lên [8]

Nghiên cứu cho thấy tình trạng kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người có HIV/AIDS có giảm nhưng vẫn còn ở mức khá cao Đề tài nghiên cứu của nhóm sinh viên trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia thành

phố Hồ Chí Minh về vấn đề của trẻ nhiễm HIV tại mái ấm Mai Tâm (phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh) năm 2015 hướng tới việc làm rõ

và phân tích thực trạng vấn đề học tập của trẻ là: trẻ mẫu giáo không được đi học ở

trường, học lực kém, giáo dục kỹ năng mềm còn hạn chế (nghiên cứu chủ yếu ở hai

Trang 13

nhà Bình Triệu và Gò Vấp), chỉ ra những hạn chế trong việc tiếp cận môi trường học

tập của trẻ nhưng chỉ giới hạn trong phạm vi mái ấm tình thương [25]

Trong “Nghiên cứu về tiếp cận dịch vụ chăm sóc, điều trị và hỗ trợ cho phụ

nữ và trẻ em nhiễm HIV trong cộng đồng người dân tộc thiểu số tại Điện Biên, Kon Tum và An Giang” của Trịnh Hữu Vách và Nguyễn Đình Cường tập trung vào khả

năng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc và điều trị HIV/AIDS của phụ nữ nhiễm HIV và trẻ em có nguy cơ/dễ bị ảnh hưởng trong các nhóm dân tộc thiểu số sống ở miền núi và vùng sâu, vùng xa Các kết quả trong nghiên cứu cũng chỉ ra các

cơ sở cung cấp dịch vụ hiện có tại các tỉnh được bố trí không đồng đều, nguồn ngân sách hỗ trợ không giống nhau [27]

Các công trình nghiên cứu có liên quan đến nhóm người nhiễm HIV/AIDS, chỉ ra được rằng vấn đề này đang được xem xét là một trong các vấn đề phát triển quan trọng ở Việt Nam, chính nó là thách thức lớn và cần được thúc đẩy thảo luận trong nỗ lực tìm cách đưa ra những biện pháp cần thiết để giải quyết những vấn đề này như:

Báo cáo “Trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS ở Việt Nam” giữa Ủy ban dân

số gia đình trẻ em, Bộ Lao động Thương binh và xã hội, Hội Phụ nữ và Bộ Tư pháp năm 2006 là tài liệu tập trung nghiên cứu sửa đổi chính sách nhằm hỗ trợ các giải pháp tích cực của Nhà nước, cải thiện tình hình trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS

ở Việt Nam; chủ yếu tập trung vào các văn kiện pháp luật và chính sách về bảo trợ

xã hội, phúc lợi xã hội và pháp luật hiện hành tạo điều kiện hay hoạt động như một vật cản như thế nào với việc bảo vệ và thực thi các quyền cơ bản của trẻ em Việt Nam bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS trong lĩnh vực này [31]

Báo cáo “Vận dụng phương pháp của công tác xã hội cá nhân vào việc can thiệp, trợ giúp trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS trên địa bàn thành phố Hà Nội”

năm 2010 của Phạm Văn Tư – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, báo cáo đi sâu nghiên cứu việc ứng dụng của công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ cho nhóm trẻ em có HIV/AIDS; đặc biệt công tác tham vấn nhằm giúp trẻ vượt qua những mặc cảm, tự ti của bản thân để vươn lên hòa nhập xã hội [22]

Trang 14

Luận văn “Biện hộ thực hiện quyền trẻ em của nhóm trẻ em có HIV/AIDS tại Trung tâm Lao động 02 Ba Vì – Hà Nội” của Hà Thị Thắng, chuyên ngành Công

tác xã hội, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã đánh giá được thực trạng của việc thực hiện quyền liên quan đến nhóm trẻ em trên địa bàn, qua đó tìm hiểu những nguyên nhân, rào cản hạn chế việc thực hiện quyền đối với nhóm trẻ có HIV tại trung tâm trong việc tiếp cận các dịch

vụ và hòa nhập xã hội Qua đó đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả của công tác thực hiện quyền [11]

Đề tài “Biện pháp giáo dục phòng chống ma túy cho học sinh trong trường trung học cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Lê Văn Cuộc (2009) tại

một số trường trung học cơ sở thuộc 3 huyện ngoại thành và 3 quận nội thành tại thành phố Hồ Chí Minh Kết quả nghiên cứu cũng chỉ rõ việc cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cộng đồng xã hội, nhất là thanh thiếu niên để nhận biết và phòng ngừa là nhiệm vụ đầu tiên Cần có sự kết hợp đồng bộ giữa trị liệu tâm lý và liên kết các thành viên trong môi trường gia đình – nhà trường – cộng đồng là quan trọng

mà trong đó giáo dục giữ vai trò nòng cốt [14]

Nghiên cứu “Giảm thiểu kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS tại nơi làm việc ở Việt Nam”, tháng 6/2004, tài liệu thảo luận này do Tổ chức Lao

động Quốc tế tại Việt Nam (ILO) chủ trì với sự trợ giúp kỹ thuật của văn phòng ILO tiểu vùng Băng Cốc Mục tiêu của Dự án là tham gia vào hoạt động bảo vệ quyền của những người sống chung với HIV/AIDS (PLWHA) và nêu lên các vấn

đề liên quan đến HIV/AIDS ở cấp độ chính sách tại cơ sở lao động nhằm giảm những hậu quả xấu về phát triển kinh tế, lao động và xã hội do dịch bệnh gây ra

Nghiên cứu phản ánh tình hình kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS đang lan rộng ở Việt Nam Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam công nhận quyền có công ăn việc làm cho tất cả mọi người Tuy nhiên, kỳ thị và phân biệt đối xử đang khước từ quyền cơ bản này với rất nhiều người nhiễm HIV/AIDS

Tài liệu “HIV/AIDS tại Việt Nam Ước tính và dự báo giai đoạn 2011 – 2015” của

Bộ Y tế - Cục Phòng, chống HIV/AIDS, tài liệu cung cấp cho đồng nghiệp, các độc giả

Trang 15

quan tâm các thông tin về quy trình, phương pháp thực hiện cũng như cập nhật kết quả ước tính và dự báo HIV/AIDS tại Việt Nam đến năm 2015 [17]

Kết quả nghiên cứu “Trẻ em có HIV/AIDS và thái độ của cộng đồng” – Trần

Thị Minh Đức – Trung tâm Nghiên cứu về Phụ nữ, Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản trên Tạp chí Tâm lý học, số 11 (92), 11 – 2006 cũng chỉ ra rằng, thái độ của

cộng đồng hiện nay (qua quan sát tại Trung tâm bảo trợ xã hội quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh) và của những người đang nuôi dưỡng các cháu bị nhiễm

HIV/AIDS thể hiện ở những mức độ khác nhau, tùy thuộc vào sự hiểu biết của họ

về HIV và mức độ gần gũi của họ với người có HIV, nhấn mạnh tới giải pháp với cộng đồng trong việc tuyên truyền nâng cao nhận thức xã hội về căn bệnh HIV/AIDS [24]

Bên cạnh đó là các công trình, chương trình được đưa ra từ những kết quả thực tế và đã có những hỗ trợ rất cụ thể, ý nghĩa như:

Tài liệu của Liên hợp quốc được biên soạn dựa trên dự án giữa Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) và những nghiên cứu tổng hợp của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS tại nơi làm việc vào tháng 6/2003 Mục tiêu của dự án là tham gia hoạt động bảo vệ quyền của những người sống chung với HIV/AIDS (PLWHA), nêu lên các vấn đề liên quan đến HIV/AIDS ở cấp độ chính sách tại cơ sở lao động nhằm giảm những hậu quả xấu về phát triển kinh tế, lao động và xã hội do bệnh dịch gây ra

Viện nghiên cứu Phát triển xã hội (ISDS) và Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế

về phụ nữ (ICRW) phối hợp thực hiện Dự án “Can thiệp với sự tham gia nhằm giảm kỳ thị liên quan đến HIV tại Quảng Ninh và Cần Thơ” đã cho xuất bản “Báo cáo cộng đồng đối phó với kỳ thị liên quan đến HIV tại Việt Nam” Đây là cuốn tài

liệu mô tả các hoạt động can thiệp nhằm giảm kỳ thị liên quan đến HIV do cộng đồng thực hiện và các nguyên tắc hướng dẫn thực hiện Có thể nói, báo cáo của Dự

án là tài liệu hữu ích dành cho những nhân viên Công tác xã hội có thể dùng tham khảo để vận dụng trong quá trình thực hành nghề với nhóm đối tượng này [25]

Trang 16

Tài liệu “Hướng dẫn Quốc gia chăm sóc, điều trị và hỗ trợ phụ nữ mang thai nhiễm HIV, trẻ phơi nhiễm và nhiễm HIV”, Vụ Sức khỏe Bà mẹ Trẻ em cùng phối hợp

Cục Phòng, chống HIV/AIDS triển khai vào tháng 9/2013 Tài liệu hướng dẫn cách chăm sóc, điều trị, hỗ trợ phụ nữ mang thai, trẻ phơi nhiễm và bị nhiễm HIV này dựa trên các văn bản pháp quy, quy trình, hướng dẫn chẩn đoán và điều trị HIV của Bộ Y tế

đã ban hành Tài liệu cũng giúp các cán bộ Y tế tại các tuyến dễ thực hành trong công tác chăm sóc, điều trị cho phụ nữ mang thai, trẻ phơi nhiễm và trẻ nhiễm HIV [9]

Các nghiên cứu nêu trên đã đưa góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn trong việc đánh giá sự ảnh hưởng của người lớn nói chung và trẻ em nhiễm HIV nói riêng đối với việc hòa nhập cộng đồng Các nghiên cứu đã tìm hiểu những

hệ quả của sự kỳ thị tại nơi làm việc, trường học, cộng đồng được thể hiện qua nhiều mức độ khác nhau; liệt kê các nguyên nhân cũng như hậu quả từ sự kỳ thị của cộng đồng đến sự phát triển của người nhiễm HIV/AIDS, từ thực trạng những người nhiễm HIV/AIDS, các tác giả đề xuất những biện pháp, giải pháp can thiệp hỗ trợ, giúp đỡ người nhiễm HIV thông qua các chương trình tập huấn, hướng dẫn cách chăm sóc sức khỏe nhằm góp phần xóa bỏ các sai lầm, giảm kỳ thị đối với người nhiễm HIV Đa số trẻ em bị HIV và trẻ bị ảnh hưởng HIV sống trong hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn Các em trở thành gánh nặng kinh tế gia đình cho người nuôi nên nguy cơ bỏ học của các em rất cao Tâm lí của các em luôn cảm thấy bị cô lập, thiếu người quan tâm chăm sóc Việc kỳ thị, phân biệt đối xử trong hệ thống y tế, trường học vẫn còn tồn tại Kết quả của những nghiên cứu nêu trên chính là căn cứ,

là hỗ trợ cho tác giả thực hiện nghiên cứu đề tài của mình

Tuy nhiên, sự phát triển của trẻ trong môi trường học tập vẫn chưa được quan tâm và khai thác nghiên cứu trong các đề tài nghiên cứu, đặc biệt là nhóm trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV tại các tỉnh miền núi phía Bắc, trong đó có tỉnh Yên Bái Và không phải trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV nào cũng nhận được những sự quan tâm công

bằng trong cuộc sống và học tập, vì thế, tác giả lựa chọn vấn đề hòa nhập môi

trường học tập của trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV từ góc nhìn Công tác xã hội (Nghiên cứu trường hợp phường Trung Tâm, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái) làm

đề tài nghiên cứu Điểm mới của luận văn hướng tới là việc đánh giá những khó

Trang 17

khăn, rào cản của trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV dựa trên những câu chuyện thực tế, nghiên cứu những trẻ được đến trường và không được đến trường từ góc nhìn Công tác xã hội; đồng thời đi sâu vào những giải pháp và hướng tới việc phát triển vai trò của nhân viên Công tác xã hội trong việc trợ giúp các em, đề xuất một số giải pháp nhằm hỗ trợ các em hòa nhập cộng đồng, hòa nhập môi trường học tập tại địa phương, nơi mà chưa có đề tài hay tác giả nào đề cập đến

3 Ý nghĩa của nghiên cứu

3.1 Ý nghĩa khoa học

Ý nghĩa khoa học của nghiên cứu được thể hiện qua việc tác giả vận dụng các quan điểm lý thuyết trong lĩnh vực công tác xã hội để phân tích quá trình hòa nhập môi trường học tập của trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV nhằm mở rộng sự hiểu biết đối với vấn đề này từ tiếp cận công tác xã hội Nói một cách cụ thể hơn, về mặt khoa học, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần mang lại một góc nhìn mới đối với quá trình hòa nhập môi trường học tập của trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV cũng như những nhân tố tác động đến quá trình này

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp luận cứ, dữ liệu khoa học phản ánh quá trình hòa nhập môi trường học tập của trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV cũng như những nhân tố tác động đến quá trình này Trên cơ sở phân tích những dữ liệu thu được trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn đề xuất một số khuyến nghị đối với chính quyền địa phương, cộng đồng, trường học, người thân của trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV Những

dữ liệu và khuyến nghị của đề tài sẽ góp phần tạo thêm cơ sở cho việc đưa ra các quyết định hành chính của chính quyền địa phương, trường học cũng như hoạt động thực tế của cộng đồng và người thân trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV nhằm giúp trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV hòa nhập tốt hơn vào môi trường học tập

4 Đối tƣợng, khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Việc hòa nhập môi trường học tập của trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV từ góc nhìn Công tác xã hội tại phường Trung Tâm, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái

Trang 18

4.2 Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu của đề tài gồm:

- Trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV, bao gồm trẻ bị nhiễm HIV, trẻ em mồ côi do bố

và mẹ hoặc bố hoặc mẹ chết vì lý do liên quan đến HIV/AIDS; trẻ em sống với bố,

mẹ hoặc người nuôi dưỡng nhiễm HIV

- Người thân trong gia đình trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV, giáo viên chủ nhiệm, nhân viên y tế, phụ huynh học sinh; ủy ban nhân dân phường

5 Mục tiêu nghiên cứu

- Làm rõ thực trạng nhóm trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV và việc hòa nhập môi trường học tập của nhóm trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV ở phường Trung Tâm, thị xã Nghĩa

Lộ, tỉnh Yên Bái

- Chỉ ra những rào cản đối với việc hòa nhập môi trường học tập của trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV ở địa phương này

- Làm rõ những nguyên nhân dẫn đến những rào cản trên

- Chỉ ra nhu cầu đối với hoạt động công tác xã hội trong việc hỗ trợ trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV hòa nhập cộng đồng

6 Phạm vi nghiên cứu 6.1 Phạm vi về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tại các trường học, khu

dân cư thuộc phường Trung Tâm, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái

6.2 Phạm vi về thời gian: Đề tài được nghiên cứu từ tháng 12/2014 đến tháng 8/2015

6.3 Phạm vi về nội dung:

Đề tài tập trung vào các nội dung sau đây: Thực trạng người nhiễm HIV, số trẻ

bị ảnh hưởng bởi HIV, quá trình hòa nhập môi trường học tập và những rào cản trong việc hòa nhập môi trường học tập của trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV, nhu cầu đối với hoạt động công tác xã hội trong việc hỗ trợ trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV hòa nhập cộng đồng

7 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng nhóm trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV hòa nhập môi trường học tập ở phường Trung Tâm, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái như thế nào?

Trang 19

- Những rào cản và nguyên nhân nào tác động tới việc hòa nhập môi trường học tập của trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV ở địa phương này?

- Nhu cầu đặt ra đối với hoạt động Công tác xã hội trong việc hỗ trợ trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV hòa nhập cộng đồng như thế nào?

8 Phương pháp nghiên cứu 8.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Phương pháp phân tích tài liệu là phương pháp nghiên cứu dựa trên các tư liệu, các văn bản, các tác phẩm trước đó để làm rõ các vấn đề nghiên cứu Dựa trên mục đích đó, phương pháp phân tích này giúp tác giả luận văn thu thập, phân tích những thông tin, dữ liệu có sẵn từ các nguồn tài liệu khác nhau để phục vụ mục tiêu nghiên cứu của đề tài Các loại tài liệu mà tác giả sử dụng trong luận văn này bao gồm: các tài liệu, báo cáo, số liệu thống kê, văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, và các công trình nghiên cứu đi trước liên quan đến chủ đề nghiên cứu của đề tài

8.2 Phương pháp quan sát

Quan sát là phương pháp tri giác có mục đích, có kế hoạch một sự kiện,

hiện tượng, quá trình (hay hành vi cử chỉ của con người) trong những hoàn

cảnh tự nhiên khác nhau nhằm thu thập những số liệu, sự kiện cụ thể đặc trưng cho quá trình diễn biến của sự kiện, hiện tượng đó [39] Trong trường hợp này, phương pháp quan sát được vận dụng trong quá trình gặp gỡ gia đình trẻ, phụ huynh, bạn bè trong trường, dân phố và cộng đồng để nắm bắt hành vi, suy nghĩ và nhận thức của họ về nhóm trẻ này Phương pháp quan sát mang tính tổng quát, khách quan giúp đề tài được nhìn theo nhiều khía cạnh xã hội

8.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Tác giả tiến hành phương pháp phỏng vấn sâu kết hợp với phương pháp quan sát nhằm thu được những thông tin mang tính chiều sâu phục vụ cho đề tài nghiên cứu

Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 08 gia đình trẻ có người thân bị nhiễm HIV/AIDS, phỏng vấn sâu 03 giáo viên, 03 nhân viên y tế, 03 phụ huynh học sinh,

05 người dân sống tại phường Trung Tâm Mục đích của phỏng vấn nhằm tìm ra

Trang 20

bản chất của vấn đề, từ đó định hướng và đề xuất những giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của địa bàn nghiên cứu Do số lượng mẫu ít, khó tập trung và rất ít cá nhân tham gia phỏng vấn tự nguyện nên tác giả không sử dụng phỏng vấn bằng bảng hỏi

Bên cạnh đó tác giả cũng tiến hành quan sát, phỏng vấn sâu với các gia đình thuộc phường Tân An, Pú Trạng, Cầu Thia, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái để làm rõ thêm thực trạng việc hòa nhập môi trường học tập hiện nay của trẻ, giúp tác giả nhận thấy sự khác nhau giữa các địa phương Thông qua các cuộc phỏng vấn sâu, tác giả có những định hướng nhất định cho việc đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện và nguyện vọng của nhóm đối tượng trên địa bàn nghiên cứu

Cũng trong đề tài nghiên cứu phục vụ việc phỏng vấn sâu, tác giả cũng sử dụng các kỹ năng Công tác xã hội như:

8.4 Kỹ năng công tác xã hội

8.4.1 Kỹ năng giao tiếp với trẻ

Giao tiếp là hoạt động cơ bản trong mối quan hệ giữa người tư vấn và trẻ

Trong lúc tư vấn, người tư vấn không bao giờ ép buộc trẻ kể về hoàn cảnh của mình Tùy theo mức độ phát triển về tâm sinh lý của trẻ, người tư vấn có thể sử dụng một cách sáng tạo các công cụ giao tiếp như: vẽ tranh, kể chuyện, đóng vai, chiếu phim, chơi…Thông qua theo dõi và quan sát, nhân viên công tác xã hội đóng vai trò là người tư vấn sẽ nhận ra cách trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV chia sẻ về cuộc đời mình, nói lên những vấn đề mà trẻ muốn truyền đạt cho người khác, nhưng khó nói trực tiếp Từ đó, nhân viên công tác xã hội nhận ra vấn đề của trẻ, nhận diện mối quan hệ của trẻ với người khác, cách tương tác để bổ sung cho lắng nghe trong việc tiếp nhận thông tin của trẻ

Trang 21

biết nghe có chọn lọc, đồng thời nhân viên công tác xã hội phải loại bỏ hoàn toàn những định kiến và những suy nghĩ chủ quan của bản thân về thân chủ để có thể hiểu suy nghĩ và lời nói của họ một cách chính xác Đó cũng chính là việc nhân viên công tác xã hội thực hiện nguyên tắc chấp nhận thân chủ

Khi làm việc với trẻ là đối tượng bị ảnh hưởng bởi HIV, nhân viên công tác

xã hội cần chú ý và tôn trọng trẻ Trong đó cần chú ý tới các yếu tố: ngôn ngữ cơ

thể, trả lời tối thiểu như “ừ, cô hiểu”,“thế à”; phản ánh, diễn giải lời trẻ nói, phản

ánh cảm xúc của trẻ và tóm tắt những điểm chính trong buổi nói chuyện

8.4.3 Kỹ năng phân tích và nhận diện vấn đề

Khi thu thập những thông tin về đời sống của trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV, thông tin về công tác hỗ trợ của địa phương đối với nhóm đối tượng này, nhân viên công tác

xã hội phải biết sàng lọc thông tin Trên cơ sở đó, nhân viên công tác xã hội tiến hành đánh giá và nhận diện xem đâu là vấn đề bức thiết nhất cần hỗ trợ giải quyết cho trẻ

Khi đánh giá và nhận diện vấn đề của thân chủ, nhân viên công tác xã hội cần phải phân tích, sắp xếp nhu cầu ưu tiên cần giải quyết của thân chủ và xem xét đánh giá khả năng của thân chủ cũng như các nguồn lực có thể hỗ trợ thân chủ giải quyết vấn

đề của họ

8.4.4 Kỹ năng vấn đàm

Vấn đàm là một trong những công cụ của công tác xã hội nhằm mục đích thu thập thông tin hay chia sẻ thông tin, để khảo cứu và đánh giá vấn đề của thân chủ hay để đưa ra sự giúp đỡ cho thân chủ Trong giới hạn của đề tài này, tác giả sử dụng vấn đàm như một công cụ để thu thập thông tin và chia sẻ thông tin

Khi sử dụng vấn đàm, tác giả thu được các thông tin mang tính chiều sâu như: Các dữ kiện liên quan đến các vấn đề, những rào cản trong đời sống và những nhu cầu cần được hỗ trợ của trẻ… cũng như để tìm hiểu về các mối quan hệ, các nguồn lực trợ giúp cho trẻ

Kỹ năng đặt câu hỏi cũng cần được dùng cẩn thận và nên tránh những câu

hỏi tại sao (mang tính phê phán) và đừng đặt những câu hỏi chỉ để thỏa mãn sự tò

mò của nhân viên công tác xã hội

Trang 22

8.4.5 Kỹ năng thấu cảm

Tác giả vận dụng một số kỹ năng tham vấn trong quá trình làm việc với thân

chủ như: Kỹ năng thấu cảm (giúp nhân viên công tác xã hội thấu hiểu thân chủ, tạo dựng được mối quan hệ gần gũi với thân chủ và tìm thấy ở thân chủ những sức mạnh tiềm ẩn), kỹ năng lắng nghe tích cực (khuyến khích thân chủ chia sẻ và giãi bày tâm sự của họ), kỹ năng đặt câu hỏi (đây là kỹ năng vô cùng quan trọng, đặt câu hỏi phù hợp với trạng thái tâm lý của thân chủ, sử dụng những câu hỏi gián tiếp để tránh cho thân chủ có cảm giác bị tra vấn chuyện riêng tư)

9 Kết cấu của luận văn

Luận văn của tác giả ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và phụ lục còn được nhấn mạnh với nội dung chính gồm 3 chương: Chương 1 là chương cơ sở

lý luận của đề tài Chương 2 bàn về thực trạng hòa nhập môi trường học tập của trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV Chương 3 tìm hiểu nhu cầu đối với hoạt động Công tác xã hội trong việc hỗ trợ trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV hòa nhập môi trường học tập

Trang 23

NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Các khái niệm công cụ

1.1.1 Trẻ em Hiện nay, khái niệm “Trẻ em” không đồng nhất tại nhiều quốc gia trên thế

giới Ở Australia và Anh, trẻ em được quy định là dưới 18 tuổi Tại Singapore, trẻ

em là người dưới 14 tuổi Trong khi đó tại HongKong, trẻ em là nhóm người dưới

16 tuổi Sở dĩ có sự khác nhau là do có sự khác biệt về điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội Một lập luận khác để giải thích sự khác biệt đó là khả năng của nền kinh tế của mỗi quốc gia, bởi vì việc quy định về độ tuổi trẻ em bao giờ cũng gắn liền với trách nhiệm đảm bảo các quyền của trẻ em, ngoài ra còn đảm bảo quyền công dân, quyền con người nói chung ở mỗi quốc gia [30]

Theo quan điểm của một số tổ chức quốc tế trực thuộc Liên hợp quốc như Quỹ Dân số (UNFPA), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO) xác định trẻ em là người dưới 15 tuổi

Theo các ngành nghiên cứu, khái niệm trẻ em cũng được hiểu là:

Trong Tâm lý học, trẻ em được dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển

tâm lý, nhân cách con người

Trong Xã hội học, trẻ em được hiểu là một nhóm nhân khẩu biệt trong quá

trình xã hội hóa

Trong Công ước Quốc tế, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường

hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ có quy định tuổi thành niên sớm

Theo Điều 1, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, trẻ em là

công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi

Trong nghiên cứu này, khái niệm trẻ em được hiểu theo Luật bảo vệ, chăm

sóc và giáo dục trẻ em

1.1.2 HIV/AIDS

Theo Cục phòng chống HIV/AIDS Việt Nam – Bộ Y tế về chăm sóc HIV/AIDS tại cộng đồng thì HIV/AIDS được định nghĩa như sau:

Trang 24

HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Human immunodeficiency Virus”

dịch ra tiếng Việt: Vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh HIV thuộc nhóm Lentivirus, và giống như mọi virus thuộc tuýp này, nó sẽ tấn công hệ miễn dịch của con người Lentivirus lại thuộc vào 1 nhóm virus lớn hơn gọi là Retrovirus

Lentivirus có nghĩa là virus chậm cần có nhiều thời gian để gây ra tác dụng có hại cho cơ thể HIV là 1 virus có tính thay đổi cao, đột biến dễ dàng Điều này có nghĩa

là ngay trong cơ thể của người bị nhiễm cũng có nhiều chủng HIV khác nhau Dựa trên những điểm tương tự về di truyền, ta có thể phân loại vô số các chủng virus khác nhau đó thành từng tuýp, nhóm và phân tuýp Có 2 tuýp HIV là: HIV-1 và HIV-2 Cả hai đều gây bệnh cho người Cả 2 tuýp này đều có thể lây truyền qua quan hệ tình dục, qua đường máu, và từ mẹ sang con Cả 2 tuýp này dường như đều gây bệnh cảnh lâm sàng AIDS khá giống nhau nên rất khó để mà phân biệt Tuy nhiên, HIV-2 lại không dễ lây như HIV-1, và thời gian kể từ lúc mới bắt đầu nhiễm cho đến khi xuất hiện bệnh thường dài hơn Nhưng trên toàn thế giới hiện nay, HIV-

1 chính là nhóm gây đại dịch AIDS, và khi nói nhiễm HIV mà không kèm theo tuýp, tức là đang nói tới HIV-1 Trên thực tế HIV-2 rất ít gặp, chủ yếu loại này thường khu trú tại Tây Phi, ít khi thấy ở nơi khác Người mang HIV trong máu

thường được go ̣i là người nhiễm HIV Các giai đoạn phát triển của HIV: Quá trình tiến triển qua 4 giai đoạn: Giai đoạn 1: Giai đoạn sơ nhiễm HIV (nhiễm trùng cấp tính) Giai đoạn 2: Nhiễm HIV không triệu chứng (thời kỳ ủ bệnh) Giai đoạn 3:

Giai đoạn nhiễm HIV có triệu chứng (giai đoạn cận AIDS) Giai đoạn 4: Giai đoạn

AIDS [17]

1.1.3 Trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV Nhóm đối tượng trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS gồm: trẻ nhiễm HIV, trẻ

bị ảnh hưởng trực tiếp bởi HIV (trẻ em mồ côi do bố và mẹ hoặc bố hoặc mẹ chết vì

lý do liên quan đến HIV/AIDS; trẻ em sống với bố, mẹ hoặc người nuôi dưỡng nhiễm HIV); trẻ em có nguy cơ cao nhiễm HIV (trẻ em sử dụng ma túy, trẻ em là con của người mua dâm, bán dâm, sử dụng ma túy; trẻ em sống trong các cơ sở trợ giúp trẻ em) [23]

Trang 25

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV là trẻ nhiễm HIV, trẻ bị ảnh hưởng trực tiếp từ bố hoặc mẹ, sống với người nuôi dưỡng nhiễm HIV và trẻ em sử dụng ma túy

Nhìn chung tâm trạng của trẻ em sống trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (trong đó tính tới nhóm trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV) thường:

Mất đi sự ham thích và sinh lực: Trẻ đau khổ, lo lắng, sợ sệt, có thể ngồi im một chỗ suốt ngày, không ham thích bất kỳ một hoạt động gì Trẻ buồn, lo lắng và thường khó tập trung Đôi khi căng thẳng quá trẻ trở nên quá hiếu động, bứt rứt, chạy nhảy khắp nơi, không thể ngồi yên, dễ bị kích động [20]

Hung hăng phá phách: Trẻ đâm ra hung hăng và phá phách khi có cảm xúc mạnh do không thể diễn tả tâm trạng bằng lời nói, trẻ có thể đánh đập người khác khi cảm thấy căng thẳng, tức giận hoặc sợ hãi Trẻ bắt chước những hành vi hung hăng vì có thể trẻ đã từng là nạn nhân của hành vi bạo lực Trong nhiều trường hợp, trẻ không tin tưởng vào người lớn nếu trẻ đã từng bị người lớn đối xử thô bạo Tuy nhiên có khi trẻ mồ côi lại bám chặt người lớn như sợ bị bỏ rơi, có khi trẻ lại không muốn đem lòng yêu mến ai [20]

Buồn bã, khó tính và rất dễ nổi cáu: Trẻ không phải lúc nào cũng có thể nói về tâm trạng của mình Có thể trẻ vì quá bối rối hoặc sợ hãi nên không xác định được tâm trạng của mình hoặc không biết nói thế nào để diễn tả tâm trạng của mình [20]

1.1.4 Môi trường học tập Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động

đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật [4] Khái niệm về môi trường trong nghiên cứu này được hiểu là những yếu tố xã hội, nhân văn, hay bối cảnh xã hội xung quanh trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV cụ thể là gia đình, cộng đồng, trường học Môi trường học tập được hiểu là trường học, và rộng hơn là bối cảnh học tập của các em bao gồm trường học, gia đình và cộng đồng

1.1.5 Hòa nhập xã hội và hòa nhập môi trường học tập

Hòa nhập là khái niệm tương đối mới ở Hoa Kỳ và dần được sử dụng nhiều hơn trong các tuyên ngôn của Liên hợp quốc để chỉ một khái niệm linh hoạt nhằm

Trang 26

biểu đạt quan điểm “quây quần lại chúng ta sẽ tốt hơn lên” Động từ gốc tiếng

Latinh là Includere, có nghĩa là đóng cửa lại sau khi một người nào đó vào nhà

Định nghĩa thông thường của động từ tiếng Anh là Includere, có nghĩa là xem xét và nhìn nhận một cái gì đó như một phần của tổng thể Ngoài ra, hòa nhập còn được hiểu là tham gia hòa vào để không có sự tách biệt [37]

Cũng có ý kiến cho rằng Sống hòa nhập là sống gần gũi, chan hòa, không xa lánh mọi người; không gây mâu thuẫn, bất hòa với người khác; có ý thức tham gia các hoạt động chung của cộng đồng

Theo Tony Booth và Mel Ainsow, khi bàn đến giáo dục hòa nhập thường đề

cập đến trẻ khuyết tật hay "trẻ có nhu cầu giáo dục đặc biệt" Tuy nhiên, giáo dục

hòa nhập được hiểu là giáo dục cho tất cả mọi trẻ em, xây dựng môi trường giáo dục hòa nhập không chỉ là phương hướng hoàn thiện nhà trường theo các giá trị hòa nhập mà còn nhằm xây dựng các mối quan hệ hợp tác và cải thiện tốt hơn môi trường dạy và học hòa nhập Hòa nhập có liên quan đến sự thay đổi Đó là quá trình không có hồi kết của hoạt động học tập và tham gia hoạt động học tập ngày càng tích cực hơn của trẻ Nhà trường hòa nhập là nhà trường sẵn sàng cho sự thay đổi để phát triển [37]

Kế thừa quan niệm của các tác giả đi trước, khái niệm hòa nhập xã hội mà cụ thể ở đây là hòa nhập môi trường học tập của trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV trong nghiên cứu này được được hiểu là việc tham gia học tập nói chung và học tập ở trường học nói riêng của trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV Với quan niệm như thế này, tác giả đặc biệt chú ý đến việc học tập của trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV có được bình đẳng như các trẻ khác không bị ảnh hưởng bởi HIV không, nếu trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV gặp những khó khăn, rào cản trong quá trình hòa nhập môi trường học tập thì những rào cản đó cụ thể như thế nào?

1.2 Các lý thuyết vận dụng

1.2.1 Thuyết nhu cầu của Maslow

Abraham Maslow (1/4/1908-8/6/1970) là một nhà tâm lý học người Mỹ, ông được xem là một trong những người tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn (humantic psychoanalysis) trường phái được xem là thế lực thứ 3 (the third

Trang 27

Force) khi thế giới lúc ấy đang biết đến 2 trường phái tâm lý chính Phân tâm học (Psychoanalysis) và chủ nghĩa hành vi (Behaviorism) [19]

Năm 1943, ông đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của

nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước Các

nhu cầu cơ bản của chúng ta hình thành trong một hệ thứ bậc các nhu cầu (needs hierachy) – các nhu cầu bẩm sinh của chúng ta được xếp trong chuỗi các giai đoạn

từ nguyên thủy đến tiến bộ 5 bậc thang nhu cầu của Maslow là phát hiện xã hội quan trọng mang tính học thuật cơ bản có khả năng ứng dụng thực tiễn rất cao, giúp các nhà quản lý có nhân sinh quan soi sáng vào quan điểm lãnh đạo của mình và hình thành phương pháp hoàn thiện trình độ quản lý [19]

1 Nhu cầu cơ bản (basic needs) Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu của cơ thể (body needs) hoặc nhu cầu sinh lý (physiological needs) bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn,

uống, ngủ, không khí để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái…đây là nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người Ông cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã một người hành động khi nhu cầu cơ bản này chưa đạt được [19]

2 Nhu cầu về an toàn, an ninh (Safety, security needs)

Khi đã đáp ứng được nhu cầu cơ bản thì nhu cầu về an toàn, an ninh sẽ bắt đầu được kích hoạt, nhu cầu này thể hiện trong cả thể chất và tinh thần Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ…Nhu cầu này cũng thường được khẳng định thông qua các mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống, được sống trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có pháp luật…Nhiều người còn tìm

Trang 28

đến sự che chở bởi các niềm tin tôn giáo, triết học cũng là sự tìm kiếm sự an toàn về mặt tinh thần [19]

3 Nhu cầu về mặt xã hội (Social needs)

Nhu cầu này được gọi là nhu cầu mong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ

chức nào đó (belonging needs) hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương, nhu cầu này

thể hiên qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia các câu lạc bộ, làm việc nhóm…Ông cũng nhấn mạnh nếu nhu cầu này không được đáp ứng, thỏa mãn nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tinh thần, thần kinh [19]

4 Nhu cầu được quý trọng (Esteem needs) Nhu cầu được gọi là nhu cầu tự trọng (self esteem needs) vì nó thể hiện ở 2

cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, và nhu cầu cảm nhận, quý trọng bản thân mình, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân

Đây là mong muốn của con người nhận được sự chú ý, quan tâm và tôn trọng những người xung quanh và mong muốn bản thân là một mắt xích không thể thiếu trong hệ thống phân công lao động xã hội [19]

5 Nhu cầu được thể hiện mình (Self – actualizing needs)

Nói một cách đơn giản đây là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc và đạt được các thành quả trong xã hội Tại đỉnh của hệ thứ bậc là những con người được nuôi dưỡng, che chở, được yêu thương, yên tâm, được tư duy và sáng tạo Những con người này chuyển động vượt ra ngoài những nhu cầu cơ bản của con người để tìm kiếm sự phát huy đầy đủ tiềm năng của mình còn gọi là sự ý thức đầy đủ của bản thân

Trang 29

Hình 1 Sơ đồ tháp nhu cầu của Maslow

Maslow cho rằng hệ thống nhu cầu của con người dựa trên nền tảng di truyền nhất định nhưng thực tế nhu cầu của con người cũng phụ thuộc vào những điều kiện

và phương thức sinh hoạt của gia đình và xã hội

Tâm lý học Maslow đã có những ảnh hưởng mạnh mẽ và đóng góp to lớn cho nền tâm lý học thế giới Thuyết nhu cầu của Maslow là thuyết đạt tới đỉnh cao trong việc nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người Cần đáp ứng nhu cầu cá nhân được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc đạt các thành quả cho phát triển cá nhân và xã hội Khi một người được khích lệ, được thưởng về thành quả lao động của mình, họ sẽ sẵn sàng làm việc hăng say và hiệu quả hơn [19]

Trong vấn đề nghiên cứu của đề tài, thuyết nhu cầu của Maslow giúp tác giả tìm hiểu và đánh giá rõ hơn về những rào cản trong việc hòa nhập môi trường học tập của trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS hiện nay Tiếp cận theo nhu cầu trong quá trình làm việc trực tiếp với trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV để nhân viên Công tác

xã hội cần nắm được những nhu cầu nào về mặt lý thuyết Tuy nhiên đối với mỗi con người khác nhau, trong từng hoàn cảnh không giống nhau sẽ nảy sinh những nhu cầu khác biệt Từ đó, nhân viên Công tác xã hội xác định được nguyên nhân dẫn đến những rào cản đó từ bản thân hay từ xã hội, bởi nhu cầu chính thường được xuất phát từ chính những vấn đề thường gặp trong cuộc sống hàng ngày Đối với

Trang 30

nhóm trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV, nhu cầu được ưu tiên hiện nay là mong muốn được tôn trọng, công nhận, được cộng đồng xã hội tạo mọi điều kiện để trẻ phát triển, hòa nhập, là cơ sở và cũng là cơ hội để trẻ nhận ra giá trị bản thân, sự cần thiết phải tự lập, vươn lên hòa nhập và có trách nhiệm hơn với cuộc sống Việc đánh giá quá trình xem xét và xếp theo thứ tự những nhu cầu của thân chủ cần giải quyết trước nhất, giúp nhân viên Công tác xã hội tạo cơ sở lập kế hoạch cho các giai đoạn hỗ trợ thân chủ trong các giai đoạn tiếp theo

1.2.2 Thuyết hệ thống sinh thái

“Hệ thống là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất, Con người phụ thuộc vào hệ thống trong môi trường xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu trực tiếp của mình trong cuộc sống” Các quan điểm hệ

thống trong Công tác xã hội có nguồn gốc từ lý thuyết hệ thống tổng quát của Ludwig

Von Bertalanffy (1901 – 1972) được đề xướng năm 1940 [19]

Các hệ thống có mối liên hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau

Khi một hệ thống thay đổi kéo theo sự thay đổi của hệ thống khác và ngược lại, khi muốn thay đổi một hệ thống thì phải thay đổi hệ thống nhỏ tạo nên nó và thay đổi cả

hệ thống lớn bao trùm nó Lý thuyết hệ thống sử dụng trong Công tác xã hội chú ý nhiều tới các quan hệ giữa các phần tử nằm trong hệ thống hơn là chú ý tới thuộc tính của phần tử [19]

Tiểu hệ thống là hệ thống thứ cấp hoặc hệ thống hỗ trợ và các tiểu hệ thống tạo nên hệ thống lớn hơn Có 3 loại hệ thống thỏa mãn cuộc sống của con người là:

Hệ thống chính thức: tổ chức công đoàn, cộng đồng…; Hệ thống phi chính thức:

bạn bè, gia đình…; Hệ thống xã hội: bệnh viện, nhà trường…

Lý thuyết hệ thống đã chỉ ra các mối liên kết tất yếu trong mạng xã hội giữa

cá nhân với cá nhân, với nhóm và ngược lại

Theo cấp độ gồm: Vi mô: cá nhân; Trung mô: gia đình, cộng đồng, cơ quan nhà nước tại cộng đồng và vĩ mô: hệ thống xã hội, các cơ quan nhà nước

Theo giới hạn gồm: Hệ thống đóng: Là hệ thống không có sự trao đổi năng lượng

và thông tin vượt qua biên giới của nó; Hệ thống mở: Là hệ thống mà năng lượng và

thông tin được trao đổi bằng cách thẩm thấu qua vách ngăn biên giới của chính nó

Trang 31

Nguyên tắc hoạt động của hệ thống:

Mọi hệ thống đều nằm trong một hệ thống khác lớn hơn

Mọi hệ thống đều có thể chia thành các hệ thống khác nhỏ hơn

Mọi hệ thống đều có tương tác với các hệ thống khác và thu nhận thông tin, năng lượng từ môi trường bên ngoài để tồn tại

Mọi hệ thống đều cần năng lượng đầu vào và sản phẩm đầu ra để tồn tại

Mọi hệ thống đều tìm kiếm sự cân bằng với những hệ thống khác [11]

Ứng dụng trong trường hợp này, việc giúp trẻ giảm hoặc xóa đi những rào cản trong việc hòa nhập môi trường học tập như hiện nay phải dựa vào hệ thống tồn tại bao quanh trẻ, từ vi mô đến vĩ mô Nhân viên Công tác xã hội cần xét trẻ trong mọi hệ thống: với chính bản thân trẻ, với gia đình và cộng đồng xung quanh trẻ, giúp trẻ và định hướng cho gia đình trẻ về việc cần vượt qua mặc cảm, tự ti để bản thân trẻ có trách nhiệm và tự giác trong cuộc sống và có ý thức, hành vi tốt tham gia sinh hoạt trong cộng đồng Với gia đình, trẻ cần được quan tâm, được hậu thuẫn vững chắc vì gia đình là cái nôi, nền tảng cho trẻ phát triển, là chỗ dựa về vật chất

và tinh thần Trong hệ thống với xã hội, việc nhân viên Công tác xã hội giúp xác định các nguồn lực có thể hỗ trợ tối đa cho trẻ, dựa trên những mối quan hệ trước

đó, sự vận động nguồn lực địa phương để đảm bảo quyền được học tập cũng như đảm bảo quyền cơ bản trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày Áp dụng lý thuyết này trong quá trình nghiên cứu, các quan điểm của thuyết được hiểu rằng con người sống trong môi trường xã hội, và phải chịu tác động từ những thay đổi của các yếu

tố trong môi trường này, vì vậy khi vấn đề nảy sinh không nhất thiết là do khiếm khuyết của cá nhân mà có thể do những bất hợp lý từ phía môi trường Quan điểm này sẽ định hướng để nhân viên Công tác xã hội khi tiếp cận với nhóm trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV, sẽ cố gắng thay đổi từ những bất hợp lý trong môi trường xã hội, thay vì tiếp cận tâm lý học cố gắng thay đổi bản thân đang gặp vấn đề

1.2.3 Lý thuyết nhận thức – hành vi

Theo lập luận về hành vi, cứ ứng với một tác nhân kích thích sẽ có các phản ứng phù hợp Dựa vào đó, con người có thể đổ lỗi cho ngoại cảnh để bao biện cho hành vi mà họ không làm được hoặc cố tình làm không tốt Trên thực tế, các hành

Trang 32

vi diễn ra phức tạp hơn nhiều chứ không phải chỉ đơn thuần là do những tác nhân kích thích Những nhà tâm lý học cho rằng, con người suy nghĩ rất phức tạp không thể quan sát và những suy nghĩ này có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi của họ [13]

Thuyết nhận thức – hành vi lập luận rằng, chính những tư duy quyết định phản ứng chứ không phải tác nhân kích thích (ngoại cảnh) quyết định phản ứng Sở

dĩ chúng ta có những hành vi, tình cảm lệch chuẩn là do chúng ta có những suy nghĩ không phù hợp Như vậy, để làm thay đổi những hành vi bất thường, chúng ta cần thay đổi chính những suy nghĩ không thích nghi Theo đó mô hình hành vi cổ điển

đã được phát triển thêm yếu tố nhận thức như sau:

S → C → R → B

Trong đó: S(subject) là tác nhân kích thích, C(cognitive) là nhận thức, R(reflexion) là phản ứng của con người, B(behavior) là kết quả hành vi Theo sơ đồ trên, ta thấy nhiều trường hợp tác nhân kích thích S không phải là nguyên nhân trực tiếp của hành vi Thay vào đó, chính nhận thức C về các tác nhân kích thích và nhận thức về kết quả hành vi mới dẫn đến phản ứng R của con người Theo các lý thuyết gia nhận thức, các vấn đề nhân cách và hành vi con người được tạo bởi những suy nghĩ sai lệch trong mối quan hệ tương tác với môi trường bên ngoài Con người nhận thức nhầm và gán nhãn cả tâm trạng ở trong ra đến hành vi bên ngoài, do đó gây nên những niềm tin, hình tượng, đối thoại nội tâm tiêu cực Suy nghĩ không thích nghi tốt đưa đến các hành vi của một cái tôi thất bại Đồng thời hầu hết các hành vi mà con người học tập, trừ những phản ứng bẩm sinh, đều bắt nguồn từ những tương tác với thế giới bên ngoài bản thân họ Như vậy, nhận thức – hành vi

là trường phái trị liệu dựa trên quan điểm cho rằng cảm xúc và hành vi của con người được hình thành không phải bởi hoàn cảnh/ môi trường mà bởi cách chúng ta nhận thức và nhìn nhận các vấn đề [13]

Những hành vi của nhóm trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV không những xuất phát

từ hoàn cảnh gia đình, tác động xã hội mà còn bị chi phối lớn bởi ý thức qua các tình huống mà trước đó các em trải nghiệm, từ đó tạo nên những ứng xử thường xuyên trước khi xảy ra một sự việc tương tự Trẻ em là những đứa bé non nớt, thường suy nghĩ đơn giản, chúng sẽ nhanh chóng hòa nhập, nhanh chóng tốt lên nếu

Trang 33

chúng nhận được sự quan tâm, chăm sóc đầy đủ từ gia đình, cộng đồng xã hội

Trong môi trường học tập, việc tác động từ những hành vi và ý thức của cộng đồng,

sự thiếu hiểu biết và những cách ly sai lầm trong việc phòng, chống HIV/AIDS đã làm tăng mức độ tự kỳ thị, sống khép mình, thậm chí có những hành vi sai chuẩn mực xã hội của trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV Khi sử dụng thuyết này, nhân viên Công tác xã hội cần có những kỹ năng lắng nghe tích cực, đặt câu hỏi xoay vòng, kỹ năng

đối chất để giúp thân chủ (đặc biệt là trẻ có người thân nhiễm HIV) đưa ra những

nhận thức hợp lý trong tình huống của họ, để từ đó bản thân họ sẽ chủ động thay đổi hành vi và hướng dẫn con em họ thay đổi trên cơ sở thay đổi từ nhận thức

Vì vậy, việc thay đổi nhận thức cho chính các em, thay đổi suy nghĩ của nhà trường, cộng đồng từ phương pháp Công tác xã hội sẽ giúp trẻ thay đổi cuộc sống, dung hòa các mối quan hệ, đặc biệt trong môi trường học tập để giúp trẻ dễ dàng hòa đồng, tự nhận diện những ưu điểm của bản thân để tự tin hơn và sẵn sàng hòa nhập môi trường học tập

1.3 Một số văn bản luật, chính sách liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Quan điểm của các tổ chức thế giới, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong việc quan tâm, hỗ trợ nhóm trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV được tiến hành tổ chức nhận định và kết quả của những thảo luận từ thực tế được đưa vào thực hiện qua hệ thống văn bản được ban hành

1.3.1 Công ước Quốc tế về quyền trẻ em

Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em là một công ước quốc tế quy định

về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của trẻ em Các quốc gia

đã phê chuẩn công ước này phải báo trước Ủy ban về quyền trẻ em liên Hiệp quốc theo định kỳ để ủy ban này kiểm tra việc quá trình tiến triển trong việc thực thi công ước và tình trạng quyền trẻ em ở quốc gia đó Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á

và nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn công ước của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ

em vào ngày 20/2/1990 Trong Công ước quy định rõ các quyền được dành cho mọi trẻ em, không phân biệt trai hay gái, nguồn gốc xã hội, dân tộc, tôn giáo, giàu hay nghèo, lành lặn hay khuyết tật… [40] Do đó, trẻ em nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS cũng có các quyền trẻ em như các trẻ bình thường khác Tuy nhiên

Trang 34

những trẻ này thường phải sống trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn, chịu thiệt thòi trong học tập, chăm sóc y tế, bị phân biệt đối xử và nhận thức của trẻ về HIV/AIDS cũng rất hạn chế nên thường cảm thấy buồn tủi, chán nản, sống khép mình Các em đều có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng gia đình và người thân, được người lớn bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng, được điều trị mỗi khi ốm đau như mọi trẻ em khác, được bình đẳng, không bị kỳ thị, phân biệt đối xử, không bị bạo lực, đặc biệt

là muốn được tiếp tục đến trường, được vui chơi cùng bạn bè Mặc dù còn nhiều khó khăn, Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộ trong việc đưa nội dung của Công ước vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và pháp luật quốc gia, trong đó quy định 4 nhóm quyền cơ bản: quyền được sống, quyền được bảo vệ, quyền được phát triển

và quyền được tham gia

1.3.2 Luật phòng chống HIV/AIDS

Luật phòng chống nhiễm virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) số 64/2006/QH11 ngày 29/6/2006, có hiệu lực từ ngày

1/1/2007 (sau đây gọi là Luật phòng, chống HIV/AIDS) quy định các biện pháp

phòng chống HIV/AIDS; chăm sóc, điều trị, hỗ trợ người nhiễm HIV và các điều kiện đảm bảo thực hiện phòng chống HIV Chống phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS là trách nhiệm toàn thể cộng đồng và bản thân người nhiễm HIV/AIDS

Xác định được quyền và nghĩa vụ của người nhiễm HIV sẽ từng bước tháo gỡ được rào cản của sự kỳ thị, xa lánh và phân biệt đối xử

Tại Điều 14 Phòng, chống HIV/AIDS trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân Các cơ sở giáo dục không được:

a) Từ chối tiếp nhận vì học sinh, sinh viên, học viên nhiễm HIV

b) Kỷ luật, đuổi học sinh, sinh viên, học viên vì lý do người đó nhiễm HIV

c) Tách biệt, hạn chế, cấm đoán học sinh, sinh viên, học viên tham gia các hoạt động sinh hoạt, dịch vụ của cơ sở vì lý do người đó nhiễm HIV

Theo Điều 53, chương IV, Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em, Hiến pháp nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Trẻ em nhiễm HIV/AIDS không bị phân biệt đối xử; được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để chữa bệnh, nuôi dưỡng tại gia đình hoặc tại cơ sở trợ giúp trẻ em” Theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội,

ngành Y tế và các ban, ngành liên quan đã xây dựng, ban hành các văn bản liên

Trang 35

quan đến việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, trong đó có quy định phổ cập giáo dục cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học

Về quyền được làm việc và học tập, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 39/2009/TT-BGDĐT ngày 29/12/2009 quy định về giáo dục hòa nhập cho trẻ có hoàn cảnh khó khăn Đồng thời xây dựng và triển khai hiệu quả việc thực

hiện tiểu Đề án “Xây dựng môi trường tiếp cận giáo dục cho trẻ em bị nhiễm và trẻ

em có nguy cơ cao bị nhiễm HIV/AIDS”

1.3.3 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định các quyền, bổn phận của trẻ em; nguyên tắc, chính sách, biện pháp bảo đảm thực hiện các quyền trẻ em; trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội trong việc đảm bảo thực hiện các quyền trẻ em

Điều 4 của Luật cũng quy định: Trẻ em, không phân biệt gái, trai, con trong giá thú, con đẻ, con nuôi, con riêng, con chung; không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội, chính kiến của cha mẹ hoặc người giám hộ, đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, được hưởng các quyền theo quy định của pháp luật

Việc chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, xã hội và công dân Trong mọi hoạt động, trẻ em phải được ưu tiên quan tâm hàng đầu Vì vậy, Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong và ngoài nước góp phần vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

1.3.4 Các văn bản, chính sách của Nhà nước hỗ trợ trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS

- Nghị định số 71/2011/NĐ-CP về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

- Quyết định số 23/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chương trình hành động Quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2011 – 2010 tầm nhìn đến năm 2020

- Quyết định số 647/QĐ-TTg ngày 26/04/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ

em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em khuyết tật

Trang 36

nặng và trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa dựa vào cộng đồng giai đoạn 2013-2020 (thay thế Quyết định số 65/2005/QĐ-TTg)

- Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ

về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP của Chính phủ

về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội

- Quyết định số 84/2009/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2009 về việc Phê

duyệt “Kế hoạch hành động Quốc gia vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS đến

2010 và tầm nhìn 2020”

- Quyết định số 313/QĐ-TTg ngày 02/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ, về

“Một số chế độ đối với người nhiễm HIV/AIDS và những người trực tiếp quản lý, điều trị, chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS trong các cơ sở Bảo trợ xã hội của Nhà nước”

- Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục công dân từ năm 2010-2011 đến năm học 2014-2015;

- Thông tư liên tịch số 29/2010/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH ngày

15/11/2010 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 49/2010/NĐCP ngày 14/5/2010 quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục công dân từ năm 2010-2011 đến năm học 2014-2015;

- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế ngày 06/2005/QĐ-BYT ngày 7/3/2005

về việc ban hành Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS

- Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị HIV /AIDS (Quyết đi ̣nh 3003/QĐ-BYT ngày 19/8/2009)

- Quyết định 1053/QĐ-BYT ngày 02/4/2010 của Bộ Y tế về Hướng dẫn xét nghiệm phát hiện nhiễm HIV cho trẻ dưới 18 tháng tuổi

- Quy trình chăm sóc và điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con (Quyết định 4361/QĐ-BYT ngày 07/11/2007)

- Chỉ thị 61/2008/CT-BGDĐT ngày 12/11/2008 của Bộ Giáo dục Đào tạo

về tăng cường công tác phòng, chống HIV/AIDS trong ngành giáo dục

Trang 37

- Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội

- Kế hoạch số 570/QĐ-TTg ngày 22/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động Quốc gia vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS giai đoạn 2014 – 2020

1.3.5 Chính sách về y tế đối với người nhiễm HIV

Bảo hiểm y tế (BHYT) là một trong những chính sách an sinh xã hội quan trọng nhằm hỗ trợ về tài chính để bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của nhân dân Đối với những bệnh nhân phải điều trị dài ngày, trong đó có người bị nhiễm HIV, BHYT

chính là “phao cứu sinh” giúp người bệnh giảm bớt chi phí khi điều trị bệnh Điều

40 Luật Phòng, chống HIV/AIDS quy định: Người đang tham gia BHYT bị nhiễm HIV được Quỹ BHYT chi trả các chi phí khám bệnh, chữa bệnh; Bộ trưởng Bộ Y tế quy định danh mục thuốc kháng HIV do BHYT chi trả Như vậy, Luật BHYT không phân biệt người nhiễm HIV/AIDS với người mắc bệnh khác (trừ một số trường hợp quy định tại điều 23 của Luật này) và người nhiễm HIV/AIDS tham gia BHYT sẽ

được hưởng chế độ và được chi trả giống như các bệnh khác Điều đó có nghĩa là, tham gia BHYT người nhiễm HIV sẽ giảm được chi phí trong điều trị HIV Những thai phụ đã được xác định nhiễm HIV thì sẽ được miễn phí điều trị thuốc kháng vi rút (ARV) suốt đời, bất kể chỉ số tế bào CD4 của người mẹ là bao nhiêu

Mô hình kết nối dịch vụ chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS do

Bộ Lao động Thương binh và xã hội và tổ chức Cứu trợ phát triển (CRS) thực hiện tại 08 tỉnh, trong đó có tỉnh Yên Bái Mục tiêu của mô hình này là nhằm cải thiện tình trạng cuộc sống hiện tại cho trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS thông qua kết nối các dịch vụ xã hội chăm sóc toàn diện cho trẻ, xây dựng khung pháp lý cho việc chăm sóc toàn diện trẻ, thiết lập và sử dụng một hệ thống giám sát, đánh giá công tác chăm sóc toàn diện cho trẻ tại cộng đồng Được triển khai từ năm 2013 cho đến nay, mô hình đã hình thành mạng lưới ban điều phối, mạng lưới cộng tác viên đánh giá nhu cầu và quản lý trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS Đặc biệt mô hình đã hình thành được gói chăm sóc toàn diện cho trẻ với 7 yếu tố chính: dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe; giáo dục, hỗ trợ tiếp cận chính sách, tư vấn tâm lý và phòng ngừa trẻ

Trang 38

bị nhiễm HIV/AIDS; bảo vệ trẻ không bị xâm hại; hỗ trợ củng cố về tâm lý Tại 8 địa phương triển khai mô hình đã xác định được hơn 3.800 trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, trong đó, số lượt trẻ cần đáp ứng các nhu cầu dịch vụ là hơn 3.600 trẻ

Tỷ lệ trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS được mô hình hỗ trợ ít nhất 01 nhu cầu dịch

vụ là khá cao 85% [38]

Mặc dù đạt được những kết quả tốt nhưng việc triển khai mô hình còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong công tác xác định cụ thể, chính xác số trẻ em ảnh hưởng bởi HIV/AIDS Một số gia đình sợ bị kỳ thị, phân biệt đối xử nên không cung cấp thông tin và nhận sự trợ giúp của cộng đồng Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Doãn Mậu Diệp cũng cho rằng, việc tiếp cận các dịch vụ y

tế, giáo dục và phúc lợi xã hội của trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS vẫn còn nhiều rào cản và ít nhiều vẫn có sự phân biệt đối xử Vì vậy, trong năm 2013, mô

hình đã mở rộng thêm đối tượng trợ giúp là trẻ khuyết tật và tiến tới đổi cụm từ "trẻ

em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS" thành "trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt" để bao gồm

cả hai đối tượng và xóa bỏ tâm lý e ngại tham gia chương trình [38]

Từ các chính sách trên đã cho chúng ta thấy Đảng và Nhà nước ta đã và đang quan tâm tới những người bị nhiễm HIV/AIDS nói chung và đặc biệt là trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV nói riêng thông qua rất nhiều các nghị quyết, văn kiện của Đảng, góp phần trợ giúp đối tượng được đáp ứng các nhu cầu, ổn định cuộc sống

Trang 39

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, tác giả đã tìm hiểu một số khái niệm, các lý thuyết trong Công tác xã hội để vận dụng vào việc giải thích, làm rõ vấn đề nghiên cứu Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những căn cứ nhấn mạnh đến quyền lợi của trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV trong chương cơ sở lý luận và thực tiễn, đó là cơ sở pháp lý để sử dụng hiệu quả trong việc đi sâu tìm hiểu thực trạng, những rào cản và nguyên nhân của việc hòa nhập môi trường học tập của trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV tại phường Trung Tâm

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG HÕA NHẬP MÔI TRƯỜNG HỌC TẬP CỦA

TRẺ EM BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI HIV 2.1 Khái quát chung về phường Trung Tâm, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái

xã trực thuộc tỉnh có 7 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 4 phường: Tân An, Trung Tâm, Pú Trạng, Cầu Thia và 3 xã: Nghĩa An, Nghĩa Lợi, Nghĩa Phúc và có 26.032 nhân khẩu Trong đó, phường Trung Tâm, thị xã Nghĩa Lộ là vùng đất đai trù phú với địa hình khá bằng phẳng có độ nghiêng chếch từ phía Tây Nam sang Đông Bắc

Phía Đông giáp xã Nghĩa Lợi, phía Nam giáp phường Cầu Thia; Phía Tây giáp phường Tân An, Phía Bắc giáp phường Pú Trạng và xã Nghĩa Phúc [41]

Hiện phường Trung Tâm có 1748 hộ với 6.702 nhân khẩu đăng ký thường trú, với các thành phần dân tộc như; Kinh, Thái, Tày, Mường… Được thành lập ngày 01/7/1995 theo Nghị định 31/CP ngày 15/5/1995, phường được chia thành 23 tổ dân phố,

có 4 tổ sản xuất nông nghiệp [32]

Đặc điểm kinh tế - xã hội:

Điểm nổi bật của phường là điều kiện giao thông thuận lợi và được xác định

là trung tâm kinh tế, văn hoá, thương mại dịch vụ của thị xã Phường có chợ Mường

Lò là đầu mối buôn bán hàng hoá ở khu vực phía tây tỉnh Yên Bái, có bến xe khách liên huyện, liên tỉnh, có quốc lộ 32 chạy qua và nối liền giao thông từ Huyện Văn Chấn tới huyện Mù Cang Chải là điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, văn hoá với các vùng, là lợi thế phát triển kinh tế theo hướng thương mại dịch vụ, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Phường có tổng diện tích tự nhiên là 130,48 ha, trong đó

có 53,43 ha đất trồng lúa [32]

Ngày đăng: 07/12/2022, 19:37

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm