Về cơ bản các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học quản lý cũng như quản trị hiện nay như: Herb Kelleher – cựu chủ tịch Tập đoàn Southwest Airline và Chester Elton – một diễn giả và nh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Văn hóa doanh nghiệp trong công ty
Nhật Bản ở Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Công ty TNHH Agrex Việt Nam)” là công trình nghiên cứu của tôi Trong công trình nghiên cứu này, tôi có
tham khảo và tổng hợp kết quả của nhiều công trình nghiên cứu khác và đã có chú thích theo quy định Công trình này chưa từng được công bố trên bất cứ phương tiện nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng khoa học về nội dung nghiên cứu của đề tài này
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
HỌC VIÊN
Phùng Thị Chinh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, mặc dù gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập tài liệu, song tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện từ phía các cơ quan, các trường học như:
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội); Thư viện trường Đại học Ngoại thương; Ban lãnh đạo công ty TNHH Agrex Việt
Nam và các đồng nghiệp tại đây, đặc biệt là người hướng dẫn khoa học – TS
Lâm Minh Châu Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất về sự nhiệt
tình, quan tâm và giúp đỡ quý báu đó
Được đào tạo chuyên ngành Quản trị văn phòng, song các vốn kiến thức
về văn hóa doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, vì vậy tác giả rất mong nhận được
sự đóng góp của quý thầy cô giáo, các cơ quan và bạn đọc để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
HỌC VIÊN
Phùng Thị Chinh
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 8
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP VÀ GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÁC DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN Ở VIỆT NAM VÀ CÔNG TY TNHH AGREX VIỆT NAM 21
1.1Cơ sở lý luận về văn hóa doanh nghiệp .21
1.1.1Một số vấn đề cơ bản về VHDN 21
1.1.2Các yếu tố cấu thành VHDN 23
1.1.3Tác động của văn hóa doanh nghiệp đối với sự phát triển của doanh nghiệp 24
1.1.4Các phương thức đánh giá VHDN 26
1.2 Các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam .29
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển 29
1.2.2 Đánh giá chung về hoạt động của DN Nhật Bản ở Việt Nam 34
1.3Công ty TNHH Agrex Việt Nam 44
1.3.1 Quá trình hình thành và lĩnh vực hoạt động 44
1.3.2 Quy trình xây dựng VHDN tại Công ty Agrex Việt Nam 47
1.3.3 Các chủ thể tham gia xây dựng VHDN 49
1.3.4 Vai trò của phòng Hành chính Nhân sự trong xây dựng và duy trì VHDN tại công ty 51 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 55
2.1 Các biểu hiện bên trong 56
2.1.1 Định hướng văn hóa doanh nghiệp 56
2.1.2 Không gian làm việc 58
2.1.3 Chuẩn mực về tác phong nơi làm việc 60
2.1.4 Chuẩn mực về tinh thần và thái độ làm việc 67
2.1.5 Chuẩn mực về giao tiếp ứng xử 74
2.1.6 Các hoạt động phúc lợi 79
2.1.7 Khen thưởng, xử phạt 81
Trang 72.2 Các biểu hiện bên ngoài 83
2.2.1 Quan hệ với khách hàng 83
2.2.2 Tuân thủ các quy định của pháp luật 85
2.2.3 Trách nhiệm xã hội 91
2.2.4 Tạo dựng và quảng bá hình ảnh 93
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 95
Chương 3 XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TRONG CÁC CÔNG TY NHẬT BẢN Ở VIỆT NAM - MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ GIÁ TRỊ THAM KHẢO QUA TRƯỜNG HỢP CÔNG TY TNHH AGREX VIỆT NAM 96
3.1 Một số nhận xét về VHDN tại công ty TNHH Agrex Việt Nam 96
3.1.1 Tích cực 96
3.1.2 Hạn chế 99
3.2 Giá trị tham khảo về cách thức xây dựng văn hóa doanh nghiệp 106
3.2.1 Trung thành với các giá trị cốt lõi 106
3.2.2 Định hướng toàn cầu và hiện đại 107
3.2.3 Phù hợp với các giá trị địa phương 108
3.3 Giá trị tham khảo về quy trình xây dựng văn hóa doanh nghiệp 110
3.3.1 Xác định các định hướng và nguyên tắc ngay từ đầu 110
3.3.2 Quán triệt tinh thần văn hóa doanh nghiệp tới toàn thể công ty 111
3.3.3 Kết hợp giữa các triết lý và quy định cụ thể 114
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 116
KẾT LUẬN 117
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
PHẦN PHỤ LỤC 126
Trang 8DANH MỤC BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BPO Gia công quy trình phần mềm doanh nghiệp
VHDN Văn hóa doanh nghiệp TNHH Trách nhiệm hữu hạn
ISMS Information security management system
BOT Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao
BT Hợp đồng xây dựng – chuyển giao
BTO Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Tình hình đầu tư Nhật Bản vào Việt nam 2011 – 2015
Bảng 1.2 Số lượng doanh nghiệp Nhật Bản hoạt động ở Việt Nam giai đoạn 2005-2011
Bảng 1.3 Các địa phương dẫn đầu thu hút đầu tư Nhật Bản
Bảng 3.1 Kết quả khảo sát mức độ am hiểu VHDN tại công ty TNHH Agrex Việt nam
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Các mức độ của văn hóa doanh nghiệp (nguồn: Đỗ Thị Phi Hoài)
Sơ đồ 1.2 Cơ cấu tổ chức công ty TNHH Agrex Việt Nam
Quy trình 1.3 Quy trình xây dựng VHDN doanh nghiệp tại công ty Agrex Việt Nam
Quy trình 1.4 Quy trình ban hành và sửa đổi tài liệu tại công ty Agrex Việt Nam (nguồn 04-QT/ISMS/AGREXVIETNAM)
Quy trình 1.5 Quy trình xem xét của lãnh đạo về việc ban hành các quy trình công việc, nội quy, quy định (nguồn 01-QT/ISMS/AGREXVIETNAM)
Trang 12DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Mô hình Denison (nguồn: Đỗ Thị Phi Hoài, tr.19)
Hình 2.1 Các yếu tố cấu thành VHDN trong tập đoàn TIS [43]
Hình 3.1 Một số hình ảnh hoạt động tại công ty Agrex Việt Nam
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Giải thích các từ và thuật ngữ dùng trong luận văn
Doanh nghiệp: Là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh [20, tr 2]
Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH): Là loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân được pháp luật thừa nhận, có không quá 50 thành viên cùng góp vốn thành lập công ty và các thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp [20, tr 26]
2 Lý do chọn đề tài
Trong vài thập kỷ qua, VHDN là một lĩnh vực thu hút được sự quan tâm mạnh mẽ của các nhà quản lý, giới kinh doanh, các nhà khoa học và công chúng nói chung Về cơ bản các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học quản lý cũng như quản trị hiện nay như: Herb Kelleher – cựu chủ tịch Tập đoàn Southwest Airline và Chester Elton – một diễn giả và nhà tư vấn nổi tiếng thế giới, chuyên gia về văn hóa doanh nghiệp đều nhất trí rằng, “để thành công trong kinh doanh, một doanh nghiệp phải để lại dấu ấn đặc trưng của mình trên thị trường thông qua một hệ thống các mục tiêu, giá trị, các chuẩn mực về đạo đức, triết lý kinh doanh, quy tắc ứng xử, phương thức quản lý thể hiện qua các hoạt động nội bộ của doanh nghiệp cũng như trong các mối quan hệ của doanh nghiệp với bên ngoài Tổng hòa các yếu tố đó thường được gọi chung bằng cụm từ “văn hóa doanh nghiệp” [33]
Trang 14Với mỗi doanh nghiệp hiện nay, việc xây dựng và định hình văn hóa doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu của sự phát triển bởi lẽ, hệ thống những giá trị, quy tắc ứng xử, chuẩn mực đã nói ở trên chính là nền tảng để doanh nghiệp không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như tạo dựng thương hiệu của chính mình Theo một số nhà nghiên cứu như Phạm Tiến Đạt – Giảng viên khoa Quản trị trường Đại Học Thành Đô [40], cũng như một lãnh đạo doanh nghiệp điển hình như ông Trương Gia Bình – Chủ tịch tập đoàn FPT thì việc “xây dựng VHDN có vai trò đặc biệt quan trọng làm nên sự thành công của một doanh nghiệp Nó là giá trị, là niềm tin, là chất keo gắn kết làm nên sức mạnh không kém gì các yếu tố như nguồn vốn, nguồn nhân lực hay công nghệ Nó là yếu tố
quyết định sự phát triển của doanh nghiệp” [42]
Trong xu thế toàn cầu hóa hơn ba mươi năm qua Việt nam đã trở thành thành viên của nhiều tổ chức kinh tế, chính trị và xã hội trên thế giới như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1996, Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM) năm 1996, Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) năm 1998, Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) năm 2006, Tổ chức thương mại thế giới WTO năm 2007, Hiệp định đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) năm 2016,…Quá trình hội nhập vừa tạo ra nhiều cơ hội, vừa đặt ra nhiều thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp cần có sự quan tâm đúng đắn trong việc xây dựng cho mình một văn hóa doanh nghiệp phù hợp để có thể thích ứng với những yêu cầu của môi trường kinh doanh trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam nói riêng, cũng như những yêu cầu của quốc tế nói chung
Trang 15Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay, việc xây dựng VHDN chưa thực sự được các doanh nghiệp quan tâm đúng mức Điều này được thể hiện qua một số vấn đề chính như sau:
Một là, đối với các doanh nghiệp trong nước bên cạnh một số doanh
nghiệp ít nhiều tạo được dấu ấn trên thị trường thì hiện nay vẫn còn rất nhiều các doanh nghiệp chưa thực sự có thói quen đặt chữ tín lên hàng đầu, tính chuyên nghiệp trên thương trường và trách nhiệm xã hội trong kinh doanh còn thấp Các sản phẩm dịch vụ của các doanh nghiệp Việt Nam chưa thực sự được đánh giá cao trên thị trường quốc tế Theo đánh giá của diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) thì tới năm 2012, ở cấp độ toàn bộ nền kinh tế thì khả năng cạnh tranh của Việt Nam được đánh giá là 75/244 [41]
Hai là, đối với các doanh nghiệp nước ngoài có trụ sở tại Việt Nam,cách
thức sử dụng lao động là người Việt, kinh doanh và hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay còn tồn tại nhiều vấn đề đặc biệt là về trách nhiệm xã hội Một số
ví dụ điển hình bao gồm: Công ty Vedan với vụ việc xả thải ra sông Thị Vải, công ty Formosa gây ô nhiễm bờ biển Vũng Áng, công ty Samsung với vụ xô xát giữa các công nhân với nhóm bảo vệ tại nhà máy Samsung Display Bắc Ninh
Những vấn đề trên đây đặt ra một câu hỏi cho các nhà quản lý, doanh nghiệp và công chúng, đó là: Đâu là mô VHDN phù hợp trong bối cảnh hội nhập
ở Việt Nam để vừa có thể đáp ứng các chuẩn mực quốc tế và toàn cầu, vừa tương thích với các điều kiện cụ thể của môi trường và văn hóa kinh doanh ở Việt Nam
Trong các quốc gia Châu Á có quan hệ kinh tế lâu dài với Việt Nam, Nhật Bản là nước có nhiều thành công trong việc xây dựng VHDN Trong số các
Trang 16doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt đông tại Việt Nam, các công
ty có vốn đầu tư Nhật Bản nhìn chung được đánh giá cao về văn hóa doanh nghiệp Mặc dù có bề dày hoạt động tại Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua, nhưng các công ty Nhật Bản tại Việt Nam gần như không để xảy ra các vụ việc đáng tiếc liên quan đến văn hóa doanh nghiệp như một số công ty Đài Loan hay Hàn Quốc Thay vào đó, các công ty Nhật Bản thường được công chúng và cộng đồng đánh giá tích cực về sự chuyên nghiệp, phù hợp với chuẩn mực quốc tế, đồng thời cũng thể hiện một lối ứng xử phù hợp với các đặc điểm văn hóa của Việt Nam Điều này đặt ra câu hỏi: Các doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam đã xây dựng VHDN như thế nào để đạt được thành công đó và từ mô hình văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản, có thể rút ra những giá trị tham khảo gì về tổ chức văn hóa doanh nghiệp ở VN trong bối cảnh hội nhập hiện nay
Mặc dù là một doanh nghiệp còn non trẻ, nhưng ngay từ khi thành lập, công ty Agrex Việt Nam đã rất chú trọng đến công tác xây dựng VHDN, coi đây
là một nhiệm vụ quan trọng cần được tiến hành đồng thời với quá trình phát triển kinh doanh Trong những năm qua,dưới sự điều hành của ban lãnh đạo công ty thông qua đầu mối trực tiếp là phòng hành chính, công ty đã tiến hành áp dụng các triết lý cũng như các phương thức quản lý theo phong cách Nhật Bản trong quá trình xây dựng VHDN doanh nghiệp và đạt được những thành tựu nổi bật
Những giá trị trong VHDN Nhật Bản mà công ty đang áp dụng đã tạo nên một nét văn hóa riêng trong phong cách làm việc của công ty, với nhiều đặc điểm nổi bật như tinh thần nghiêm túc trong công việc, tinh thần đoàn kết giữa các thành viên, văn hóa làm việc nhóm
Trang 17Là một người được tiếp cận văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản từ sớm, thông qua quá trình rèn luyện và học hỏi trong một công ty Nhật Bản có trụ sở tại Việt Nam từ những năm đầu công ty được thành lập, tôi thấy rằng văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam nói chung và công ty Agrex Việt Nam nói riêng có nhiều điểm thú vị cần tìm hiểu Việc tìm hiểu văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản cũng sẽ đem lại nhiều giá trị tham khảo cho các nhà quản lý, kinh doanh và các nhà khoa học trong lĩnh vực quản lý và quản trị nói chung
Sau khi tham dự khóa đào tạo cao học ngành Quản trị văn phòng, tôi được tiếp cận với những vấn đề lý luận, thực tiễn về vai trò, trách nhiệm của bộ phận Hành chính – Văn phòng trong việc tham mưu và tổ chức thực hiện văn hóa công sở, văn hóa doanh nghiệp Tôi mong muốn được vận dụng những kiến thức
đã học vào việc nhận diện vai trò, trách nhiệm của Bộ phận Hành chính - Văn phòng trong quá trình xây dựng và thực hiện văn hóa doanh nghiệp ở các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam
Vì những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “ Văn hóa doanh nghiệp trong các công ty Nhật Bản ở Việt Nam (nghiên cứu trường hợp công ty TNHH Agrex Việt Nam)” làm nội dung nghiên cứu cho luận văn của mình
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trên thế giới cũng như Việt Nam có rất nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn về vấn đề xây dựng VHDN theo các hướng tiếp cận khác nhau Chẳng hạn, tác phẩm “Corporate Culture and Performance” tạm dịch là “Văn hóa doanh nghiệp và hiệu suất” (1992) của hai tác giả John P Kotter và James L Heskett được The Free Press ở New York xuất bản, thông qua quá trình tìm tòi, nghiên cứu về mối liên hệ giữa văn hóa và sự thực thi thành công mục tiêu của tổ chức
Trang 18taị các tập đoàn có ảnh hưởng lớn như: Hewlett-Packard, Xerox, ICI, Nissan và First Chicago…(gồm tất cả hơn 200 công ty) Tác giả đã mô tả cách thức các giá trị chia sẻ và các quy tắc bất thành văn có thể làm tăng thành công trong kinh doanh và ngược lại trong điều kiện thị trường và môi trường kinh doanh đang thay đổi Cuốn sách đã nêu lên niềm tin rằng một nền văn hóa mang giá trị tích
cực (strong) sẽ tạo ra hiệu quả kinh doanh xuất sắc [32]
Tác phẩm “All in, xây dựng văn hóa doanh nghiệp 7 bước đến thành công (Thành Khang, Diễm Quỳnh dịch)” (2015) của đồng tác giả Adrian Gostick – chuyên gia về lãnh đạo, Chester Elton – chuyên gia về VHDN, đề cập đến văn hóa công sở, các yếu tố niềm tin và công cụ văn hóa cùng với lộ trình 7 bước để xây dựng VHDN hiệu quả đó là: xác định tình trạng dầu sôi lửa bỏng, chú trọng vào khách hàng, phát triển tính linh hoạt, chia sẻ mọi điều, cộng tác với nhân tài, khuyến khích lẫn nhau, thiết lập trách nhiệm rõ ràng Cuốn sách nhấn mạnh rằng xây dựng VHDN là chiến lược mà đa số các nhà lãnh đạo hàng đầu trên thế giới
sử dụng để tạo ra thành tựu vượt trội, khi mọi yếu tố hỗ trợ cho việc xây dựng văn hóa trong tổ chức trở nên sẵn sàng thì công việc hiển nhiên sẽ trở nên thú vị
và hiệu quả, thành công không chỉ là gắn kết chặt chẽ các cá nhân mà còn là làm
họ tin rằng bạn có thể giúp tạo dựng tương lai
Ở Việt nam, VHDN và các nội dung liên quan tới VHDN đã được đưa vào
giảng dạy tại một số trường đại học như: Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Ngoại thương Hà Nội, Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Tài chính… cho thấy tầm quan trọng của việc trang bị kiến thức về VHDN cho nguồn nhân lực tương lai của nước nhà
Trang 19Tại Việt nam cũng đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về đề tài VHDN, một số tác giả đã có các công trình nghiên cứu về VHDN như: Nguyễn Duy Chi, Phạm Văn Quây, Đỗ Minh Cương, Đỗ Thị Phi Hoài, Phạm Xuân Nam, Dương Thị Liễu, Nguyễn Mạnh Quân…
Trong cuốn giáo trình “Văn hóa kinh doanh”, tác giả Dương Thị Liễu đã khái quát tổng quan về văn hóa kinh doanh, các yếu tố cấu thành và phân tích sự
đa dạng, phong phú của văn hóa kinh doanh quốc tế trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, cung cấp những kỹ năng cần thiết để xây dựng văn hóa kinh doanh trong bối cảnh hội nhập
Giáo trình “Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty” (2012) của tác giả Nguyễn Mạnh Quân đề cập tới các vấn đề đạo đức và văn hóa trong kinh doanh.Tác giả chỉ ra rằng sự “yếu thế” trong cạnh tranh thị trường quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam cho chúng ta bài học về thương hiệu, và yếu tố làm nên thương hiệu đó chính là văn hóa công ty Văn hóa công ty được coi là một phương pháp và công cụ quản lý mới và được áp dụng phổ biến trên toàn thế giới Văn hóa công ty là phương tiện hữu hiệu trong việc giải quyết mâu thuẫn
và để cải thiện vị thế Tác giả cũng đưa ra các giải pháp như: nhanh chóng phát triển thương hiệu, tạo lập hình ảnh tốt và kinh doanh đúng đắn [22]
Giáo trình “Văn hóa doanh nghiệp” (2011) của tác giả Đỗ Thị Phi Hoài đề cập tới VHDN và các dạng của VHDN, nghiên cứu vai trò của doanh nhân và văn hóa doanh nhân trong sự thành bại của doanh nghiệp Cuốn sách trang bị cho người học, người đọc những kiến thức lý luận về VHDN, văn hóa doanh nhân và biểu hiện của văn hóa trong các hoạt động kinh doanh [17]
Trang 20Ở mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau các tác giả cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng VHDN ở trên các phương diện khác nhau và không thể phủ nhận rằng xây dựng VHDN là điều kiện tất yếu cho một doanh nghiệp muốn tạo dựng thương hiệu thành công
Ngoài các tác phẩm của những tác giả nêu trên cũng đã có một số luận văn nghiên cứu về VHDN đó là:
Luận văn Thạc sỹ kinh tế của tác giả Đỗ Thị Thanh Tâm của trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh với đề tài “Xây dựng VHDN cho các doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế” (2006) Đề tài đưa ra một vài tổng quan về lý thuyết VHDN, tìm ra đặc trưng chính của VHDN của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay và đưa ra một số đề xuất xây dựng VHDN cho các doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế [23]
Luận văn Thạc sỹ Khoa học quản lý của tác giả Nguyễn Thu Hà của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà nội với tiêu đề “Thực trạng văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản ở việt nam (Nghiên cứu trường hợp công ty Fujitsu Việt Nam” (2015) Đề tài được tiếp cận dưới góc độ khoa học quản lý đã góp phần đưa ra một số lý luận về giá trị của VHDN Nhật Bản đối với nước Nhật và với Việt Nam, nhận diện một số biểu hiện VHDN Nhật Bản tại công ty Fujitsu và đề xuất một số khuyến nghị và bài học kinh nghiệm để vận dụng phù hợp với các doanh nghiệp Việt Nam [15]
Từ những nghiên cứu đã nói ở trên tác giả nhận thấy:
Một là, các nghiên cứu hiện có đã nghiên cứu nhiều về VHDN và VHDN
Nhật Bản, nhưng các nghiên cứu chuyên sâu về VHDN Nhật Bản tại Việt Nam thì chưa có nhiều
Trang 21Hai là, đã có một số nghiên cứu về VHDN Nhật Bản tại Việt Nam từ góc
độ Khoa học quản lý nói chung, nhưng ở góc độ quản trị văn phòng thì chưa có
Mục đích của luận văn này chính là góp phần lấp đầy khoảng trống đó
Ba là, trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu đã nói ở trên, tôi nhận thấy rằng
việc nghiên cứu VHDN có thể được tiếp cận và phân loại theo nhiều khía cạnh
Các cách phân loại phổ biến có thể kể đến là: Trực quan và phi trực quan, hữu hình và vô hình, bên trong và bên ngoài Tuy nhiên, hai cách tiếp cận đầu tiên có hạn chế là dễ gây khó hiểu và lúng túng cho người đọc trong việc bóc tách và phân biệt giữa thế nào là “hữu hình” và “vô hình”, “trực quan” và “phi trực quan” Do đó, trong luận văn này, chúng tôi chọn tiếp cận theo cách thứ ba, đó là tiếp cận VHDN thông qua các biểu hiện bên trong và bên ngoài
4 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở tham khảo những nghiên cứu đã có luận văn tập trung vào ba
mục tiêu sau:
Một là, nghiên cứu và hệ thống hóa lý luận chung về VHDN, tập trung
vào những khía cạnh như: chủ thể phụ trách xây dựng VHDN, các nội dung cơ bản của VHDN, các yếu tố và các nhân tố ảnh hưởng tới VHDN để làm sáng tỏ giá trị mà VHDN mang lại cho doanh nghiệp
Hai là, nghiên cứu, khảo sát và nhận diện tại công ty TNHH Agrex Việt
Nam, nhằm nhận diện VHDN Nhật Bản thông qua những hoạt động nội bộ của công ty và các mối quan hệ của công ty với bên ngoài
Ba là, đưa ra một số nhận xét, rút ra các giá trị tham khảo về VHDN và
cách thức xây dựng VHDN trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật Bản nói riêng và các doanh nghiệp Việt Nam nói chung
Trang 225 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ của luận văn là tìm hiểu mô hình VHDN của các công ty Nhật Bản tại Việt Nam thông qua trường hợp công ty Agrex Việt Nam Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu về các nét đặc trưng của VHDN Nhật Bản để từ đó rút ra một số nhận xét và giá trị tham khảo cho việc áp dụng VNDN Nhật Bản tại Việt Nam
6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là nhận diện và tìm hiểu VHDN của các công ty Nhật Bản ở Việt Nam
Phạm vi không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu, khảo sát tại một doanh nghiệp Nhật Bản đang kinh doanh tại Việt Nam Tên giao dịch của công
ty ở Việt Nam là Công ty TNHH Agrex (Việt Nam), trong các giao dịch quốc tế
là Agrex VietNam Co., Ltd Để cho thống nhất trong luận văn này, tác giả sử dụng tên là Công ty TNHH Agrex Việt Nam
Địa chỉ: Tầng 10 và tầng 14, tòa nhà Detech, số 8, Đường Tôn Thất Thuyết, Phường Mỹ Đình 2, Quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội
Phạm vi thời gian: từ khi công ty TNHH Agrex Việt Nam bắt đầu đi vào hoạt động ở Việt Nam từ 10/2013 đến nay
7 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Về nguồn tư liệu
Luận văn sử dụng 3 nguồn tư liệu chính:
Trang 23- Các thông tin thu thập qua khảo sát thực tế tại công ty TNHH Agrex Việt Nam, bao gồm: Các cuộc phỏng vấn, các quan sát của tác giả, các văn bản ban hành của công ty
- Các thông tin về công ty Agrex, các công ty Nhật Bản ở Việt Nam nói chung và văn hóa doanh nghiệp Việt Nam trên các phương tiện thông tin đại chúng
- Các công trình nghiên cứu đã nói ở trên
Về phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp như:
- Phương pháp điều tra thực địa của Nhân học, thông qua quá trình quan sát dài ngày tại doanh nghiệp, trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng VHDN và trải nghiệm môi trường VHDN tại công ty Agrex Việt Nam
- Phương pháp khảo sát thực tế xã hội học bằng bảng hỏi
- Phương pháp phỏng vấn
- Nghiên cứu tài liệu, kế thừa các kết quả của các công trình đi trước và cập nhật những tư liệu mới, phương pháp xử lý tài liệu thứ cấp trong nghiên cứu
- Phương pháp phân tích – so sánh
8 Đóng góp của luận văn
Sau khi nghiên cứu luận văn có những đóng góp sau:
Về mặt lý luận:
Trang 24Luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về VHDN và quá trình/cách thức xây dựng VHDN tại các công ty Nhật Bản có trụ sở tại Việt Nam nói riêng và các doanh nghiệp ở Việt Nam nói chung
Về mặt thực tiễn:
- Các tư liệu và kiến nghị của luận văn sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý trong việc xây dựng và cải thiện môi trường VHDN đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay;
- Luận văn cũng sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các doanh nghiệp Nhật Bản đang hoặc chuẩn bị đầu tư tại Việt Nam, cũng như các công ty có vốn nước ngoài và các công ty Việt Nam trong quá trình xây dựng VHDN
- Với công ty TNHH Agrex Việt Nam, luận văn có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo để điều chỉnh những điểm chưa phù hợp trong quá trình xây dựng VHDN
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng để làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy khi đề cập đến vấn đề VHDN Nhật Bản tại Việt Nam trong các trường đại học
9 Cấu trúc của luận văn
Chương 1 Cơ sở lý luận về văn hóa doanh nghiệp và giới thiệu chung về các doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam và công ty TNHH Agrex Việt Nam
Chương 2 Biểu hiện của văn hóa doanh nghiệp tại công ty TNHH Agrex Việt Nam
Trang 25Chương 3 Xây dựng văn hóa doanh nghiệp trong các công ty Nhật Bản ở Việt Nam – Một số nhận xét và giá trị tham khảo qua trường hợp công ty TNHH Agrex Việt Nam
Trang 26Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP VÀ GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÁC DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN Ở VIỆT NAM
VÀ CÔNG TY TNHH AGREX VIỆT NAM 1.1 Cơ sở lý luận về văn hóa doanh nghiệp
1.1.1 Một số vấn đề cơ bản về VHDN
* Văn hóa
Văn hóa ra đời gắn liền với sự phát triển của lịch sử nhân loại, đây là một khái niệm rất phức tạp, có nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau Các nhà nghiên cứu cũng đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau, do vậy dẫn đến nhiều quan niệm khác nhau về nội dung thuật ngữ này
Hiểu theo nghĩa hẹp, văn hóa là hệ tư tưởng, các hệ thống và các thể chế
đi theo nó như nghệ thuật, khoa học, triết học, đạo đức học…
Hiểu theo phạm vi nghiên cứu rộng chúng ta có các khái niệm về văn hóa như sau:
Theo triết học Mac – Lê nin “văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình; biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định” [12, tr 433]
Theo chủ tịch Hồ Chí Minh “ vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương tiện, phương thức sử dụng Toàn bộ những
Trang 27sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [13, tr 229-230]
Trong luận văn tác giả sử dụng định nghĩa văn hóa của PGS VS Trần Ngọc Thêm : “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác
giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”.[26, tr 10]
* Văn hóa doanh nghiệp
Giống như sự đa dạng và phong phú trong định nghĩa về văn hóa, khái niệm văn hóa doanh nghiệp cũng được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau và cũng có nhiều định nghĩa trong lĩnh vực này
Theo ông Georges de Saite Marie, chuyên gia người pháp về văn hóa doanh nghiệp vừa và nhỏ, đã đưa định nghĩa như sau” VHDN là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp [17, tr 17]
Một định nghĩa khác của tổ chức lao động quốc tế (ILO) “VHDN là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái
độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”
Tuy nhiên định nghĩa phổ biến và được chấp nhận rộng rãi nhất là định nghĩa của chuyên gia nghiên cứu các tổ chức Edgar Schein: “VH công ty là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh” [17, tr 18]
Trang 28Trong luận văn này, thuật ngữ VHDN được hiểu như sau : “ VHDN là một
hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi do chủ thể doanh nghiệp tạo ra trong quá trình kinh doanh, được thể hiện trong cách ứng xử của họ trong nội bộ doanh nghiệp và với xã hội, tự nhiên ở một cộng đồng hay một khu vực”[18, tr 43]
1.1.2 Các yếu tố cấu thành VHDN
Theo Edgar Schein, VHDN được chia thành ba mức độ khác nhau, đó là các mức độ cảm nhận được các giá trị văn hóa trong doanh nghiệp hay nói cách khác là tính hữu hình của các giá trị văn hóa đó Đây là cách tiếp cận độc đáo, đi
từ hiện tượng đến bản chất của một nền văn hóa, giúp cho chúng ta hiểu một các đầy đủ và sâu sắc những bộ phận cấu thành nên nền văn hóa đó
Sơ đồ 1.1 các mức độ của VHDN [nguồn: Đỗ Thị Phi Hoài, tr 19]
Những quá trình và cấu trúc hữu hình của doanh nghiệp (artifacts)
Những giá trị được chấp nhận (Espoused values)
Những quan niệm chung (basic Underlying Assumptions)
Mức độ thứ nhất
Mức độ thứ hai
Mức độ thứ ba
Trang 29Mức độ thứ nhất: bao gồm tất cả những hiện tượng và sự vật mà một
người có thể nhìn, nghe và cảm nhận khi tiếp xúc với một tổ chức có nền văn hóa xa lạ như: kiến trúc, cơ cấu tổ chức, các văn bản quy định nguyên tắc hoạt động của doanh nghiệp, lễ nghi và lễ hội hàng năm, các biểu tượng, ngôn ngữ, các hành vi ứng xử thường thấy của các thành viên trong doanh nghiệp, những câu chuyện, hình thức và mẫu mã sản phẩm…
Mức độ thứ hai: là những giá trị được tuyên bố, đó là các quy định,
nguyên tắc, triết lý, chiến lược và mục tiêu riêng, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của tổ chức, những giá trị này cũng có tính hữu hình vì người khác có thể nhận biết và diễn đạt chúng một cách rõ ràng, chính xác.mưc
Mức độ thứ ba:những quan niệm chung, những ý nghĩa niềm tin, nhận thức,
suy nghĩ và tình cảm có tính vô thức, mặc nhiên được công nhận trong doanh nghiệp
1.1.3 Tác động của văn hóa doanh nghiệp đối với sự phát triển của doanh
nghiệp
* Tích cực:
VHDN tạo nên phong thái của doanh nghiệp: chúng ta không mấy khó khăn để nhận ra phong cách của một doanh nghiệp thành công phong cách đó thường gây ấn tượng mạnh cho người ngoài và thường là niềm tự hào của các thành viên trong tổ chức đó, phong thái riêng của doanh nghiệp là thứ không thể mua hay bắt chước được mà nó chỉ được tạo nên từ ý thức, sự nỗ lực của cả một tập thể
Trang 30Một nền văn hóa tốt giúp cho doanh nghiệp thu hút nhân tài và củng cố lòng trung thành của nhân viên đối với doanh nghiệp: những yếu tố thuộc về chính sách của công ty, sự giám sát, các mối quan hệ cá nhân, điều kiện làm việc
và mức lương là những yếu tố vật chất chứ không phải động cơ giữ chân nhân tài, những yếu tố khác như: thành tích, sự ghi nhận, bản thân công việc, trách nhiệm và sự tiến bộ là những yếu tố có ảnh hưởng dài hạn mang tính tích cực đối với nhân viên, hay nói cách khác VHDN của doanh nghiệp là yếu tố giữ chân nhân tài ở lại với doanh nghiệp Các cá nhân nhận thấy vai trò của mình trong việc giúp tổ chức đạt được sứ mệnh, mục tiêu chung, đó là động lực khiến họ muốn cống hiến nhiều hơn cho doanh nghiệp
VHDN góp phần làm giảm mâu thuẫn, xây dựng khối đoàn kết: VHDN được miêu tả như một chất keo gắn kết các thành viên trong doanh nghiệp, việc tạo ra một văn hóa làm việc chung sẽ tạo ra sự thống nhất trong quan điểm nhìn nhận, đánh giá và lựa chọn điều này có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp có mâu thuẫn và thiếu sự thống nhất về nội bộ
VHDN khích lệ quá trình đổi mới và sáng chế: nghĩa là các nhân viên được khuyến khích để tách biệt ra và đưa ra sáng kiến sự khích lệ này sẽ góp phần phát huy tính năng động sáng tạo của các thành viên, là cơ sở cho quá trình nghiên cứu và phát triển công ty Mặt khác, những thành công của nhân viên trong công việc sẽ tạo động lực gắn bó họ với công ty lâu dài và tích cực hơn
* Tiêu cực:
VHDN như một rào cản trước yêu cầu thay đổi và đa dạng: một doanh nghiệp có nền văn hóa tiêu cực có thể là do doanh nghiệp đó có cơ chế quản lý cứng nhắc theo kiểu hợp đồng độc đoán, chuyên quyền và hệ thống tổ chức quan
Trang 31liêu, gây ra không khí thụ động, sợ hãi ở các nhân viên, khiến họ có thái độ thờ ơ hoặc chống đối lãnh đạo ở một khía cạnh khác cũng có thể là doanh nghiệp không có ý định tạo nên một mối liên hệ nào khác giữa nhân viên ngoài quan hệ công việc, văn hóa của doanh nghiệp từ đó sẽ tạo ra những rào cản đối với những thành viên muốn đóng góp cho tổ chức, không tạo được môi trường thúc đẩy cá nhân nỗ lực trên hành trình thực hiện sứ mệnh chung của doanh nghiệp
1.1.4 Các phương thức đánh giá VHDN
Trong VHDN có nhiều phương thức để đánh giá và xây dựng, trong phạm
vi luận văn này, tác giả xin đề cập đến mô hình của Denison
Đây là một công cụ để xác định sự thay đổi của doanh nghiệp dưới sự tác động của VHDN, công cụ này đánh giá VHDN với bốn đặc điểm văn hóa cơ bản tiêu biểu nhằm tập trung vào mối liên hệ giữa VHDN với các điểm mấu chốt để
đo lường thành tích của doanh nghiệp cũng như khả năng thu được lợi nhuận, sự tăng trưởng, chất lượng, sự cải tiến, khách hàng và sự thỏa mãn của nhân viên
Mô hình này được sử dụng để giúp doanh nghiệp nhận ra được những điểm mạnh, điểm yếu để từ đó điều chỉnh các quy tắc và duy trì qua thời gian để trở thành các giá trị ngầm định
Trang 32Hình 1.1 mô hình Denison nguồn (nguồn Đỗ Thị Phi Hoài, tr 19)
Mô hình Denison được cấu thành bởi bốn yếu tố:
Khả năng thích ứng: Doanh nghiệp có nền móng VHDN vững chắc sẽ có
khả năng cảm nhận và thích ứng với những thay đổi của môi trường kinh doanh
để từ đó sẽ có những phương án kinh doanh và điều chỉnh các hành vi sao cho phù hợp nhất Các thành viên trong doanh nghiệp phải nhận ra tầm quan trọng của việc làm hài lòng khách hàng, liên tục tìm kiếm những thách thức mới và cải tiến để đáp ứng hoặc đón đầu nhu cầu của họ Bên cạnh đó, đề cao việc học tập liên tục, rút ra bài học từ những kinh nghiệm đã có để phát triển trong tương lai
Trang 33Sứ mệnh: Trong yếu tố này, doanh nghiệp phải xác định định hướng dài
hạn, tầm nhìn, mục tiêu, ý nghĩa tồn tại và cách thức hành động cho từng nhân viên, có nhiệm vụ nói với họ rằng tại sao họ đang làm công việc này? Và làm thế nào để công việc chúng ta làm mỗi ngày góp phần vào sự phát triển chung của toàn doanh nghiệp Định hướng chiến lược rõ ràng thể hiện ở mục đích của tổ chức và xác định rõ cách thức mà nhân viên có thể đóng góp, các mục tiêu dài hạn và ngắn hạn được gắn kết với sứ mệnh, tầm nhìn và chiến lược, nhân viên có định hướng rõ ràng trong công việc của mình Nếu các sứ mệnh rõ ràng và được chia sẻ rộng rãi thì sẽ giúp cho doanh nghiệp và các thành viên xác định được cách thức hành động phù hợp, đồng thời cũng khiến nhân viên gắn bó với doanh nghiệp hơn
Tính nhất quán: tính nhất quán giúp xác định các giá trị và hệ thống làm
nền tảng cho một nền văn hóa mạnh Giá trị cốt lõi giúp các thành viên trong tổ chức chia sẻ một hệ thống chuẩn mực đạo đức Sự đồng thuận thể hiện ở chỗ doanh nghiệp có thể đạt được đồng thuận về những vấn đề quan trọng hay không? Nó bao gồm cả mức độ đồng thuận và khả năng giải quyết được những khác biệt khi chúng nảy sinh Giá trị này biểu hiện ở chỗ các bộ phận có thể làm việc tốt với nhau để đạt mục tiêu chung và những ranh giới của tổ chức không ảnh hưởng đến việc hoàn thành công việc
Sự tham gia: Sự tham gia thể hiện ở chỗ doanh nghiệp chú trọng vào việc
phát triển năng lực con người, tinh thần làm chủ và chịu trách nhiệm của nhân viên Các nhà quản lý giao cho nhân viên quyền tự quyết, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về công việc của mình nhưng thêm vào đó cũng cần phải kích thích tinh thần trách nhiệm của nhân viên Ngoài ủy quyền, doanh nghiệp cũng nên chú trọng vào vấn đề phát triển năng lực, kỹ năng cho nhân viên, duy trì khả năng
Trang 34cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu kinh doanh và hỗ trợ hiệu quả cho việc ủy quyền
Bên cạnh đó, về định hướng nhóm, mọi thành viên nên đề cao việc hợp tác để đạt được mục tiêu và kết quả sẽ dựa trên nỗ lực của cả nhóm Có thể nói, biểu hiện của sự tham gia chính là việc khuyến khích nhân viên làm chủ công việc và
có trách nhiệm với công việc mà họ tham gia Từ phía doanh nghiệp, ngoài việc
áp dụng hệ thống kiểm soát chính thức, rõ ràng, quan liêu cũng cần tiến hành đồng thời với các biện pháp phi chính thức, tự nguyện hay ngầm định khác
1.2 Các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Trong giai đoạn 1989 - 1996: Khi luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
vẫn đang trong những năm đầu thực hiện, số lượng doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật Bản còn rất ít Tính đến năm 1994 chỉ có 72 dự án với tổng số vốn đăng ký gần 570 triệu USD, tập trung chủ yếu ở hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
Năm 1995 FDI của Nhật Bản vào Việt Nam tăng mức vượt bậc với tổng
số vốn đăng ký và tăng thêm đạt 1,1 tỉ USD, tăng hơn gấp 4 lần so với năm
1994 Năm 1996 FDI của Nhật Bản đạt gần 1,2 tỷ USD, nâng tổng mức đầu tư
cả giai đoạn lên 2,8 tỷ USD Kết quả năm 1996 được xem như là thành tích thu hút FDI Nhật Bản nổi bật nhất trong giai đoạn 10 năm kể từ khi có dự án FDI Nhật Bản đầu tiên vào Việt Nam [24, tr 8]
Trong giai đoạn 1997 – 2007: Tổng số vốn FDI của Nhật Bản vào Việt
Nam giảm dần, chỉ bằng khoảng 20% so với thời kỳ nổi bật nhất 1996 Sự sụt giảm này chỉ dừng lại vào năm 2000, khi Chính phủ Việt Nam tiến hành sửa đổi Luật đầu tư nước ngoài Nhờ vậy FDI của Nhật Bản vào Việt Nam được phục
Trang 35hồi Giai đoạn 2004 – 2006 là giai đoạn phục hồi mạnh mẽ FDI Nhật Bản vào Việt Nam được xác lập con số mới với 1,6 tỷ USD và tăng thêm 149 dự án vào năm 2006, đến năm 2007 FDI của Nhật Bản vào Việt Nam tuy có giảm nhưng vẫn ở mức cao với tổng vốn đầu tư là 1,4 tỷ USD và 165 dự án [24, tr.9]
Trong giai đoạn 2008 - 2017: Năm 2008 là năm bùng nổ thứ ba của dòng
FDI Nhật Bản vào Việt Nam Đạt gần 8,2 tỷ USD, tăng gấp 5,7 lần so với năm
2007 Tuy nhiên do tác động của suy giảm kinh tế toàn cầu nên năm 2009 FDI của Nhật Bản vào Việt Nam giảm mạnh chỉ đạt 715 triệu USD với 102 dự án [24, tr 9]
Trong 3 năm từ năm 2011 - 2013 đầu tư của Nhật Bản liên tục tăng nhanh, năm 2011-2012 đạt mức cao nhất, chiếm tới 51% tổng số vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam [36]
Trong những năm từ 2014 -2015 FDI của Nhật Bản vào Việt Nam có phần suy giảm Mặc dù trong bảng xếp hạng Nhật Bản vẫn là nước đứng ở vị trí thứ 3-
4, nhưng tổng số vốn đầu tư lại giảm Sự thay đổi này là do sự ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, đồng yên mất giá làm ảnh hưởng đến dòng vốn từ Nhật Bản, khiến chính phủ Nhật Bản tăng chi tiêu công và mở ra nhiều cơ hội cho nhà đầu tư ngay tại thị trường nội địa Tuy vậy, đến năm 2016 FDI từ Nhật Bản vào Việt Nam đã tăng lên Hiện Nhật Bản có hơn 549 dự án FDI với tổng số vốn trên 2,1 tỷ USD [16]
Trang 36Bảng 1.1 Tình hình đầu tư Nhật Bản vào Việt nam 2011 – 2015
Nguồn: Báo diễn đàn doanh nghiệp [38]
* Cơ cấu doanh nghiệp theo ngành nghề
Trong các lĩnh vực đầu tư, ngành công nghiệp chế biến vẫn là ngành có sức hút lớn nhất với các doanh nghiệp Nhật Bản cả về tiêu chí số lượng doanh nghiệp và quy mô vốn thực hiện Các dự án đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam trước đây thường tập trung vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp, gia công lắp ráp
để xuất khẩu, nhưng những năm gần đây Nhật Bản có mặt hầu hết tại các lĩnh vực mà Việt Nam kêu gọi đầu tư, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực sản xuất linh phụ kiện
Theo thống kê của Bộ kế hoạch và Đầu tư, tính cho tới thời điểm 06 tháng đầu năm 2017, Nhật Bản đã đầu tư vào 19 ngành, lĩnh vực tại Việt Nam Tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực Nhật Bản có thế mạnh cụ thể là: công nghiệp chế biến chế tạo máy (với 1568 dự án, tổng vốn đầu tư 33,82 tỷ USD, chiếm gần
Trang 3780% tổng số vốn đăng ký), kinh doanh bất động sản (với 58 dự án, sản xuất phân phối điện khí nước, điều hòa với 14 dự án) [39]
* Cơ cấu doanh nghiệp theo hình thức đầu tư
Theo số liệu thống kê, tới tháng 02/2017 của Cục đầu tư nước ngoài, các
dự án của Nhật Bản tại Việt Nam chủ yếu theo hình thức 100% vốn nước ngoài với 2.678 dự án, tổng vốn đầu tư 24,17tỷ USD (chiếm 82.8% tổng số dự án và 57.5% tổng vốn đầu tư) Đứng thứ hai là hình thức liên doanh với 540 dự án, tổng vốn đầu tư 16,16 tỷ USD Còn lại là các dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT, BT, BTO và hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh [37]
* Cơ cấu doanh nghiệp theo vùng
Trong những năm đầu thực hiện vai trò nhà đầu tư, Nhật Bản chủ yếu chú
ý đến các khu vực đồng bằng, nơi tập trung nhiều dân cư và nhu cầu tiêu dùng cao, cơ sở hạ tầng tốt và nguồn nhân lực có trình độ Quy mô đầu tư được mở rộng hơn bắt đầu từ năm 1993 Tính đến hết năm 1999 FDI Nhật Bản đã có mặt
ở 25 tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó Đồng Nai đứng đầu với 57 dự án,
Hà Nội thứ 2 với 27 dự án [16]
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế trong nước, số lượng các địa phương nhận vốn đầu tư từ Nhật Bản cũng đã tăng lên đáng kể Nếu như năm 2007-2008 doanh nghiệp Nhật Bản chỉ đầu tư ở 33 tỉnh thì đến năm 2009 con số này đã lên đến 38 tỉnh Các doanh nghiệp Nhật Bản vẫn có xu hướng đầu tư mạnh vào một số khu vực trung tâm và những địa bàn có cơ sở hạ tầng tốt
Chẳng hạn như năm 2009, cả nước có 657 doanh nghiệp Nhật Bản hiện diện, tuy nhiên tính riêng 3 địa phương là Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương,
đã có tới 619 doanh nghiệp Nhật Bản, chiếm gần 70% tổng số doanh nghiệp
Trang 38Nhật Bản tại Việt Nam thời điểm đó FDI của Nhật Bản không đồng đều giữa các tỉnh cũng là một trong những lý do làm nên sự chênh lệch về tốc độ phát triển giữa các vùng miền của Việt Nam [16]
Số lượng doanh nghiệp Nhật Bản được cấp phép hoạt động tại Việt Nam trong những năm gần đây có xu hướng tăng lên, phân bổ ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam nhưng tập trung chủ yếu là ở miền Nam và miền Bắc Các doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ Ở Miền Nam doanh nghiệp tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực dệt may, chế biến lương thực, thực phẩm, linh kiện điện tử, máy móc, bán lẻ, ăn uống, còn ở miền Bắc là các lĩnh vực máy in phức hợp, điện thoại di động, xe máy, dịch vụ…
Bảng 1.2 Số lượng doanh nghiệp Nhật Bản hoạt động ở Việt Nam giai đoạn 2005-2011
Năm Địa phương 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
Miền Bắc 166 199 246 295 353 377 421
Miền Nam 275 311 358 376 416 867 533
Nguồn: Nguyễn Trâm Anh [2, tr.30]
Tính đến 06 tháng đầu năm 2017, Nhật Bản đã đầu tư vào 53 tỉnh thành trên cả nước, trong đó Thanh Hóa đứng đầu bảng với 14 dự án có tổng vốn đầu
tư là 9,73 tỷ USD, thứ hai là Hà Nội với 894 dự án với tổng vốn đầu tư là 4,92 tỷ
Trang 39USD Tiếp theo là các địa phương như: Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Hải Phòng, Đồng Nai, Hưng Yên [44].
Bảng 1.3 Bảng các địa phương dẫn đầu thu hút đầu tư Nhật Bản
1.2.2 Đánh giá chung về hoạt động của DN Nhật Bản ở Việt Nam
Tính đến tháng 11 năm 2017 ông Hironobu Kitogawa, trưởng đại diện Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) cho biết: Có 70% doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam cho biết có phương châm “mở rộng hoạt động” Tỷ lệ này cao hơn đáng kể so với 66% của năm 2016 Về lợi nhuận kinh doanh, có 65,1% số doanh nghiệp Nhật Bản trả lời đầu tư có lãi, doanh nghiệp Nhật Bản báo lỗ là 19,4% giảm 5,7 điểm phần trăm so với năm 2016 Bên cạnh đó có tới 88% số doanh nghiệp Nhật Bản cho rằng doanh thu của họ tại Việt Nam sẽ tăng trong năm 2018, 46% doanh nghiệp kỳ vọng vào sự tăng trưởng và tiềm năng của thị trường [35]
Trang 40Tổ chức JETRO cho biết tính đến năm 2018 có 1.700 doanh nghiệp Nhật Bản đang đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam, trong đó có rất nhiều doanh nghiệp mới thành lập Theo số liệu của Cục đầu tư nước ngoài tính đến thời điểm tháng 01/2018, Nhật Bản là nước đứng thứ hai trong số 125 quốc gia và vùng lãnh thổ
có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam với 3629 dự án và tổng vốn đăng ký là 49,455 tỷ USD (chiếm 15,5% tổng số vốn) sau Hàn Quốc [37]
Trong những yếu tố làm nên kết quả kinh doanh ấn tượng của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng một trong những nguyên nhân chính là do đại bộ phận các doanh nghiệp Nhật Bản đã có ý thức xây dựng một môi trường VHDN Các doanh nghiệp Nhật Bản luôn chú trọng đến trách nhiệm và uy tín của mình trên thị trường Đây là điểm khác biệt lớn làm nên thương hiệu của các doanh nghiệp Nhật Bản So với doanh nghiệp các nước khác như Hàn Quốc, Trung Quốc… các doanh nghiệp Nhật Bản hầu như không có sự phản ánh không tính cực nào về trách nhiệm doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội
Trong những đặc trưng về VHDN của các công ty Nhật Bản tại Việt Nam,
có thể kể đến một số đặc trưng tiêu biểu sau đây:
* Chú trọng xây dựng triết lý kinh doanh
Các doanh nghiệp Nhật Bản dù lớn hay nhỏ đều có triết lý kinh doanh rất sâu sắc gắn sự phát triển của doanh nghiệp với xã hội và môi trường xung quanh
Triết lý kinh doanh là mục tiêu phát biểu, xuyên suốt, có ý nghĩa định hướng cho doanh nghiệp trong cả một thời kỳ phát triển dài Triết lý kinh doanh còn có ý nghĩa như một thương hiệu, làm nền tảng cho sự phát triển của doanh nghiệp, gắn kết mọi người, là cầu nối để khách hàng biết đến doanh nghiệp Để giữ gìn