DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ 0.1 Khung nghiên cứu hệ thống kiểm soát độc lập đối với CDĐL dưới góc độ lý thuyết hệ thống 12 0.2 Khung nghiên cứu về hệ thống quản lý và kiểm soát CDĐL tr
Lý do nghiên cứu
CDĐL là dấu hiệu chỉ nguồn gốc xuất xứ của các sản phẩm có tính chất, chất lƣợng đặc thù gắn liền với các điều kiện địa lý, truyền thống và bí quyết sản xuất của người dân địa phương Bảo hộ CDĐL giúp truy xuất nguồn gốc sản phẩm, ngăn cản các bên thứ ba sử dụng mà không đƣợc phép của chủ sở hữu, đồng thời bảo vệ danh tiếng sản phẩm trên thị trường Khái niệm CDĐL lần đầu tiên đƣợc đề cập đến tại Hiệp định TRIPS năm 1994
Cùng với quá trình gia nhập WTO và tham gia ký kết Hiệp định TRIPS, Việt Nam đã ban hành một hệ thống pháp luật theo tiêu chuẩn quốc tế về sở hữu trí tuệ trong đó có các quy định cụ thể về CDĐL [30;3] Sau khi trở thành thành viên của WTO và Hiệp định TRIPS, Việt Nam cũng đã tham gia ký kết 11 Hiệp định thương mại tự do song phương, đa phương và đang trong quá trình đàm phán, đi đến kết thúc đàm phán 6 Hiệp định thương mại tự do khác 1 Trong đó, sở hữu trí tuệ bao gồm cả CDĐL đóng vai trò quan trọng trong nội dung của các Hiệp định thương mại tự do này
Quá trình gia nhập WTO và đàm phán các hiệp định thương mại tự do cho thấy việc thực hiện các cam kết pháp lý nói chung và cam kết về sở hữu trí tuệ bao gồm CDĐL nói riêng đặt ra cho Việt Nam nhiều thách thức Cụ thể, trong Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu, một trong những nội dung đƣợc xây dựng đó là hai bên dự định công nhận và bảo hộ lẫn nhau các CDĐL Phía Việt Nam dự định công nhận bảo hộ cho Liên minh châu Âu 171 CDĐL[4;1] và phía Liên minh châu Âu dự định công nhận bảo hộ cho Việt Nam 41 CDĐL Theo đó, các CDĐL của Việt Nam sẽ đƣợc công nhận bảo hộ ở châu Âu và ngƣợc lại mà không phải trải qua quy trình nộp đơn đăng ký và thẩm định thông thường Tuy nhiên, ngoài các quy định về tiêu chuẩn bảo hộ, Liên minh châu Âu còn có các quy định chặt chẽ về việc kiểm soát các CDĐL đƣợc bảo hộ Cụ thể là, các quy định của Liên
1 http://www.trungtamwto.vn/fta, cập nhật ngày 10/12/2015 minh châu Âu yêu cầu các sản phẩm mang CDĐL đƣợc bảo hộ phải đƣợc kiểm soát chất lƣợng và thông tin về tổ chức có trách nhiệm thực hiện hoạt động kiểm soát chất lƣợng đối với CDĐL phải đƣợc công bố trên trang chính thức của Ủy ban Nông nghiệp châu Âu [22; phụ lục 01] Trong khi đó, thực tiễn quản lý 42 CDĐL của Việt Nam cho thấy có nhiều vấn đề bất cập thể hiện ở hệ thống quản lý, quy trình kiểm soát, vai trò của tổ chức tập thể [6;2], hệ thống pháp luật của Việt Nam cũng chƣa có các quy định cụ thể về vấn đề kiểm soát chất lƣợng đối với CDĐL… Kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu trong việc bảo hộ CDĐL cũng như kết quả khảo cứu các nghiên cứu có trước [31;4] cho thấy CDĐL không phải là mô hình hiệu quả và dễ dàng thành công nếu không có các biện pháp kiểm soát chất lƣợng chặt chẽ [24;31] Thiết lập một hệ thống quản lý CDĐL hiệu quả bao gồm việc hình thành một hệ thống kiểm soát chất lƣợng đối với CDĐL không chỉ bảo vệ chính uy tín cũng nhƣ giá trị của các sản phẩm mang CDĐL, bảo vệ các nhà sản xuất chân chính và người tiêu dùng, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi quyền đối với CDĐL mà còn nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế và gia tăng cơ hội xuất khẩu sản phẩm CDĐL
Quản lý và kiểm soát CDĐL là một khâu quan trọng trong quá trình thực thi CDĐL Hiệu quả thực thi CDĐL nói chung và hiệu quả quản lý, kiểm soát CDĐL nói riêng không chỉ phụ thuộc vào khung khổ pháp lý mà còn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội và chính trị Tiếp cận từ lý thuyết hệ thống và lý thuyết về thể chế, Luận văn sẽ chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng quản lý và kiểm soát CDĐL ở Việt Nam hiện nay, từ đó đƣa ra các giải pháp nhằm triển khai hệ thống kiểm soát độc lập đối với CDĐL của Việt Nam và đề xuất một số kiến nghị cho việc hoạch định chính sách nhằm cải thiện hệ thống quản lý CDĐL ở Việt Nam.
Tổng quan tình hình nghiên cứu
Khái niệm CDĐL và các khái niệm liên quan nhƣ chỉ dẫn nguồn gốc, tên gọi xuất xứ đƣợc đề cập đến trong các quy định pháp luật từ thế kỷ 19 2 Tuy nhiên, kể từ khi Hiệp định TRIPS năm 1994 thiết lập một hệ thống bảo hộ đối với CDĐL và thiết lập nên một cơ chế bảo hộ đối với CDĐL không còn giới hạn trong khu vực Liên minh châu Âu mà mở rộng ra ở các nước tham gia ký kết hiệp định này, thì CDĐL mới xuất hiện nhiều trong các tài liệu nghiên cứu Các nghiên cứu mà Luận văn thu thập đƣợc hầu hết đƣợc công bố sau năm 2000, bao gồm:
2.1 Một số tác phẩm nghiên cứu CDĐL nói chung:
- Dưới góc độ luật học như:
+ Bernard O’Connor (2001), The law of Geographical Indication,
Bernard O’Connor (2005), Sui generis protection of geographical indications
Tác phẩm này đã nghiên cứu chỉ dẫn địa lý nhƣ một đối tƣợng độc lập của quyền sở hữu trí tuệ đồng thời đề xuất một số nguyên tắc cơ bản về mặt luật học cho việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý theo Luật riêng (sui generis)
- Dưới góc độ kinh tế như:
+ Dwijen Rangnekar (2004), The Socio-Economics of Geographical Indications, BRIDGES Between Trade and Sustainable Development Tác phẩm này nghiên cứu chỉ dẫn địa lý dưới góc độ kinh tế xã hội và đặc biệt chú trọng đến hai vấn đề chính đó là: a) mối quan hệ giữa chính sách bảo hộ chỉ dẫn địa lý và phát triển nông nghiệp nông thôn và b) sự gia tăng mức độ quan tâm của người tiêu dùng đến chất lượng thực phẩm dẫn đến chính sách bảo hộ chỉ dẫn địa lý
+ Lê Thị Thu Hà (2011), Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp dưới góc độ thương mại đối với chỉ dẫn địa lý của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Thông tin và truyền thông Đây là tác phẩm đã hệ thống hóa, phân tích hoàn thiện cơ sở lý luận về bảo hộ quyền đối với chỉ dẫn địa lý dưới góc độ thương mại Tác phẩm cũng đề xuất bốn nhóm giải pháp để thực
2 Xem thêm tr.15 thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý đó là: hoàn thiện môi trường pháp lý, giải pháp đối với các cơ quan quản lý, giải pháp đối với tổ chức tập thể và giải pháp đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh
- Dưới góc độ nông nghiệp và phát triển nông thôn như:
+ Daniel Giovannucci, Tim Josling, William Kerr, Bernard O’Connor, may.T.Yeung (2009), Guide to geographical indications: lingking products and their origin - Hướng dẫn chỉ dẫn địa lý: kết nối sản phẩm và xuất xứ Đây là kết quả của quá trình nghiên cứu các chỉ dẫn địa lý điển hình nhất trên thế giới và rút ra bài học thực tiễn từ đó đề xuất mô hình chính sách dưới góc độ nông nghiệp và phát triển nông thôn để xây dựng thành công chỉ dẫn địa lý
2.2 Nghiên cứu về quản lý và kiểm soát CDĐL:
Liên quan đến kiểm soát CDĐL, quản lý CDĐL cũng nhƣ các nghiên cứu tiếp cận vấn đề quản lý CDĐL, kiểm soát CDĐL dưới góc độ lý thuyết hệ thống và lý thuyết về thể chế hầu nhƣ không có, tác giả chỉ tiếp cận đƣợc một số tài liệu có đề cập đến vấn đề kiểm soát như một bước trong quy trình CDĐL, một số bài trình bày tại các hội thảo quốc tế về CDĐL và một số nghiên cứu của các tác giả Việt Nam bao gồm:
+ Emilie Vandecandelaere, Filippo Arfini, Giovanie Belleti, Andrea Mares Cotti (2009), Linking People, Places and Products;
+ Daniel Giovannucci, Tim Josling, William Kerr, Bernard O’Connor, may.T.Yeung (2009), Guide to geographical indications: lingking products and their origin - Hướng dẫn chỉ dẫn địa lý: kết nối sản phẩm và xuất xứ;
+ Luisa Menapace (2011), Quality certification by geographical indications, trademarks and firm reputation, European review of agricultural economics vol 39 (4);
+ Cosimo Marinosci (2013), Check-in and control activities on energy performance certificates in Emilia-Romagna (Italy), Elsevier Ltd;
+ Florence GRAVIER (2013), Các mô hình kiểm soát CDĐL tại Pháp, Bài trình bày tại hội thảo” Quản lý hiệu quả: đảm bảo sự thành công của các CDĐL”;
+ Florence GRAVIER (2013), Những vấn đề trong kiểm soát CDĐL và vai trò quyết định của cơ quan chức năng, Bài trình bày tại hội thảo” Quản lý hiệu quả: đảm bảo sự thành công của các CDĐL”;
+ Lê Thị Thu Hà (2007), Quản lý CDĐL ở Việt Nam - Nhìn từ góc độ kinh nghiệm của Cộng hoà Pháp, WIPO/GEO/BEI/07/4;
+ Đỗ Lê Văn (2013), Nâng cao vai trò của Hiệp hội để quản lý và thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với CDĐL ở Việt Nam, Luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý khoa học và công nghệ;
+ Đào Đức Huấn (2013), Kiểm soát CDĐL của Việt Nam: thể chế và thực tiễn, Bài trình bày tại hội thảo “Quản lý hiệu quả: đảm bảo sự thành công của các CDĐL”…
Các bài viết của các tác giả Lê Thị Thu Hà, Đào Đức Huấn, Đỗ Lê Văn đã chỉ ra rằng hệ thống quản lý CDĐL của Việt Nam không chỉ thiếu các quy định pháp lý mà còn tồn tại nhiều khó khăn trong thực thi Tuy nhiên chƣa có nghiên cứu nào tiếp cận quản lý CDĐL và kiểm soát CDĐL dưới góc độ của lý thuyết hệ thống và lý thuyết về thể chế đồng thời đề cập đến hệ thống kiểm soát độc lập nhƣ một giải pháp then chốt để quản lý CDĐL ở Việt Nam hiện nay Trong quá trình khảo cứu các nghiên cứu có trước về vấn đề CDĐL nói chung và kiểm soát CDĐL nói riêng, tác giả bước đầu nhận định rằng kiểm soát CDĐL đóng vai trò quan trọng đối với sự thành công của việc bảo hộ CDĐL vì vậy tác giả lựa chọn đề tài “Xây dựng hệ thống kiểm soát độc lập để quản lý chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam” để nghiên cứu.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu Đề xuất giải pháp để quản lý CDĐL của Việt Nam bằng việc xây dựng và triển khai hệ thống kiểm soát độc lập
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt đƣợc mục tiêu nghiên cứu trên, Luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý CDĐL và kiểm soát độc lập đối với CDĐL;
- Khảo sát, phân tích thực trạng quản lý và kiểm soát độc lập các CDĐL của Việt Nam;
- Đề xuất giải pháp hình thành và triển khai hệ thống kiểm soát độc lập cho các sản phẩm mang CDĐL của Việt Nam.
Mẫu khảo sát
Từ phạm vi nghiên cứu, căn cứ vào chủ thể kiểm soát CDĐL, Luận văn lựa chọn 04 mô hình kiểm soát CDĐL để khảo sát:
- Khảo sát mô hình thành lập Ban kiểm soát chuyên trách đối với chỉ dẫn địa lý Phú Quốc cho sản phẩm nước mắm của tỉnh Kiên Giang, chỉ dẫn địa lý Bình Thuận cho sản phẩm thanh long của tỉnh Bình Thuận
- Khảo sát mô hình cơ quan nhà nước kiêm nhiệm thực hiện chức năng kiểm soát độc lập đối với chỉ dẫn địa lý Buôn Ma Thuột cho sản phẩm cà phê nhân của tỉnh Đắk Lắk; và chỉ dẫn địa lý Trà My cho sản phẩm quế vỏ của tỉnh Quảng Nam.
Câu hỏi nghiên cứu
Cần thực hiện các giải pháp xây dựng và triển khai hệ thống kiểm soát độc lập nhƣ thế nào để quản lý hiệu quả các CDĐL ở Việt Nam?
Giả thuyết nghiên cứu
Cần thực hiện ba nhóm giải pháp để quản lý có hiệu quả các CDĐL ở Việt Nam thông qua việc xây dựng và triển khai hệ thống kiểm soát độc lập đối với CDĐL bao gồm:
1 Hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý và kiểm soát CDĐL;
2 Củng cố và hoàn thiện quy trình kiểm soát độc lập thông qua hoạt động khảo sát, đánh giá thực trạng và phân loại các CDĐL đã đƣợc bảo hộ kết hợp với nâng cao hiệu quả xác lập quyền đối với CDĐL và xác định mô hình, phương thức hoạt động và đào tạo nhân lực cho tổ chức kiểm soát độc lập;
3 Tăng cường hiệu quả kiểm soát độc lập thông qua kiểm soát nội bộ và hoạt động tự kiểm soát.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu quản lý và kiểm soát CDĐL ở Việt Nam hiện nay với tư cách là một hệ thống trong mối quan hệ với các yếu tố của môi trường
Việc sử dụng lý thuyết hệ thống đƣợc đƣa ra bởi Nobert Winner (1948) [33] và Bertalanffy L.v (1969) [18] để tiếp cận thực trạng quản lý và kiểm soát CDĐL ở Việt Nam sẽ cho phép xác định đƣợc vai trò của các tác nhân trong quy trình bảo hộ và thực thi CDĐL, chỉ ra đƣợc các điểm mạnh và điểm yếu của các tác nhân này trong thực tế Song song với việc sử dụng lý thuyết hệ thống để định hướng cho việc phân tích các điểm mạnh và điểm yếu của hệ thống quản lý và kiểm soát CDĐL, Luận văn sử dụng lý thuyết về thể chế để định hướng cho việc đánh giá các yếu tố của môi trường tác động đến hệ thống quản lý và kiểm soát CDĐL Từ đó Luận văn chỉ ra các yếu tố quyết định tính hiệu quả của hệ thống quản lý CDĐL và những tồn tại của hệ thống quản lý CDĐL của Việt Nam hiện nay Luận văn bắt đầu bằng việc sử dụng lý thuyết về thể chế đƣợc đƣa ra bởi Douglass.C.North (1990, 1991) 3 để tìm hiểu tác động của các thể chế pháp lý, kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội đến hệ thống quản lý CDĐL, trong đó, tập trung khảo sát và đánh giá tác động của thể chế pháp lý và thể chế kinh tế đối với hệ thống quản lý CDĐL
3 Luận văn không tiếp cận đƣợc tài liệu gốc của lý thuyết này Bài viết của tác giả Douglass.C.North về lý thuyết thể chế đƣợc công bố năm 1991 đƣợc tác giả tiếp cận quan địa chỉ http://kysq.org/docs/North_91_Institutions.pdf, cập nhật ngày 12/10/2015
Hình 0.1 Khung nghiên cứu hệ thống kiểm soát độc lập đối với CDĐL dưới góc độ lý thuyết hệ thống
Vào Ra (Mục tiêu) Điều khiển Phản hồi
Hình 0.2 Khung nghiên cứu về hệ thống quản lý và kiểm soát CDĐL trong môi trường thể chế
Luận văn sử dụng các phương pháp thu thập thông tin dưới đây trong quá trình nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn: để chứng minh vai trò của kiểm soát độc lập đối với quản lý chỉ dẫn địa lý
+ Phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát gửi qua hòm thư điện tử:
Luận văn tiến hành điều tra bằng bảng hỏi đối với 42 CDĐL đã đƣợc bảo hộ
Chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý
Tổ chức kiểm soát độc lập
Hệ thống quản lý và kiểm soát CDĐL
Thể chế văn hóa – xã hội
Thể chế chính trị của Việt Nam để xác định tình trạng và các khó khăn trong quá trình triển khai hệ thống kiểm soát CDĐL
+ Phương pháp phỏng vấn: sau khi có kết quả sơ bộ từ điều tra bằng phiếu khảo sát, Luận văn lựa chọn 02 CDĐL thành lập ban kiểm soát độc lập chuyên trách và 02 CDĐL có cơ quan kiểm soát độc lập là cơ quan nhà nước để tiến hành phỏng vấn sâu nhằm tìm hiểu về quy trình kiểm soát độc lập, kết quả thực hiện kiểm soát và các yếu tố tác động đến hệ thống quản lý CDĐL và hệ thống kiểm soát CDĐL.
Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của Luận văn gồm có 3 chương, bao gồm:
- Chương 1 Cơ sở lý luận về chỉ dẫn địa lý và kiểm soát độc lập đối với chỉ dẫn địa lý
- Chương 2 Đánh giá thực trạng quản lý và kiểm soát các chỉ dẫn địa lý đƣợc bảo hộ ở Việt Nam
- Chương 3 Giải pháp hình thành hệ thống kiểm soát độc lập để quản lý chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ VÀ KIỂM SOÁT ĐỘC LẬP ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ
Chỉ dẫn địa lý
Từ xa xƣa các sản phẩm nông sản, thực phẩm, đồ uống, thủ công nghiệp, tơ lụa, đồ đồng, hương liệu… có chất lượng và danh tiếng nhờ nguồn gốc xuất xứ đã thường được gọi tên theo địa danh tương ứng với nơi sản xuất ra nó.[32;1] Nhu cầu sử dụng các sản phẩm có chất lƣợng và danh tiếng ngày càng tăng thì xu hướng giả mạo các sản phẩm này cũng xuất hiện, vì vậy, các chỉ dẫn này cần đƣợc bảo vệ để chống lại các hành vi lợi dụng danh tiếng, cạnh tranh không lành mạnh Các quy định pháp luật đầu tiên bảo hộ địa danh gắn với các sản phẩm có chất lƣợng và danh tiếng nhờ nguồn gốc địa lý mang lại xuất phát từ các nước châu Âu như Pháp, Ý… vào thế kỷ 15.[23;3] Các nghiên cứu đi trước chỉ ra rằng quy định đầu tiên về bảo hộ sản phẩm gắn với địa danh là quy định của Quốc hội Pháp về việc bảo hộ sản phẩm pho mát Roquefort [29;361] Các quy định về bảo hộ địa danh gắn với sản phẩm sau đó đã đƣợc đƣa vào các điều ƣớc quốc tế nhằm hài hòa hóa các quy định trong quá trình thương mại và từ đó các khái niệm liên quan đến CDĐL dần được hình thành tương ứng với các mức độ bảo hộ khác nhau
Khái niệm chỉ dẫn địa lý theo các Điều ước quốc tế
Khái niệm CDĐL lần đầu tiên đƣợc đề cập đến tại Hiệp định TRIPS năm 1994, tuy nhiên, trước đó, các khái niệm liên quan đến CDĐL như chỉ dẫn nguồn gốc, tên gọi xuất xứ đã đƣợc đề cập đến tại các điều ƣớc quốc tế khác nhƣ Công ƣớc Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp năm 1883, Thỏa ƣớc Lisbon về Bảo hộ tên gọi xuất xứ và Đăng ký quốc tế… Cùng với quá trình hội nhập, khái niệm CDĐL đã đƣợc pháp điển hóa thông qua các vòng đàm phán đa phương và được ghi nhận trong Hiệp định TRIPs Hiệp định TRIPS định nghĩa CDĐL “là những chỉ dẫn xác định một sản phẩm có nguồn gốc từ một khu vực địa lý xác định, mà tại đó chất lƣợng, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của sản phẩm chủ yếu gắn với nguồn gốc địa lý của sản phẩm”
[8;Điều 22.1] So với các điều ước quốc tế có trước, Hiệp định TRIPS đã xác định phạm vi bảo hộ khá chặt chẽ đối với CDĐL Theo đó, điều kiện để bảo hộ CDĐL là chỉ dẫn đó phải chỉ dẫn nguồn gốc lãnh thổ của sản phẩm từ một quốc gia thành viên hoặc từ khu vực hay địa phương của lãnh thổ đó và chất lƣợng uy tín hoặc đặc tính của sản phẩm phải có mối liên hệ chặt chẽ với các điều kiện của khu vực Nhƣ vậy, Hiệp định TRIPS đã mở rộng nội hàm của khái niệm CDĐL bằng cách không giới hạn CDĐL ở phạm vi tên gọi (địa danh) nữa Thuật ngữ “chỉ dẫn” đƣợc nêu trong Hiệp định TRIPS có thể đƣợc coi là bất cứ dấu hiệu nào, tên gọi, địa danh hoặc biểu tƣợng… Mặt khác, Hiệp định TRIPS cũng không giới hạn đối tƣợng đƣợc bảo hộ gắn liền với CDĐL là nông sản hay thực phẩm, mà chỉ đƣa ra khái niệm sản phẩm Điều này có nghĩa là ngoại trừ các dịch vụ thì tất cả các sản phẩm kể cả các sản phẩm thủ công, mỹ nghệ đều thuộc đối tƣợng bảo hộ CDĐL Có thể nói Hiệp định TRIPS đã đƣa ra một khái niệm khái quát và nền tảng nhất về CDĐL
Trên cơ sở các quy định của Hiệp định TRIPS, các quốc gia thành viên có thể có các định nghĩa khác nhau về CDĐL Nhìn chung, các định nghĩa về CDĐL của pháp luật các nước tham gia Hiệp định TRIPS mặc dù không hoàn toàn thống nhất nhưng về cơ bản có sự tương đồng
Quy định của Liên minh châu Âu về khái niệm chỉ dẫn địa lý
Tiêu biểu nhất của hệ thống bảo hộ CDĐL đó là các quy định của Liên minh châu Âu Quy chế của Ủy ban châu Âu số 510/2006 ban hành ngày 20/3/2006 đưa ra hai định nghĩa tương đương với hai hình thức bảo hộ là tên gọi xuất xứ và CDĐL Theo đó, tên gọi xuất xứ là tên một khu vực, địa điểm, một quốc gia để mô tả nông sản hoặc thực phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa điểm cụ thể hoặc quốc gia đó, có chất lƣợng hoặc đặc tính phụ thuộc cơ bản vào môi trường địa lý cụ thể với các yếu tố tự nhiên, con người và việc sản xuất, chế biến, chuẩn bị đƣợc thực hiện tại khu vực đó [22; Điều 2.1.a]
Trong khi đó, khái niệm CDĐL có nội hàm tương tự với khái niệm tên gọi xuất xứ nói trên nhƣng yêu cầu về sự liên kết giữa sản phẩm và khu vực địa lý yếu hơn Cụ thể là CDĐL chỉ yêu cầu một trong những khâu sản xuất/chế biến/chuẩn bị đƣợc diễn ra tại khu vực địa lý trong khi đối với tên gọi xuất xứ, các khâu nói trên đều phải diễn ra tại khu vực địa lý [22;Điều 2.1.b]
Nhƣ vậy, trong các quy định của Liên minh châu Âu tồn tại song song cả hai khái niệm tên gọi xuất xứ và CDĐL So với Hiệp định TRIPS thì các quy định của Liên minh châu Âu thu hẹp nội hàm của cả hai khái niệm này ở mức độ chỉ là các tên gọi của khu vực, quốc gia, địa điểm… Tuy nhiên, Quy chế 510/2006 lại quy định rằng: Địa danh hoặc tên gọi không phải địa danh truyền thống chỉ dẫn một nông sản hoặc thực phẩm đáp ứng các điều kiện tại định nghĩa nói trên cũng sẽ đƣợc coi là chỉ dẫn nguồn gốc hoặc chỉ dẫn địa lý.
[22;Điều 2.2] Điều này có nghĩa là các quy định của Liên minh châu Âu chấp nhận bảo hộ cả những tên gọi không phải là địa danh và nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa các đặc tính của sản phẩm và các điều kiện địa lý
Khái niệm chỉ dẫn địa lý trong pháp luật của Việt Nam
Trước khi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được ban hành thì các quy định pháp luật của Việt Nam chỉ tồn tại thuật ngữ “Tên gọi xuất xứ hàng hóa” Khái niệm này đƣợc đề cập đến tại Bộ Luật Dân sự năm 1995, Nghị định 63/CP của Chính phủ
Khi Luật SHTT năm 2005 đƣợc ban hành thì khái niệm TGXXHH đã đƣợc mở rộng thành khái niệm CDĐL CDĐL đƣợc Luật SHTT năm 2005 định nghĩa là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể [9;Điều 22.4] Định nghĩa này của Luật SHTT năm 2005 đã tiếp cận gần hơn với khái niệm về CDĐL đƣợc nêu tại Hiệp định TRIPS, có nghĩa là Luật SHTT năm
2005 không chỉ bảo hộ các tên gọi địa lý (địa danh) mà bảo hộ cả các dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý của sản phẩm
Quan điểm của Luận văn về khái niệm CDĐL là khái niệm CDĐL đƣợc quy định tại Hiệp định TRIPS và Điều 22.4 Luật SHTT năm 2005 nói trên
1.1.2 Bảo hộ chỉ dẫn địa lý
CDĐL với tƣ cách là một đối tƣợng của quyền sở hữu trí tuệ đƣợc bảo hộ bằng các quy định pháp luật nhằm chống lại các hành vi xâm phạm quyền lợi hợp pháp của các nhà sản xuất, lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc và chất lƣợng của sản phẩm Chính vì vậy, việc bảo hộ CDĐL đã đƣợc quy định tại các Điều ƣớc quốc tế và đƣợc pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới bảo hộ dưới các hình thức khác nhau
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý theo các Điều ước quốc tế và quy định của các nước trên thế giới về bảo hộ chỉ dẫn địa lý
Ban đầu, việc bảo hộ CDĐL theo các điều ƣớc quốc tế đƣợc đƣa ra dưới hình thức những quy định về chống chỉ dẫn sai lệch và lừa dối về nguồn gốc hàng hóa thông qua pháp luật bảo vệ người tiêu dùng và chống cạnh tranh không lành mạnh.[7;28] Điều 10 bis Công ƣớc Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp quy định một trong những hành động trái với tập quán trung thực trong công nghiệp và thương mại bị coi là hành động cạnh tranh không lành mạnh là những chỉ dẫn hoặc khẳng định mà việc sử dụng chúng trong hoạt động thương mại có thể gây nhầm lẫn cho công chúng về bản chất, quá trình sản xuất, tính chất, tính thích hợp để sử dụng hoặc số lƣợng của hàng hóa
Thỏa ƣớc Madrid về chống chỉ dẫn sai lệch hoặc lừa dối về nguồn gốc hàng hóa đƣa ra các quy định nhằm chống lại các hành vi chỉ dẫn sai lệch hoặc lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc, chất lượng… của sản phẩm Cụ thể là, bất kỳ sản phẩm nào mang chỉ dẫn sai lệch hoặc lừa dối mà qua đó một trong số các quốc gia thành viên của Thỏa ƣớc Madrid hoặc một địa điểm tại nước đó được chỉ dẫn trực tiếp hay gián tiếp là nước hoặc địa điểm xuất xứ thì hàng nhập khẩu vào bất kỳ quốc gia thành viên nào của Hiệp ƣớc Madrid đều bị tịch thu [12;Điều 1.1]
Thỏa ƣớc Lisbon về Bảo hộ tên gọi xuất xứ và đăng ký quốc tế tên gọi xuất xứ là Điều ƣớc quốc tế đầu tiên thiết lập một hệ thống các quy định chính thức về bảo hộ tên gọi xuất xứ cũng nhƣ thiết lập các cơ sở cần thiết để đăng ký và bảo hộ quốc tế đối với tên gọi xuất xứ Thoả ƣớc này cũng đƣa ra hai điều kiện cơ bản để bảo hộ Tên gọi xuất xứ, đó là, tên gọi xuất xứ phải được bảo hộ tại thị trường nội địa và phải được đăng ký với Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới.[1;9] Tuy nhiên, Thỏa ƣớc Lisbon chỉ bảo hộ tên gọi xuất xứ, và đồng thời bảo hộ ở mức cao đối với các tên gọi xuất xứ Cụ thể là, Thỏa ƣớc này quy định việc bảo hộ các tên gọi xuất xứ đảm bảo chống lại bất kỳ sự bắt chước hay mô phỏng, kể cả trường hợp có nêu chỉ dẫn về xuất xứ thật hoặc được sử dụng dưới dạng dịch hoặc sử dụng kết hợp với các từ như loại, kiểu, dạng, phỏng theo hoặc tương tự như vậy.[11;Điều 3] Việc bảo hộ quốc tế đối với tên gọi xuất xứ theo Thỏa ƣớc Lisbon dựa trên đăng ký quốc gia và vì thế việc bảo hộ này chỉ thích hợp với các nước có hệ thống pháp luật bảo hộ riêng đối với tên gọi xuất xứ Các quốc gia bảo hộ tên gọi xuất xứ dưới hình thức chống cạnh tranh không không lành mạnh hoặc các hình thức bảo hộ sở hữu trí tuệ khác đều không đủ điều kiện để tham gia Ngoài ra, Thỏa ƣớc Lisbon cũng không loại trừ các CDĐL đã trở thành tên gọi chung ở một số nước Chính vì các lý do đó mà Thỏa ước này chỉ có 22 thành viên tham gia ký kết 6
Xuất phát từ yêu cầu bảo hộ những dấu hiệu chỉ dẫn nguồn gốc địa lý trong thực tiễn và nhằm khắc phục những hạn chế của các Điều ƣớc quốc tế nói trên, Tổ chức thương mại thế giới, thông qua các phiên đàm phán đa phương, đã thiết lập một phương thức bảo hộ linh hoạt hơn với một khái niệm mới là CDĐL tại Hiệp định TRIPS Và kể từ khi Hiệp định TRIPS ra đời thì việc bảo hộ CDĐL đã đạt đƣợc sự phát triển ở quy mô rộng lớn hơn Sở dĩ Hiệp định TRIPS có sự tác động mạnh mẽ đến CDĐL nhƣ vậy là do các quy định của Hiệp định TRIPS rất linh hoạt với các cấp độ bảo hộ CDĐL khác nhau và Hiệp định TRIPS cho phép các quốc gia thành viên có thể lựa chọn các hình thức bảo hộ phù hợp với thực tiễn và pháp luật của mình Cụ thể là,
Kiểm soát độc lập đối với chỉ dẫn địa lý
1.2.1 Khái niệm kiểm soát và kiểm soát độc lập đối với chỉ dẫn địa lý Khái niệm kiểm soát CDĐL
Khái niệm “kiểm soát CDĐL” (Geographical control) đƣợc đề cập đến lần đầu tiên tại Quy chế của Ủy ban châu Âu số 882/2004 ngày 29/4/2004 về kiểm soát chính thức nhằm đảm bảo việc tuân thủ luật thực phẩm và thức ăn chăn nuôi, các quy tắc về thú y và bảo vệ động vật Tại Quy chế này, khái niệm “kiểm soát chính thức” (official control) đã đƣợc định nghĩa là “bất kỳ hình thức kiểm soát nào của cơ quan có thẩm quyền hoặc của Cộng đồng nhằm kiểm tra sự tuân thủ luật thực phẩm và thức ăn chăn nuôi, các quy tắc về thú y và bảo vệ động vật” Tại Quy chế của Ủy ban châu Âu số 882/2004 này, “tổ chức kiểm soát” (control body) cũng đƣợc định nghĩa là “một tổ chức thứ ba độc lập có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ kiểm soát” Các quy chế của Ủy ban châu Âu sau đó nhƣ Quy chế số 510/2006 ngày 20/3/2006, Quy chế số 1151/2012 ngày 20/11/2012 có quy định về “kiểm soát chính thức”, tuy nhiên vẫn sử dụng khái niệm “kiểm soát” đƣợc quy định tại Quy chế số 882/2004 mà không định nghĩa lại thuật ngữ này Nhƣ vậy, việc kiểm soát chính thức đối với CDĐL ở Liên minh châu Âu được đặt trong chương trình kiểm soát chung về an toàn thực phẩm và chăn nuôi Các quy định về kiểm soát đối với CDĐL đƣợc nêu tại các văn bản pháp luật của Liên minh châu Âu là quy định về việc kiểm soát chính thức và tại các quy định này thì việc kiểm soát CDĐL đƣợc hiểu là kiểm soát độc lập
Quan điểm của Luận văn về khái niệm “kiểm soát CDĐL”
Ngoại trừ Quy chế của Ủy ban châu Âu số 884/2004 định nghĩa về khái niệm “kiểm soát CDĐL”, Luận văn chƣa tìm thấy thêm tài liệu nào định nghĩa về khái niệm “kiểm soát CDĐL” Tuy nhiên, tiếp cận từ lý thuyết hệ thống, quan điểm của Luận văn về khái niệm “kiểm soát CDĐL” là: quy trình được thực hiện bởi cả Nhà nước và cả chủ thể quyền nhằm đảm bảo các cam kết về bảo hộ CDĐL đã đƣợc thực thi Hay nói cách khác đó chính là quy trình kiểm tra ở các cấp độ khác nhau nhằm đảm bảo sản phẩm mang CDĐL được thương mại hóa đáp ứng các tiêu chí nêu tại Bản mô tả
Dựa vào chủ thể của quá trình kiểm soát CDĐL, các cấp độ kiểm soát CDĐL đƣợc phân loại nhƣ sau[6;2]:
- Tự kiểm soát: Các nhà/hộ sản xuất tự quản lý sản phẩm của chính mình Dựa trên hướng dẫn, quy trình sản xuất đã được thiết lập cho sản phẩm, các nhà/hộ sản xuất sản phẩm mang CDĐL tự giác tuân theo các quy định về sản xuất sản phẩm mang CDĐL và tự kiểm soát chất lƣợng các sản phẩm của mình tạo ra nhằm đảm bảo yêu cầu nêu tại Bản mô tả sản phẩm
- Kiểm soát nội bộ: đây là hoạt động do chủ sở hữu CDĐL tiến hành nhằm đảm bảo các khâu sản xuất, chế biến sản phẩm của các nhà sản xuất, chế biến đƣợc phép sử dụng CDĐL đáp ứng các quy định nêu tại Bản mô tả sản phẩm, đảm bảo khâu cấp quyền sử dụng CDĐL đƣợc tiến hành chính xác nhằm hướng đến mục tiêu chung của tổ chức là sản phẩm đưa ra thị trường đáp ứng các tiêu chí về nguồn gốc, chất lƣợng, cảm quan đƣợc quy định tại Bản mô tả sản phẩm;
- Kiểm soát độc lập: đây là hoạt động đƣợc tiến hành bởi một tổ chức độc lập (khái niệm tổ chức độc lập hay còn gọi là bên thứ ba đƣợc hiểu là một tổ chức có cơ cấu, chức năng hoàn toàn độc lập với chủ sở hữu CDĐL) nhằm mục đích kiểm tra xem chủ sở hữu CDĐL có tuân thủ các quy định tại Bản mô tả tính chất chất lƣợng của sản phẩm hay không Ở châu Âu, tổ chức kiểm soát độc lập thường do các tổ chức chứng nhận là các tổ chức tư nhân thực hiện Các tổ chức chứng nhận này phải đáp ứng tiêu chuẩn ISO/GUIDE 65 hoặc tiêu chuẩn châu Âu EN 45011
- Kiểm soát ngoại vi: là hoạt động đƣợc thực hiện bởi các cơ quan thực thi quyền nhằm chống lại các hành vi xâm phạm quyền đối với CDĐL
Khái niệm kiểm soát độ soát đ vi xâ CDĐL
Kiểm soát độc lập là một cấp độ kiểm soát đối với CDĐL Kiểm soát độc lập là hoạt động kiểm tra đƣợc tiến hành bởi một cơ quan độc lập nhằm đảm bảo các sản phẩm mang CDĐL đáp ứng các tiêu chuẩn đƣợc nêu tại Bản mô tả Cơ quan độc lập ở đây đƣợc hiểu là cơ quan thứ ba, bên cạnh Nhà nước và chủ thể quyền, đóng vai trò trung gian, khách quan trong quá trình kiểm soát
1.2.2 Nguồn gốc, ý nghĩa và vai trò của kiểm soát trong quy trình quản lý chỉ dẫn địa lý
Liên minh châu Âu là khu vực có lịch sử bảo hộ CDĐL lâu đời nhất, [29;361] và có số lƣợng các CDĐL đƣợc bảo hộ nhiều nhất trên thế giới[24;211] Quá trình phát triển CDĐL ở các nước này cũng cho thấy rằng song song với cơ chế bảo hộ cần phải có cơ chế kiểm soát nhằm đảm bảo rằng các sản phẩm được bảo hộ đáp ứng các tiêu chuẩn đã công bố Dưới góc độ xã hội học, “Bản mô tả tính chất chất lƣợng đặc thù của sản phẩm” (Bản mô tả) có thể được coi là một “khế ước xã hội” Trong đó, Nhà nước chấp nhận bảo hộ các CDĐL và có các chế tài để thực thi thiết chế đó, đổi lại các chủ thể quyền CDĐL cam kết cung cấp cho thị trường các sản phẩm có nguồn gốc địa lý xác định đạt các tiêu chí về chất lƣợng đƣợc nêu trong Bản mô tả Và nhƣ vậy, kiểm soát CDĐL chính là quy trình được thực hiện bởi cả Nhà nước và cả chủ thể quyền nhằm đảm bảo các cam kết về bảo hộ CDĐL đã đƣợc thực thi Hay nói cách khác đó chính là quá trình kiểm tra ở các cấp độ khác nhau nhằm đảm bảo sản phẩm mang CDĐL được thương mại hóa đáp ứng các tiêu chí nêu tại Bản mô tả Nhƣ vậy, kiểm soát CDĐL là khâu không thể thiếu trong một quy trình bảo hộ CDĐL nhằm đạt đến mục tiêu của nó là khuyến khích sự phát triển của các sản phẩm có chất lƣợng đảm bảo gắn liền với nguồn gốc xuất xứ xác định Kiểm soát CDĐL mặt khác cũng là cơ chế song song không thể thiếu bên cạnh quy trình xác lập quyền CDĐL nhằm chống lại sự giả mạo nguồn gốc xuất xứ, lợi dụng danh tiếng của các sản phẩm nổi tiếng nhằm trục lợi bất chính Các sản phẩm mang CDĐL có giá bán cao gấp nhiều lần đối với các sản phẩm cùng loại khác Các ví dụ cụ thể đƣợc thống kê nhƣ: giá của trà Xihu Longjing tăng lên 10% vào năm 2005 kể từ khi đƣợc bảo hộ CDĐL năm 2001; tại Pháp pho mát đƣợc bảo hộ CDĐL có giá cao hơn xấp xỉ 30% so với pho mát nói chung; dầu ôliu Tuscan có giá cao hơn so với giá của dầu có chất lượng tương đương; thịt gà Bresse tại Pháp có giá cao gấp 4 lần so với thịt gà không được chứng nhận CDĐL …[24;21] Điều này chứng tỏ rằng người tiêu dùng đã đặt niềm tin rất lớn vào các sản phẩm đƣợc bảo hộ CDĐL đồng thời cũng cho thấy giá trị của các sản phẩm mang CDĐL cao hơn rất nhiều lần so với các sản phẩm chƣa có danh tiếng khác Các sản phẩm đƣợc chứng nhận CDĐL đƣa lại cho các quốc gia giá trị kinh tế không nhỏ, doanh thu của các sản phẩm này trên toàn thế giới ƣớc tính khoảng 40 tỷ đô la Mỹ.[24;19]
Trước những nguồn lợi to lớn mà CDĐL mang lại như vậy, việc giả mạo các sản phẩm mang CDĐL, việc cố tình gia tăng số lƣợng sản phẩm mà không tuân thủ các quy định về kiểm soát chất lƣợng sản phẩm của các nhà sản xuất… là nguy cơ không thể tránh khỏi nếu không có cơ chế kiểm soát
Các nghiên cứu đi trước chỉ ra rằng nếu không có quy trình kiểm soát chặt chẽ thì CDĐL không phải là một mô hình hiệu quả [24;19] Người tiêu dùng ngày càng có xu hướng thận trọng hơn khi lựa chọn các sản phẩm, đặc biệt là lương thực và thực phẩm, họ cũng sẵn sàng trả tiền cao hơn cho các sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng và chất lƣợng đảm bảo.[31;110] Chính vì vậy, một hệ thống kiểm soát chất lƣợng đảm bảo sản phẩm đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực chất lƣợng theo đúng cam kết, đúng nguồn gốc xuất xứ sẽ là yếu tố quyết định giúp cho các sản phẩm CDĐL có lợi thế cạnh tranh hơn trên thị trường Hệ thống kiểm soát chất lượng cho phép truy xuất nguồn gốc của sản phẩm, đảm bảo sản phẩm đạt các tiêu chuẩn chất lƣợng nhờ tuân thủ chặt chẽ quy trình sản xuất đã đƣợc thiết lập tại Bản mô tả Và do đó, các sản phẩm mang CDĐL có đƣợc các giá trị gia tăng nhờ danh tiếng và niềm tin của người tiêu dùng Có thể nói, trong bốn bước để đảm bảo cho một quy trình CDĐL thành công là nhận diện, chứng nhận, thương mại và tái sản xuất (Sơ đồ 1.1) thì việc chứng nhận đóng vai trò quan trọng và kiểm soát chất lƣợng chính là khâu không thể thiếu trong quá trình chứng nhận này
Xuất phát từ thực tiễn đó trong quá trình bảo hộ CDĐL, với ý tưởng là cần phải tách biệt các tổ chức tập thể và tổ chức kiểm soát để đảm bảo tính khách quan và minh bạch trong quy trình CDĐL, nhằm nâng cao tính tin cậy của hệ thống CDĐL, Liên minh châu Âu đã ban hành các quy định chính thức nhằm thiết lập cơ chế kiểm soát CDĐL Và cho đến thời điểm hiện nay, các nước thuộc Liên minh châu Âu cũng là các nước thành công trong việc bảo hộ và kiểm soát các CDĐL 11
11 Theo Daniele Giovaninucci: Liên minh châu Âu có khoảng 6021 chỉ dẫn địa lý đƣợc bảo hộ, trong đó rƣợu vang và rƣợu mạnh chiếm đến 5200 sản phẩm; trong đó các quốc gia dẫn đầu bao gồm Pháp với thị trường các sản phẩm chỉ dẫn địa lý chiếm 10% tổng giá trị thị trường thực phẩm, ước tính 19 tỷ Euro; 430 chỉ dẫn địa lý của Italia thu được 12 tỷ Euro,
133 chỉ dẫn địa lý của Tây Ban Nha tạo ra khoảng 3,5 tỷ Euro Các chỉ dẫn địa lý tại bảy
Sơ đồ 1.1 Vòng tròn đảm bảo chất lƣợng nhờ xuất xứ sản phẩm
1.2.3 Hệ th.3 Emilie Vadencandelaerv)hờ xuất xứ sản p
Luận văn lựa chọn lý thuyết hệ thống để tiếp cận và nghiên cứu hệ thống kiểm soát độc lập đối với CDĐL Từ cách tiếp cận của lý thuyết hệ thống, có thể định nghĩa hệ thống kiểm soát độc lập đối với CDĐL nhƣ sau:
Hệ thống kiểm soát độc lập đối với CDĐL là hệ thống có mục tiêu đảm bảo các sản phẩm mang CDĐL đáp ứng các tiêu chuẩn đƣợc công bố trong Bản mô tả sản phẩm Trong đó, chủ thể của hệ thống là các Tổ chức kiểm soát độc lập và đối tƣợng bị điều khiển là các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm mang CDĐL quốc gia châu Âu khác tạo ra giá trị gia tăng khoảng 5,2 tỷ Euro hàng năm chiếm 10% ngân sách nông nghiệp,
Các nguồn lực địa phương
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ tổng quát của hệ thống Kiểm soát độc lập đối với
Vào Ra (Mục tiêu) Điều khiển Phản hồi
Nguồn: tác giả tự tổng hợp dựa trên sơ đồ của Nobert Wiener
- Cấu trúc của hệ thống kiểm soát độc lập đối với CDĐL
+ Chủ thể của hệ thống là tổ chức kiểm soát độc lập Khái niệm tổ chức kiểm soát độc lập đƣợc đề cập đến tại một số quy định của Liên minh châu Âu và trong một số nghiên cứu của các tác giả châu Âu:
Quy chế số 882/2004 của Liên minh châu Âu định nghĩa tổ chức kiểm soát độc lập (control body) là “bên độc lập thứ ba có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ kiểm soát” [21;Điều 2.5]