Thực trạng mối liên kết tổ chức khoa học và công nghệ tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện - Nghiên cứu trường hợp bệnh viện Bạch Mai.. Trong việc nghiên cứu h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN VÂN KHÁNH
XÁC LẬP MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI BỆNH VIỆN CÔNG LẬP VỚI CÁC ĐỐI TÁC THEO HƯỚNG TỰ CHỦ
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP BỆNH VIỆN BẠCH MAI)LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN VÂN KHÁNH
XÁC LẬP MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI BỆNH VIỆN CÔNG LẬP VỚI CÁC ĐỐI TÁC THEO HƯỚNG TỰ CHỦ
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP BỆNH VIỆN BẠCH MAI)Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Phạm vi nghiên cứu 9
5 Câu hỏi nghiên cứu 9
6 Giả thuyết nghiên cứu 10
7 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 10
8 Kết cấu của Luận văn 11
PHẦN NỘI DUNG 12
Chương 1 12
Cơ sở lý luận về xây dựng mối liên hệ giữa tổ chức khoa học và công nghệ tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện 12
theo hướng tự chủ 12
1.1 Khái niệm chính sách 12
1.2 Công nghệ 14
1.2.1 Khái niệm công nghệ 14
1.2.2 Đặc điểm của hoạt động công nghệ 16
1.3 Khái niệm tổ chức KH&CN 16
1.3.1 Tổ chức 16
1.3.2 Khái niệm nghiên cứu và triển khai 19
1.3.3 Khái niệm tổ chức khoa học và công nghệ 19
1.4 Khái niệm hoạt động KH&CN 23
1.5 Đặc điểm về hoạt động KH&CN của ngành y tế 25
1.6 Tự chủ 26
1.6.1 Khái niệm tự chủ 26
1.6.2 Các tiêu chí tự chủ 27
1.7 Các yếu tố tác động tới mối liên hệ giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện 29
1.7.2 Nhu cầu giữa các bên trong mối liên hệ giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện 31
1.7.3 Năng lực quản lý của bệnh viện 32
Tiểu kết chương 1 32
Chương 2 33
Trang 4Thực trạng mối liên hệ giữa tổ chức khoa học và công nghệ 33
tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện 33
2.1 Tổng quan về hoạt động KH&CN trong ngành y tế Việt Nam 33
2.3 Thực trạng mối liên kết tổ chức khoa học và công nghệ tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện - Nghiên cứu trường hợp bệnh viện Bạch Mai 41
2.3.1 Giới thiệu về bệnh viện Bạch Mai 41
2.3.2 Tình hình tự chủ tại bệnh viện Bạch Mai 47
2.3.3 Thực trạng hoạt động KH&CN và mối liên kết giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện 53
Tiểu kết chương 2 67
Chương 3 68
Xác lập mối liên hệ giữa tổ chức khoa học và công nghệ tại bệnh viện 68
công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện theo hướng tự chủ 68
3.1 Phân tích những hạn chế trong mối liên kết giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện 68
3.1.1 Thiếu sự thống nhất, thiếu đầu mối liên kết 68
3.1.2 Những bất cập về chính sách tạo rào cản cho mối liên kết giữa các tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác ngoài bệnh viện 69
3.1.3 Những hạn chế về tổ chức đối với mối liên kết giữa các tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác ngoài bệnh viện 73
3.2 Đề xuất các giải pháp nhằm xác lập lại các mối liên kết giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác khác theo hướng tự chủ, có hiệu quả, gắn với nhu cầu thực tiễn 74
3.2.1 Thiết lập đơn vị trung gian làm đầu mối liên kết giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện 76
3.2.2 Cải thiện các chính sách theo hướng tăng quyền tự chủ cho tổ chức KH&CN của bệnh viện, hỗ trợ cho bệnh viện liên kết hiệu quả với các đối tác nhằm thúc đẩy các hoạt động KH&CN theo nhu cầu thực tiễn 83
3.2.3 Thu hút nguồn nhân lực và đa đạng linh hoạt trong các cơ cấu tổ chức của đơn vị trung gian để tạo sự liên kết hiệu quả giữa tổ chức KH&CN của bệnh viện với các đối tác trong và ngoài bệnh viện 87
Tiểu kết chương 3 92
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập Chương trình cao học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, học viên đã có cơ hội tiếp nhận kiến thức và sự giúp đỡ nhiệt tình của các Thầy, Cô trong Khoa Khoa học Quản lý nói riêng và các Thầy, Cô giáo trong Trường cũng như Ban lãnh đạo Nhà Trường nói chung
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành nhất đến thầy
Vũ Cao Đàm, người đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn
thành luận văn này
Một lần nữa, tôi muốn gửi lời cảm ơn đến các lãnh đạo, các chuyên gia, các đồng nghiệp tại bệnh viện Bạch Mai và bạn bè đã tạo điều kiện ủng hộ, giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của các nhà khoa học, các bạn đồng nghiệp để tôi hoàn thiện luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Nguyễn Vân Khánh
Trang 6Ngân hàng thế giới
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng:
Biểu 3.1 Mô hình lấy Viện KH&CN trực thuộc bệnh viện làm đầu mối
80
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ sau Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định quyền tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập và đặc biệt là sau Nghị định số 16/2015/NĐ-
CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ về thực hiện chế độ tự chủ trong các đơn vị
sự nghiệp công lập, nhiều bệnh viện công lập đã có thay đổi đáng kể Nhờ có quyền tự chủ, các bệnh viện có điều kiện thực hiện cơ cấu lại bộ máy, định hướng phát triển nguồn nhân lực và nhất là huy động vốn, mua sắm trang thiết bị hiện đại; có điều kiện đào tạo, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ; tạo điều kiện để giúp người dân được khám, chữa bệnh bằng những kỹ thuật cao, ngang tầm các nước có nền y học phát triển Đồng thời thu nhập của cán bộ y tế cũng tăng lên, tạo tâm lý ổn định và hài lòng đối với cán bộ y tế Tuy nhiên trong quá trình thay đổi hầu hết các bệnh viện chỉ tập trung vào việc cơ cấu lại tổ chức, các vấn đề về chuyên môn của bệnh viện mà có phần ít quan tâm đến các mối liên kết với các đối tác bên ngoài đặc biệt là hợp tác trong lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu KH&CN Mối quan hệ giữa các tổ chức KH&CN trong bệnh viện công với các tổ chức trong và ngoài bệnh viện đã có nhưng thực sự rất lỏng lẻo
và hầu như không có hiệu quả với các bên Trong việc nghiên cứu hay ứng dụng KH&CN để nâng cao hiệu quả của hoạt động y tế đến nay hầu hết các chính sách hiện hành cũng như các thiết chế trong các bệnh viện chỉ tập trung vào khía cạnh tài chính mà bỏ qua sự liên kết giữa các tổ chức KH&CN trong bệnh viện công với các tổ chức khác trong bệnh viện và các đối tác bên ngoài Với mục tiêu xác lập mối quan hệ giữa các tổ chức khoa học công nghệ trong bệnh viện công lập với các đối tác để các tổ chức KH&CN là một tổ chức mềm với thiết chế vận
Trang 9hành phù hợp với nguyên tắc tự chủ, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “XÁC LẬP MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI BỆNH VIỆN CÔNG LẬP VỚI CÁC ĐỐI TÁC THEO HƯỚNG TỰ CHỦ (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP BỆNH VIỆN BẠCH MAI)”
Ý nghĩa lý thuyết của đề tài: Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm bổ sung
cơ sở lý luận từ đó đưa ra các giải pháp để xác lập được mối liên kết giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện trên nguyên tắc tự chủ
Ý nghĩa thực tế: Thông qua việc phân tích những hạn chế trong mối liên kết
giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện cũng như nhu cầu thực tiễn của các bên từ đó đưa ra các giải pháp để xây dựng được mối liên kết linh hoạt, hiệu quả giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện trên nguyên tắc tự chủ
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Từ sau Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ một số bệnh viện đã bắt đầu chuyển đổi hoạt động theo hướng tự chủ và nhiều cũng có nhiều nghiên cứu
về tự chủ cho bệnh viện Tuy vậy hầu hết các nghiên cứu về tự chủ cho bệnh viện hầu như chỉ tập trung vào vấn đề tự chủ tài chính, ít đề cập đến lĩnh vực nghiên cứu KH&CN Tại nhiều bệnh viện tuyến Trung ương đã có nhiều nghiên cứu chuyên môn được đánh giá cao trên thế giới, nhiều thành tựu, tiến bộ y học mới được áp dụng ngang tầm với thế giới nhưng hầu như không có nghiên cứu nào tập trung vào mối liên kết giữa các tổ chức KH&CN trong bệnh viện công lập với các tổ chức và đối tác khác
Tháng 7 năm 2011, Ngân hàng Thế giới hợp tác với Viện Chiến lược và Chính sách Y tế - Bộ Y tế xuất bản báo cáo “Phân tích việc thực hiện Chính sách
tự chủ bệnh viện trên thế giới và thực tế ở Việt Nam” Đây là một công trình
Trang 10nghiên cứu sâu về vấn đề tự chủ bệnh viện dựa trên khảo sát tại 18 bệnh viện công lập tại Việt Nam Tuy nhiên báo cáo chỉ tập trung vào vấn đề tự chủ tài chính cũng như đưa ra các giải pháp cho vấn đề tự chủ tài chính của bệnh viện
Cũng trong năm 2011 tác giả Võ Quốc Trường có luận văn thạc sĩ Kinh tế với đề tài “Hợp tác công - tư trong lĩnh vực y tế Nghiên cứu trường hợp Thành phố Hồ Chí Minh” có đề cập đến sự liên kết giữa bệnh viện với các đối tác tư nhân nhưng nghiên cứu tập trung vào các vấn đề tài chính và giải pháp cho việc xây dựng bệnh viện ngoài công lập hoặc cổ phần hóa bệnh viện theo hình thức Nhà nước và tư nhân cùng hợp tác
Ngoài ra có một số nghiên cứu khác có đề cập đến mối liên kết giữa bệnh viện với các tổ chức khác nhằm mục đích kêu gọi đầu tư vào bệnh viện như :
- Luận án Tiến sĩ Kinh tế của Đặng Thị Lệ Xuân (2011), tại Đại học Kinh
tế Quốc dân, về “Xã hội hóa Y tế ở Việt Nam: Lý luận - thực tiễn và giải pháp”
- Luận văn Thạc sĩ Kinh tế của Nguyễn Thị Thanh Huệ về “Hoàn thiện chính sách tự chủ tài chính tại Bệnh viện Bạch Mai” và Bài báo của Nguyễn Thị Bích Hường, Nguyễn Thanh Hương, Nguyễn Nhật Linh về “Phân tích một số kết quả sau 5 năm thực hiện tự chủ tài chính tại Bệnh viện Việt - Đức”
Nhưng hầu hết các nghiên cứu trên đều tập trung vào các vấn đề tài chính, không đi sâu vào lĩnh vực liên kết hợp tác nghiên cứu KH&CN
Trong khuôn khổ của một Luận văn thạc sĩ, đề tài nghiên cứu này được lựa chọn và thực hiện nhằm phân tích những điểm còn hạn chế về mối liên kết giữa các tổ chức KH&CN trong bệnh viện công lập và các đối tác trong và ngoài bệnh viện nhằm đề xuất những giải pháp về chính sách để xây dựng mối liên kết linh hoạt hiệu quả theo hướng tự chủ
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 11Đề ra giải pháp để xây dựng được mối liên kết giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện trên nguyên tắc tự chủ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, Luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Phân tích cơ sở lý luận về chính sách xây dựng được mối liên kết giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện trên nguyên tắc tự chủ Tập trung phân tích các văn bản pháp qui về tự chủ trong bệnh viện và mối liên hệ giữa các tổ chức trong bệnh viện với các tổ chức khác
- Phân tích và đánh giá thực trạng mối liên kết giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện
- Đề xuất các biện pháp nhằm khắc phục những yếu tố hạn chế mối liên kết giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện
4 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Giai đoạn 2010 - 2018
- Phạm vi không gian khảo sát: Bệnh viện Bạch Mai và một số bệnh viện khác ở khu vực miền Bắc Việt Nam
5 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu chủ đạo của đề tài là: Xác lập như thế nào mối liên hệ giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện trên nguyên tắc tự chủ?
Một số câu hỏi cụ thể:
Mối liên hệ giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện có hay không? Nếu có thì thực trạng ra sao?
Trang 12Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước cũng như các thiết chế của bệnh viện
có phù hợp và mang lại hiệu quả cho mối liên hệ giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện có dựa trên nguyên tắc tự chủ hay không?
6 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu chủ đạo: Đề xuất các giải pháp xác lập lại mối liên
hệ dựa trên nhu cầu thực tế giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong (các khoa lâm sàng và cận lâm sàng, các phòng ban nghiệp vụ trong bệnh viện) và ngoài (doanh nghiệp, bệnh viện nước ngoài, các quỹ đầu tư) theo nguyên tắc tự chủ nhằm tạo sự liên kết hiệu quả phù hợp với nhu cầu thực tiễn
Một số giả thuyết cụ thể:
- Xây dựng mô hình các Viện nghiên cứu, các Trung tâm nghiên cứu trực thuộc bệnh viện để đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu cũng như liên kết với các đối tác khác trong việc NC&TK có hiệu quả
- Đề xuất các giải pháp về chính sách giúp nâng cao quyền tự chủ của bệnh viện để quản lý và vận dụng linh hoạt các mối liên kết giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác khác, mục đích tạo ra mối liên hệ chặt chẽ và hiệu quả trong việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực phục vụ các hoạt động NC&TK có hiệu quả, gắn với nhu cầu thực tiễn
7 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Cách tiếp cận
Luận văn tiếp cận vấn đề nghiên cứu theo hướng lịch sử, khách quan, biện chứng
7.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Các tài liệu liên quan đến chính sách,
tự chủ bệnh viện công lập, tổ chức KH&CN…
Trang 13- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh dữ liệu
- Phương pháp phỏng vấn sâu: để thu thập thông tin định tính phục vụ cho việc đề xuất các giải pháp mà giả thuyết nghiên cứu đã đặt ra, tác giả Luận văn
đã tiến hành phỏng vấn sâu nhà quản lý Cách phỏng vấn:
+ Gửi trước câu hỏi cho người được phỏng vấn;
+ Trực tiếp gặp người được phỏng vấn để nghe, thảo luận về chủ đề phỏng vấn;
+ Tổng hợp kết quả phỏng vấn
8 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1 Cơ sở lý luận về xây dựng mối liên hệ giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện theo hướng tự chủ
- Chương 2 Thực trạng mối liên hệ giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện
- Chương 3 Xác lập mối liên hệ giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện theo hướng tự chủ
Trang 14PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
Cơ sở lý luận về xây dựng mối liên hệ giữa tổ chức khoa học và công nghệ
tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện
theo hướng tự chủ
1.1 Khái niệm chính sách
Có nhiều cách tiếp cận để xem xét khái niệm chính sách, trong đó đáng
chú ý là James E Anderson đã đưa ra định nghĩa: “Chính sách là quá trình hành động có mục tiêu, mà một hoặc một số chủ thể theo đuổi để giải quyết những vấn
đề mà họ quan tâm”.[James E.A., 2006]
Từ tiếp cận xã hội học, chúng ta có thể hiểu“ chính sách là tập hợp biện pháp do chủ thể quản lý đưa ra, nhằm tạo lợi thế cho một (hoặc một số) nhóm xã hội, giảm lợi thế của một (hoặc một số) nhóm xã hội khác, để thúc đẩy việc thực hiện một (hoặc một số) mục tiêu xã hội mà chủ thể quyền lực đang hướng tới”
Từ tiếp cận tâm lý học, chúng ta có thể hiểu “chính sách là tập hợp biện pháp đối xử ưu đãi đối với một nhóm xã hội, nhằm kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này hướng theo việc thực hiện một (hoặc một số) mục tiêu của chủ thể quyền lực”
Từ tiếp cận thiết chế xã hội thì “ chính sách là một thiết chế xã hội, nó bao gồm những chuẩn mực và những giá trị được cấu trúc thành những khuôn mẫu tác phong, được xã hội thừa nhận dưới dạng các điều khoản pháp luật, và đóng vai trò những công cụ nhằm thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của xã hội”
Theo tác giả Vũ Cao Đàm: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự
Trang 15ưu đãi một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội.” [Vũ Cao Đàm; 2010]
Khái niệm “Hệ thống xã hội” ở đây được hiểu theo một ý nghĩa khái quát
Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường
Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu như sau:
- Chính sách là một tập hợp biện pháp Đó có thể là một biện pháp kích thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội
- Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới dạng các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, thông tư, chỉ thị của chính phủ; hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (doanh nghiệp, bệnh viện, trường học…)
- Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và nhóm
xã hội Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học, nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế Mỗi nhóm được đặc trưng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu Đó là cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo động cơ cho đối tượng chính sách
- Chính sách phải tác động hướng vào động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó
Trang 16Trong luận văn này tác giả sử dụng khái niệm về chính sách của tác giả Vũ Cao Đàm và như vậy khi nói đến chính sách cần phải chú ý đến các yếu tố dưới đây:
- Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, được thể chể hoá thành những quy định có giá trị pháp lý, nhằm thực hiện chiến lược phát triển của hệ thống theo mục đích mà chủ thể quyền lực mong đợi
- Bản chất của chính sách là sự phân biệt đối xử trong xã hội đối với các nhóm xã hội khác nhau Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự
ưu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó là nhóm đóng vai trò tác nhân của mục tiêu phát triển hệ thống
- Các biện pháp ưu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động của nhóm được ưu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lược mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra
- Một chính sách luôn tạo ra một bất bình đẳng xã hội, rất có thể, đồng thời khắc phục một bất bình đẳng xã hội đang tồn tại, rất có thể khoét sâu thêm những bất bình đẳng vốn có, nhưng cuối cùng phải nhằm mục đích tối thượng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển xã hội Có một điểm cần lưu ý là nhóm được lợi không nhất thiết lúc nào cũng chiếm số đông [Vũ Cao Đàm; 2010]
1.2 Công nghệ
1.2.1 Khái niệm công nghệ
Từ “công nghệ” có gốc Hy Lạp, nó được ghép bởi tekhne có nghĩa là kỹ năng và logos có nghĩa là sự nghiên cứu Thuật ngữ technology trong tiếng Anh
có thể hiểu là sự nghiên cứu có hệ thống về kỹ thuật
Trang 17Có nhiều khái niệm về công nghệ, Trần Văn Hải (2017) trong Giáo trình Chuyển giao công nghệ đã tổng hợp quan niệm về công nghệ của các học giả
trên thế giới và trong nước, cụ thể:
- Tổ chức PRODEC (1982) đưa ra quan niệm: “Công nghệ là mọi loại
kĩ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp được sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến và dịch vụ”
- Ngân hàng thế giới thì định nghĩa (1985): “Công nghệ là phương pháp chuyển hóa các nguồn lực thành sản phẩm, gồm 3 yếu tố: Thông tin về phương pháp; Phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để chuyển hóa; Sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao”
- F.R.Root cho rằng: “Công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng đươc vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sang tạo ra sản phẩm mới”
- J.R.Dunning cho rằng: “Công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức được
áp dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất và việc nghiên cứu tiếp cận thị trường cho những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới”
- Nawar Sharif đưa ra định nghĩa: “Công nghệ là là một hệ thống tri thức
về quá trình chế biến vật chất hoặc/và thông tin, về phương tiện và phương pháp chế biến vật chất hoặc/và thông tin” Công nghệ là một tập hợp phần cứng và
phần mềm bao gồm 4 yếu tố: phần kỹ thuật, phần thông tin, phần con người và phần tổ chức
Trong luận văn này tác giả sử dụng định nghĩa về công nghệ do tác giả
Trần Ngọc Ca đưa ra:“Công nghệ có thể được hiểu như là mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phương pháp (gọi là phần mềm) được lưu giữ dưới các dạng khác nhau (con người, ghi chép ) và mọi loại hình thiết bi, công cụ, tư liệu sản xuất (gọi là phần cứng) và một số tiềm năng khác ( tổ chức, pháp chế,
Trang 18dịch vụ ) được áp dụng vào môi trường thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ”
Trong định nghĩa nêu trên, công nghệ là một tập hợp của phần cứng và phần mềm, bao gồm bốn dạng cơ bản:
- Dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, hệ thống
hạ tầng );
- Dạng con người (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm );
- Dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phương pháp );
- Dạng thiết chế tổ chức (sắp xếp cơ cấu nhân lực, cách thức điều hành,
thiết kế, sắp đặt hệ thống thiết bị…) [Trần Văn Hải; 2017]
1.2.2 Đặc điểm của hoạt động công nghệ
Hoạt động công nghệ là khái niệm chỉ các hoạt động sử dụng công nghệ vào các mục đích khác nhau của con người Nói đến hoạt động công nghệ cần phải nhấn mạnh 3 đặc điểm cơ bản rất quan trọng của hoạt động công nghệ:
-Tính lặp lại chu kỳ một thao tác đã chuẩn hóa giúp cho công nghệ tạo ra những sản phẩm cùng loại giống hệt nhau
- Tính tin cậy của quá trình: quá trình công nghệ không được phép rủi ro bởi sẽ dẫn đến phế phẩm, phá vỡ mục tiêu của sản xuất Toàn bộ quá trình công nghệ phải đảm bảo tính tin cậy trong từng khâu và trong từng thao tác
- Tính xác định của sản phẩm: đây là tính xác định của sản phẩm theo thiết
kế từ trước khi đầu tư vào sản xuất Nếu những sản phẩm tạo ra không đủ những tính năng theo thiết kế thì xem như không đạt tiêu chuẩn
1.3 Khái niệm tổ chức KH&CN
1.3.1 Tổ chức
“Tổ chức” là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau
trong đó có khoa học quản lý Do được nhiều ngành nghiên cứu nên đã có không ít
Trang 19những định nghĩa, cách phân loại và xác định các đặc trưng cơ bản của tổ chức
được đưa ra, lý giải Thuật ngữ “Tổ chức” được nhiều ngành khoa học sử dụng với
ý nghĩa khác nhau:
Triết học định nghĩa “Tổ chức, nói rộng là cơ cấu tồn tại của sự vật Sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố
thuộc nội dung Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật” Tổ chức
là thuộc tính của sự vật, nói cách khác sự vật luôn tồn tại dưới dạng tổ chức nhất định;
Nhân loại học khẳng định từ khi xuất hiện loài người, tổ chức xã hội loài người cũng đồng thời xuất hiện Tổ chức ấy không ngừng hoàn thiện và phát triển cùng với sự phát triển của nhân loại Theo nghĩa hẹp đó, tổ chức là một tập thể của con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó Như vậy, tổ chức là tập thể, có mục tiêu, nhiệm vụ chung;
Ngay trong những chuyên ngành khoa học có giao thoa về đối tượng,
phạm vi nghiên cứu cũng có cách tiếp cận, cắt nghĩa khác nhau về “Tổ chức”,
cụ thể là:
Theo Chester I Barnard, thì “tổ chức là một hệ thống những hoạt động
hay nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý thức
Như vậy theo lý thuyết quản trị công, để hình thành tổ chức phải có từ hai người trở lên (điều kiện về chủ thể) và các hoạt động của họ được kết hợp với nhau một cách có ý thức Quản trị công nhấn mạnh đến hai yếu tố là chủ thể và nguyên tắc hoạt động của tổ chức (sự kết hợp có ý thức của các chủ thể) khi nhận thức về khái niệm tổ chức
Khoa học tổ chức và quản lý định nghĩa tổ chức với ý nghĩa hẹp là “Tập thể của con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm
Trang 20đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó” Quan niệm về tổ chức theo Khoa
học tổ chức và quản lý có nhiều điểm tương đồng với Luật học, Quản trị công ở chỗ đều xác định tổ chức thuộc về con người, là của con người trong xã hội; vì là
tổ chức của con người, có các hoạt động chung do vậy mục tiêu của tổ chức là một trong những điều kiện quan trọng, không thể thiếu của tổ chức;
Trong giáo trình “Tổ chức học đại cương” của PGS.TS Phạm Huy Tiến lại định nghĩa “Tổ chức được xem như tập hợp của nhiều người, nhiều nhóm người nhằm thực hiện một mục tiêu chung mà nếu chỉ một người hay một nhóm người không thực hiện được”
Trên phương diện ngôn ngữ: Tuỳ theo ngữ cảnh, tính chất, yêu cầu, mục đích… có thể sử dụng các thuật ngữ: cơ quan, đơn vị, pháp nhân, công ty, hội…
thay thế thuật ngữ tổ chức Sự đa dạng trên phương diện ngôn ngữ còn thể hiện ở việc thuật ngữ tổ chức được dùng với các chức năng khác nhau như: là danh từ,
là động từ, là tính từ (tiếng Anh Organization là danh từ, khác với Organize là động từ, khác với Constitutive là tính từ)
Với thực tế như vậy, cần có tư duy biện chứng, kế thừa, không cứng nhắc, máy móc, phù hợp với mục tiêu, yêu cầu của nhiệm vụ nghiên cứu về khái niệm
“Tổ chức” Với cách tư duy, tiếp cận như vậy khi tìm hiểu khái niệm chung về
tổ chức cần nằm vững một số nội dung căn bản như:
- Tổ chức là của con người trong xã hội gắn với một hình thái kinh tế - xã hội và một kiểu nhà nước
- Con người trong tổ chức gắn kết với nhau bởi những mục đích xác định
và hành động để đạt đến mục tiêu chung
- Có phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và cơ cấu xác định
- Được hình thành và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định phù hợp với quy định pháp luật
Trang 21Nếu nhất thiết phải đưa ra một định nghĩa về tổ chức thì đó là tập hợp của con người trong xã hội có phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, cơ cấu xác định; được hình thành và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định phù hợp với quy định pháp luật nhằm gắn kết con người với nhau bởi những mục đích xác định và hành động để đạt đến mục tiêu chung [Phạm Huy Tiến; 2009]
Luận văn sử dụng định nghĩa tổ chức theo quan niệm của Phạm Huy Tiến (2009), cụ thể tổ chức được xem như tập hợp của nhiều người, nhiều nhóm người nhằm thực hiện một mục tiêu chung mà nếu chỉ một người hay một nhóm người không thực hiện được
1.3.2 Khái niệm nghiên cứu và triển khai
Năm 1980, UNESCO đưa ra khái niệm NC&TK như sau:
- Nghiên cứu (research) bao gồm hai loại, NCCB (fundamental research), NCƯD (applied research)
- Quá trình “Triển khai” được UNESCO mô tả gồm 3 giai đoạn như sau:
+ Giai đoạn 1: Chế tác vật mẫu, làm prototype
+ Giai đoạn 2: Làm Pilot tạo công nghệ để sản xuất với prototype
+ Giai đoạn 3: Sản xuất loạt nhỏ (Series 0) để khẳng định độ tin cậy
- “Triển khai” là một phần của hoạt động NC&TK Đó là sự kế tục các kết quả nghiên cứu để tạo ra sản phẩm mẫu, là tiền đề cho sự ra đời những sản phẩm mới và công nghệ mới Trong quá trình triển khai, trong tư duy của người nghiên cứu và trong phòng thí nghiệm chỉ mới xuất hiện những nguyên lý công nghệ và những thực nghiệm đang tiến hành để hiện thực hóa ý tưởng công nghệ thể hiện trên sản phẩm mẫu, chưa hề tồn tại bất cứ một công nghệ nào [Vũ Cao Đàm; 2007]
1.3.3 Khái niệm tổ chức khoa học và công nghệ
Tổ chức KH&CN là các cách gọi tắt của thuật ngữ “Tổ chức nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ”
Trang 22Trên thế giới, có các mô hình tổ chức KH&CN khác nhau và được tác giả
Vũ Cao Đàm tóm tắt thành bốn loại cơ bản như sau:
- Mô hình I: là mô hình cổ điển nhất, trong đó các tổ chức NC&TK thực hiện trọn vẹn các giai đoạn của quá trình NC&TK, còn các doanh nghiệp chỉ làm nhiệm vụ sản xuất và tiếp tục phát triển công nghệ trong sản xuất Giữa tổ chức NC&TK và doanh nghiệp tồn tại các công ty tư vấn đóng vai trò cầu nối từ NC&TK tới sản xuất
- Mô hình II: là một nỗ lực của doanh nghiệp hướng tới làm chủ công nghệ mới bằng cách tự mình làm triển khai, từ khâu chế tạo vật mẫu sản phẩm mới (prototype), làm pilot để xây dựng công nghệ và sản xuất loạt “0”, đưa vào sản xuất công nghiệp và tiếp tục phát triển công nghệ trong sản xuất
- Mô hình III: tổ chức NC&TK tạo ra các doanh nghiệp KH&CN (xí nghiệp spin-off), chuyển toàn bộ khâu “triển khai” vào doanh nghiệp này, đồng thời để doanh nghiệp này kiêm luôn cả chức năng của một công ty tư vấn
- Mô hình IV: doanh nghiệp KH&CN kéo dài chức năng về phía trước, bắt
đầu từ nghiên cứu ứng dụng qua triển khai tới tư vấn [Vũ Cao Đàm; 2009]
Bảng 1.1 Các mô hình tổ chức trong hoạt động KH&CN
Triển khai
Chuyển giao tri thức
Phát triển công nghệ
tư vấn
Doanh nghiệp
KH&CN
Doanh nghiệp
Trang 23Mô hình IV Tổ chức
nghiệp
Nguồn: Vũ Cao Đàm (2009), Tuyển tập các công trình đã công bố, Tập II:
Nghiên cứu chính sách và chiến lược, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội
Như vậy, tổ chức KH&CN bao gồm tổ chức NC&TK và doanh nghiệp KH&CN, trong đó:
- Các tổ chức NC&TK của Bộ, cơ quan ngang Bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được lập ra chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ KH&CN phục vụ mục tiêu phát triển KT-XH của ngành và địa phương, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về KH&CN Đó là các Viện nghiên cứu cơ bản; Viện nghiên cứu chính sách; Viện nghiên cứu công nghệ
Trang 24- Tổ chức NC&TK cấp cơ sở thực hiện nhiệm vụ KH&CN theo mục tiêu
và nhiệm vụ do tổ chức cá nhân thành lập xác định Đây là những tổ chức NC&TK của các doanh nghiệp lập ra để nghiên cứu những vấn đề kỹ thuật - công nghệ làm cơ sở cho đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh để tồn tại và phát triển
Cơ sở hạ tầng cho các tổ chức NC&TK cần có các nguồn lực sau:
+ Nhân lực KH&CN
+ Tài chính (từ các nguồn: NSNN; thực hiện nhiệm vụ, hợp đồng khoa học; tài trợ của các tổ chức KT-XH trong và ngoài nước; lợi nhuận kinh doanh của các hoạt động SX-KD, ) Tỉ lệ các nguồn thu này khác nhau đối với mỗi loại hình tổ chức NC&TK và cũng là thể hiện chính sách quốc gia về phát triển KH&CN
+ Thiết bị, máy móc, nhà xưởng, đất đai
+ Thông tin
b) Doanh nghiệp KH&CN Doanh nghiệp KH&CN xuất hiện trên thế giới từ khoảng giữa thế kỷ XX với chức năng cơ bản là nhằm tạo cầu nối giữa nghiên cứu với sản xuất, biến những kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm thành sản phẩm thương mại, thậm trí thành những sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu cạnh tranh trên thị trường
Hồ Sỹ Hùng, trong nghiên cứu “Nhận diện doanh nghiệp KH&CN” đã đưa ra ba quan điểm về doanh nghiệp KH&CN:
- Doanh nghiệp KH&CN là những DN hoạt động thuần về KH&CN
- Doanh nghiệp KH&CN là những DN có một tỷ lệ nhất định về nguồn lực và hoạt động tham gia trong lĩnh vực KH&CN
Trang 25- Không quy định doanh nghiệp KH&CN mà chỉ quy định về hoạt động KH&CN như là một trong các hoạt động của doanh nghiệp
Tuy nhiên, tiếp cận trên chưa chỉ ra được đặc trưng của doanh nghiệp KH&CN vì bất kì một doanh nghiệp nào cũng có thể chứng minh được đủ một trong ba tiêu chí mà tác giả đưa ra để trở thành doanh nghiệp KH&CN [Hồ Sỹ Hùng; 2005]
Tác giả Vũ Cao Đàm cho rằng “Doanh nghiệp KH&CN” là một loại doanh nghiệp có chức năng trước hết và chủ yếu là “sản xuất ra các công nghệ” Để sản xuất được các công nghệ, doanh nghiệp này phải nghiên cứu khoa học
Theo tác giả: sở dĩ xuất hiện loại doanh nghiệp này là do nhu cầu của các nhà nghiên cứu, họ muốn chính họ đưa kết quả nghiên cứu vào áp dụng trong sản xuất, nhằm thương mại hoá kết quả nghiên cứu; hay các quỹ đầu tư, nhà đầu
tư mạo hiểm, những người đóng vai trò như những nhà đầu tư chứng khoán, sẵn sang chấp nhận chia sẻ rủi ro với các nhà nghiên cứu
Cuối thế kỷ XX, ở các nước có nền KH&CN phát triển bắt đầu xuất hiện một loại hình tổ chức cho đến nay vẫn tồn tại gọi là xí nghiệp vệ tinh (spin-off) của các viện nghiên cứu Đó là những xí nghiệp chuyên sản xuất ra các công nghệ từ kết quả nghiên cứu khoa học Chức năng chính của các xí nghiệp này là sản xuất ra các công nghệ, kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận từ các công nghệ
đó
Tóm lại, tổ chức NC&TK là một loại hình tổ chức có chức năng sản xuất
ra các sản phẩm KH&CN phục vụ cho đời sống - xã hội mà không phụ thuộc vào thành phần kinh tế, vào cấp quản lý hành chính, vào lĩnh vực KH&CN cụ thể; có chức năng thực hiện một khâu hoặc nhiều khâu trong quy trình NC&TK [Vũ Cao Đàm; 2010]
1.4 Khái niệm hoạt động KH&CN
Trang 26Hoạt động KH&CN theo UNESCO bao gồm:
- Nghiên cứu và Triển khai (R&D)
- Chuyển giao tri thức, bao gồm chuyển giao công nghệ
- Phát triển công nghệ (UNESCO và UNIDO)
- Dịch vụ KH&CN
Bảng 1.2 Hoạt động KH&CN theo khái niệm của UNESCO
tri thức (Transfer)
bao gồm cả CGCN
Phát triển công nghệ trong sản xuất (Technology Development)
NCCB (Fundamental Research)
NCƯD (Applied Research)
Triển khai (Technological Experimental Development) Dịch vụ KH&CN (Science and Technology Services)
Nguồn: Vũ Cao Đàm (2009), Tuyển tập các công trình đã công bố, Tập II:
Nghiên cứu chính sách và chiến lược, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội
Theo UNESCO: “KH&CN là các hoạt động sáng tạo được thực hiện một cách có hệ thống để tăng cường vốn tri thức, bao gồm tri thức về con người, văn hóa, xã hội và sử dụng vốn tri thức này để tìm ra các ứng dụng mới”
Có nhiều cách phân loại nghiên cứu khoa học, trong đó có 3 cách phân loại thường dùng là: phân loại theo chức năng của nghiên cứu (mô tả, giải thích, giải pháp, dự báo), phân loại theo phương pháp thu thập thông tin phục vụ nghiên cứu (thư viện, điền dã, labô) và phân loại theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu (NCCB, NCƯD và triển khai thực nghiệm)
Biểu 1.1 Phân loại hoạt động NC&TK theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu
Trang 27Nguồn: Vũ Cao Đàm (2007), Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa
học, Nhà xuất bản Giáo dục
1.5 Đặc điểm về hoạt động KH&CN của ngành y tế
Y - Dược là một ngành khoa học, một khoa học có vai trò, nhiệm vụ đặc biệt cao cả, đó là chăm sóc sức khoẻ cho con người - mục tiêu và động lực của quá trình phát triển; Quá trình phát triển do chính con người thực hiện và nhằm mục đích nâng cao chất lượng đời sống con người Vì vậy hoạt động KH&CN trong lĩnh vực Y tế cũng có những đặc điểm riêng biệt
Các hoạt động nghiên cứu cũng như triển khai thường phải gắn liền với thực nghiệm mà đối tượng chính là con người với ba hình thức chính:
1 Thử nghiệm lâm sàng: là nghiên cứu trên đối tượng bệnh nhân Loại nghiên cứu bao gồm việc thử nghiệm một điều trị mới hay một biện pháp dự
NCCB thuần tuý
NCCB định hướng
Nghiên cứu tổng thể
Nghiên cứu chuyên đề
Prototype (tạo vật mẫu)
Pilot (tạo quy trình)
Sản xuất thử “Sê ri 0”
1 NCCB
3 Triển khai thực nghiệm
2 NCƯD
Trang 28phòng các di chứng trên bệnh nhân nhằm đánh giá hiệu quả của việc điều trị hay
dự phòng kể trên
2 Thử nghiệm thực địa: là việc can thiệp trên người chưa có bệnh Loại nghiên cứu này chủ yếu đánh giá các biện pháp dự phòng Để nghiên cứu có tính xác hợp người ta thường chỉ sử dụng thử nghiệm thực địa để đánh giá các giải pháp can thiệp dự phòng cho các bệnh bệnh phổ biến hay trầm trọng Các thử nghiệm vaccine là một loại thử nghiệm thực địa phổ biến nhất
3 Can thiệp cộng đồng: tương tự như thử nghiệm thực địa nhưng có đặc điểm là biện pháp can thiệp được áp dụng cho cả cộng đồng chứ không phải có một cá nhân đơn lẻ Can thiệp cộng đồng áp dụng khi biện pháp can thiệp này chỉ có thể áp dụng cho quy mô cộng đồng thí dụ như việc đánh giá hiệu quả của việc cải tạo vệ sinh môi trường trong việc phòng chống sốt rét
Như vậy các hoạt động KH&CN cũng như bản thân các cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực y tế rất dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như pháp luật, dư luận vì liên quan đến sức khỏe cộng đồng cũng như sức khỏe tính mạng của cá nhân người bệnh
Các nghiên cứu thường mất thời gian dài, thử nghiệm hoặc nghiên cứu theo dõi trên số lượng lớn bệnh nhân mới có thể đảm bảo độ chính xác và đương nhiên cũng đòi hỏi lượng tài chính lớn đầu tư
Nguy cơ có sự cố hoặc rủi ro liên quan đến tính mạng con người rất dễ xảy ra trong các hoạt động NC&TK trong lĩnh vực y tế cũng là một rào cản lớn khiến các tổ chức KH&CN trong lĩnh vực y tế không dám mạnh dạn nghiên cứu còn các tổ chức khác thì không dám đầu tư vào lĩnh vực này
1.6 Tự chủ
1.6.1 Khái niệm tự chủ
Trang 29Theo Từ điển Tiếng Việt: tự chủ là “Tự điều hành, quản lý mọi công việc của mình, không bị ai chi phối Tự làm chủ tình cảm, hành động của mình, không bị hoàn cảnh chi phối Tự mình điều hành, quản lý, không bị ảnh hưởng của ai (quyền tự chủ trong sản xuất)” Theo Đại từ điển Tiếng Việt: tự chủ là “Tự mình làm chủ, không để bị phụ thuộc hoặc bị chi phối”
Như vậy, các khái niệm về tự chủ nêu trên gần như đồng nhất là cho phép một tổ chức điều hành hoạt động của mình mà không có sự can thiệp từ bên ngoài
Tuy nhiên, không có nghĩa tự chủ vô điều kiện mà tự chủ phải trong khuôn khổ của pháp luật, nói cách khác là tự chủ có điều kiện Các điều kiện này được xác định bởi mối quan hệ giữa nhà nước, xã hội và tổ chức Do đó, có thể phân loại tự chủ như sau:
- Tự chủ thực chất: Tổ chức có quyền xác định mục đích, nội dung các chương trình hoạt động của mình
- Tự chủ về thủ tục: Tổ chức có quyền xác định các phương tiện cần thiết
để hoàn thành các chương trình hoạt động đã xác định
- Tự chủ về tổ chức: Tổ chức có quyền xác định các đơn vị trực thuộc
Theo chuyên ngành Xã hội học tri thức, hình thức hiện đại của quyền tự chủ trong khoa học là tự chủ tự thân, có nghĩa là các nhà khoa học và các tổ chức khoa học có quyền và khả năng tác động tới việc lựa chọn các chủ đề nghiên cứu, cũng như có quyền và có khả năng giải thích hoặc phản ánh các chủ đề nghiên cứu khác nhau, tức là tự chủ trong việc lựa chọn các chủ đề nghiên cứu, cũng như tự chủ trong cách thức thực hiện
1.6.2 Các tiêu chí tự chủ
Theo tác giả Vũ Cao Đàm, bản chất quyền “Autonomy” của các tổ chức KH&CN cần được thể hiện bằng các khía cạnh sau: (1) Tự trị quyết định phương
Trang 30hướng phát triển khoa học, (2) Tự trị tìm kiếm các nguồn tài trợ, (3) Xóa bỏ mọi ràng buộc hành chính, (4) Tự trị chuyển đổi tổ chức và (5) Xác định các tiêu chí đánh giá kết quả và hiệu quả nghiên cứu dựa trên cơ sở các chuẩn mực khoa học
Đối với tổ chức KH&CN các tiêu chí tự chủ cơ bản nhất phải có:
a Tự chủ về hoạt động KH&CN Căn cứ vào định hướng ưu tiên phát triển KH&CN của Nhà nước, nhu cầu của xã hội,… chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động của mình, các tổ chức KH&CN tự xác định nhiệm vụ KH&CN và biện pháp tổ chức thực hiện Tổ chức KH&CN được tự quyết định việc tham gia tuyển chọn, đấu thầu thực hiện nhiệm
vụ KH&CN của Nhà nước và biện pháp thực hiện đảm bảo chất lượng, tiến độ theo yêu cầu Ngoài ra, tổ chức KH&CN tự chủ còn được quyền:
- Tự ký hợp đồng, hợp tác, liên doanh - liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, SX-KD hàng hoá
- Tự quyết định việc mời chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài vào Việt Nam và cử cán bộ ra nước ngoài công tác
- Tự quyết định việc đầu tư phát triển từ vốn vay, vốn huy động các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
- Chủ động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, thực hiện các dịch vụ thuộc lĩnh vực hoạt động chuyên môn của mình và các lĩnh vực khác theo quy định
- Chủ động phát triển công nghệ, xuất khẩu, nhập khẩu trực tiếp công nghệ (CGCN) và sản phẩm hàng hóa thuộc lĩnh vực hoạt động chuyên môn của mình theo quy định của pháp luật
b Tự chủ về tài chính Nhà nước bảo đảm:
- Kinh phí hoạt động để thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao theo phương thức đặt hàng trực tiếp hoặc thông qua tuyển chọn, đấu thầu và được cấp theo
Trang 31phương thức khoán trên cơ sở hợp đồng thực hiện nhiệm vụ KH&CN giữa cơ quan nhà nước và tổ chức KH&CN
- Kinh phí hoạt động thường xuyên đối với những tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực NCCB, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước
thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định và các nguồn kinh phí khác (nếu có)
Tổ chức KH&CN được tự chủ trong việc thu và sử dụng các nguồn thu từ phí và lệ phí theo quy định; từ hoạt động cung ứng dịch vụ; từ hợp đồng NC&TK, hợp đồng CGCN; từ hoạt động SX-KD; thu sự nghiệp khác (nếu có)
c Tự chủ về quản lý nhân sự
Tổ chức KH&CN được trao quyền tự chủ về quản lý nhân sự theo quy định của pháp luật nhằm phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo của đội ngũ cán bộ KH&CN, tạo động lực về vật chất và tinh thần Tổ chức KH&CN có quyền thực hiện tuyển dụng, sắp xếp, bố trí sử dụng cán bộ cũng như thù lao, đãi ngộ theo mức độ cống hiến và các chính sách khuyến khích khác đối với cán bộ KH&CN đảm bảo đúng quy định của pháp luật
d Tự chủ về hợp tác quốc tế
Tổ chức KH&CN được chủ động trong việc cử cán bộ ra nước ngoài, thuê chuyên gia nước ngoài trự tiếp nghiên cứu, đào tạo, tư vấn KH&CN và đảm nhiệm chức vụ quản lý trong tổ chức KH&CN thuộc các lĩnh vực do Nhà nước quy định
1.7 Các yếu tố tác động tới mối liên hệ giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện
1.7.1.Chính sách của Nhà nước
Trang 32Đường lối, chính sách của Đảng, Quốc hội, Chính phủ ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nhân dân đối với việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhiều văn kiện của Đảng đã xác định đầu tư cho sức khỏe là đầu tư trực tiếp cho phát triển bền vững
Hệ thống pháp luật liên quan đến y tế ngày càng được hoàn thiện; nhiều Luật, Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của các Bộ đã được ban hành, tạo hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch cho quá trình xây dựng và phát triển hệ thống y tế Các chính sách xóa đói giảm nghèo, chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới tạo thuận lợi để thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khỏe và phát triển y tế ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa Việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có thể tạo động lực cho việc đổi mới quản lý, nâng cao hiệu suất hoạt động của các cơ sở cung ứng dịch vụ y tế công lập, đồng thời tạo thuận lợi để phát triển khu vực y tế tư nhân Đổi mới đầu tư công theo hướng đa dạng hóa các hình thức đầu tư (BOT, BT, BO, PPP), tăng cường thu hút các nguồn vốn đầu tư ngoài nhà nước vào kết cấu hạ tầng Hạ tầng về giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, thể thao du lịch được quan tâm và có bước phát triển Với nhiều các văn bản pháp quy như Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, Nghị định số 85/2012/NĐ-CP và Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, các bệnh viện đang đi theo xu hướng tự chủ, được tạo điều kiện thuận lợi hơn để liên kết với các tổ chức bên ngoài trong các hoạt động y tế nói chung và các hoạt động KH&CN nói riêng Tuy nhiên hiện nay các văn bản pháp quy chủ yếu chỉ tập trung vào vấn đề tự chủ tài chính và còn nhiều rào cản trong thực tiễn chưa được quy định trong khung pháp lý nên mối liên hệ giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh
Trang 33viện vẫn chưa thực sự hiệu quả và chặt chẽ, chưa đáp ứng được nhu cầu giữa các bên
1.7.2 Nhu cầu giữa các bên trong mối liên hệ giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện
1.7.2.1 Các tổ chức bên trong bệnh viện
Nội bộ trong bệnh viện là các khoa chuyên môn và các phòng hỗ trợ, tại các bệnh viện lớn ở tuyến tỉnh, tuyến trung ương có thể có viện, trung tâm, trường trực thuộc bệnh viện Tại các bệnh viện lớn đều có phòng nghiên cứu khoa học tuy nhiên hầu hết không đáp ứng được nhu cầu thực tế về hoạt động NC&TK Các khoa, phòng, viện trong bệnh viện đều có các nhu cầu riêng về chuyên môn từ hoạt động nghiên cứu cho đến đầu tư trang thiết bị, nhân lực, triển khai áp dụng thành tựu nghiên cứu mới hoặc chuyển giao công nghệ mới
Nhưng cho đến hiện tại tại hầu hết các bệnh viện kể cả các bệnh viện lớn như Bạch Mai, Việt Đức đều thiếu một đầu mối quản lý thống nhất các hoạt động KH&CN
1.7.2.2 Các tổ chức bên ngoài bệnh viện
Về cơ bản có thể chia các tổ chức bên ngoài bệnh viện thành ba nhóm chính dựa trên nhu cầu liên kết với tổ chức KH&CN của bênh viện
Nhóm thứ nhất có nhu cầu liên kết với bệnh viện nhằm mục đích đào tạo
Nhóm này bao gồm các trường y - dược và các bệnh viện tuyến dưới có nhu cầu liên kết với các bệnh viện lớn để đào tạo nguồn nhận lực trong lĩnh vực y tế
Nhóm thứ hai có nhu cầu liên kết với bệnh viện nhằm mục đích nghiên cứu, chuyển giao công nghệ Nhóm này bao gồm các Viện nghiên cứu, các trung tâm nghiên cứu, các doanh nghiệp khoa học công nghệ và các công ty có bộ phận NC&TK hoạt động trong lĩnh vực y tế và các bệnh viện có nhu cầu hợp tác nghiên cứu hoặc chuyển giao công nghê
Trang 34Nhóm thứ ba có nhu cầu liên kết với bệnh viện nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận hoặc liên kết về vấn đề tài chính Nhóm này bao gồm các doanh nghiệp trong lĩnh vực y tế như dược phẩm, cung cấp trang thiết bị y tế…, các tổ chức y tế
tư nhân, khối ngân hàng, cơ quan bảo hiểm xã hội và các quỹ đầu tư
1.7.3 Năng lực quản lý của bệnh viện
Để có thể tạo sự liên kết chặt chẽ mà hiệu quả giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện thì năng lực quản lý của ban lãnh đạo bệnh viện cũng như tổ chức KH&CN trong bệnh viện phải tốt
để có thể vừa đảm bảo cân bằng giữa lợi ích của các bên liên quan vừa đảm bảo nhiệm vụ chuyên môn, đảm bảo tốt sự kết nối giữa các bên mà không gây sự rối loạn trong tổ chức
Tiểu kết chương 1
Trong Chương 1, Luận văn đã phân tích các khái niệm công cụ làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm chứng minh giả thuyết nghiên cứu, trong đó nhấn mạnh các khái niệm chính sách, công nghệ, tổ chức KH&CN, nghiên cứu và triển khai, đặc điểm về hoạt động KH&CN của ngành y tế, tự chủ, các yếu tố tác động tới mối liên hệ giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện, nhu cầu giữa các bên trong mối liên hệ giữa tổ chức KH&CN tại bệnh viện công lập với các đối tác trong và ngoài bệnh viện, năng lực quản lý của bệnh viện
Từ các khái niệm công cụ trên, Chương 1 của Luận văn đã xây dựng một hệ
lý thuyết để làm cơ sở cho phần Chương 2 và Chương 3 khi nghiên cứu về thực trạng và đưa ra giải pháp nghiên cứu
Trang 35đủ 11/12 loại vaccine cho chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia Sau 14 năm triển khai thực hiện, hệ thống quản lý quốc gia về vaccine (NRA) đã được
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công nhận, bảo đảm hành lang pháp lý để vaccine Việt Nam xuất khẩu
Trong những năm qua, ngành Y tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ trên tất cả các lĩnh vực khám và điều trị bệnh Từ việc đầu tư, ứng dụng các trang, thiết bị, kỹ thuật công nghệ cao như: phẫu thuật nội soi, tán sỏi, phẫu thuật lấy thể thủy tinh ngoài bao (phương pháp Pha-co) đến các kỹ thuật vi phẫu tạo hình, ứng dụng công nghệ la-de vào y học, máy gia tốc trong điều trị ung thư Thành công của việc thụ tinh trong ống nghiệm; Ứng dụng thành công nhiều kỹ thuật tim mạch can thiệp như: mổ tim hở, thay van tim, chụp buồng tim, nong động mạch vành, bắc cầu nối động mạch vành, điều trị loạn nhịp tim Gần đây nhất, thành công bước đầu của ca ghép gan được cấy ghép từ
Trang 36người “chết não” đầu tiên ở Việt Nam, tại Bệnh viện Việt Ðức đã tiếp thêm hy vọng cho những người bệnh hiểm nghèo
hỗ trợ sinh sản đã được nghiên cứu, ứng dụng thành công Những tiến bộ khoa học, kỹ thuật tiên tiến trên thế giới được ứng dụng kịp thời Nguyên Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương, PGS, TS Nguyễn Viết Tiến, cho biết: nhiều ca bệnh hiểm nghèo đã được cứu chữa, nhiều cặp vợ chồng đã có hạnh phúc khi những đứa con khỏe mạnh chào đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm nhờ áp dụng kỹ thuật cao và kỹ thuật siêu âm ba chiều trong chẩn đoán trước sinh Ðây là kỹ thuật đầu tiên của Việt Nam được thực hiện tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, nhằm phát hiện sớm những thai nhi bất thường, có quyết định chính xác để cho ra đời những đứa trẻ khỏe mạnh, trí tuệ phát triển tốt
Sự ra đời của Ðơn vị gen trị liệu thuộc Trung tâm Y học hạt nhân và ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai là một bước đột phá trong công nghệ gen trị liệu tại Việt Nam, đánh dấu bước phát triển mới trong việc điều trị bệnh Các loại bệnh
mà gen trị liệu can thiệp thành công cũng rất đa dạng, nhưng nhiều nhất phải kể đến các bệnh có tính di truyền như: thiếu hụt miễn dịch tổ hợp trầm trọng, xơ nang, Parkinson, u hạt mãn tính hay các bệnh tim bẩm sinh, ung thư, tiểu đường, tâm thần phân liệt Gen trị liệu còn được ứng dụng trong việc điều trị các bệnh
do nhiễm trùng lao, HIV/AIDS, viêm gan siêu vi B Hệ thống máy PET/CT, của Trung tâm đã giúp cho việc chẩn đoán và phát hiện nhiều bệnh lý khác nhau trong thần kinh học, tim mạch học và nhất là trong ung thư học với những hình ảnh rõ nét, xác định được chính xác những nơi tổn thương trong cơ thể, góp phần rất lớn trong việc trợ giúp các bác sĩ có các phương pháp, phác đồ điều trị thích hợp Ðây là một trong những thiết bị chẩn đoán hình ảnh sử dụng kỹ thuật Y học hạt nhân hiện đại nhất trên thế giới, với hình ảnh PET/CT, kỹ thuật viên có thể
Trang 37tìm thấy những tổn thương, biến đổi bất thường rất nhỏ, ở những giai đoạn rất sớm trong cơ thể người bệnh, nhất là sự hình thành, phát triển và di căn của các khối u Hình ảnh PET/CT là phương tiện định vị hướng dẫn có độ chính xác cao
để các bác sĩ lấy mẫu sinh thiết, phẫu thuật,
Bệnh viện Trung ương Huế là một trong ba bệnh viện đặc biệt của tuyến bệnh viện trung ương, đã và đang ứng dụng nhiều lĩnh vực kỹ thuật cao như:
phẫu thuật tim hở, chụp mạch vành, nong mạch vành đặt stent, đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn hai buồng, ba buồng; các kỹ thuật tim mạch can thiệp hiện đại như thả
dù đóng thông liên nhĩ, ống động mạch ghép tạng, thụ tinh nhân tạo, điều trị ung thư xạ trị, hóa trị, chẩn đoán hình ảnh, nội soi hô hấp, đường tiêu hóa, tiết niệu, khớp, ổ bụng Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế, GS, TS Bùi Ðức Phú cho biết: Bệnh viện triển khai nhiều kỹ thuật mới với hiệu quả cao, phục vụ người bệnh như: nội soi can thiệp và phẫu thuật nội soi, ngoại, sản, hồi sức sơ sinh, nội khoa và thận nhân tạo, xét nghiệm và đã chuẩn bị đầy đủ nhân lực, cơ
sở vật chất tốt nhất để sắp tới thực hiện phẫu thuật ghép tim từ người cho ”chết não“
Tại Bệnh viện Nhi Trung ương, các loại bệnh được chữa và điều trị mang lại hiệu quả cao cho hàng nghìn trẻ em như: hẹp van hai lá, hẹp eo động mạch chủ, động mạch phổi, phẫu thuật tim kín, phẫu thuật tim hở và teo động mạch phổi, đảo gốc động mạch Giám đốc Bệnh viện GS,TS Nguyễn Thanh Liêm cho biết: Từ năm 2001, Việt Nam là nước đầu tiên áp dụng phương pháp điều trị thoát vị cơ hoành bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực và phẫu thuật tại buồng hồi sức dưới máy thở cao tần ở trẻ sơ sinh Vừa qua, tại Hội nghị Phẫu thuật nội soi Nhi khoa Quốc tế ở Mỹ, đã chính thức công nhận, đây là phương pháp tốt nhất
để điều trị bệnh Việt Nam còn là một trong những nước đi đầu trong lĩnh vực
Trang 38điều trị u nang ống mật chủ bằng phẫu thuật nội soi, với tỷ lệ thành công cao, tỷ
lệ tử vong thấp
Các hoạt động nghiên cứu cũng được đẩy mạnh với rất nhiều các đề tài nghiên cứu từ cấp Nhà nước đến cấp cơ sở, có nhiều đề tài được giới chuyên môn quốc tế đánh giá cao
Tuy nhiên các tổ chức khoa học công nghệ trong bệnh viện còn chưa tạo
sự liên kết chặt chẽ với các tổ chức khác chưa tạo được sự thống nhất trong hoạt động để đáp ứng nhu cầu thực tiễn, các hoạt động KH&CN diễn ra còn rời rạc chưa có sự phối hợp tốt giữa các tổ chức, cá nhân trong và ngoài bệnh viện
Từ sau Nghị định 43 việc chuyển đổi theo xu hướng tự chủ ở các bệnh viện đã có những kết quả đáng ghi nhận bước đầu
Trong thời gian qua, chính sách hoạt động, tài chính của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập đã từng bước được đổi mới Ngay từ năm 2002, một số đơn
vị sự nghiệp y tế công, phần lớn là các bệnh viện đã thực hiện điểm chính sách
tự chủ tài chính theo Nghị định số 10/2002/NĐ-CP của Chính phủ và đạt được nhiều kết quả tích cực
Đến nay, hầu hết các đơn vị sự nghiệp y tế công lập đã được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, Nghị định số 85/NĐ-CP, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ Tổng hợp báo cáo của các đơn vị, địa phương, loại hình tự chủ của các đơn vị hiện nay cho thấy:
Thứ nhất, 100% đơn vị sự nghiệp y tế công lập đã được giao quyền tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính theo 3 mức:
(i) Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên;
(ii) Đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên;
(iii) Đơn vị do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên
Trang 39Số lượng các đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên ngày càng tăng, các đơn
vị do ngân sách bảo đảm toàn bộ (có nguồn thu <10% chi hoạt động) giảm
Theo số liệu báo cáo của các đơn vị sự nghiệp y tế trực thuộc Bộ Y tế và
63 tỉnh, thành phố, số lượng các đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên ngày càng tăng: từ 28 đơn vị (chiếm 1,3%) năm 2013 lên 89 đơn vị, (chiếm 4,2%) năm 2017; Số lượng các đơn vị do ngân sách đảm bảo chi hoạt động thường xuyên giảm, từ 678 đơn vị (chiếm 31,8%) năm 2013 xuống 592 đơn vị (chiếm 27,9%)
năm 2017 [6]
Biểu 2.1 Tổng hợp tình hình thực hiện NĐ 43 của ngành Y tế
Nguồn: Tổng hợp báo cáo của các địa phương (2017)
Trang 40Các đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên chủ yếu là các bệnh viện, đối với khối dự phòng chỉ có một số trung tâm kiểm dịch biên giới (10 Trung tâm) tại các cửa khẩu là bảo đảm được chi thường xuyên
Năm 2017, do thực hiện được giá dịch vụ có tính tiền lương nên ước tính
cả nước có 18 bệnh viện tuyến cuối, 36 bệnh viện tuyến tỉnh và 24 bệnh viện tuyến huyện đã tự đảm bảo chi thường xuyên Mức độ tự chủ tài chính của các đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên cũng tăng cao (tỷ lệ đơn vị đã tự chủ được 80-95% chi thường xuyên cao, nếu có chính sách giá hợp lý sẽ tự chủ được chi thường xuyên); số đơn vị do ngân sách phải bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên đã giảm rõ rệt, làm giảm số lượng lớn người hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Tuy chưa có báo cáo đầy đủ nhưng chỉ tính riêng các đơn vị thuộc Bộ Y tế thì số đối tượng hưởng lương từ ngân sách giảm 20.599 người (của 18 bệnh viện), tiền lương phải chi khoảng 1.681,4 tỷ đồng/năm Tại TP Hồ Chí Minh, sau khi tính tiền lương vào giá sẽ giảm chi lương từ NSNN khoảng 1.200 tỷ đồng, các tỉnh khác thấp nhất cũng giảm được 30-70 tỷ đồng
Năm 2016, trong tổng số 2.146 đơn vị sự nghiệp y tế công lập, có 32 đơn
vị có thu nhập tăng thêm trên 2 lần lương, 123 đơn vị có thu nhập tăng thêm từ 1 đến 2 lần lương và 1.846 đơn vị có thu nhập tăng thêm dưới 1 lần lương
Thứ hai, Bộ Y tế đã phối hợp với Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/02/2015 và Thông tư số 02/2017/TT-BYT ngày 15/3/2017 Trong đó, quy định mức giá gồm 2/4 yếu tố theo lộ trình quy định tại Nghị định số 16/2014/NĐ-CP của Chính phủ gồm: (i) chi phí trực tiếp; (ii) tiền lương; (iii) chi phí quản lý; (iv) khấu hao
Đến tháng 4/2017, lộ trình tính tiền lương vào giá dịch vụ khám, chữa bệnh đã được thực hiện đối với người có thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) (36 tỉnh thực hiện