1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ USSH nguồn tài liệu về tổ chức cán bộ và lao động tiền lương trong phông lưu trữ ban tổ chức cán bộ chính phủ ( 1973 1994 ) bảo quản tại trung tâm lưu trữ quốc gia III

157 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguồn tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong phông lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973 - 1994) bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia III
Tác giả Đỗ Thị Thu Huyền
Người hướng dẫn PGS. TS. Đào Xuân Chúc
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Lưu trữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ nhất, tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ 1973-1994 là nguồn thông tin quan trọng để cung cấp cho hoạt động quản

Trang 1

- 1994 ) bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia III

Luận văn ThS Thông tin: 60.32.20

Nghd : PGS TS Đào Xuân Chúc

Trang 2

Bìa luận văn Trang phụ bìa Lời cam đoan Danh mục các chữ viết tắt

CHƯƠNG 1 PHÔNG LƯU TRỮ BAN TỔ CHỨC - CÁN BỘ CHÍNH PHỦ (1973 - 1994) VÀ THÀNH PHẦN, NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM TÀI LIỆU VỀ TỔ CHỨC - CÁN BỘ

VÀ LAO ĐỘNG - TIỀN LƯƠNG TRONG PHÔNG

1.2 Thành phần, nội dung và đặc điểm tài liệu về tổ chức - cán bộ

và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ

24

Trang 3

1.2.1 Thành phần và nội dung tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973

CHÍNH PHỦ (1973 - 1994) BẢO QUẢN TẠI TRUNG TÂM LƯU TRỮ QUỐC GIA III

34

2.1 Nhóm tài liệu chung về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương 34

2.2 Nhóm tài liệu về tổ chức - cán bộ 37 2.2.1 Nhóm tài liệu chung về tổ chức - cán bộ 37 2.2.2 Nhóm tài liệu về tổ chức bộ máy các cơ quan 40

2.3 Nhóm tài liệu về lao động - tiền lương 87 2.3.1 Nhóm tài liệu chung về lao động - tiền lương 87

Trang 4

GIÁ TRỊ TÀI LIỆU VÀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC, KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI LIỆU VỀ TỔ CHỨC - CÁN BỘ VÀ LAO ĐỘNG - TIỀN LƯƠNG TRONG PHÔNG LƯU TRỮ BAN TỔ CHỨC - CÁN BỘ CHÍNH PHỦ (1973-1994)

3.1 Giá trị tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973 - 1994)

98

3.1.1 Thứ nhất, tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973-1994) là nguồn thông tin quan trọng để cung cấp cho hoạt động quản lí của bộ máy Nhà nước nói chung và Bộ Nội vụ nói riêng; đồng thời phục vụ cải cách hành chính hiện nay

có giá trị để nghiên cứu các lĩnh vực khác như chính trị, kinh tế -

xã hội, văn hóa, ngoại giao, nghiên cứu khoa học

103

3.2 Thực trạng tổ chức khoa học, khai thác, sử dụng tài liệu về

tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973-1994)

108

3.2.1 Thực trạng tổ chức khoa học tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973-1994)

3.2.2 Thực trạng tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973-1994)

108

114

Trang 5

tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973-1994)

3.3.1 Tổ chức bổ sung tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973-1994) để nâng cao tính hoàn chỉnh của Phông Lưu trữ này

117

3.3.2 Xây dựng một hệ thống các công cụ tra cứu tài liệu lưu trữ hoàn chỉnh, trước hết là mục lục hồ sơ, tiến tới ứng dụng công nghệ thông tin vào việc tra tìm tài liệu

Trang 6

1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài

Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lí Nhà nước về lĩnh vực: tổ chức bộ máy Nhà nước, công chức và viên chức Nhà nước, lập Hội quần chúng và tổ chức phi Chính phủ, phân vạch địa giới hành chính và công tác lưu trữ tài liệu quốc gia [43, 327-328]

Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, trong quá trình hoạt động của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ đã hình thành khối tài liệu phản ánh về

tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương Khối tài liệu đó không chỉ đa dạng

về loại hình mà còn phong phú về nội dung Hiện nay, khối tài liệu này đã được nộp lưu vào Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III

Tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ là một nguồn tài liệu có độ tin cậy cao, được hình thành cùng với các sự kiện liên quan đến lịch sử tổ chức - cán bộ

và lao động - tiền lương của các cơ quan ở nước ta trong những giai đoạn lịch

sử nhất định Đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, Nhà nước ta đang tiến hành công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia, tài liệu Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ sẽ cung cấp thông tin cho hoạt động quản lý Nhà nước nói chung, hoạt động nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm xây dựng bộ máy chính quyền, đề ra chủ trương, chính sách cán bộ, lao động, tiền lương nói riêng

Đánh giá tổng quan những nghiên cứu trong thời gian qua, chúng tôi nhận thấy nguồn tài liệu nói trên chưa được khai thác hoặc khai thác chưa triệt để Do vậy, việc giới thiệu nguồn tài liệu này là một việc cần thiết

Nhận thức được tầm quan trọng của tài liệu Phông Lưu trữ Ban Tổ

chức - Cán bộ Chính phủ (1973-1994) trong việc nghiên cứu về tổ chức - cán

bộ và lao động - tiền lương, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu:

Trang 7

“Nguồn tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973-1994) bảo quản

tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lưu trữ (Lưu trữ học và Tư liệu học)

Việc giới thiệu nguồn tài liệu này nhằm giúp độc giả, nhà nghiên cứu nắm được các thông tin, tư liệu cần thiết về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong giai đoạn từ năm 1973 đến 1994 Độc giả, nhà nghiên cứu có thể

sử dụng luận văn này như là một cách tiếp cận tổng quan nguồn tài liệu nói trên Đồng thời giúp các nhà hoạch định chính sách khai thác nguồn tài liệu nhằm hoàn thiện tổ chức bộ máy, hoạch định chính sách cán bộ và lao động - tiền lương Hơn nữa, luận văn giúp độc giả, nhà nghiên cứu thuận lợi trong việc nghiên cứu về lịch sử Bộ Nội vụ nói riêng, lịch sử Việt Nam giai đoạn hiện đại nói chung

Trong xu thế phát triển của Trường Cao đẳng Văn thư Lưu trữ Trung ương I - nơi tôi đang công tác sẽ mở ngành học Quản trị nhân sự, nếu đề tài này được nghiên cứu thành công, sẽ góp phần cung cấp thông tin, nguồn tư liệu để phục vụ cho công tác đào tạo ngành học nói trên và các ngành học khác có liên quan của Trường

2 Mục tiêu của đề tài

- Giới thiệu một cách có hệ thống thành phần, nội dung, đặc điểm tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III (1973 - 1994) với tư cách là một nguồn tài liệu

- Phân tích giá trị tài liệu và nêu thực trạng về tổ chức khoa học, khai thác và sử dụng tài liệu Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ nói chung Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, khai thác và sử dụng có hiệu quả khối tài liệu này phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và công cuộc cải cách nền hành chính Nhà nước

Trang 8

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi sẽ tập trung giới thiệu tài liệu phản ánh về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973-1994) hiện được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Do khối tài liệu này chiếm số lượng nhiều, nên đề tài này chỉ giới thiệu một cách khái quát và điển hình

Về thời gian của tài liệu giới thiệu, sở dĩ chúng tôi lấy mốc 1973 vì đây

là thời gian Ban Tổ chức của Chính phủ (tiền thân của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ) được thành lập theo Nghị định số 29-CP ngày 20/02/1973 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) và đến năm 1994 là thời gian cuối cùng của tài liệu Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ hiện được nộp vào Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Như vậy, đề tài chủ yếu giới thiệu nguồn tài liệu hiện có trong thời gian từ sau khi đất nước thống nhất đến những năm đầu của cải cách hành chính

Cần chú ý rằng, năm 1990 Ban Tổ chức của Chính phủ đổi tên là Ban

Tổ chức - Cán bộ của Chính phủ, đến năm 1994 tiếp tục đổi tên là Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ và năm 2002 gọi là Bộ Nội vụ Theo quy định của Nhà nước hiện nay, đối với cơ quan, tổ chức ở Trung ương, thời hạn giao nộp tài liệu vào lưu trữ lịch sử là sau mười năm, kể từ năm tài liệu văn thư được giao nộp vào lưu trữ hiện hành Do vậy, vẫn còn một khối lượng tài liệu của Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ đang được bảo quản tại Bộ Nội vụ, chưa nộp hết về Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III

4 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là lịch sử đơn vị hình thành Phông

và lịch sử Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973-1994);

thành phần, nội dung, đặc điểm và giá trị tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông; công tác tổ chức khoa học, khai thác và sử dụng tài liệu trong Phông

Trang 9

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Giới thiệu lịch sử đơn vị hình thành Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (tiền thân là Ban Tổ chức của Chính phủ) và lịch sử Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973 - 1994);

- Giới thiệu một cách có hệ thống thành phần, nội dung, đặc điểm tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương của Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973-1994) với tư cách là một nguồn tài liệu Giới thiệu khái quát thông tin trong các nhóm tài liệu đó theo từng nội dung vấn đề

cụ thể, để người nghiên cứu dễ dàng tiếp cận với các nhóm tài liệu

- Phân tích giá trị tài liệu và nêu thực trạng tổ chức khoa học, khai thác,

sử dụng tài liệu Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp để tổ chức khoa học, khai thác và sử dụng tài liệu của Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973 - 1994) một cách có hiệu quả

6 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nhìn tổng quan những nghiên cứu theo hướng giới thiệu tài liệu lưu trữ, chúng ta thấy nổi bật những nghiên cứu sau đây: một số khoá luận tốt nghiệp

cử nhân của sinh viên khoa Sử thuộc Đại học Tổng hợp (nay là Trường Đại

học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội) như Hán Văn

Cảnh với Báo cáo tốt nghiệp chuyên ngành Lưu trữ học khóa học 1972-1976:

“Một số văn kiện của Đảng, Chính phủ, Thành ủy, Ủy ban hành chính Hà

Nội…về khôi phục sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp ở Thủ đô trong

thời kì 1954-1957”, Đỗ Thị Vinh với Báo cáo tốt nghiệp chuyên ngành lưu

trữ học khóa học 1972-1976: “Giới thiệu tài liệu văn kiện khối văn xã của

Phông Lưu trữ Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội trong thời kì khôi phục kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa ở Thủ đô (1954-1960)”; khóa luận tốt

nghiệp của sinh viên ngành Lưu trữ học và Quản trị Văn phòng - Trường Đại

học Khoa học Xã hội và Nhân văn, tiêu biểu như Nguyễn Thị Kim Chi với

khóa luận tốt nghiệp cử nhân khóa học 1996-2000: “Phong trào thi đua ái

quốc thời kỳ kháng chiến chống Pháp” Bản thân tôi trong thời gian học Đại

học ngành Lưu trữ học và Quản trị Văn phòng - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cũng đã thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân về giới

Trang 10

thiệu tài liệu Đó là đề tài "Phông lưu trữ Bộ Nông lâm và Phông lưu trữ Phủ

Thủ tướng - nguồn tài liệu quan trọng nghiên cứu sản xuất nông nghiệp Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946-1954)"

Cũng có một số đề tài dưới dạng các luận văn thạc sĩ của học viên cao học ngành Lưu trữ (Lưu trữ học và Tư liệu học) đi theo hướng nghiên cứu này,

tiêu biểu như: Đào Đức Thuận với đề tài luận văn thạc sỹ khóa học

2001-2004: "Tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976-1992) - nguồn sử liệu

giá trị cần được công bố, giới thiệu phục vụ nghiên cứu lịch sử"

Nội dung nghiên cứu các khóa luận tốt nghiệp cử nhân và luận văn thạc sỹ

đó đã giới thiệu khái quát thành phần, nội dung, đặc điểm tài liệu và phân chia tài liệu thành các nhóm cụ thể để tạo thuận lợi cho độc giả trong quá trình khai thác tài liệu

Nghiên cứu theo hướng này ở cấp độ cao hơn có một số đề tài, công trình,

tiêu biểu như Đào Xuân Chúc với công trình: “Nguồn tư liệu ảnh về cuộc

kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)”, Trần Thương Hoàng với đề

tài luận án tiến sĩ: “Nghiên cứu nguồn sử liệu về phong trào thi đua yêu nước

trong Phông Lưu trữ Phủ Thủ tướng (1945-1954)” Các công trình nghiên

cứu trên đều đi sâu nghiên cứu, trình bày có hệ thống những vấn đề có liên quan đến nguồn sử liệu

Ngoài ra, còn có “Tuyển tập những bài công bố, giới thiệu tài liệu lưu trữ

của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I” của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I xuất

bản năm 2002 Trong tuyển tập đó gồm những bài viết công bố, giới thiệu các tài liệu lưu trữ đơn lẻ, chưa phải là giới thiệu một cách chi tiết về thành phần, nội dung, đặc điểm và các thông tin trong tài liệu đó

Trên trang Web của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước (http://www.luutruvn.gov.vn/left.htm) ngày 30 tháng 9 năm 2006 có các bài

viết về giới thiệu tài liệu lưu trữ như: “Giới thiệu cuốn nhật kí của một chiến

sĩ giải phóng quân trong tài liệu lưu trữ” của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II,

“Giới thiệu bản Tuyên ngôn của Quốc hội Việt Nam” và “Giới thiệu tài liệu

Phông Quốc hội hiện đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III” của

Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Những bài giới thiệu tài liệu nói trên mới chỉ

Trang 11

dừng lại ở mức độ giới thiệu tài liệu đơn lẻ Còn bài giới thiệu về Phông Quốc hội vẫn còn mang tính chất khái quát, chưa đi sâu vào giới thiệu các thông tin đầy đủ có trong tài liệu

Xét về mặt nội dung, việc nghiên cứu, giới thiệu tài liệu về tổ chức - cán

bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973-1994) bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III với tư cách là một nguồn tài liệu hiện tại chưa có tác giả nào khai thác, nghiên cứu một cách toàn diện, đặc biệt là trình bày dưới dạng một luận văn thạc sĩ Điều này góp phần khẳng định sự lựa chọn hướng và nội dung nghiên cứu của đề tài là phù hợp

7 Nguồn tƣ liệu, tài liệu tham khảo

Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi đã nghiên cứu các tài liệu sau đây:

+ Các sách, giáo trình về công tác lưu trữ như "Lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ" của tập thể tác giả Đào Xuân Chúc - Nguyễn Văn Hàm - Vương Đình Quyền - Nguyễn Văn Thâm do nhà xuất bản Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp xuất bản năm 1990

+ Hệ thống các hồ sơ, tài liệu lưu trữ về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương của Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973-1994)

Phông Lưu trữ nói trên (cùng với các phông, khối tài liệu lưu trữ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945) hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Trung tâm này đóng tại 34 Phan Kế Bính - phường Cống Vị -

Ba Đình - Hà Nội Đây là một Trung tâm Lưu trữ lớn thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước có chức năng thu thập, bổ sung, bảo quản an toàn và tổ chức sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ có ý nghĩa toàn quốc từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các nguồn tài liệu khác có liên quan như các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước ta quy định về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương; công báo; liệu tham khảo, các bài viết trên các báo, tạp chí Tạp chí Tổ chức Nhà nước - do Bộ Nội vụ xuất bản, một số các bài viết trên các báo, tạp chí liên quan đến tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương; đặc biệt là cuốn “Lịch sử Bộ Nội vụ” do Nhà xuất bản Chính trị

Trang 12

Quốc gia phát hành năm 2005; khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Khoa Lưu trữ học và Quản trị Văn phòng - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội; luận văn của học viên cao học ngành Lưu trữ học và Tư liệu học trước đây, nay là ngành Lưu trữ (Lưu trữ học và Tư liệu học), một số luận án tiến sĩ sử học có liên quan đến đề tài

8 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận nghiên cứu: trong quá trình thực hiện đề tài này,

chúng tôi đã tiếp cận nghiên cứu theo quan điểm khoa học của phép biện chứng duy vật, quan điểm lịch sử - logic

- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

+ Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: phương pháp phân tích - tổng hợp, phân loại - hệ thống hóa, sử liệu học

+ Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp khảo sát thực tiễn, chuyên gia…

+ Nhóm phương pháp toán học: phương pháp toán thống kê

9 Đóng góp của đề tài

Thứ nhất, đề tài như là một phương tiện tra cứu tài liệu hiệu quả qua

việc cung cấp những thông tin một cách toàn diện và có hệ thống về nguồn tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973 -1994)

Thứ hai, đề tài đề xuất các giải pháp để tổ chức khoa học, khai thác và

sử dụng tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973 -1994) nói riêng và các phông lưu trữ được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III nói chung

Thứ ba, đề tài này sẽ góp phần cung cấp thông tin, nguồn tư liệu để

phục vụ cho công tác đào tạo ngành học Quản trị nhân lực và các ngành học khác có liên quan của Trường Cao đẳng Văn thư Lưu trữ Trung ương I

10 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương như sau:

Trang 13

Chương 1 Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973 - 1994) và thành phần, nội dung, đặc điểm tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông;

Chương 2 Giới thiệu tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973 - 1994) bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III;

Chương 3 Giá trị tài liệu và công tác tổ chức khoa học, khai thác, sử dụng tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973-1994)

Điều đáng chú ý là ở phần phụ lục, đề tài cung cấp danh mục các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973-1994)

Do khối lượng công việc nhiều, thời gian và trình độ còn hạn chế nên trong luận văn này, chúng tôi chắc chắn không tránh khỏi những sai sót Vì vậy, chúng tôi mong nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ của các thầy, cô giáo, các anh, chị, bạn bè đồng nghiệp để hoàn thiện hơn nội dung đề tài của mình

Qua đây, chúng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn của mình đối với các thầy,

cô Khoa Lưu trữ học và Quản trị Văn phòng - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã hướng dẫn, chỉ bảo chúng tôi trong suốt khóa học

Đặc biệt, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với PGS.TS

Đào Xuân Chúc - người đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho chúng tôi trong

suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô Khoa Lưu trữ học và Quản trị Văn phòng đã chỉ bảo, góp ý cho bản luận văn hoàn thiện hơn

Sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo Trường Cao đẳng Văn thư Lưu trữ Trung ương I - nơi chúng tôi đang công tác và Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III

- nơi chúng tôi đã khảo sát và nghiên cứu tài liệu cũng là động lực để động viên chúng tôi hoàn thành bản luận văn này

Cảm ơn sự giúp đỡ của các anh, chị, em, bạn bè đồng nghiệp đã cổ vũ, động viên và tạo điều kiện cho chúng tôi hoàn thành luận văn này

Trang 14

CHƯƠNG 1

PHÔNG LƯU TRỮ BAN TỔ CHỨC - CÁN BỘ CHÍNH PHỦ (1973 - 1994) VÀ THÀNH PHẦN, NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM TÀI LIỆU VỀ

TỔ CHỨC - CÁN BỘ VÀ LAO ĐỘNG - TIỀN LƯƠNG TRONG PHÔNG

1.1 Lịch sử đơn vị hình thành Phông và lịch sử Phông Lưu trữ Ban

Ban Tổ chức của Chính phủ có chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ quản lí công tác tổ chức và cán bộ theo đúng đường lối, chính sách của Đảng

và luật pháp của Nhà nước, nhằm xây dựng, kiện toàn bộ máy Nhà nước, nâng cao năng lực quản lí của các cơ quan Nhà nước

Theo tinh thần của Nghị định số 29-CP, Ban Tổ chức của Chính phủ có nhiệm vụ cùng với các cơ quan liên quan thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

- Nghiên cứu xây dựng và kiện toàn bộ máy Nhà nước các ngành, các cấp, nhằm quy định rõ nhiệm vụ chức năng, hệ thống tổ chức, mối quan hệ (gồm cả mối quan hệ với tổ chức Đảng và các đoàn thể nhân dân), tiêu chuẩn

tổ chức và cán bộ, biên chế của các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến cơ

sở, trình Chính phủ duyệt và phối hợp với các ngành, các cấp thực hiện

- Quản lí chung công tác biên chế các cơ quan Nhà nước

- Quản lí công tác cán bộ các cơ quan Nhà nước theo đúng đường lối, nguyên tắc, chính sách, chế độ của Đảng và Nhà nước

- Hướng dẫn việc tổ chức bầu cử Hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính các cấp theo luật lệ quy định; theo dõi tình hình hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp

Trang 15

- Tổ chức việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính quyền các cấp

- Xây dựng chế độ thành lập và hoạt động của các Hội quần chúng trình Chính phủ ban hành; theo dõi tình hình hoạt động của các Hội quần chúng

Tổ chức bộ máy của Ban Tổ chức của Chính phủ gồm có:

+ Ngày 31/12/1973, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 275/TTg

về việc thực hiện bản Điều lệ về tổ chức và hành động của Hội đồng Chính phủ và Bản quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các Bộ trong lĩnh vực quản lí kinh tế Trong đó, Ban Tổ chức của Chính phủ là một thành viên giúp Hội đồng Chính phủ theo dõi và đôn đốc việc thi hành;

+ Ngày 20/5/1974, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 124/QĐ-CP về việc điều động cán bộ ngoài diện Hội đồng Chính phủ bổ nhiệm và bãi nhiệm Quyết định có quy định rõ nhiệm vụ của Ban Tổ chức của Chính phủ là nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ ra quyết định điều động những cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ khoa học - kĩ thuật… ngoài diện thuộc Hội đồng Chính phủ bổ nhiệm và bãi miễn;

+ Nghị quyết số 245/CP ngày 05/11/1974 của Hội đồng Chính phủ về tinh giản biên chế bộ máy Nhà nước, quản lí các ngành sản xuất kinh doanh, quản lí các xí nghiệp, sắp xếp và sử dụng hợp lí cán bộ, công nhân viên chức khu vực Nhà nước Trong đó, Ban Tổ chức của Chính phủ được phân công và giao là thành viên của Tiểu ban Nghiên cứu phương án thực hiện việc tinh giản bộ máy hành chính Trung ương và địa phương; các chính sách và chế độ

có liên quan đến việc tinh giản bộ máy và sắp xếp biên chế [43, 276-278]

Năm 1980, Ban Tổ chức của Chính phủ hoạt động độc lập về mặt hành chính và tách ra khỏi Phủ Thủ tướng

Trang 16

Năm 1990, Ban Tổ chức của Chính phủ đổi tên thành Ban Tổ chức - Cán bộ của Chính phủ, được quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức theo Nghị định 135/HĐBT ngày 07/5/1990 của Hội đồng Bộ trưởng

Theo Nghị định này, Ban Tổ chức - Cán bộ của Chính phủ là cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng, giúp Hội đồng Bộ trưởng chỉ đạo và quản lí về tổ chức và cán bộ của cơ quan hành chính từ Trung ương đến địa phương

Nghị định số 135/HĐBT quy định cụ thể nhiệm vụ của Ban Tổ chức - Cán bộ của Chính phủ như sau:

1 Xây dựng để Hội đồng Bộ trưởng xem xét và trình Quốc hội, Hội đồng Nhà nước quyết định cơ cấu tổ chức Hội đồng Bộ trưởng và hệ thống tổ chức chính quyền các cấp, giúp Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng tổ chức thực hiện các quyết định ấy

Dự thảo các dự án luật, pháp lệnh, các nghị định, quyết định…về lĩnh vực công tác tổ chức cán bộ để Hội đồng Bộ trưởng trình Quốc hội, Hội đồng Nhà nước ban hành hoặc Hội đồng Bộ trưởng ban hành

2 Xây dựng các quy chế về thành lập, sát nhập, giải thể về tổ chức hoạt động của các tổ chức thuộc hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước (các Bộ,

ủy ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, cơ quan chuyên môn giúp Bộ, ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lí Nhà nước…) và các tổ chức sự nghiệp trình Hội đồng Bộ trưởng ban hành hoặc được ủy quyền ban hành

Chuẩn bị để Hội đồng Bộ trưởng trình Quốc hội, Hội đồng Nhà nước quyết định việc thành lập, sát nhập, giải thể cơ quan của Hội đồng Bộ trưởng;

trình Hội đồng Bộ trưởng quyết định việc thành lập, sát nhập, giải thể các cơ quan trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng

3 Xây dựng trình Hội đồng Bộ trưởng ban hành các chức danh, tiêu chuẩn viên chức Nhà nước; được ủy quyền ban hành các chức danh và tiêu chuẩn viên chức đối với từng ngạch, lĩnh vực

Xây dựng trình Hội đồng Bộ trưởng ban hành các quy chế về quản lí biên chế các cơ quan hành chính sự nghiệp Tổ chức và chỉ đạo việc quản lí

Trang 17

biên chế thuộc cơ quan hành chính - sự nghiệp ở Trung ương và các địa phương

4 Nghiên cứu để Hội đồng Bộ trưởng trình Quốc hội, Hội đồng Nhà nước hoặc Hội đồng Bộ trưởng ban hành các quy định về thành lập các Hội quần chúng; trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cho phép thành lập Hội quần chúng có tính chất xã hội và nghề nghiệp Theo dõi hoạt động của các Hội theo pháp luật Nhà nước

5 Giúp Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng tổ chức chỉ đạo công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp theo Luật Bầu cử quy định

6 Dự thảo trình Hội đồng Bộ trưởng quyết định các nguyên tắc và tiêu chuẩn làm căn cứ phân vạch địa giới hành chính các cấp

Chuẩn bị để Hội đồng Bộ trưởng trình Quốc hội hoặc Hội đồng Nhà nước quyết định việc phân vạch địa giới hành chính tỉnh và đơn vị hành chính tương đương hoặc để Hội đồng Bộ trưởng quyết định việc phân vạch địa giới hành chính huyện và đơn vị hành chính tương đương

7 Nghiên cứu trình Hội đồng Bộ trưởng quyết định các kế hoạch và quy chế về công tác cán bộ thuộc các cơ quan hành chính Nhà nước bao gồm:

kế hoạch, mục tiêu, yêu cầu đào tạo, quy hoạch cán bộ, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, khen thưởng, kỉ luật, thuyên chuyển, phân cấp quản lí cán

bộ

Nghiên cứu trình Hội đồng Bộ trưởng ban hành các chính sách đối với cán bộ các cơ quan Nhà nước ở các cấp

Giúp Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng theo dõi, quản lí cán bộ và chuẩn bị

để Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định về công tác cán bộ (nhận xét, điều động, đề bạt, khen thưởng, kỉ luật, nâng lương…) thuộc các chức danh do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quản lí

8 Hướng dẫn, kiểm tra các Bộ, ủy ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng và ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật và quy chế về công tác tổ chức - cán bộ

Trang 18

Chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ đối với các Vụ Tổ chức - Cán bộ và Ban Tổ chức chính quyền các địa phương

Nghị định cũng quy định rõ: cơ cấu tổ chức và nhân sự của Ban Tổ chức - Cán bộ của Chính phủ Lãnh đạo Ban do một Bộ trưởng (thành viên Hội đồng Bộ trưởng) làm Trưởng Ban, giúp việc cho Trưởng Ban có các Phó Trưởng Ban Ban làm việc theo chế độ thủ trưởng và hoạt động theo quy chế như Bộ [43, 280-282]

Sau đó, Ban Tổ chức - Cán bộ của Chính phủ ra Quyết định thành lập các Vụ để giúp Bộ trưởng - Trưởng Ban làm việc, gồm 9 đơn vị (trên cơ sở sắp xếp lại các đơn vị cũ và thiết lập thêm một số đơn vị mới):

7 Trung tâm Thông tin - Tư liệu;

8 Cơ quan thường trực miền Nam (tại thành phố Hồ Chí Minh);

9 Cơ quan thường trực miền Trung và Tây Nguyên (tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa) [43, 282]

Năm 1992, Hiến pháp mới được ban hành thay thế Hiến pháp 1980

Tiếp đó, ngày 02/10/1992 công bố Luật Tổ chức Chính phủ năm 1992 Để

đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của Chính phủ mới, ngày 30/9/1992, tại kì họp thứ

nhất Quốc hội khóa IX, Ban Tổ chức - Cán bộ của Chính phủ được xác định

là cơ quan ngang Bộ, với tên gọi là Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ

[43,327]

Để triển khai Luật Tổ chức Chính phủ mới, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 15/CP ngày 02/3/1993 về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lí Nhà nước của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ

Trang 19

Năm 1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 181/CP ngày 09/11/1994 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ trong thời kì mới Theo Điều 1 Nghị định này, Ban

Tổ chức - Cán bộ Chính phủ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lí Nhà nước về lĩnh vực tổ chức bộ máy Nhà nước, công chức và viên chức Nhà nước, lập Hội quần chúng và tổ chức phi Chính phủ, phân vạch địa giới hành chính và công tác lưu trữ tài liệu quốc gia [43, 328]

Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quản lí Nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ quy định tại Nghị định số 15-CP ngày 02/3/1993 của Chính phủ và những nhiệm vụ, quyền hạn

cụ thể dưới đây:

1 Xây dựng các dự án luật, pháp lệnh và các văn bản pháp quy của Chính phủ về tổ chức bộ máy Nhà nước, cải cách nền hành chính quốc gia, công chức và viên chức Nhà nước, việc thành lập và hoạt động của các Hội quần chúng, tổ chức phi Chính phủ, phân vạch địa giới hành chính và công tác lưu trữ tài liệu quốc gia để trình Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ quyết định; tổ chức thực hiện các dự án luật, pháp lệnh, văn bản pháp quy nói trên sau khi được phê duyệt

2 Xây dựng các đề án tổ chức cơ cấu Chính phủ, đề án thành lập hoặc bãi bỏ các Bộ, cơ quan ngang Bộ để Chính phủ trình Quốc hội

Trình Chính phủ quyết định việc thành lập, sáp nhập, giải thể các cơ quan thuộc Chính phủ

Phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ việc trình Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập những doanh nghiệp quan trọng của Nhà nước thuộc Trung ương quản lí

3 Thẩm định và trình Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tổ chức quản lí Nhà nước khác thuộc thẩm quyền quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, tổ chức, hoạt động của cơ quan chuyên môn thuộc uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Thẩm định và có ý kiến đối với các dự án của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trình

Trang 20

Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có liên quan đến tổ chức bộ máy và biên chế Nhà nước Tham gia ý kiến với các

Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ việc trình Chính phủ quyết định phân cấp nhiệm vụ và nội dung quản lí Nhà nước của ngành cho ủy ban nhân dân địa phương

4 Thẩm định và trình Thủ tướng Chính phủ quyết định cho phép lập Hội quần chúng, tổ chức phi Chính phủ theo quy định của pháp luật; hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc lập hội và hoạt động của các Hội quần chúng, tổ chức phi Chính phủ; kiến nghị Thủ tướng Chính phủ về những vấn đề liên quan đến lập hội và hoạt động của các Hội quần chúng, tổ chức phi Chính phủ

5 Trình Chính phủ quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức Nhà nước, đại biểu Hội đồng nhân dân, quy chế quản lí, chính sách, chế độ đối với công chức, viên chức Nhà nước và cán bộ xã, phường, thị trấn;

tổ chức thực hiện các vấn đề trên sau khi được phê duyệt

6 Trình Thủ tướng Chính phủ kế hoạch biên chế hàng năm, quy định

về tiêu chuẩn và định mức biên chế phân bổ cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ,

cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan, tổ chức khác do Thủ tướng Chính phủ quy định; quy chế về quản lí biên chế; phân bổ chỉ tiêu biên chế; tổ chức việc thống kê công chức, viên chức trong cả nước Phối hợp với Bộ Tài chính quản lí quỹ tiền lương công chức, viên chức Nhà nước

Trình Chính phủ quy chế phân cấp quản lí công chức Ban hành chức danh tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức, viên chức, quy chế thi tuyển, đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá công chức, viên chức Nhà nước Quản lí công chức cao cấp theo quy định của Chính phủ

7 Trình Chính phủ quy định các nguyên tắc, tiêu chuẩn làm căn cứ để xét duyệt việc thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính

Trình Chính phủ quyết định việc thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung

Trang 21

ương; trình Chính phủ đề án thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt để Chính phủ trình Quốc hội quyết định

Chủ trì hoặc phối hợp với các cơ quan liên quan giúp Chính phủ giải quyết các vấn đề điều chỉnh địa giới, tranh chấp địa giới hành chính

8 Giúp Chính phủ chỉ đạo công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân

và ủy ban nhân dân theo quy định của pháp luật

9 Xây dựng và quản lí ngành lưu trữ Nhà nước, quản lí tập trung thống nhất tài liệu lưu trữ quốc gia Ban hành theo thẩm quyền các quy định về chuyên môn, nghiệp vụ lưu trữ quốc gia

10 Tổ chức công tác nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế về lĩnh vực tổ chức bộ máy Nhà nước, cải cách nền hành chính quốc gia, xây dựng đội ngũ công chức, viên chức

11 Hướng dẫn và chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ đối với cơ quan tổ chức của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

12 Thanh tra, kiểm tra các cơ quan Nhà nước, đoàn thể quần chúng, tổ chức xã hội và công dân trong việc thực hiện luật pháp, chính sách của Nhà nước thuộc lĩnh vực do Ban phụ trách [43, 328-329]

Cơ cấu tổ chức của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ theo Nghị định số 181/CP gồm có các đơn vị sau đây:

1 Vụ Chính quyền địa phương;

Trang 22

10.Văn phòng (có bộ phận thường trực ở thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Nha Trang) [43, 329]

Căn cứ Nghị định số 181/CP, ngày 11/3/1995, Bộ trưởng - Trưởng Ban

Tổ chức - Cán bộ Chính phủ đã ban hành các quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và lề lối làm việc của các đơn vị thuộc Ban, tạo cơ sở pháp lí để tiến hành một bước về tổ chức và hoạt động của Ban Tổ chức - Cán

bộ Chính phủ, đáp ứng kịp thời đòi hỏi của yêu cầu nhiệm vụ mới và nặng nề hơn của Ban trong thời kì này

Năm 1998, Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ có một số thay đổi về cơ cấu tổ chức, cụ thể là đổi tên Vụ Tổ chức thành Vụ Tổ chức - Biên chế Nhà nước, Vụ Biên chế và Tiền lương thành Vụ Tiền lương; thành lập thêm 2 vụ

là Vụ Tổ chức cán bộ và Vụ Tổ chức phi Chính phủ (theo Quyết định số 144/1998/QĐ-TTg ngày 13/8/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc thay đổi

và thành lập một số tổ chức thuộc Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ) Đến tháng 9/1998 thành lập Tổ Cải cách hành chính, sau nâng lên thành Vụ Cải cách hành chính (2002); giải thể Vụ Đào tạo để thành lập Cục Đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức Nhà nước (1998)

Ngoài ra, để triển khai thực hiện các Dự án Quốc tế hỗ trợ cải cách hành chính, trong 2 năm 1998-1999, Bộ trưởng - Trưởng Ban Tổ chức - Cán

bộ Chính phủ đã quyết định thành lập các Ban Quản lí Dự án gồm Ban Quản

lí Dự án ADB/3023/VIE, Ban Quản lí Dự án Quốc gia UNDP/VIE/97/001, Ban Quản lí Dự án Na Uy, Ban Quản lí Dự án Việt Nam - Sida (Thụy Điển) [43, 329-330]

Trước những đòi hỏi của thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước trong những năm đầu của thế kỷ mới, Đảng và Nhà nước ta ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của công tác tổ chức và cán bộ trong bộ máy hành chính Nhà nước, trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cũng như trong công tác quản lý theo nguyên tắc đa ngành, đa lĩnh vực Để đủ sức đảm đương được những trọng trách to lớn, nặng nề đó, cần thiết phải hình thành một Bộ thuộc cơ cấu Chính phủ với tên gọi đúng với vai trò, chức năng

của nó là Bộ Nội vụ Do đó, ngày 05/8/2002, Quốc hội khóa XI (kỳ họp thứ

Trang 23

nhất) quyết định đổi tên Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ thành Bộ Nội vụ

[43, 372]

Bộ Nội vụ là một trong 26 Bộ và cơ quan ngang Bộ của Chính phủ khóa XI, nhiệm kỳ 2002-2007 do Quốc hội khóa XI quyết định Tiếp đó, Học viện Hành chính Quốc gia được chuyển về Bộ Nội vụ theo Quyết định số 123/QĐ-TTg ngày 19/9/2002 của Thủ tướng Chính phủ Việc đổi tên Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ thành Bộ Nội vụ và việc sáp nhập Học viện Hành chính Quốc gia về Bộ Nội vụ là bước phát triển quan trọng của Bộ Nội vụ

Điều đó cũng chứng tỏ Bộ Nội vụ ngày càng đảm nhận vai trò, vị trí quan trọng trong quá trình phát triển đất nước

Thi hành Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001 và Nghị định số 86/2002/NĐ-CP ngày 05/11/2002 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ, ngày 09/5/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 45/2003/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và

cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ Nghị định chỉ rõ: Bộ Nội vụ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về các lĩnh vực: tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước; tổ chức chính quyền địa phương, quản lý địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước; tổ chức hội và tổ chức phi Chính phủ; văn thư, lưu trữ Nhà nước và quản lý Nhà nước đối với các dịch vụ công trong lĩnh vực quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật [43, 373]

1.1.2 Lịch sử Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973 - 1994)

Như đã trình bày ở trên, từ khi Ban Tổ chức của Chính phủ ra đời năm

1973 qua nhiều lần đổi tên, cho đến khi thành lập Bộ Nội vụ năm 2002 là một bước phát triển rất quan trọng để đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Nội vụ được

mở rộng hơn so với Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ Chính vì vậy, chúng tôi

xác định giới hạn Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ bắt đầu từ

khi thành lập Ban Tổ chức của Chính phủ (20/02/1973) và kết thúc khi Ban

Tổ chức - Cán bộ Chính phủ được đổi tên thành Bộ Nội vụ (05/8/2002) Như

Trang 24

vậy, đã dẫn đến việc hình thành phông lưu trữ mới - Phông Lưu trữ Bộ Nội

vụ Trong luận văn này, do phạm vi của đề tài như đã giới thiệu ở phần mở đầu, chúng tôi chỉ giới thiệu lịch sử Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973 - 1994) bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III

Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III được thành lập ngày 10/6/1995 theo Quyết định của Bộ trưởng, Trưởng Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ Trung tâm này hiện nay đóng tại 34 Phan Kế Bính - phường Cống Vị - Ba Đình - Hà Nội

Đây là một trong bốn Trung tâm Lưu trữ lớn nhất của Việt Nam trực thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước Hiện nay, ở Việt Nam có bốn Trung tâm Lưu trữ Quốc gia, ngoài Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đã nêu ở trên, còn có Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I đóng tại 31 B phố Tràng Thi - Hà Nội; Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II đóng tại 2 Ter đường Lê Duẩn - quận 1 - TP Hồ Chí Minh và Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV đóng tại thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng

Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III có nhiệm vụ bảo quản tài liệu từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, với hơn 200 phông lưu trữ (trong đó có Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ) của các cơ quan Nhà nước

và đoàn thể Trung ương được bảo quản ở trên 5 km giá trong một kho lưu trữ hiện đại vào bậc nhất của nước ta Đây là nơi thu thập, giữ gìn bảo quản tài liệu của cơ quan quyền lực cao nhất, các bộ và các cơ quan Trung ương như:

Quốc hội, Chính phủ, các bộ, Ủy ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Chính phủ Thành phần tài liệu của Trung tâm rất đa dạng, gồm các loại tài liệu như tài liệu hành chính, tài liệu khoa học kỹ thuật, tài liệu nghe nhìn, …, trong đó tài liệu hành chính chiếm một tỷ lệ lớn nhất [52]

Như vậy, với sự đa dạng về thành phần và nội dung, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III là nguồn tài liệu phản ánh toàn diện, đầy đủ

và xác thực nhất cả quá trình lịch sử xây dựng và đấu tranh bảo vệ đất nước trong suốt hơn 60 năm qua

Tài liệu Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ được nộp về Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III năm 2003 (theo Biên bản bàn giao tài liệu ngày 26/02/2003)

Trang 25

- Thời gian tài liệu: chủ yếu từ năm 1973 đến năm 1994 Có một số lượng ít tài liệu trước năm 1973 của Bộ Nội vụ cũ lẫn vào

- Số lượng tài liệu: các tài liệu bảo quản lâu dài và vĩnh viễn của Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ gồm 1427 hồ sơ (đơn vị bảo quản)

~ 290 hộp ~ 30.5 m

- Tình hình tài liệu Tài liệu của toàn PhôngLưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủđã được thu thập và giao nộp vào Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III trong tình trạng tài liệu đã được chỉnh lí tương đối hoàn chỉnh, được lập hồ sơ và đánh

số tờ đối với loại tài liệu bảo quản vĩnh viễn (loại tài liệu bảo quản lâu dài chưa được đánh số tờ); tài liệu được xác định giá trị và có công cụ tra tìm là mục lục hồ sơ nên có thể quản lí và phục vụ khai thác tài liệu của Phông

- Về thành phần tài liệu: tài liệu hành chính

- Tài liệu của toàn Phông được hệ thống hóa theo phương án: “vấn đề - thời gian”

Nội dung tài liệu lưu trữ trong toàn Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán

bộ Chính phủ (1973 - 1994) được chia thành các vấn đề chính sau đây:

1 Tài liệu tổng hợp:

Chương trình, kế hoạch, báo cáo công tác của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ, các bộ, ngành, ủy ban nhân dân và Ban Tổ chức chính quyền các tỉnh, thành phố; chương trình, kế hoạch và báo cáo công tác tổ chức, cán bộ của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ và các bộ, ngành; tài liệu về thi đua khen thưởng, thanh tra, xây dựng cơ bản và nghiên cứu khoa học

2 Tài liệu về tổ chức bộ máy của các cơ quan Trung ương

3 Tài liệu về biên chế và lao động tiền lương:

- Tài liệu về biên chế và lao động tiền lương của các cơ quan từ Trung ương đến địa phương;

- Tài liệu về chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ viên chức Nhà nước từ Trung ương đến địa phương

4 Tài liệu về cán bộ:

- Văn bản chỉ đạo của Đảng, Chính phủ về công tác cán bộ;

Trang 26

- Danh sách cán bộ chủ chốt của các bộ, ngành và các địa phương;

- Tập quyết định nhân sự của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Phủ Thủ tướng và ủy ban nhân dân các tỉnh;

- Chế độ, chính sách đối với cán bộ

5 Tài liệu địa phương:

- Tài liệu về bầu cử đại biểu Quốc hội ở các địa phương;

- Tài liệu về bầu cử Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp;

- Tổ chức bộ máy và tổ chức chính quyền cơ sở, phân vạch địa giới hành chính các cấp;

-Thống kê cán bộ và chế độ, chính sách đối với cán bộ ở các địa phương

6 Tài liệu về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ:

- Tài liệu chỉ đạo của Phủ Thủ tướng, Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ, Trường Hành chính Trung ương và Ủy ban hành chính các tỉnh về việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ;

- Đề án, báo cáo của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ, Trường Hành chính Trung ương và Trường Hành chính các tỉnh về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

7 Tài liệu về tổ chức và hoạt động của các hội quần chúng; các Tổng cục, Ủy ban thuộc các cơ quan Trung ương

Nhìn chung, các hồ sơ trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ được lập tương đối tốt, tiêu đề bên ngoài và nội dung bên trong hồ

sơ khớp với nhau Tuy nhiên, có một số ít hồ sơ lập chưa được hoàn chỉnh, tiêu đề hồ sơ chưa phản ánh hết so với nội dung tài liệu bên trong hồ sơ, hoặc tài liệu của tỉnh này còn lẫn với tỉnh khác (phần này sẽ được trình bày kĩ hơn

ở chương III)

Việc thực hiện phương án phân loại đã chọn cho toàn Phông cũng chưa

triệt để Nhìn chung, tài liệu của toàn Phông được chọn theo phương án:

“vấn đề - thời gian”, nhưng có chỗ cũng gần giống phương án “mặt hoạt

động - thời gian” như nhóm tài liệu tổng hợp Trong nhóm tài liệu này có nhiều vấn đề như đã nêu ở trên

Trang 27

Về xác định giá trị tài liệu: Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ có 3 loại tài liệu có giá trị bảo quản khác nhau Loại tài liệu có giá trị bảo quản vĩnh viễn và lâu dài gồm 1427 hồ sơ đã được nộp về Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Còn loại tài liệu bảo quản tạm thời hiện nay đang được Bộ Nội

vụ quản lí

1.2 Thành phần, nội dung và đặc điểm tài liệu về tổ chức - cán bộ

và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973 - 1994)

1.2.1 Thành phần và nội dung tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973 - 1994)

- Về thành phần tài liệu: cũng như tài liệu của toàn Phông, tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông là tài liệu hành chính

- Nội dung tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong

Phông chia thành các nhóm tài liệu sau:

1 Tài liệu tổng hợp:

Chương trình, kế hoạch, báo cáo công tác của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ, các bộ, ngành, ủy ban nhân dân và Ban Tổ chức chính quyền các tỉnh, thành phố; chương trình, kế hoạch và báo cáo công tác tổ chức, cán bộ của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ và các bộ, ngành; tài liệu về thi đua khen thưởng

2 Tài liệu về tổ chức bộ máy của các cơ quan Trung ương

3 Tài liệu về biên chế và lao động tiền lương:

- Tài liệu về biên chế và lao động tiền lương của các cơ quan từ Trung ương đến địa phương;

- Tài liệu về chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ viên chức Nhà nước từ Trung ương đến địa phương

4 Tài liệu về cán bộ:

- Văn bản chỉ đạo của Đảng, Chính phủ về công tác cán bộ;

- Danh sách cán bộ chủ chốt của các bộ, ngành và các địa phương;

Trang 28

- Tập quyết định nhân sự của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Phủ Thủ tướng và Ủy ban nhân dân các tỉnh;

- Chế độ, chính sách đối với cán bộ

5 Tài liệu địa phương:

- Tổ chức bộ máy và tổ chức chính quyền cơ sở;

- Thống kê cán bộ và chế độ, chính sách đối với cán bộ ở các địa phương

6 Tài liệu về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ:

- Tài liệu chỉ đạo của Phủ Thủ tướng, Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ, Trường Hành chính Trung ương và Ủy ban hành chính các tỉnh về việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ;

- Đề án, báo cáo của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ, Trường Hành chính Trung ương và Trường Hành chính các tỉnh về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

7 Tài liệu về tổ chức và hoạt động của các hội quần chúng; các Tổng cục, Ủy ban thuộc các cơ quan Trung ương

Trên đây là những nhóm tài liệu rất cơ bản phản ánh chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ, trong đó phản ánh tương đối đầy đủ về công tác tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương của Nhà nước Việt Nam từ Trung ương đến địa phương trong giai đoạn 1973-1994 Đây là một trong những Phông quan trọng trong Phông Lưu trữ Quốc gia Việt Nam

Phông Lưu trữ này là nguồn tài liệu đáng tin cậy phục vụ cho các nhu cầu nghiên cứu khác nhau của xã hội, đặc biệt là phục vụ cho việc viết lịch sử ở các cơ quan từ Trung ương đến địa phương

1.2.2 Đặc điểm của tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973 -1994)

- Về hình thức tài liệu (văn bản) gồm: chất liệu vật mang tin như giấy,

khổ giấy, mực

+ Đặc thù vật mang tin:

Vật mang tin là vật liệu dùng để ghi thông tin chữ viết, âm thanh, điện

tử như da, vải, gỗ, giấy, kim loại, băng từ, đĩa mềm…

Trang 29

Văn bản theo nghĩa chung nhất là vật mang tin được ghi bằng kí hiệu ngôn ngữ Vật mang tin chủ yếu của tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973 -1994) là giấy có độ trắng trung bình, có trường hợp sử dụng giấy rất đen, đến nay đã bị mủn hoặc dùng giấy po-luya…

Về kích thước vật mang tin: đa phần các tài liệu của thời kì này được

in, đánh máy trên giấy A4 (có kích thước 210 x 297mm) Bên cạnh đó, có một

số tài liệu dùng các loại giấy có nhiều kích thước khác như A3, hoặc có loại giấy lớn hơn khổ A4

+ Những tài liệu của những năm 70 đến 80 có một số đã bị nhoè mực, rất khó đọc, qua thời gian bị mủn, rách nát một phần văn bản Còn những tài liệu từ năm 1990 đến nay vì còn mới nên nét chữ rõ ràng, dễ đọc Mực viết dùng nhiều loại khác nhau, có loại tốt thì đến nay còn rõ nét chữ, nhưng cũng

có loại xấu thì mực bay màu nên khó đọc

+ Về kĩ thuật chế tác, qua khai thác tài liệu thời kì này, chúng tôi thấy

đa phần các văn bản được đánh máy, in rô-nê-ô

- Về thể thức văn bản

Thể thức của các tài liệu lưu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973-1994) tương đối thống nhất như cách ghi tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản; số

và kí hiệu văn bản; địa danh và ngày, tháng, năm ban hành văn bản…chức vụ,

họ tên và chữ kí của người có thẩm quyền; dấu của cơ quan ban hành văn bản

Cụ thể cách trình bày một số yếu tố thể thức đáng chú ý trong tài liệu như sau:

+ Đặc thù về tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản:

Yếu tố tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản là một trong những yếu

tố thể thức quan trọng Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản cho biết tên và

vị trí của cơ quan đó trong hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước và trong xã hội; mối quan hệ giữa cơ quan, tổ chức ban hành văn bản với cơ quan, đơn vị tiếp nhận, giải quyết văn bản Đó cũng là một chỉ dẫn quan trọng về hiệu lực thi hành của văn bản

Trang 30

Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản của các văn bản trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ nhìn chung được trình bày đúng quy định.Tuy nhiên, cá biệt có trường hợp văn bản thiếu tên cơ quan, tổ chức ban hành (mặc dù đã có chữ kí của người có thẩm quyền và dấu của cơ quan ban hành văn bản) như: Báo cáo thực hiện Chỉ thị 407-CP về kiện toàn tổ chức bộ máy chính quyền 6 tỉnh phía Bắc của Ban Tổ chức của Chính phủ năm 1980 [200] Trường hợp này, độc giả sẽ dễ dàng phát hiện tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản là Ban Tổ chức của Chính phủ (thông qua dấu đóng trên văn bản)

+ Về số, kí hiệu văn bản: các văn bản hầu hết đều được ghi số, kí hiệu

Cách thể hiện yếu tố này đối với các văn bản của các cơ quan khác nhau cũng

có sự khác biệt Có cơ quan làm đúng quy định, có cơ quan thực hiện chưa đúng với quy định

Chẳng hạn như Báo cáo số 460/BC-ĐĐLĐ ngày 7/4/1986 của Bộ Lao động về tình hình thực hiện kế hoạch điều động lao động quý I năm 1986 và

kế hoạch điều động lao động quý II năm 1986 [154] Trong văn bản trên, cách ghi số, kí hiệu văn bản là: “Số: 460/BC-ĐĐLĐ” chưa đúng Theo chúng tôi, cách ghi đúng là: “Số: 460/BC-BLĐ” Bởi vì: phần kí hiệu bao gồm chữ viết tắt tên loại văn bản và viết tắt tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản Trong

ví dụ trên, số kí hiệu của Báo cáo đã không trình bày phần viết tắt tên cơ quan ban hành văn bản mà viết tắt vấn đề văn bản đề cập

+ Tên loại và trích yếu nội dung văn bản:

Các văn bản đều phải được ghi tên loại khi soạn thảo, trừ công văn hành chính là thuật ngữ chung dùng để chỉ các văn bản giao dịch nên không đòi hỏi phải ghi tên loại Tên loại nói lên tầm quan trọng của văn bản, tính chất công việc mà văn bản đề cập, tạo điều kiện pháp lí cho việc tổ chức triển khai thực hiện Văn bản cần phải ghi trích yếu nội dung để độc giả dễ nắm bắt được vấn đề trước khi nghiên cứu kĩ văn bản, tạo thuận lợi cho việc đọc, giải quyết văn bản Trong Phông lưu trữ này, có một số công văn không ghi trích yếu nội dung văn bản, chẳng hạn như công văn số 04 BC/TCCP ngày 15/2/1982 của Ban Tổ chức của Chính phủ gửi Bộ Tài chính và Ngân hàng

Trang 31

Nhà nước Việt Nam Vì vậy, gây những trở ngại nhất định cho độc giả khi tiếp cận văn bản Để biết được trích yếu nội dung văn bản trong trường hợp này, độc giả cần đọc kĩ nội dung văn bản, sau đó tìm một câu văn ngắn gọn tóm tắt nội dung chính của văn bản đó

Có một số văn bản tên loại và trích yếu nội dung không phản ánh đầy

đủ nội dung bên trong văn bản Chẳng hạn, trong Báo cáo số 68/TCCP ngày 02/4/1988 của Ban Tổ chức của Chính phủ có trích yếu là “Công tác kiện toàn

tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước năm 1987 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 1988”, nhưng nội dung bên trong có đề cập đến công tác cán bộ như:

tinh giản biên chế; xây dựng chức danh tiêu chuẩn nghiệp vụ viên chức; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý Nhà nước [64, 6-9]; Báo cáo số 59/BC-TCCQ ngày 30/6/1991 của Ban Tổ chức chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế có trích yếu là “về tình hình công tác tổ chức chính quyền 6 tháng đầu năm 1991 tỉnh Thừa Thiên Huế” nhưng nội dung của Báo cáo có phản ánh về công tác cán

bộ [74, 287-292]

Tuy còn những hạn chế đã nêu ở trên, nhưng qua nghiên cứu, chúng tôi thấy khối tài liệu này rất phong phú về thể loại như: nghị định, nghị quyết, quyết định, chỉ thị, thông tư, công văn hành chính, báo cáo, thông báo, biên bản…

+ Chức vụ, họ tên và chữ kí của người có thẩm quyền

Đây là một thành phần thể thức quan trọng của văn bản Yếu tố này cùng với dấu của cơ quan ban hành văn bản làm cho văn bản đảm bảo tính pháp lí Cách trình bày yếu tố này tuỳ thuộc vào từng loại cơ quan cụ thể

Trong Phông lưu trữ này, đa phần các văn bản như đã nói ở phần trên là bản chính của văn bản nên có chữ kí trực tiếp của người có thẩm quyền Do đó, các văn bản có độ tin cậy cao Bên cạnh đó, có trường hợp do không còn giữ được bản chính của văn bản trong Phông lưu trữ nên các cán bộ lưu trữ phải lựa chọn những bản sao văn bản, thậm chí có trường hợp chỉ giữ được bản thảo, bản gốc văn bản (chưa có dấu) Tuy nhiên, đó vẫn là một tài liệu giúp chúng ta có thêm những thông tin để so sánh, đối chiếu với các nguồn tư liệu khác, nhờ đó xác định độ tin cậy của văn bản

Trang 32

Trong quá trình nghiên cứu Phông Lưu trữ này cho thấy, có những văn bản thiếu yếu tố tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản, nhưng lại có đủ cả chữ kí của người có thẩm quyền và dấu của cơ quan ban hành văn bản như trường hợp đã trình bày ở trên Hay có văn bản thiếu số, kí hiệu văn bản;

ngày, tháng, năm ban hành văn bản và nơi nhận, nhưng có đủ cả chữ kí của người có thẩm quyền và dấu của cơ quan ban hành văn bản, như Kế hoạch của Ban Tổ chức của Chính phủ tiếp tục kiện toàn đội ngũ cán bộ chính quyền cấp huyện và cơ sở Trường hợp trên đòi hỏi độc giả phải tự xác minh các yếu

tố thiếu Chẳng hạn, ngày tháng năm ban hành văn bản đó là ngày nào, nếu văn bản không ghi thì trường hợp này, độc giả có thể dựa vào nội dung văn bản để xác minh Ví dụ: đọc bản Kế hoạch trên, chúng tôi thấy có một số thông tin liên quan đến thời gian ban hành văn bản là:

- Đoạn đầu, tại phần mục tiêu và yêu cầu kiện toàn cán bộ cấp huyện có ghi: Chỉ thị số 214 ngày 5/7/1983 của Hội đồng Bộ trưởng đã đề ra mục tiêu là: “…từ nay đến hết năm 1984, phải kiện toàn cho được đội ngũ cán bộ của tất cả các huyện trong cả nước, chú trọng trước hết các huyện ở những vùng trọng điểm về kinh tế, quốc phòng…” [193, 2]

- Việc này các huyện cần làm khẩn trương, chậm nhất là hết tháng 5/1984 cho xong [193, 2]

- Ngày 15/12/1983, Ban Tổ chức của Chính phủ đã có công văn số 43 CB/TCCP nói rõ kế hoạch bồi dưỡng kiến thức quản lí Nhà nước cho cán bộ huyện và cơ sở theo tinh thần nói trên [193, 3]

Từ những thông tin trên, chúng ta có thể phán đoán được thời gian ban hành văn bản này là vào khoảng sau ngày 15/12/1983, hoặc đầu năm 1984

Theo chúng tôi, có thể kể một số nguyên nhân của việc trình bày thiếu các yếu tố thể thức văn bản như: trước hết là do việc thực hiện các quy định

về thể thức văn bản của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chưa được nghiêm túc (mặc dù thời kì này đã có Điều lệ về công tác công văn giấy tờ và công tác lưu trữ, ban hành kèm theo Nghị định số 142/CP ngày 28/9/1963 của Hội đồng Chính phủ Bản Điều lệ này đã quy định tương đối đầy đủ các thành phần cấu thành văn bản và cách thức trình bày) Mặt khác, nhận thức của các

Trang 33

cán bộ tham gia vào quá trình soạn thảo và ban hành văn bản ở một số cơ quan chưa tốt Từ đó, dẫn đến việc trình bày thể thức văn bản thực hiện chưa nghiêm túc và thống nhất Hơn nữa, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chưa có những cách xử lí nghiêm hay nói cách khác là chưa đặt ra những chế tài thích đáng để xử lí những trường hợp vi phạm về thể thức văn bản nói riêng, công tác soạn thảo và ban hành văn bản nói chung

Tóm lại, thể thức văn bản của các tài liệu trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ theo tác giả thời kì này được thực hiện tương đối tốt, đảm bảo hiệu lực pháp lí của văn bản Đa phần các hồ sơ, tài liệu lưu trữ

về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức

- Cán bộ Chính phủ (1973-1994) là các bản chính Tuy nhiên, có một số văn bản chưa có đủ những yếu tố thể thức bắt buộc của một văn bản như đã trình bày ở trên Vì vậy, trong quá trình khai thác tài liệu của Phông Lưu trữ này, độc giả cần lưu ý đặc điểm này để nhận xét tính chân thực, độ tin cậy của tài liệu

- Về ngôn ngữ và văn phong của văn bản

Các tài liệu của Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ 1994) đều được diễn đạt bằng phong cách ngôn ngữ hành chính công vụ

(1973-Phong cách ngôn ngữ này được sử dụng để trao đổi những công việc hành chính sự vụ hàng ngày giữa các cơ quan hành chính, các đoàn thể, các cấp từ Trung ương xuống địa phương với các thành viên và bộ phận xã hội có liên quan Với các đặc điểm như: hệ thống, đồng bộ và thống nhất; phi biểu cảm;

ngắn gọn, súc tích và không đa nghĩa; trang trọng; các đặc điểm về việc sử dụng từ ngữ như: sử dụng ngôn ngữ thông dụng và dễ hiểu, dùng từ toàn dân

có tính chuẩn mực cao, không dùng các từ địa phương, biệt ngữ và tiếng lóng…, phong cách ngôn ngữ hành chính công vụ đã được sử dụng khá chuẩn xác trong văn bản mà cụ thể là các tài liệu lưu trữ của Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ

Tuy vậy, còn một số văn bản sử dụng từ chưa chính xác như: Báo cáo số: 485/TCCP ngày 09/11/1990 của Ban Tổ chức - Cán bộ của Chính phủ về công tác năm 1990 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 1991 thuộc hồ

Trang 34

sơ số 36 của Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ, tại trang số 2

có đoạn trình bày: “Trong khi chuẩn bị đề án nhập Bộ chưa đưa ra được vài phương án, xác định những luận cứ khoa học và căn cứ thực tiễn sát đáng để trình các cơ quan có thẩm quyền quyết định chính xác.” [70, 2]

Có những văn bản về ngôn ngữ diễn đạt vẫn có đoạn dùng văn nói hoặc dùng từ, câu chưa chuẩn xác Ví dụ: trong Báo cáo số 485/TCCP ngày 09/11/1990 của Ban Tổ chức - Cán bộ của Chính phủ nói trên có đoạn diễn đạt như sau: “Số người dôi ra sau khi kiện toàn vẫn chưa có lối giải thoát, chỉ tính riêng số Bộ trong diện điều chỉnh nói trên có 2.000 cán bộ hành chính cần giải quyết nhưng đi đâu, làm gì? Vì vậy số người này có người hàng ngày vẫn đến cơ quan, có người không đến hoặc nghỉ ăn lương hàng năm trời Còn

số giải quyết được không đáng bao nhiêu mà chủ yếu cho nghỉ việc lâu dài, cho nghỉ mất sức hoặc cho về hưu trước tuổi.” [70, 3]

- Tình trạng vật lí của tài liệu

Nói chung, tài liệu lưu trữ về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương của Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ có tình trạng vật lí chưa được tốt khi giao nộp vào Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Do khối tài liệu trên khi bảo quản trong kho lưu trữ của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (trước khi chuyển về Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III) trong điều kiện chưa đảm bảo tiêu chuẩn kĩ thuật như: diện tích kho còn hẹp; thiếu các trang thiết

bị bảo quản như giá, tủ, cặp, hộp đựng tài liệu; nhiệt độ, độ ẩm không khí, ánh sáng, vệ sinh chưa đảm bảo nên ảnh hưởng không tốt đến tuổi thọ của tài liệu lưu trữ Tuy nhiên, vì thời gian của tài liệu từ 1973-1994 không cách xa hiện nay nhiều lắm; điều kiện in ấn, giấy, mực cũng tốt hơn trước, nên so với tài liệu của một số phông lưu trữ khác, tình trạng vật lí của tài liệu Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ vẫn được đánh giá là khá tốt

- Thông tin tài liệu của Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973-1994)

Tài liệu Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973-1994)

là nguồn tài liệu quan trọng về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương

Nguồn tài liệu này được hình thành trong giai đoạn lịch sử quan trọng của đất

Trang 35

nước ta Nó phản ánh đầy đủ vai trò tham mưu của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ cho Đảng và Chính phủ trên các lĩnh vực: tổ chức bộ máy, công chức, công vụ, tiền lương, lập Hội quần chúng và tổ chức phi Chính phủ, phân vạch địa giới hành chính, xây dựng chính quyền địa phương và công tác văn thư lưu trữ Các thông tin quá khứ chứa trong Phông Lưu trữ này có giá trị lịch sử và thực tiễn to lớn, cần được khai thác để phục vụ cho việc nghiên cứu hoàn thiện bộ máy hành chính Nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức và các chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức; xây dựng và củng

cố chính quyền địa phương, nhất là chính quyền ở cơ sở Đặc biệt là trong đó

có nguồn thông tin tài liệu rất quan trọng về tổ chức và nhân sự mà tất cả các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước, xã hội và con người đều cần đến

Tiểu kết chương 1

Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973-1994) được hình thành trong quá trình hoạt động của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (tiền thân là Ban Tổ chức của Chính phủ), được bàn giao cho Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III năm 2003 và hiện nay đang được bảo quản tại Trung tâm Tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973-1994) với hơn 1.000 hồ sơ có giá trị bảo quản lâu dài, vĩnh viễn không chỉ đa dạng về loại hình mà còn phong phú về nội dung Để khai thác, sử dụng Phông Lưu trữ này được thuận lợi và có hiệu quả, độc giả cần tìm hiểu về thành phần, nội dung và đặc điểm tài liệu như đã trình bày ở trên

Trang 36

CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU TÀI LIỆU VỀ TỔ CHỨC - CÁN BỘ VÀ LAO ĐỘNG - TIỀN LƯƠNG TRONG PHÔNG LƯU TRỮ BAN TỔ CHỨC - CÁN BỘ CHÍNH PHỦ (1973 - 1994)

BẢO QUẢN TẠI TRUNG TÂM LƯU TRỮ QUỐC GIA III

Để giúp cho độc giả tìm hiểu tài liệu về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973-1994) được thuận lợi, chúng tôi sẽ giới thiệu tài liệu theo các nhóm, trong đó đi từ cái chung đến cái riêng, đi từ cái khái quát đến cái cụ thể Đối với các nhóm tài liệu nói trên, chúng tôi có vận dụng cách phân chia tài liệu theo khung phân loại thống nhất thông tin tài liệu lưu trữ từ sau năm 1945 của Cục Lưu trữ Nhà nước (nay là Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước) và các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về tổ chức bộ máy Nhà nước, cán bộ…Trong từng nhóm tài liệu, chúng tôi sẽ giới thiệu khái quát về khối lượng, thành phần, nội dung và giá trị tài liệu

2.1 Nhóm tài liệu chung về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương

Nhóm tài liệu phản ánh về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền lương trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973-1994) gồm có khoảng 50 hồ sơ

* Nhóm tài liệu chỉ đạo chung về tổ chức - cán bộ và lao động - tiền

lương: gồm có các thể loại văn bản như: thông tư, quyết định Chẳng hạn:

Thông tư số 05/TT-LB ngày 11/4/1992 liên Bộ Lao động Thương binh và Xã hội - Tài chính hướng dẫn việc cấp phát, quản lý và sử dụng kinh phí hỗ trợ giải quyết chính sách đối với lao động thôi việc khi giải thể doanh nghiệp Nhà nước [161, 24-28]; Quyết định số 435-TTg ngày 30/10/1976 của Thủ tướng Chính phủ về việc tuyển dụng và trả lương cho công nhân viên chức mới được giải phóng đang làm việc ở các cơ quan hành chính sự nghiệp ở miền Nam [178, 13-15]

* Nhóm tài liệu về tình hình thực hiện công tác tổ chức - cán bộ và

lao động - tiền lương: được thể hiện trong các văn bản mang tính chất tổng

Trang 37

hợp như các báo cáo công tác của các bộ, ngành, UBND các tỉnh Chẳng hạn:

Báo cáo số 78/TCCP ngày 06/02/1979 của Ban Tổ chức của Chính phủ tổng kết công tác năm 1978, phương hướng nhiệm vụ công tác năm 1979 [56, 1-8];

Báo cáo số 63-TCCP ngày 26/2/1980 của Ban Tổ chức của Chính phủ về công tác năm 1979 [57, 1-7]; Báo cáo số: 485/TCCP ngày 09/11/1990 của Ban Tổ chức - Cán bộ của Chính phủ về công tác năm 1990 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 1991 [70]; Báo cáo số 795/TCCQ ngày 20/12/1994 của Ban Tổ chức chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh về tổng kết công tác

tổ chức Nhà nước năm 1994 và phương hướng nhiệm vụ năm 1995 [91, 207]

187-Các hồ sơ sẽ cung cấp cho độc giả những thông tin khái quát về tổ chức

- cán bộ và lao động - tiền lương qua các thời gian khác nhau

Ví dụ: Qua Báo cáo số: 485/TCCP ngày 09/11/1990 của Ban Tổ chức - Cán bộ của Chính phủ về công tác năm 1990 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 1991, độc giả thấy được những thông tin về công tác tổ chức - cán bộ, chẳng hạn như:

Về tổ chức bộ máy, bước vào kế hoạch năm 1990, tình hình tổ chức bộ máy của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) còn cồng kềnh, trùng lắp, số lượng đông mà hiệu lực kém tuy đã qua nhiều lần chấn chỉnh Điểm nổi bật là chưa phân biệt rõ chức năng và phương thức hoạt động của các cơ quan quản

lí Nhà nước và phương thức hoạt động của các tổ chức sự nghiệp, sản xuất, kinh doanh

Báo cáo cũng nhận định: nhiều năm trước đây, do có sự nhầm lẫn giữa tính chất, phương thức hoạt động của các bộ, ủy ban Nhà nước, các tổng cục với ngành kinh tế kĩ thuật và có quan niệm mỗi ngành kinh tế - kĩ thuật là cơ quan quản lí của Hội đồng Bộ trưởng nên đã hình thành quá nhiều bộ, tổng cục Đến cuối năm 1989, vẫn còn trên 60 cơ quan mà trong các cơ quan nói trên lại hình thành quá nhiều cục, vụ, phòng mà phần lớn là những tổ chức trung gian không cần thiết Nhiều tổng cục thực hiện cả hai chức năng là quản

lí Nhà nước và sản xuất kinh doanh, có tổng cục có chức năng, nhiệm vụ và tính chất hoạt động như một bộ nhưng gọi là tổng cục Các uỷ ban Nhà nước

Trang 38

không hoạt động theo tính chất là uỷ ban mà hoạt động như là bộ, có uỷ ban đặt vị trí như là bộ và là thành viên của Hội đồng Bộ trưởng, dẫn đến có những 37 thành viên Hội đồng Bộ trưởng và trên 30 cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng Như vậy, có quá nhiều đầu mối, làm cho việc thảo luận, bàn bạc của Hội đồng Bộ trưởng gặp khó khăn, rất khó trong việc phối hợp chỉ đạo, điều hành nền kinh tế, quản lí xã hội [70, 1-2]

Báo cáo phản ánh đánh giá của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ về những ưu điểm đã đạt được, chẳng hạn như: “Việc sắp xếp lại tổ chức lần này

đã thống nhất được các nhiệm vụ quản lí Nhà nước có liên quan với nhau mà trước đây do nhiều bộ, tổng cục phụ trách vào một bộ quản lí Nhà nước nhiều ngành hoặc lĩnh vực công tác Từ đó, tạo điều kiện cho các bộ tập trung vào quản lí Nhà nước ở tầm vĩ mô đối với mọi thành phần kinh tế trong phạm vi

cả nước; Làm tinh gọn một bước bộ máy quản lí Nhà nước và giảm nhẹ biên chế hành chính (từ trên 60 cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng nay còn 48 cơ quan) Các cơ quan giúp việc Bộ trưởng ở các Bộ thuộc diện sắp xếp đã giảm

½ - 2/3 tổ chức so với trước và biên chế giảm bình quân là 50% so với trước lúc điều chỉnh) Do đó, có điều kiện để bố trí, sắp xếp lại cán bộ cho hợp lí hơn” [70, 2]

Bên cạnh những ưu điểm đã đạt được, Báo cáo cũng chỉ rõ những nhược điểm của công tác này, ví dụ như: Trong khi chuẩn bị đề án nhập bộ, chưa đưa ra được một số phương án, xác định những luận cứ khoa học và căn

cứ thực tiễn xác đáng để trình các cơ quan có thẩm quyền quyết định chính xác Cho nên, trong quá trình triển khai đã bộc lộ rõ những điều chưa hợp lí,

ví dụ như: đưa Cục Quản lí tài nguyên - môi trường vào Bộ Công nghiệp nặng; Một số bộ như: Bộ Văn hóa - Thông tin - Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Thương nghiệp sau gần một năm vẫn còn chậm chạp trong việc xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Bộ mới, nên các tổ chức chỉ mới ở bước ghép lại với nhau, còn các tổ chức sự nghiệp, sản xuất kinh doanh vẫn giữ nguyên hiện trạng [70, 3]

Trong Báo cáo số 66/TCCP-VP ngày 13/11/1993 của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ về công tác năm 1993 và nhiệm vụ năm 1994 Báo cáo

Trang 39

phản ánh về công tác sắp xếp tinh giảm biên chế hành chính sự nghiệp, xây dựng tiêu chuẩn nghiệp vụ công chức Nhà nước; công tác củng cố và kiện toàn cơ quan các cấp, công tác nhân sự và đào tạo cán bộ,

Chẳng hạn, Báo cáo phản ánh: “Về cơ cấu của Chính phủ nói chung chưa giảm được đầu mối do những yêu cầu mới nên một số cơ quan thuộc Chính phủ được thành lập kéo theo việc hình thành các tổ chức tương ứng ở địa phương, như xin thành lập Sở, Ban ngành mới (du lịch, thể dục, thể thao, tôn giáo, việt kiều, biên giới đối ngoại, dân tộc miền núi, Ủy ban Bảo vệ chăm sóc trẻ em, Ủy ban Dân số và Kế hoạch hóa gia đình, Ủy ban Thanh niên )

Một số ngành quy định cả số lượng biên chế cho các Sở trực thuộc Ủy ban nhân dân, điểm này cũng gây tâm lí không tốt với các địa phương Bởi vì việc thành lập mới một số tổ chức và quy định biên chế cho mỗi một Sở do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quyết định .” [80, 3]

2.2 Nhóm tài liệu về tổ chức - cán bộ 2.2.1 Nhóm tài liệu chung về tổ chức - cán bộ

Nhóm tài liệu chung về tổ chức - cán bộ trong Phông Lưu trữ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1973-1994) chiếm khối lượng là 40 hồ sơ trong toàn Phông Nhóm tài liệu này được phản ánh trong các báo cáo công tác, công văn phản ánh chung về tổ chức - cán bộ của BTCCBCP, các bộ, ngành, Ban Tổ chức chính quyền các tỉnh…

* Tài liệu chỉ đạo chung về tổ chức - cán bộ: được phản ánh qua văn

bản như Nghị quyết, chẳng hạn: Nghị quyết số 245-CP ngày 05/11/1974 của Hội đồng Chính phủ về tinh giảm bộ máy quản lý Nhà nước, quản lý các ngành sản xuất kinh doanh, quản lý các xí nghiệp; sắp xếp và sử dụng hợp lý cán bộ công nhân viên trong khu vực Nhà nước [117, 1-9]

* Tài liệu về tình hình thực hiện công tác tổ chức - cán bộ:

Nhóm tài liệu phản ánh về tình hình thực hiện công tác tổ chức - cán bộ được phản ánh qua các văn bản với các thể loại như: báo cáo, công văn

Chẳng hạn, Báo cáo số 12 VP/TCCP ngày 16/01/1986 của Ban Tổ chức của Chính phủ kiểm điểm công tác năm 1985 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 1986 về kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước [61, 01-11]; Báo

Trang 40

cáo số 16/TCCP-TH ngày 16/02/1994 của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ

về công tác tổ chức cán bộ Nhà nước năm 1993 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 1994 [81, 1-18]

Chúng tôi cũng thấy có các tài liệu chung về tổ chức - cán bộ của các

bộ, ngành, Ban Tổ chức chính quyền các tỉnh như: Công văn số 626/KTTV ngày 25/12/1989 của Tổng cục Khí tượng Thủy văn v/v báo cáo về tổ chức và cán bộ [68, 10-12]; Công văn số 1043 BC/TCCB ngày 11/12/1989 của Tổng cục Mỏ và Địa chất báo cáo về tình hình công tác tổ chức và cán bộ năm 1989 [68, 48-50]; Báo cáo số 78 TC.BC ngày 14/7/1991 của Ban Tổ chức chính quyền tỉnh Nghệ Tĩnh về công tác tổ chức chính quyền 6 tháng đầu năm 1991 (nội dung của Báo cáo có phản ánh về công tác cán bộ) [74, 156-163]; Báo cáo số 59/BC-TCCQ ngày 30/6/1991 của Ban Tổ chức chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế về tình hình công tác tổ chức chính quyền 6 tháng đầu năm 1991 tỉnh Thừa Thiên Huế (nội dung của Báo cáo có phản ánh về công tác cán bộ) [74, 287-292]

Các văn bản chung về tổ chức - cán bộ đã cung cấp những thông tin một cách khái quát về công tác tổ chức và cán bộ của các bộ, ngành, Ban Tổ chức chính quyền các tỉnh Qua Công văn của Tổng cục Khí tượng Thủy văn báo cáo Ban Tổ chức của Chính phủ về tổ chức và cán bộ, độc giả sẽ thấy được kết quả đã đạt được trong năm 1989 về công tác kiện toàn tổ chức, tinh giản biên chế Công văn nêu rõ: “Kết quả sắp xếp lại tổ chức lao động từ đầu năm 1989 đến nay, toàn ngành giảm được 38 lao động, đã giải quyết nghỉ hưu trí, mất sức 69 người, cho thôi việc 27 người, đi hợp tác lao động 29 người

Mặt khác, trong năm đã tiếp nhận về ngành 32 học sinh tốt nghiệp đại học, 35 học sinh trung học, 2 bộ đội chuyển ngành.” [68, 10]

Công văn của Tổng cục Mỏ và Địa chất gửi Ban Tổ chức của Chính phủ báo cáo về tình hình công tác tổ chức và cán bộ năm 1989 đã phản ánh những kết quả đạt được trong năm 1989 về công tác kiện toàn tổ chức, tinh giản biên chế Theo Công văn, đối với bộ máy quản lý Nhà nước của cơ quan Tổng cục, vẫn thực hiện theo Nghị định 116/HĐBT và Quyết định 34/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng: giảm 6 đầu mối: 1 cục, 4 vụ và Văn phòng Tổng

Ngày đăng: 07/12/2022, 18:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w