1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Một số biện pháp sử dụng mẫu vật để nâng cao hiệu quả học Sinh học 6 ở trườngTH & THCS Đông Nam, huyện Đông Sơn

18 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số biện pháp sử dụng mẫu vật để nâng cao hiệu quả học Sinh học 6 ở trườngTH & THCS Đông Nam
Tác giả Một số biện pháp sử dụng mẫu vật để nâng cao hiệu quả học Sinh học 6 ở trườngTH & THCS Đông Nam
Trường học Trường TH & THCS Đông Nam, Huyện Đông Sơn
Chuyên ngành Sinh học
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số biện pháp sử dụng mẫu vật để nâng cao hiệu quả học Sinh học 6 ở trườngTH & THCS Đông Nam, huyện Đông Sơn Một số biện pháp sử dụng mẫu vật để nâng cao hiệu quả học Sinh học 6 ở trườngTH & THCS Đông Nam, huyện Đông Sơn Qua những năm giảng dạy bộ môn sinh học 6 ở trường TH - THCS Đông Nam, tôi nhận thấy việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học còn hạn chế do thiết bị, đồ dùng dạy học, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy còn thiếu và chưa đồng bộ... Vì vậy, với môn sinh học 6 - nghiên cứu về giới thực vật thì việc sử dụng mẫu vật sẵn có để quan sát, thí nghiệm tìm ra kiến thức sẽ có nhiều thuận lợi cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học (Nhất là với điều kiện của địa phương Đông Nam – Đông Sơn, là vùng nông thôn, hệ thực vật tương đối đa dạng, gần gũi với học sinh). Mặc dù vậy, bản thân giáo viên chưa thật sự tích cực chủ động nghiên cứu để sử dụng có hiệu quả mẫu vật sẵn có ở địa phương để nâng cao hiệu quả dạy học. Bên cạch đó, với học sinh lớp 6 các em mới bắt đầu làm quen với môn học, làm quen với phương pháp học tập bộ môn nên việc tìm kiếm thu thập mẫu vật của học sinh chưa hiệu quả, các em lấy mẫu còn thiếu, mẫu chưa phù hợp (quá to, quá nhỏ hay không đủ bộ phận cần thiết). Điều này một phần do giáo viên chưa dặn dò cẩn thận, chưa phân công rõ ràng cũng như chưa hướng dẫn học sinh cách thu thập và bảo quản mẫu vật. Dẫn tới khi sử dụng mẫu vật để nghiên cứu thì hiệu quả không cao. Có những bài học, mẫu vật cần phải chuẩn bị trước cả tuần nhưng do giáo viên hướng dẫn chậm nên học sinh chuẩn bị không kịp thời. Đôi khi giáo viên còn quá tin tưởng mà giao cho học sinh tự chuẩn bị mẫu vật mà không chuẩn bị cùng học sinh, vì vậy khi vào giờ học giáo viên không chủ động được trong khâu tổ chức nghiên cứu phát hiện kiến thức. Đôi khi việc quan sát, nghiên cứu mẫu vật hiệu quả5 chưa cao do tính tích cực của học sinh không cao, thao tác chậm, khả năng phát hiện kiến thức từ mẫu vật chưa nhanh, điều đó làm ảnh hưởng tới phân bố thời gian của bài học. Thực tiễn trên dẫn tới kết quả dạy học chưa cao, việc thực hiện mục tiêu giáo dục chưa triệt để. Học sinh nắm kiến thức không sâu, dễ quên, khả năng vận dụng yếu, năng lực thực tiễn không cao. Đặc biệt việc ứng dụng các kỹ năng bộ môn vào trong thực tiễn hiệu quả không cao chưa đáp ứng được yêu cầu. Khảo sát chất lượng giữa học kỳ II môn sinh học 6 trường TH - THCS Đông Nam năm học 2017 - 2018 với nội dung khảo sát:

Trang 1

MỤC LỤC

TT NỘI DUNG TRANG

2 PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 CƠ SỞ LÍ LUẬN

2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

3 GIẢI QUYẾT VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN

4 HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

3

3

4

6

16

3 PHẦN III: KẾT LUẬN - KIẾN THỨC

1 KẾT LUẬN

2 KIẾN NGHỊ

17

Trang 2

PHẦN I- MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài:

Trong sự nghiệp giáo dục việc nâng cao chất lượng dạy học là một trong những khâu then chốt, nhiệm vụ trọng tâm của mỗi nhà trường nói chung và của mỗi giáo viên nói riêng, xuyên suốt quá trình dạy học và là việc làm thường xuyên

Thật vậy trong những năm qua chúng ta đã thực hiện quá trình đổi mới chương trình,giảm tải nội dung sách giáo khoa, sử dụng đồ dùng dạy học nhằm giảm tính lý thuyết, tăng tính thực tiễn, thực hành đảm bảo vừa sức, đạt hiệu quả cao trong dạy và học.Vì vậy đòi hỏi giáo viên phải thay đổi phương pháp giảng dạy phù hợp với nội dung bài học đáp ứng với yêu cầu đã được cụ thể hóa trong luật giáo dục: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh phù hợp với từng đặc điểm của lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú cho học sinh”

Để thực hiện yêu cầu trên thì việc đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, tích cực hóa hoạt động của học sinh và việc vận dụng các phương pháp dạy học phù hợp với từng nội dung, từng đối tượng học sinh, từng biện pháp dạy học, đòi hỏi giáo viên phải có sự đổi mới cả về tư duy và phương pháp dạy học

Sinh học là môn khoa học thực nghiệm Hầu hết các hiện tượng, khái

niệm,

quy luật, quá trình trong Sinh học đều bắt nguồn từ thực tiễn Biểu diễn bằng thí nghiệm hay mẫu vật trực quan là một trong những phương pháp quan trọng để tổ chức học sinh nghiên cứu các hiện tượng Sinh học Nhất là học sinh lớp 6 muốn hình thành kiến thức Sinh học thì việc quan sát mẫu vật là rất quan trọng và hữu ích Từ quan sát mẫu vật học sinh sẽ phát hiện kiến thức nhanh, nhớ lâu vận dụng vào thực tiễn tốt

Qua nhiều năm giảng dạy ở trường TH - THCS Đông Nam là một trường thuộc vùng có điều kiện kinh tế khó khăn của huyện Đông Sơn , tôi thấy rằng việc sử dụng mẫu vật của học sinh lớp 6 còn chưa được thành thục Do đó việc rèn luyện kỹ năng sử dụng mẫu vật cho các em là một việc làm hết sức cần thiết

để nâng cao chất lượng học tập Nhưng vấn đề đặt ra là sử dụng vật mẫu như thế nào để giảng dạy có hiệu quả cao? Hiện nay qua nghiên cứu tôi nhận thấy chưa có tài liệu nào bàn sâu về vấn đề này Chính vì vậy trên cơ sở kinh nghiệm giảng dạy, kết hợp với việc trao đổi cùng đồng nghiệp tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề

tài “ Một số biện pháp sử dụng mẫu vật để nâng cao hiệu quả học Sinh học 6

ở trườngTH & THCS Đông Nam, huyện Đông Sơn ”

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp sử dụng mẫu vật để nâng cao hiệu quả học Sinh học 6 ở trường TH & THCS Đông Nam, huyện Đông Sơn ” nhằm góp phần tích cực hoá hoạt động của học sinh, nâng cao chất lượng giáo

Trang 3

dục môn Sinh học nói chung, môn Sinh học lớp 6 nói riêng ở trường TH- THCS Đông Nam

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Một số giải pháp sử dụng mẫu vật có hiệu quả trong dạy học Sinh học 6 ở trường TH - THCS Đông Nam

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

- Tổng hợp lí luận thông qua tài liệu và thực tiến giảng dạy khối lớp 6 ở trường TH - THCS Đông Nam

- Phương pháp quan sát và điều tra sư phạm: Dự giờ, trao đổi ý kiến với GV; Xây dựng hệ thống các câu hỏi, phiếu điều tra để điều tra thực trạng của việc sử dụng mẫu vật

- Phương pháp tiến hành khảo sát học sinh, phân tích các số liệu thu được qua khảo sát

- Phương pháp hỏi ý kiến của các giáo viên có kinh nghiệm

- Phương pháp thực hành nghiên cứu, giảng dạy và đúc rút kinh nghiệm

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

2.1 Cơ sở lí luận:

Năm học 2019 - 2020 là năm học “ Tiếp tục đổi mới toàn diện về Giáo dục và Đào tạo, nâng cao hiệu quả về chất lượng Giáo dục và Đào tạo gắn chặt với mục tiêu phát triển Kinh tế - Xã hội của địa phương” có liên quan đến việc đổi mới phương pháp dạy học Để sử dụng phương pháp như thế nào có hiệu quả trong dạy học là việc làm hết sức quan trọng nhằm nâng cao chất lượng toàn diện cho học sinh, giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức một cách độc lập, phát huy tính độc lập sáng tạo, đồng thời kích thích sự tìm tòi khám phá khoa học của học sinh “ Sinh học là khoa học thực nghiệm, phương pháp dạy học gắn bó chặt chẽ với thiết bị dạy học, do đó dạy Sinh học không thể thiếu các phương tiện trực quan như mô hình, tranh vẽ, mẫu vật, phim ảnh ”

Do vậy khi dạy học sinh về kiến thức sinh học chúng ta không nên chỉ truyền đạt dưới dạng “thực đơn có sẵn”, học sinh chỉ học thuộc bài mà phải truyền đạt một cách khoa học, giúp học sinh nắm chắc kiến thức có tính quy luật, hiểu được bản chất của nó Từ đó học sinh hiểu được các nhà khoa học tìm

ra kiến thức và các quy luật sinh học như thế nào

Như vậy, một trong những hướng để đổi mới phương pháp dạy học đó là tăng cường việc sử dụng các phương tiện dạy học và phương tiện dạy học hiện đại

Với cấu trúc của sách giáo khoa Sinh học 6 hiện nay yêu cầu học sinh phải nâng cao khả năng tư duy, tìm tòi kiến thức mới chủ động nên phương tiện dạy học có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình dạy học của giáo viên và tiếp thu kiến thức mới của học sinh Chính vì thế giáo viên cần tìm thêm dẫn liệu

để học sinh tìm hiểu và giúp cho bài dạy sinh động hơn

Đối với học sinh lớp 6 giáo viên yêu cầu học sinh chủ động tiếp thu kiến thức mới nhanh, vững vàng thông qua dẫn liệu và hình ảnh Rèn luyện cho học sinh kỹ năng quan sát hình ảnh và mẫu vật, có ý thức giữ gìn, trồng và bảo vệ cây xanh để tạo cho bầu không khí trong lành, cảnh quan quê hương thêm tươi đẹp

Trang 4

Mặt khác trong một thời lượng bó hẹp chỉ một tiết dạy không chỉ dạy cho một nhóm đối tượng học sinh mà giáo viên có thể vừa kiểm tra bài cũ, vừa khai thác xây dựng, hình thành kiến thức mới và còn phải khắc sâu, mở rộng kiến thức mới cho học sinh, giúp các em vận dụng tốt các kiến thức mới khi giải thích các sự vật, hiện tượng thực tiễn trong cuộc sống và có thể hoàn thành tốt mọi bài tập có liên quan, giúp học sinh có thêm hứng thú khi học tập, để rồi ngày một yêu thích môn sinh học hơn Đây cũng chính là một trong những yếu

tố góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả giờ lên lớp

Ở lứa tuổi học sinh lớp 6, kinh nghiệm sống còn ít, vốn hiểu biết chưa

nhiều, các em bắt đầu tiếp cận môn học, khả năng tư duy trừu tượng còn hạn chế,…thì việc sử dụng mẫu vật (trực quan) giúp học sinh hình thành kiến thức nhanh hơn, chính xác hơn, nhớ lâu hơn, khả năng vận dụng thực tiễn tốt hơn Đồng thời học sinh còn có được các kỹ năng bộ môn, thái độ đối với môn học và

ý thức bảo vệ thực vật, bảo vệ môi trường Việc sử dụng mẫu vật (làm phương tiện trực quan) còn phát huy được ở học sinh tính tự giác, tích cực tự lực, tính chủ động sáng tạo trong việc tự tìm thấy kiến thức dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của giáo viên Ngoài ra nó còn gây hứng thú nhận thức cho học sinh, tạo yếu tố tâm lí ban đầu tác dụng tới toàn bộ quá trình nhận thức của các em Có thể nói, trong môn sinh học 6 sử dụng mẫu vật thật có nhiều ưu điểm so với các phương tiện trực quan khác như tranh ảnh, mô hình… Nó cho học sinh biết rõ hình dạng, màu sắc, kích thước thật của đối tượng nghiên cứu Tuy nhiên cũng tuỳ từng bài, từng nội dung, từng dạng kiến thức cụ thể mà có thể kết họp với các

phương tiện trực quan khác một cách hợp lí để tăng hiệu quả dạy học

2.2 Cơ sở thực tiển:

Qua những năm giảng dạy bộ môn sinh học 6 ở trường TH - THCS Đông Nam, tôi nhận thấy việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học còn hạn chế do thiết bị, đồ dùng dạy học, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy còn thiếu và chưa đồng bộ Vì vậy, với môn sinh học 6 - nghiên cứu về giới thực vật thì việc

sử dụng mẫu vật sẵn có để quan sát, thí nghiệm tìm ra kiến thức sẽ có nhiều thuận lợi cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học (Nhất là với điều kiện của địa phương Đông Nam – Đông Sơn, là vùng nông thôn, hệ thực vật tương đối đa dạng, gần gũi với học sinh) Mặc dù vậy, bản thân giáo viên chưa thật sự tích cực chủ động nghiên cứu để sử dụng có hiệu quả mẫu vật sẵn có ở địa phương để nâng cao hiệu quả dạy học Bên cạch đó, với học sinh lớp 6 các

em mới bắt đầu làm quen với môn học, làm quen với phương pháp học tập bộ môn nên việc tìm kiếm thu thập mẫu vật của học sinh chưa hiệu quả, các em lấy mẫu còn thiếu, mẫu chưa phù hợp (quá to, quá nhỏ hay không đủ bộ phận cần thiết) Điều này một phần do giáo viên chưa dặn dò cẩn thận, chưa phân công rõ ràng cũng như chưa hướng dẫn học sinh cách thu thập và bảo quản mẫu vật Dẫn tới khi sử dụng mẫu vật để nghiên cứu thì hiệu quả không cao Có những bài học, mẫu vật cần phải chuẩn bị trước cả tuần nhưng do giáo viên hướng dẫn chậm nên học sinh chuẩn bị không kịp thời Đôi khi giáo viên còn quá tin tưởng

mà giao cho học sinh tự chuẩn bị mẫu vật mà không chuẩn bị cùng học sinh, vì vậy khi vào giờ học giáo viên không chủ động được trong khâu tổ chức nghiên cứu phát hiện kiến thức Đôi khi việc quan sát, nghiên cứu mẫu vật hiệu quả

Trang 5

chưa cao do tính tích cực của học sinh không cao, thao tác chậm, khả năng phát hiện kiến thức từ mẫu vật chưa nhanh, điều đó làm ảnh hưởng tới phân bố thời gian của bài học

Thực tiễn trên dẫn tới kết quả dạy học chưa cao, việc thực hiện mục tiêu giáo dục chưa triệt để Học sinh nắm kiến thức không sâu, dễ quên, khả năng vận dụng yếu, năng lực thực tiễn không cao Đặc biệt việc ứng dụng các kỹ năng

bộ môn vào trong thực tiễn hiệu quả không cao chưa đáp ứng được yêu cầu

Khảo sát chất lượng giữa học kỳ II môn sinh học 6 trường TH - THCS Đông Nam năm học 2017 - 2018 với nội dung khảo sát:

A CÂU HỎI

I TRẮC NGHIỆM (3đ)

Khoanh tròn vào một trong các chữ cái A, B, C, D theo em là đúng trong các câu sau:

1 Trồng hai cây đậu vào hai chậu: A và B, ở chậu A bón đủ các loại phân, ở chậu B cũng bón các loại phân nhưng thiếu phân đạm Sau 1 thời gian cây ở chậu B sẽ:

A Cây phát triển bình thường B Cây lớn hơn cây ở chậu A

C Cây sẽ chết D Cây phát triển chậm hơn cây ở chậu A

2 Cây trầu không thuộc loại biến dạng rễ:

A Rễ móc B Rễ thở C Rễ củ D Giác mút

3 Khi trời mưa nhiều đất ngập nước lâu ngày, cây mất khả năng hút nước và muối khoáng là do:

A Cây thoát nước nhiều B Rễ đang trong thời kì sinh trưởng mạnh

C Rễ cây bị úng và chết D Đất không phù hợp với cây

4 Loại thân biến dạng giúp dự trữ chất dinh dưỡng cho cây là:

C Thân mọng nước D Thân củ và thân rễ

5 Căn cứ vào cách mọc của thân, người ta chia thân làm 3 loai là:

A.Thân quấn, tua cuốn, thân bò B Thân gỗ, thân cột, thân cỏ

C.Thân đứng, thân leo, thân bò D Thân cứng, thân mềm, thân bò

6 Cấu tạo trong của thân non gồm hai phần chính là:

A Vỏ và ruột B Vỏ và trụ giữa C Vỏ và bó mạch D Trụ giữa và ruột

II PHẦN TỰ LUẬN (7đ)

Câu 1: (2.5đ) Cần thiết kế thí nghiệm như thế nào để chứng minh sự nảy mầm

của hạt phụ thuộc vào chất lượng hạt giống?

Câu 2:(3đ) Kể tên các ngành thực vật đã học( từ thấp đến cao)? Nêu đặc điểm

chính của mỗi ngành?

Câu 3: (1.5đ) Tại sao người ta nói: “Rừng cây như lá phổi xanh của con

người”?

B ĐÁP ÁN VÀ BIỂU CHẤM

I PHẦN TRẮC NGHIỆM (3đ) : Mỗi ý đúng được 0,5đ

1 D 2 A 3 C 4.D 5 C 6 B

Trang 6

II PHẦN TỰ LUẬN (7đ)

1

+ Cốc 1 chọn 10 hạt đỗ có phẩm chất tốt bỏ vào cốc và lót xuống

dưới những hạt đỗ một lớp bông ẩm rồi để vào chỗ mát

+ Cốc 2 chọn 10 hạt đỗ sứt sẹo, bị sâu mọt bỏ vào cốc và lót

xuống dưới những hạt đỗ một lớp bông ẩm rồi để vào chỗ mát +

+ Sau 3- 4 ngày đem cả 2 cốc ra quan sát

1

1

1

- Ngành tảo: Thực vật bậc thấp; chưa có rễ, thân, lá, sống ở

nước

- Ngành rêu: Thực vật bậc cao; có thân, lá, rễ giả, chưa có mạch

dẫn, sinh sản bằng bào tử

- Ngành dương xỉ: Có rễ thật, có mạch dẫn, sinh sản bằng bào tử

- Ngành hạt trần: Rễ , thân, lá phát triển ; có mạch dẫn; cơ quan

sinh sản là nón, sinh sản bằng hạt nằm trên lá noãn hở

- Ngành hạt kín: Rễ, thân, lá phát triển đa dạng; có hoa, quả, hạt;

hạt nằm trong quả, nên bảo vệ tốt hơn

0.5 0.5

0.5 0.5 0.5

3

Cơ bản nêu được các ý:

- Ngăn bụi

- Diệt một số vi khuẩn

- Giảm ô nhiễm môi trường

0.5 0.5 0.5

Kết quả thu được:

Loại giỏi

(8-10đ)

Loại Khá (6.5- 7.9đ)

Loại TB (5- 6.4đ)

Loại yếu (3.5-4 đ)

Loại kém (Dưới 3.5đ)

Số

HS

2.3 GIẢI QUYẾT VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN

2.3.1 Xác định vai trò của phương pháp trực quan và phương tiện trực quan

Phương pháp trực quan là cách sử dụng phương tiện trực quan nhằm cung cấp thông tin để học sinh phát hiện, khai thác và lĩnh hội kiến thức

Do vậy đối với bộ môn Sinh học thì phương pháp trực quan đóng vai trò hết sức quan trọng đến việc hình thành kiến thức mới cho học sinh

Trong nhóm phương pháp trực quan thì phương tiện trực quan là nguồn chủ yếu để dẫn dắt học sinh tìm hiểu kiến thức mới, quá trình diễn giảng của giáo viên chỉ đóng vai trò hướng dẫn học sinh quan sát các đồ dùng trực quan như mẫu vật, tranh ảnh thí nghiêm hoặc qua đoạn video học sinh có thể tổng hợp các kết quả quan sát, đối chiếu với kênh thông tin sách giáo khoa rồi rút ra kết luận Đó chính là kiến thức cần chiếm lĩnh và qua tư duy để đúc rút ra kiến thức mới cần khai thác

Phương pháp trực quan giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách cụ thể, xác thực, sinh động về thế giới sinh vật Qua phương tiện trực quan học sinh dễ dàng nắm chắc kiến thức qua quan sát và thao tác với các phương tiện trực quan đồng thời rèn luyện cho học sinh kĩ năng quan sát, so sánh, tổng hợp kiến thức

Từ đó khơi dậy hứng thú học tập cho học sinh và phát huy tính tích cực, chủ

Trang 7

động trong học tập của học sinh Giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ thiên nhiên và tình cảm của các em đối với quê hương, đất nước

2.3.2 Lập kế hoạch dạy học

Một giờ dạy có thành công hay không thì khâu lập kế hoạch bài học đóng vai trò quan trọng, đây là việc làm đầu tiên quyết định kết quả của bài dạy

Trên cơ sở của kế hoạch được lập ra giáo viên xác định được mục tiêu bài học, thiết bị và đồ dùng dạy học, xây dựng hình thức tổ chức dạy học bằng hệ thống câu hỏi phù hợp với nội dung bài học, xây dựng cách đánh giá theo mục tiêu của bài Từ đó định hướng được phương pháp dạy học cho phù hợp với kiểu bài lên lớp

Việc lập kế hoạch bài học giúp giáo viên khắc phục được một số hạn chế:

- Không xác định đúng mục tiêu bài học, hoặc thết lập hệ thống hoạt động, câu hỏi không logic, không có tiêu chí cụ thể đánh giá được bài học

- Giáo viên không chủ động được các bước dạy học trên lớp, còn lúng túng bị động khi gặp những tình huống đột xuất, bất ngờ xảy ra trên lớp

2.3.3 Giải pháp 1: Thường xuyên thu thập và sử dụng mẫu vật trong quá trình dạy học

Trong chương trình Sinh học 6, rất nhiều bài học khi sử dụng mẫu vật làm phương tiện trực quan để quan sát, so sánh, thực hành để tìm ra kiến thức sẽ mang lại hiệu quả cao Sử dụng mẫu vật giúp học sinh học tập tích cực hơn, chủ động hơn, phát triển được năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, vận dụng thực tiễn Đồng thời rèn được kỹ năng bộ môn như quan sát, so sánh, kỹ năng hợp tác…

Vì vậy, sử dụng mẫu vật là không thể thiếu trong dạy học Sinh học 6

Trong quá trình giảng dạy Sinh học 6 năm học 2019 - 2020 này, tôi đã thường xuyên nghiên cứu thu thập và sử dụng mẫu vật Có nhiều bài học, nhiều nội dung rất cần sử dụng mẫu vật để học sinh quan sát, phân tích, so sánh… rút ra kiến thức Cho dù nhiều bài, nhiều nội dung nếu không sử dụng mẫu vật mà sử dụng tranh để quan sát thì học sinh vẫn hình thành được kiến thức Tuy nhiên, nếu sử dụng mẫu vật thì khả năng lĩnh hội kiến thức của học sinh sẽ sâu sắc hơn, nếu không có mẫu vật thì học sinh sẽ hình thành kiến thức một cách mơ

hồ, hời hợt, khi ra thực tế học sinh không vận dụng được Hơn nữa sử dụng mẫu vật giúp rèn luyện được các kỹ năng bộ môn và phù hợp với nhận thức, tư duy của học sinh lớp 6 Theo tôi trong chương trình sinh học 6 có khoảng hơn nửa

số bài nên dùng mẫu vật trong quá trình dạy học Tùy từng bài, từng nội dung

cụ thể mà sử dụng một cách hợp lí, mẫu vật có thể sử dụng ngay phần kiểm tra bài cũ, phần tìm hiểu kiến thức mới hay khi củng cố bài

Ví dụ 1: Khi dạy tiết 8 (bài 9 - Sinh học 6): Các loại rễ, các miền của rễ

HĐ Tìm hiểu các loại rễ:

- Đầu tiên giáo viên kiểm tra sự chuẩn bị mẫu vật của học sinh, sau đó chia nhóm và yêu cầu cá nhóm để mẫu vật lên bàn

- Yêu cầu các nhóm thực hiện nhiệm vụ sau:

+ Phân các loại rễ đã có thành hai nhóm? Viết những đặc điểm dùng để phân loại chúng thành hai nhóm?

Trang 8

+ Xếp hai nhóm đó thành hai nhóm A và B tương ứng với hình 9.1 sgk

+ Lấy một cây ở nhóm A, một cây ở nhóm B Quan sát, nhận xét, rút ra đặc

điểm của từng loại rễ?

- Các nhóm học sinh cùng thực hiện nhiệm vụ của nhóm mình bằng cách quan

sát mẫu vật hiện có để thực hiện yêu cầu

- Yêu cầu cần đạt là:

+ Chia được hai nhóm cây: Nhóm 1 gồm nhãn, vải, dừa cạn…; nhóm 2 gồm lúa,

hành, ngô…

+ Đặt tên nhóm theo hình 9.1 sgk: Nhóm A là nhóm 1; nhóm B là nhóm 2

+ Rễ cây ở nhóm A thường có một rễ to đâm sâu và nhiều rễ nhỏ mọc xiên; rễ

cây ở nhóm B gồm nhiều rễ kích thước như nhau tạo thành một chùm

- Giáo viên khẳng định kết quả và yêu cầu học sinh sử dụng kết quả đó để làm

bài tập điền từ vào chỗ trống sgk - tr 29: (Điền vào chỗ trống)

- Học sinh hoạt động độc lập hoàn thành bài tập vào vở bài tập

- Gọi một học sinh đọc đáp án, học sinh khác nhận xét, bổ sung

- Giáo viên nhận xét và hoàn chỉnh kiến thức

+ Có hai loại rễ chính: rễ cọc và rễ chùm

+ Rễ cọc có rễ cái to khỏe, đâm sâu xuống đất và nhiều rễ con mọc xiên Từ các

rễ con lại mọc ra nhiều rễ bé hơn nữa

+ Rễ chùm gồm nhiều rễ to, dài gần bằng nhau, thường mọc tỏa ra từ gốc thân

thành một chùm

- Yêu cầu học sinh lấy thêm các ví dụ về cây có rễ cọc, rễ chùm ngoài thực tế để

củng cố kiến thức

Ví dụ 2: Khi dạy tiết 21 (bài 19 – Sinh học 6) - Đặc điểm bên ngoài của lá

Giáo viên cùng hướng dẫn học sinh sưu tầm lá, cành có đủ chồi nách, cành

có các kiểu mọc lá

Để đảm bảo cho học sinh không phá hoại cây cối giáo viên hướng dẫn học

sinh sưu tầm lá của các cây mọc dại là chủ yếu

Đối với bài này giáo viên nên làm tiêu bản ép khô các mẫu vật mà học

sinh đã sưu tầm được, nếu tích lũy dần trong vài năm giáo viên sẽ có đủ số vật

mẫu khô cho học sinh quan sát

Ngoài ra hệ thống hình trong sách giáo khoa được trình bày bằng những

ảnh chụp hoặc hình ảnh có màu có tác dụng gây hứng thú quan sát cho học sinh

Qua việc quan sát mẫu vật học sinh nêu được các đặc điểm bên ngoài của

lá và cách xếp lá trên cây phù hợp với chức năng thu nhận ánh sáng Phân biệt

được 3 kiểu gân lá, lá đơn và lá kép

Với bài này, giáo viên có thể vào bài bằng những câu hỏi và hình ảnh như

hướng dẫn trong sách giáo khoa Tuy nhiên, để gây hứng thú và tạo động lực tìm

hiểu kiến thức cho học sinh, tôi đã sử dụng mẫu vật để giới thiệu vào bài

Sau khi giới thiệu chương, tôi đã dùng mẫu vật là một chiếc lá dâu có đủ

các bộ phận cho học sinh quan sát

Hướng dẫn để học sinh chú ý vào các bộ phận của lá, các đặc điểm

của lá cần tìm hiểu trong bài học bằng cách sử dụng các câu hỏi để vấn đáp trực

Trang 9

tiếp học sinh, kết hợp các câu hỏi mở để gây hứng thú và tạo ra nhu cầu tìm hiểu kiến thức của học sinh Cụ thể như sau:

- Lá là một cơ quan sinh dưỡng của cây Vậy lá có đặc điểm gì? (Câu hỏi này không yêu cầu học sinh trả lời ngay, đó là nhiệm vụ của học sinh phải thực hiện trong cả chương)

- Cho học sinh quan sát lá dâu và yêu cầu các em cho biết tên các bộ phận của lá

- Học sinh trả lời được: Cuống lá, phiến lá, gân lá

- Giáo viên chỉ từng bộ phận của lá trên mẫu vật

- Chức năng quan trọng nhất của lá là gì?

- Học sinh sử dụng kiến thức đã có ở tiểu học và nêu được: Chức năng quan trọng nhất của lá là quang hợp, chế tạo chất hữu cơ

- GV nêu câu hỏi gợi mở để vào bài: Lá có nhận được ánh sáng mới thực hiện được chức năng này Vậy những đặc điểm nào giúp lá nhận được nhiều ánh sáng?

Sau đó giáo viên bắt đầu tổ chức cho học sinh tìm hiểu các nội dung của bài học

2.3.2 Giải pháp 2: Kết hợp mẫu vật với các phương tiện trực quan khác để nâng cao hiệu quả

* Mẫu vật: Tùy vào từng bài dạy mà giáo viên lựa chọn mẫu tươi hay mẫu khô

Việc quan sát trực tiếp trên các mẫu vật tạo điều kiện tốt nhất cho những hoạt động học tập tích cực của học sinh Để có được phương tiện dạy học loại này cả giáo viên và học sinh đều phải tham gia chuẩn bị

Giáo viên phải có kế hoạch chuẩn bị từ đầu năm học ( thậm chí từ những năm học trước) Tìm hiểu và nắm chắc tình hình cây cối ở địa phương để có thể lựa chọn được những đối tượng quan sát theo nội dung của bài học mà hướng dẫn học sinh sưu tầm

Trang 10

Một số cây không có ở địa phương hoặc hiếm khó kiếm, giáo viên có kế hoạch sưu tầm hoặc mua về vườn trường trồng hay trồng trong chậu để đảm bảo

có đủ mẫu vật cho học sinh quan sát

- Khi sử dụng mẫu vật cần đặc biệt chú ý việc bảo vệ môi trường, giáo viên nên hướng dẫn học sinh cùng tham gia làm tập bách thảo, qua nhiều năm sẽ

có đủ vật mẫu cần thiết giúp hạn chế yêu cầu học sinh lấy mẫu tươi

Ví dụ 1: Khi dạy bài biến dạng của lá giáo viên có kế hoạch chia nhóm để

phân công các nhóm sưu tầm mẫu vật như: Cây mây, đậu Hà Lan, cây hành còn

lá xanh, củ dong ta, cành xương rồng Một số cây hiếm không tìm được mẫu vật sống như cây nắp ấm, cây bèo đất thì giáo viên phải dùng hệ thống tranh vẽ có màu cho học sinh quan sát để tìm ra sự sai khác đối với lá bình thường rồi suy

ra lá biến dạng nhằm thực hiện chức năng khác

* Mô hình: Ở một số bài sử dụng mô hình phát huy được ưu điểm của nó

như củng cố bài hoặc kiểm tra quá trình tiếp thu bài của học sinh

Ví dụ: khi dạy bài cấu tạo trong của phiến Lá sử dụng mô hình nhưng trong thực tế mô hình có sẵn, được cấp phát chỉ mang tính hình thức, chất lượng không đảm bảo

* Tranh ảnh:

Đa số các bài đều có thể sử dụng tranh ảnh, trong trường hợp bài dạy không chuẩn bị được mô hình mẫu vật thì có thể thay thế bằng tranh ảnh

Ví dụ: Khi dạy bài cấu tạo ngoài của Lá hoặc bài các loại Lá biến dạng nhiều khi giáo viên phải sử dụng kết hợp cả mẫu vật và tranh ảnh để dạy

* Video- băng đĩa:

Khi dạy phần mô tả các thí nghiệm giáo viên có thể sử dụng các đoạn video cho học sinh quan sát vì qua đoạn video thường thể hiện đầy đủ nội dung yêu cầu của mục tiêu, nó có thể thay thế tranh ảnh, mô hình

Ví dụ: Khi dạy bài Quang hợp hoặc thí nghiệm phần lớn nước vào cây đi đâu hay bài Cây có hô hấp không hoặc ảnh hưởng của các điều kiện bên ngoài đến quang hợp giáo viên có thể sử dụng các đoạn video cho học sinh quan sát

* Kính hiển vi- tiêu bản

Đối với những bài tìm hiểu cấu tạo hiển vi trong của cơ thể sinh vật giáo viên cần chuẩn bị kính hiển vi và tiêu bản đã lên hình sẵn để học sinh quan sát

Ví dụ: Bài cấu tạo trong của phiến lá giáo viên chuẩn bị kính hiển vi rồi lên tiêu bản sẵn để học sinh quan sát cấu tạo trong của phiến lá, quan sát sự đóng

mở của lỗ khí

Ngày đăng: 07/12/2022, 16:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w