1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tieu luan cao học, tư duy lý luận của đảng ta về nhà nước pháp quyền từ đại hội IX đến đại hội XII

27 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quá trình đổi mới tư duy lý luận về nhà nước pháp quyền từ Đại hội VI đến Đại hội XII
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 47,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ trương xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một sáng tạo trong tư duy lý luận và chỉ đạothực tiễn của Đảng ta về tổ chức bộ máy nhà nước nói riêng và tổ chức quản lý xã hộ

Trang 1

MỞ ĐẦU

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một chủ trương nhấtquán của Đảng, Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới Chủ trương xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một sáng tạo trong tư duy lý luận và chỉ đạothực tiễn của Đảng ta về tổ chức bộ máy nhà nước nói riêng và tổ chức quản lý

xã hội nói chung Từ chỗ cơ bản quan tâm đến các vấn đề bên ngoài của tổ chứcquyền lực nhà nước chúng ta đã coi trọng bản chất của nhà nước Đó là việc xáclập nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, coi trọng tính pháp quyền trong tổchức, hoạt động của bộ máy nhà nước Từ nhận thức đúng đắn về nguyên tắcnày, chúng ta ngày càng ý thức được đây là tinh hoa của khoa học tổ chức quyềnlực nhà nước, quản lý xã hội của loài người và vận dụng sáng tạo, hài hòa với cácnguyên tắc cơ bản về tổ chức, hoạt động của Nhà nước xã hội chủ nghĩa

Khái niệm “Nhà nước pháp quyền” lần đầu tiên được Đảng ta chính thức

sử dụng tại Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng giữa nhiệm kỳ khóa VII(1994) Đến nay, tư duy lý luận của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền đã có bướcphát triển quan trọng Tuy nhiên, cho đến nay, hệ thống lý luận nghiên cứu vềxây dựng và phát triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa còn chưa đượcxây dựng một cách đồng bộ, đầy đủ, toàn diện và khoa học Những nội dung đặctrưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vẫn còn đang trongquá trình định hình, hoàn thiện Chính vì vậy, việc nghiên cứu quá trình pháttriển tư duy lý luận của Đảng ta về nhà nước pháp quyền từ đó rút ra bài học kinhnghiệm đồng thời bổ sung những vấn đề mới trên nền tảng hiểu đúng đắn, đầy đủ

và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào bốicảnh mới của thời đại ngày nay ở nước ta là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thựctiễn sâu sắc

Trang 2

NỘI DUNG

I QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI TƯ DUY LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

TỪ ĐẠI HỘI VI ĐẾN ĐẠI HỘI XII

1 Tư duy lý luận của Đảng ta về nhà nước từ Đại hội VI đến Đại hội VIII

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) khởi xướngđường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó trọng tâm là đổi mới về kinh tế,bên cạnh đó Đại hội cũng đã xác định “phương hướng” chung về xây dựng nhànước đó là “Xây dựng và thực hiện một cơ chế quản lý nhà nước thể hiện quyềnlàm chủ tập thể của nhân dân lao động ở tất cả các cấp”1 Từ phương hướngchung đó Đại hội VI đã chỉ rõ những vấn đề cụ thể cần đổi mới tổ chức và hoạtđộng của Nhà nước trong tình hình mới là:

- Bản chất của Nhà nước ta là công cụ chuyên chính với kẻ thù và phát huyquyền làm chủ của nhân dân, không ngừng mở rộng nền dan chủ xã hội chủnghĩa Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhândân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sựnghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội

- Đề cao vai trò của pháp luật trở thành một vấn đề cơ bản và cấp bách, là

cơ sở bảo đảm hiệu lực và sức mạnh của Nhà nước Quản lý đất nước bằng phápluật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa kết hợp sức mạnh của dư luận quầnchúng để đấu tranh chống những hành vi phạm pháp

- Xây dựng bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương và cơ sởthành một hệ thống thống nhất, có sự phân định rành mạch nhiệm vụ, quyền hạn,trách nhiệm từng cấp theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phân biệt rõ chức năngquản lý hành chính - kinh tế với quản lý sản xuất-kinh doanh, kết hợp quản lýtheo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ phù hợp với đặc điểmtình hình kinh tế-xã hội

1 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1987, tr.118.

Trang 3

- “Cần thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy của các cơ quannhà nước”2 Tăng cường hiệu lực quản lý của nhà nước, trước hết là đề cao vị trícủa Quốc hội và Hội đồng Nhà nước, vai trò của hội đồng nhân dân các cấp Các

cơ quan dân cử từ Quốc hội đến hội đồng nhân dân các cấp thực hiện đúng chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thường xuyên cải tiến và kịp thời tổng kếtcác mặt hoạt động; nâng cao chất lượng các kỳ họp, bàn và quyết định những vấn

đề thiết thực; tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và công tác giám sát hoạtđộng của các cơ quan quản lý nhà nước Nâng cao năng lực chỉ đạo điều hànhcủa Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) và ủy ban nhân dân các cấp nhằmthực hiện có kết quả các chủ trương, chính sách của Đảng Để làm tốt chức năng

ấy, Đại hội VI chủ trương “phải sắp xếp lại các bộ, ủy ban nhà nước, tổng cục vàtinh giản bộ máy quản lý hành chính nhà nước của các bộ”3

Những quan điểm nêu trên tuy chưa đề cập trực tiếp đến khái niệm nhànước pháp quyền, nhưng nội dung của nó đã nhấn mạnh vai trò của pháp luậttrong quản lý nhà nước; đặt hoạt động của mọi cơ quan nhà nước dưới pháp luật;phát huy đầy đủ vai trò của nhân dân, thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dânkiểm tra; giải quyết mối quan hệ giữa quản lý ngành và quản lý lãnh thổ, giữa tậptrung thống nhất và phát huy quyền tự chủ của chính quyền địa phương và cơ sở.Những đổi mới tư duy nêu trên là cơ sở cho việc nâng cao khả năng lập pháp vàgiám sát tối cao của Quốc hội, ban hành các chính sách đảm bảo quyền conngười, từng bước điều chỉnh cơ chế quản lý từ kế hoạch hóa tập trung sang cơchế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa… Trong quá trình thực hiện đườnglối của Đại hội VI, Đảng ta tích cực nghiên cứu các vấn đề lý luận về nhà nước

và pháp luật để làm cơ sở cho việc sửa đổi Hiến pháp, cải cách bộ máy Nhànước

Văn kiện Đại hội VII xác định: “Tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước theophương hướng: Nhà nước thật sự của dân, do dân và vì dân Nhà nước quản lý xãhội bằng pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng; tổ chức và hoạt động theo nguyên

2 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Sdd, tr.118

3 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Sdd, tr.120.

Trang 4

tắc tập trung dân chủ, thực hiện thống nhất quyền lực nhưng phân công, phân cấprành mạch; bộ máy tinh giản, gọn nhẹ, hoạt động có chất lượng cao trên cơ sởứng dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật, quản lý”4

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

do Đại hội VII thông qua mặc dù chưa nêu khái niệm “nhà nước pháp quyền”nhưng đã trình bày những nội dung rất khái quát liên quan trực tiếp đến tư tưởngnhà nước pháp quyền Đây là bước quan trọng đánh giá sự phát triển tư duy lýluận về nhà nước pháp quyền của Đảng ta Cương lĩnh khẳng định: “Toàn bộ tổchức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằmxây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyềnlực thuộc về nhân dân Dân chủ gắn liền với công bằng xã hội phải được thựchiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xãhội thông qua hoạt động của Nhà nước do nhân dân cử ra và bằng hình thức dânchủ trực tiếp Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, phải được thể chế hóa bằngpháp luật và được pháp luật bảo đảm Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xácđịnh các quyền công dân và quyền con người, quyền đi đôi với nghĩa vụ và tráchnhiệm”5

Là tổ chức thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặtnhân dân, Nhà nước ta phải có đủ quyền lực và đủ khả năng định ra luật pháp và

tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật Sửa đổi hệ thống tổchức nhà nước, cải cách bộ máy hành chính, kiện toàn các cơ quan lập pháp đểthực hiện có hiệu quả chức năng quản lý của Nhà nước

Những nhận thức lý luận nêu trên là tiền đề để tại Hội nghị Trung ương 2

khóa VII (11/1991) cụm từ “Nhà nước pháp quyền” lần đầu tiên được sử dụng.

Trong bài phát biểu của đồng chí Tổng bí thư Đỗ Mười tại Hội nghị này đã nêulên ba nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho sửa đổi Hiến pháp, cải cách bộ máy nhànước Cụ thể như sau:

4 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức VII, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1991, tr.91.

5 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (do Đại hội VII thông qua)

Trang 5

- Quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia, nhưng có phân côngrành mạch.

- Xác định rõ quan hệ giữa quản lý nhà nước với tổ chức kinh tế và quản lýkinh doanh

- Xây dựng nhà nước pháp quyền, tổ chức và quản lý theo nguyên tắc tậptrung dân chủ, cả nước là một chỉnh thể, thống nhất quốc gia, thống nhất thịtrường”6

Cả ba nguyên tắc nêu trên đều liên quan trực tiếp đến tư tưởng nhà nướcpháp quyền, trong đó nguyên tắc thứ ba lần đầu tiên được trình bày chính thức tạimột hội nghị quan trọng của Đảng, đã trình bày trực diện đến yêu cầu xây dựngnhà nước pháp quyền Trên cơ sở quan điểm chỉ đạo của Đảng, việc sửa đổi Hiếnpháp, cải cách bộ máy nhà nước đã được tiến hành theo hướng xây dựng nhànước pháp quyền Tổ chức bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1992 đã giải quyếtmối quan hệ giữa các cơ quan quyền lực nhà nước theo hướng bảo đảm nguyêntắc thống nhất quyền lực, nhưng có sự phân công và phối hợp hợp lý trong thựcthi các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp

Những tư tưởng về nhà nước pháp quyền nêu trên tiếp tục được thể hiệntrong Nghị quyết Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (01/1994)với khẳng định mạnh mẽ: “Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện nhà nướcpháp quyền Việt Nam Đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân,quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây dựngtrên cơ sở tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh giữagiai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng doĐảng lãnh đạo”7 Như vậy, nếu như Hội nghị Trung ương 2 khóa VII lần đầu tiênkhái niệm nhà nước pháp quyền được nêu lên trong bài phát biểu của đồng chí

Đỗ Mười, thì Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, trong Văn

6 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Lưu hành nội bộ,

1991, tr.17-18.

7 Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1994, tr.56.

Trang 6

kiện Hội nghị - Lần đầu tiên trong một văn kiện quan trọng, Đảng ta chính thức

sử dụng thuật ngữ Nhà nước pháp quyền và đã nêu cụ thể và toàn diện những

quan điểm, nguyên tắc, nội dung xây dựng nhà nước pháp quyền, bao gồm cả tổchức và hoạt động của nhà nước Những vấn đề Hội nghị đưa ra đã đánh dấubước phát triển mới ngày càng hoàn thiện hơn tư duy lý luận của Đảng ta về nhànước pháp quyền và xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam Đến đây, tưtưởng về nhà nước pháp quyền thể hiện một cách rõ nét và toàn diện, xây dựngnhà nước pháp quyền trở thành một chủ trương có tính chiến lược, bao trùm toàn

bộ mọi khía cạnh tổ chức và hoạt động của Nhà nước, có giá trị định hướng chotoàn bộ quá trình xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Tiếp đó, Hội nghị Trung ương 8 khóa VII (01/1995) ra nghị quyết chuyên

đề về xây dựng Nhà nước, trọng tâm là cải cách nền hành chính nhà nước Nghịquyết Hội nghị lần này đã nêu năm quan điểm cơ bản chỉ đạo quá trình xây dựng

và kiện toàn bộ máy nhà nước đó là:

- Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, lấy liênminh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nềntảng do Đảng Cộng sản lãnh đạo Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân,giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi íchcủa Tổ quốc và của nhân dân

- Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽgiữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tưpháp

- Quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động củaNhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; xây dựng nhà nước pháp quyềnViệt Nam, quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng caođạo đức xã hội chủ nghĩa

Trang 7

- Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước8.

Những quan điểm trên tiếp tục làm rõ thêm những vấn đề mang tính lýluận về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Đảng ta, thể hiệntừng bước sự phát triển tư duy lý luận về nhà nước pháp quyền và xây dựng nhànước pháp quyền Việt Nam Những quan điểm trên đến nay vẫn giữ nguyên giátrị là cơ sở cho quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa ; bên cạnh đó, những quan điểm này vẫn tiếp tục được Đảng ta bổ sung

và phát triển cho phù hợp với đặc điểm tình hình phát triển mới của đất nước

Do khoảng thời gian từ Hội nghị Trung ương 8 khóa VII (01/1995) đếnĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996) tương đối ngắn, nên các quanđiểm về nhà nước pháp quyền trong Văn kiện Đại hội VIII của Đảng về cơ bảngiống như văn kiện Hội nghị Trung ương 8 khóa VII Văn kiện Đại hội VIII cũngnhắc lại 5 quan điểm và các nhiệm vụ xây dựng, kiện toàn bộ máy nhà nước, tuynhiên phần nội dung, nhiệm vụ được cụ thể hóa hơn

Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (1997) đã raNghị quyết chuyên đề về “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xâydựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh”

đã đánh giá những thành tựu về lý luận trong quá trình xây dựng nhà nước ta.Một trong những đánh giá thành tựu về lý luận trước hết là “Đã từng bước pháttriển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân”9 Bên cạnh đó khi phân tích nguyênnhân yếu kém trong xây dựng nhà nước, Nghị quyết đã chỉ rõ: “Việc xây dựngnhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế lànhiệm vụ mới mẻ, hiểu biết của chúng ta còn ít, có nhiều việc phải làm, vừa tìmtòi, rút kinh nghiệm”10 Điều này cho thấy, mặc dù tư duy lý luận của Đảng ta vềnhà nước pháp quyền đã có bước phát triển nhưng việc xây dựng nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa là vấn đề còn mới mẻ, chưa có tiền lệ, nhiều vấn đề về

8 Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995

9 Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.36, 40.

10 Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Sdd, tr.36.

Trang 8

mặt lý luận còn chưa được làm sáng tỏ và giải quyết thấu đáo, đòi hỏi công tác lýluận cần tiếp tục nghiên cứu

Với sự khẳng định và nhấn mạnh này, tư duy lý luận của Đảng ta về nhànước pháp quyền đã phát triển lên một tầm cao mới, tư tưởng nhà nước phápquyền đã được đặt đúng tầm vóc và vị trí của nó đối với cả tổ chức và hoạt độngcủa nhà nước, trở thành định hướng cho cải cách hệ thống chính trị Từ nhận thức

và quan niệm đó, Nghị quyết Hội nghị xác định năm nhiệm vụ: Mở rộng dân chủ

xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và quản

lý nhà nước; nâng cao chất lượng hoạt động và kiện toàn Quốc hội; tiếp tục cảicách nền hành chính nhà nước; cải cách tư pháp; tăng cường sự lãnh đạo củaĐảng đối với Nhà nước Những nội dung này phù hợp hơn so với những nội dungcủa văn kiện Đại hội VIII, là sự điều chỉnh, bổ sung cho những nội dung đã đượcĐại hội VIII đưa ra và tiếp tục được cụ thể hóa trong quá trình tổ chức thực hiện

2 Tư duy lý luận của Đảng ta về nhà nước pháp quyền từ Đại hội IX đến Đại hội XII

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức IX của Đảng (4/2001) khẳng định:

“Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, lànhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Quyền lực nhà nước là thống nhất,

có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện cácquyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật.Mọi cơ quan, tổ chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và phápluật”11 Tư duy của Đảng ta về nhà nước pháp quyền được nâng lên một trình độ

mới khi xác định sự cần thiết phải thực hiện chiến lược:“Đẩy mạnh cải cách tổ

chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế” Như

vậy, Đại hội IX của Đảng đã đúc kết quá trình nhận thức, vận dụng, bổ sung,hoàn thiện cả về lý luận cũng như thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền ởnước ta, khẳng định nội dung, yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền cần được

11 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.131-132

Trang 9

quán triệt trong đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước cũng như tronghoạt động xây dựng pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường phápchế xã hội chủ nghĩa

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (4/2006), kiểm điểm 5 năm thựchiện Nghị quyết Đại hội IX và 20 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đấtnước, khi đánh giá về nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaĐảng ta nêu rõ: “Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có tiến

bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp”12 Quốc hội đã có nhữngđổi mới quan trọng trong công tác lập pháp, tiếp tục sửa đổi Hiến pháp và hệthống pháp luật; cải tiến quy trình xây dựng luật, đã thông qua 58 luật và 43 pháplệnh mới, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý nhà nước, vận hành nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế Đãtăng cường một bước tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; phân định cụthể hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Chính phủ, của các bộngành và chính quyền địa phương các cấp, đồng thời thực hiện sự phân cấp nhiềuhơn Các hoạt động tư pháp và công tác cải cách tư pháp có những chuyển biếntích cực

Bên cạnh đó, Đại hội X cũng chỉ rõ thiếu sót bao trùm là tổ chức và hoạtđộng của Nhà nước còn một số khâu chậm đổi mới Cụ thể: Quốc hội còn lúngtúng trong việc thực hiện chức năng giám sát Bộ máy quản lý nhà nước các cấp,nhất là ở cơ sở còn yếu kém Tình trạng nhũng nhiễu, cửa quyền, thiếu tráchnhiệm ở một bộ phận công chức, nhất là ở các cơ quan trực tiếp giải quyết côngviệc của nhân dân và doanh nghiệp, chậm được khắc phục Mô hình tố chứcchính quyền địa phương, nhất là tổ chức hội đồng nhân dân, còn những điểm bấthợp lý Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu

Những tổng kết, đánh giá nêu trên là cơ sở để Đại hội X đề ra chủ trương

“Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” Đạihội X đã bổ sung thêm tiêu chí “có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của

12 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.60.

Trang 10

nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản”13 vừathể hiện một đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa; vừa là phương hướng, nhiệm

vụ phải xây dựng trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Đây không chỉ là vấn

đề “thêm câu chữ” vào văn kiện cho hay, mà là một bước phát triển tư duy lýluận của Đảng ta về nhà nước pháp quyền, từ nhận thức ban đầu về nhà nướcpháp quyền và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một phươnghướng, nhiệm vụ, đến đây Đảng ta nhận thức rõ tính tất yếu phải xây dựng nhànước pháp quyền trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, cũng như khi xây dựngthành công chủ nghĩa xã hội, để bảo đảm cho các giá trị xã hội chủ nghĩa đượcđịnh hình, được bảo vệ và phát triển

Từ sự đổi mới quan niệm và cách tiếp cận nhà nước pháp quyền trong xãhội xã hội chủ nghĩa và trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội nêu trên, Đại hội

X đã đưa ra những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

mà Đảng và nhân dân ta xây dựng như sau:

“Một là, đó là nhà nước của dân, do dân và vì dân; tất cả quyền lực nhà

nước thuộc về nhân dân

Hai là, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch và

phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lậppháp, hành pháp và tư pháp

Ba là, Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp

luật và bảo đảm cho Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điềuchỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

Bốn là, Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân;

nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa nhà nước và công dân; thực hành dân chủ,đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật

Năm là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng cộng

sản Việt Nam lãnh đạo, đồng thời đảm bảo sự giám sát của nhân dân, sự phản

13 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sdd, tr.68

Trang 11

biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của mặttrận”14

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 01/2011) đã làm sâusắc thêm nhận thức về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và khẳngđịnh “tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa, bảo đảm nhà nước ta thực sự là của nhân dân, do nhân dân, vì nhândân do Đảng lãnh đạo, thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội,giải quyết đúng mối quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức khác trong hệ thốngchính trị, với nhân dân, với thị trường”

Đại hội XI đã chỉ rõ những thành tựu đạt được trên tất cả các lĩnh vực củađời sống xã hội trong 5 năm qua, đồng thời, khẳng định “Việc xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh, hiệu lực và hiệu quả hoạtđộng được nâng lên”15 Tuy nhiên, Đại hội cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chếliên quan tới việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Trên cơ sở đó, Đại hội đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong 5 năm tới nhằmphát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đặcbiệt tiếp tục khẳng định nhiệm vụ đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa Việt Nam với những nội dung quan trọng: Nâng cao nhận thức vềnhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của

bộ máy nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lựcđáp ứng yêu cầu trong tình hình mới; tích cực thực hành tiết kiệm, phòng ngừa vàkiên quyết chống tham nhũng, lãng phí Để thực thi được những nội dung đó mộttrong những nhân tố có ý nghĩa quyết định là “Xây dựng Đảng trong sạch, vữngmạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”16

Đại hội XI của Đảng cũng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước

trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung phát triển năm 2011) Cương

14 Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương, Chuyên đề nghiên cứu Nghị quyết Đại hội X của Đảng (Dùng

cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên), Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006.

15 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sdd, tr 159

16 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sdd, tr.255

Trang 12

lĩnh lần này đã bổ sung thêm một trong tám đặc trưng của xã hội xã hội chủ

nghĩa mà nhân dân ta xây dựng đó là: Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Cương lĩnh cũng xác định rõ bản chất và các nguyên tắc cơ bản về tổ chức, hoạtđộng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta phấn đấu xâydựng:

- Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minhgiữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức, do Ðảng Cộngsản Việt Nam lãnh đạo

- Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiệnđầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân vàchịu sự giám sát của nhân dân

- Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểmsoát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tưpháp

- Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trungdân chủ, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất củaTrung ương

Ðây là những quan điểm cơ bản chỉ đạo việc xây dựng nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.Như trên đã phân tích, Đại hội lần thứ XI của Đảng đã xác định nhiệm vụ xâydựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng là mộttrong những nhiệm vụ có tính chiến lược trong quá trình thực hiện các mục tiêuphát triển kinh tế - xã hội 2011 - 202017 Sự xác định mục tiêu xây dựng nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa trong Báo cáo chính trị của Đại hội XI không chỉ làkhẳng định quyết tâm chính trị của Đảng ta trong việc đẩy mạnh cải cách tổ chức

và hoạt động của nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế mà còn là sựđánh dấu một giai đoạn phát triển mới của sự phát triển tư duy lý luận của Đảng

17 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sdd, tr.91,148.

Trang 13

ta về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong nghiệp xây dựng nhà nước

kiểu mới - một nhà nước của dân, do dân, vì dân

Trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng, mục “Xây dựng và hoàn thiện Nhànước pháp quyển xã hội chủ nghĩa” đã thể hiện bước phát triển quan trọng vềnhận thức Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam với một số nộidung:

Thứ nhất, Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa bằng pháp luật Đảng ta lãnh đạo Nhà nước không có mục đích nào khác

là đem lại quyền dân chủ, quyển làm chủ của nhân dân Không có sự lãnh đạocủa Đảng thì quyền lực nhà nước sẽ bị biến dạng, biến chất và sẽ xuất hiện mộtlực lượng chính trị khác chi phối quyền lực nhà nước Đảng lãnh đạo không cónghĩa là áp đặt, ra lệnh, bao biện làm thay công việc của Nhà nước; lãnh đạo đểkhắc phục tình trạng quyền lực của nhân dân mang tính hình thức, hoạt động củaNhà nước thụ động, kém hiệu lực, hiệu quả: “Trong tổ chức và hoạt động củaNhà nước, phải thực hiện dân chủ, tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền”18

Thứ hai, hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, phương thức và cơ chế vận hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Để khắc phục sự chồng chéo, vướng mắc về chức năng, nhiệm vụ của bộ

máy nhà nước trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa và hội nhập quốc tế, Đảng xác định: “Hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ,quyển hạn, tổ chức của Nhà nước theo quy định của Hiến pháp, đáp ứng các đòihỏi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện phát triển kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Nhà nưốc được tổchức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trungdân chủ”

Thứ ba, hoàn thiện tổ chức và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước Hoàn thiện tổ chức và phương thức hoạt động của bộ máy

18 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H.2016, tr.175

Ngày đăng: 07/12/2022, 16:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự Thật, Hà Nội
Năm: 1987
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự Thật
Năm: 1991
3. Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Lưu hành nội bộ
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1991
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật
Năm: 1994
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành trung ướng khóa VII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành trung ướng khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội
Năm: 1995
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn Kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành trung ướng khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1997
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn Kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn Kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành trung ương khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành trung ương khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội
Năm: 2007
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), (2016), Văn Kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội
Năm: 2011, 2016
13. Đỗ Mười (1991), Xây dựng nhà nước của nhân dân - Thành tựu, kinh nghiệm và đổi mới, Nxb. Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nhà nước của nhân dân - Thành tựu, kinh nghiệm và đổi mới
Tác giả: Đỗ Mười
Nhà XB: Nxb. Sự Thật
Năm: 1991

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w