C4: Trình bày đặc điểm và kết luận rút ra từ quá trình sản xuất giá trị thặng dư Trả lời: + Trong mọi xã hội, sức lao động là yếu tố sản xuất chủ yếu, sức lao động là toàn bộ những năng
Trang 1Sinh viên: Phạm Đàm Hải Đăng
MSV: 82673
Đề cương môn NLCB 2 Câu 1: Nêu định nghĩa hàng hóa ? Trình bày thuộc tính giá trị sử dụng của hàng hóa?
Trả lời:
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, nó có thể thỏa mãn những nhu cầu nhất định của con người thông qua trao đổi mua bán
Giá trị sử dụng:
1. Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của hàng hóa để thỏa mãn những nhu cầu nào đó của con người
2. Giá trị sử dụng là do thuộc tính tự nhiên của hàng hóa quy định, nó không phụ thuộc vào chế
độ xã hội cho nên giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn và giá trị sử dụng cấu thành nội dung vật chất của của cải Giá trị sử dụng xác định mặt chất của hàng hóa giúp phân biệt giữa nó và các hàng hóa khác
3. Mỗi hàng hóa đều có những thuộc tính khác nhau cũng như những công dụng khác nhau Những công dụng này sẽ ngày càng được khám phá ra trong quá trình phát triển khoa học và công nghệ cũng như của lực lượng sản xuất nói chung
4. Giá trị sử dụng của hàng hóa chỉ được thể hiện đầy đủ khi thông qua quá trình tiêu dùng của con người Vì thế khi hàng hóa không được sử dụng nó chỉ có giá trị sử dụng khả năng, nó chỉ
có giá trị sử dụng cụ thể khi ở trong quá trình sử dụng của con người
5. Giá trị sử dụng của hàng hóa không phải cho người trực tiếp sản xuất ra nó mà là cho người khác, cho xã hội thông qua trao đổi mua bán Nên giá trị sử dụng của hàng hóa là vật mang giá trị trao đổi
Câu 2 Nêu định nghĩa giá trị hàng hóa Trình bày đặc điểm giá trị của hàng hóa ?
Trả lời:
Giá trị của hàng hóa là 1 phạm trù trừu tượng, để hiểu được giá trị của hàng hóa thì trước hết phải hiểu được giá trị trao đổi của hàng hóa
Giá trị trao đổi của hàng hóa là quan hệ tỷ lệ về số lượng trao đổi giữa những hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau
Giá trị hàng hóa là hao phí lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Đặc điểm của giá trị hàng hóa:
1. Giá trị hàng hóa là cái ẩn dấu bên trong làm cơ sở cho sự so sánh, trao đổi giữa các hàng hóa với nhau Sở dĩ hàng hóa có giá trị trao đổi vì hàng hóa có giá trị Do vậy, giá trị hàng hóa là nội dung còn giá trị trao đổi hình thức là giá trị
Trang 22. Giá trị hàng hóa là 1 quan hệ xã hội, nó biểu thị mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa 1 hàng hóa này trao đổi với hàng hóa khác thì có nghĩa là hao phí lao động của người sản xuất hàng hóa này đứng đối diện, quan hệ với hao phí lao động của người sản xuất khác
3. Giá trị hàng hóa là 1 phạm trù lịch sử, có sản xuất hàng hóa mới có giá trị hàng hóa Trong nền kinh tế tự cấp tự túc thì phạm trù của giá trị hàng hóa chưa xuất hiện
Câu 3: Định nghĩa sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa ?
Trả lời:
- Sức lao động là toàn bộ những năng lực, thể lực, trí lực, khả năng sản xuất tồn tại trong 1 con người, sức lao động là cái có trước cái tiềm năng tồn tại trong mỗi con người Còn lao động là hành động vận dụng sức lao động trong quá trình sản xuất
- Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa:
1. Người lao động phải được tự do về thân thể của mình, có thể chi phối được sức lao động hay năng lực lao động của mình
2. Người lao động không có tư liệu sản xuất để tự mình thực hiện lao động cũng không còn cái gì khác để bán, muốn sống chỉ còn cách bán sức lao động
Như vậy, để sức lao động trở thành hàng hóa thì người có tiền phải tìm được người lao động
tự do trên thị trường và tự do theo 2 nghĩa : thứ nhất là tự do về thân thể, người lao động có thể điều khiển được sức lao động của mình; thứ 2 là người lao động hòa toàn không có thứ gì
để bán cũng như không có tư liệu sản xuất để thực hiện sức lao động của mình
Sự tồn tại đồng thời 2 điều kiện trên biên sức lao động trở thành hàng hóa Đến lượt mình sức lao động lại biến thành tư bản
C4: Trình bày đặc điểm và kết luận rút ra từ quá trình sản xuất giá trị thặng dư
Trả lời:
+ Trong mọi xã hội, sức lao động là yếu tố sản xuất chủ yếu, sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng
Ví dụ như: Phát minh khoa học, cải tiến kỹ thuật hay lao động sản xuất ra của cải vật chất, khi sức lao động trở thành hàng hoá giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao động tạo ra hàng hoá Trong quá trình ấy, chính lao động tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân hàng hoá sức lao động , tức là tạo ra giá trị thặng dư
+ Giá trị thặng dư là một bộ phận giá trị mới do lao động của công nhân tạo ra, dôi ra ngoài giá trị sức lao động , là kết quả lao động không công của người lao động Do đó, nếu quá trình lao động dừng lại ở điểm mà giá trị sức lao động thì chỉ có sản xuất giá trị giãn đơn, khi quá trình lao động vượt quá điểm đó mới có sản xuất giá trị thặng dư
+ Vậy nhân tố quyết định việc sản xuất giá trị thặng dư theo quan điểm chủ nghĩa Mac là nhân tố sức lao động của người công nhân (Chủ yếu là giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động)
Trang 3+ Muốn sản xuất ra giá trị thặng dư, trước hết nhà tư bản ra thị trường những thứ cần thiết như: Tư liệu sản xuất, sức lao động của người công nhân, Sau khi có được hai loại hàng hoá đó, nhà tư bản kết hợp với nhau trong quá trình sản xuất và tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị ban đầu mà nhà tư bản
bỏ ra, phần lớn hơn đó gọi là giá trị thặng dư
C5: Trình bày khái niệm tư bản bất biến và ý nghĩa phân chia tư bản thành TB bất biến và TB khả biến
Trả lời:
Khái niệm tư bản bất biến: Tư bản bất biến (constant capital) là khái niệm của Mác dùng để chỉ
tư liệu sản xuất, nguyên liệu - những thứ không làm tăng giá trị sản lượng vì giá trị được định nghĩa
là lượng lao động xã hội cần thiết vật hóa trong sản lượng
Ý nghĩa việc phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến:
Bộ phận tư bản biến thành tư liệu sản xuất mà giá trị được bảo toàn và chuyển vào sản phẩm, tức là không thay đổi về lượng
Giá trị của nó, được C.Mác gọi là tư bản bất biến (ký hiệu là c)
Bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động thì lại khác
Một mặt, giá trị của nó biến thành các tư liệu sinh hoạt của người công nhân và biến đi trong tiêu dùng của công nhân
Mặt khác, trong quá trình lao động, bằng lao động trừu tượng, công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân sức lao động, nó bằng giá trị sức lao động cộng với giá trị thặng dư Như vậy, bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động đã không ngừng chuyển hóa từ đại lượng bất biến thành một đại lượng khả biến, tức là đã tăng lên về lượng trong quá trình sản xuất
Bộ phận tư bản biến thành sức lao động không tái hiện ra, nhưng thông qua lao động trừu lượng của công nhân làm thuê mà tăng lên, tức là biến đổi về lượng, được C.Mác gọi là tư bản khả biến (ký hiệu là v)
Như vậy, tư bản bất biến là điều kiện cần thiết không thể thiếu được để sản xuất ra giá trị thặng dư, còn tư bản khả biến có vai trò quyết định trong quá trình đó, vì nó chính là bộ phận tư bản đã lớn lên Việc phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa đã giúp C.Mác tìm ra chiếc chìa khóa
để xác định sự khác nhau giữa tư bản bất biến và tư bản khả biến C.Mác là người đầu tiên chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến Căn cứ cho sự phân chia đó là dựa vào vai trò khác nhau của các bộ phận của tư bản trong quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư, do đó nó vạch rõ bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản, chỉ có lao động của công nhân làm thuê mới tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản
C6: Trình bày khái niệm tỷ suất giá trị thặng dư
Trang 4- Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ lệ phần trăm giữa số lượng giá trị thặng dư với tư bản khả biến cần thiết để sản xuất ra giá trị thặng dư đó
- Công thức: m’= M/v x 100% trong đó
M là tư bản bất biến
V là tư bản khả biến
Tỷ suất giá trị thặng dư chỉ rõ trình độ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân Nó phản ánh trong tổng số giá trị mới mà công nhân tạo ra thì công nhân được hưởng bao nhiêu và nhà tư bản chiếm đoạt bao nhiêu Tỷ suất giá trị thặng dư còn chỉ rõ ngày lao động của công nhân được chia thành thời gian lao động tất yếu và thời gian lao động thặng dư theo tỷ lệ nào Vì thế tỷ suất giá trị thặng dư còn được tính: m’= thời gian lao động thặng dư(t’) / thời gian lao động cần thiết(t) x 100%
C7: Trình bày khái niệm lợi nhuận ?
Trả lời:
- Giữa giá trị hàng hoá và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn luôn có sự chênh lệch, cho nên sau khi bán hàng hoá (giả định: giá cả = giá trị), nhà tư bản không những bù đắp đủ số tư bản đã ứng
ra, mà còn thu về được một số tiền lời ngang bằng với m Số tiền này được gọi là lợi nhuận, ký hiệu: p
Giá trị thặng dư được so với toàn bộ tư bản ứng trước, được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước sẽ mang hình thức biến tướng là lợi nhuận Hay lợi nhuận là số tiền lời mà nhà tư bản thu được sau khi bán hàng hoá đo có sự chênh lệch giữa giá trị hàng hoá và chi phí tư bản
Nếu ký hiệu lợi nhuận là p thì công thức:
W = c + v + m = k + m bây giờ sẽ chuyển thành: W = k + p
C8: Trình bày những hạn chế của chủ nghĩa tư bản
Trả lời:
Chủ nghĩa tư bản ngoài những đóng góp tích cực thì vẫn còn có những hạn chế về mặt lịch sử Những hạn chế này được C.Mác và V.I.Lênin đề cập ngay từ trong lịch sử ra đời tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản
- Trước hết, về lịch sử ra đời của chủ nghĩa tư bản: như Mác đã phân tích chủ nghĩa tư bản ra đời gắn liền với quá trình tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản Thực chất, đó là quá trình tích lũy tiền tệ nhờ vào những biện pháp ăn cướp, tước đoạt đối với những người sản xuất hàng hóa nhỏ vả nông dân tự do: nhờ vào hoạt động buôn bán, trao đổi không ngang giá qua đó mà thực hiện sự bóc lột, nô dịch đối với những nước lạc hậu Về quá trình tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản C.Mác cho rằng, đó là lịch sử đầy máu và bùn nhơ, không giống như một câu chuyện tình ca, nó được sử sách ghi chép lại bằng những trang đẫm máu và lửa không bao giờ phai
- Cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản là quan hệ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân làm thuê Mặc dù so với các hình thức bóc lột đã từng tồn tại trong lịch sử, bóc lột tư bản
Trang 5chủ nghĩa cũng đã là một sự tiến bộ, song theo sự phân tích của C.Mác và V.I.Lênin thì chừng nào chủ nghĩa tư bản còn tồn tại thì chừng đó quan hệ bóc lột còn tồn tại và sự bất bình đẳng, phân hóa
xã hội vẫn là điều không tránh khỏi
- Các cuộc chiến tranh thế giới với mục đích tranh giành thị trường, thuộc địa và khu vực ảnh hưởng
đã để lại cho loài người những hậu quả nặng nề: hàng triệu người vô tội đã bị giết hại, sức sản xụất của xã hội bị phá hủy, tốc độ phát triển kinh tế của thế giới bị kéo lùi lại hàng chục năm
- Chủ nghĩa tư bản sẽ phải chịu nách nhiệm chính trong việc tạo ra hố ngăn cách giữa các nước giàu
và các nước nghèo trên thế giới (thế kỷ XVIII chênh lệch về mức sống giữa nước giàu nhất và nước nghèo nhất mới chỉ là 2,5 lần, hiện nay số chênh lệch ấy là 250 lần)
C9: Trình bày 2 đặc trưng của giai cấp công nhân theo quan điểm của C Mác – P.Ăng ghen và nêu nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Trả lời:
Dù giai cấp công nhân có bao gồm những công nhân làm những công việc khác nhau như thế nào đi nữa, thì theo C Mác và Ph Ăngghen, họ vẫn chỉ có hai tiêu chí cơ bản để xác định, phân biệt với các giai cấp, tầng lớp xã hội khác
- Một là, về phương thức lao động, phương thức sản xuất, đó là những người lao động trong nền sản xuất công nghiệp Có thể họ là người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất
có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hóa cao Đã là công nhân hiện đại thì phải gắn với nền đại công nghiệp, bởi vì nó là sản phẩm của nền đại công nghiệp Giai cấp công nhân hiện đại
là hạt nhân, bộ phận cơ bản của mọi tầng lớp công nhân
- Hai là, về vị trí trong quan hệ sản xuất của giai cấp công nhân, chúng ta phải xem xét trong hai trường hợp sau:
+ Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa thì giai cấp công nhân là những người vô sản hiện đại, không có tư liệu sản xuất, nên buộc phải làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản và bị toàn thể giai cấp tư sản bóc lột Tức là giá trị thặng dư mà giai cấp công nhân tạo ra bị nhà tư bản chiếm đoạt Chính căn cứ vào tiêu chí này mà những người công nhân dưới chủ nghĩa tư bản được gọi là giai cấp vô sản
+ Sau cách mạng vô sản thành công, giai cấp công nhân trở thành giai cấp cầm quyền Nó không còn
ở vào địa vị bị áp bức, bị bóc lột nữa, mà trở thành giai cấp thống trị, lãnh đạo cuộc đấu tranh cải tạo
xã hội cũ, xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa Giai cấp công nhân cùng với toàn thể nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu đã công hữu hóa Như vậy họ không còn là những người vô sản như trước và sản phẩm thặng dư do họ tạo ra là nguồn gốc cho sự giàu có và phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa
Căn cứ vào hai tiêu chí cơ bản nói trên, chúng ta có thể định nghĩa giai cấp công nhân như sau: Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền đại công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa ngày càng cao, là lực lượng lao động cơ bản trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình sản xuất, tái
Trang 6sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; đại biểu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiên tiến trong thời đại ngày nay
Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là:
Khi phân tích xã hội tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa Mác với hai phát kiến vĩ đại, đó là quan niệm duy vật về lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư, đã chứng minh một cách khoa học rằng sự ra đời, phát triển và diệt vong của chủ nghĩa tư bản là tất yếu và cũng khẳng định giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất và cách mạng nhất, là lực lượng xã hội duy nhất có sứ mệnh lịch sử: xóa bỏ chủ nghĩa
tư bản, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và giải phóng toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa
Là giai cấp cơ bản bị áp bức dưới chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân chỉ có thể thoát khỏi ách áp bức bằng con đường đấu tranh giai cấp chống giai cấp tư sản, bằng con đường thủ tiêu chế độ tư hữu
về tư liệu sản xuất và thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Bằng cách đó, giai cấp công nhân vĩnh viễn thủ tiêu mọi hình thức người bóc lột người, chẳng những tự giải phóng mình, mà còn giải phóng cả các tầng lớp lao động khác, giải phóng dân tộc và giải phóng toàn thể nhân loại
C10: Trình bày khái niệm của cách mạng xã hội chủ nghĩa
Trả lời:
Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng nhằm thay thế chế độ tư bản chủ nghĩa lỗi thời bằng chế độ xã hội chủ nghĩa Trong cuộc cách mạng đó, giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo và cùng với quần chúng nhân dân lao dộng xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Theo nghĩa hẹp, cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc cách mạng chính trị, được kết thúc bằng việc giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động giành được chính quyền, thiết lập được nhà nước chuyên chính vô sản - nhà nước của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động
Theo nghĩa rộng, cách mạng xã hội chủ nghĩa bao gồm cả hai thời kỳ: cách mạng về chính trị với nội dung chính là thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản; tiếp theo đó là thời kỳ giai cấp công nhân và nhân dân lao động sử dụng nhà nước của mình để cải tạo xã hội cũ về mọi mặt kinh tế, chính trị: văn hóa, tư tưởng, v.v xây dựng xã hội mới về mọi mặt nhằm thực hiện thắng lợi chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản
C11: Trình bày những đặc trưng cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Trả lời:
Khác với các hình thức nhà nước đã từng có trong lịch sử, nhà nước xã hội chủ nghĩa là một kiểu nhà nước đặc biệt Đó là kiểu nhà nước có những đặc trưng cơ bản sau đây:
+ Một là, nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ cơ bản để thực hiện quyền lực của nhân dân lao động, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Trang 7+ Hai là, nhà nước xã hội chủ nghĩa có đặc trưng về nguyên tắc khác hẳn với nhà nước tư sản Cũng
là công cụ của chuyên chính giai cấp, nhưng vì lợi ích của tất cả những người lao động tức là tuyệt đại đa số nhân dân, nhà nước chuyên chính vô sản thực hiện sự trấn áp đối với những kẻ chống đói, phá hoại sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa
+ Ba là, trong khi nhấn mạnh sự cần thiết của bạo lực và trấn áp, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn xem mặt tổ chức xây dựng là đặc trưng cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa, của chuyên chính vô sản V.I Lênin cho rằng, chuyên chính vô sản không phải chỉ là bạo lực đối với bọn bóc lột và cũng không phải chủ yếu là bạo lực mà mặt cơ bản của nó là tổ chức xây dựng toàn diện
xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa
+ Bốn là, nhà nước xã hội chủ nghĩa nằm trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và theo V.I Lênin con đường vận động, phát triển của nó là: ngày càng hoàn thiện các hình thức đại diện nhân dân, mở rộng dân chủ nhằm lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội
+ Năm là, nhà nước xã hội chủ nghĩa là một kiểu nhà nước đặc biệt, “nhà nước không còn nguyên nghĩa”, là “nửa nhà nước” Sau khi những cơ sở kinh tế – xã hội cho sự tồn tại của nhà nước mất đi thì nhà nước cũng không còn, nhà nước “tự tiêu vong” Đây cũng là một đặc trưng nổi bật của nhà nước vô sản
C12: Phân tích ưu thế của sản xuất hàng hóa
Trả lời:
Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức KTXH trong đó sản phẩm sản xuất ra dùng để mua bán, trao đổi trên thị trường
Sản xuất hàng hóa có những ưu thế sau đây:
Một là: đẩy mạnh quá trình XH hóa sản xuất
Phân công lao động là điều kiện cho sự ra đời của sản xuất hàng hóa, nhưng khi sản xuất HH càng phát triển lại tác động làm cho phân công lao động càng trở nên sâu, rộng hơn Nhu cầu cần tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm để cạnh tranh với những người sản xuất khác khiến cho các hoạt động sản xuất chuyên môn hóa cao hơn Mặt khác, tiết kiệm chi phí, thời gian sản xuất khiến cho người sản xuất hàng hóa phải gia tăng sự kết hợp với những người cung ứng các yếu tố đầu vào, người phân phối phải tăng cường trao đổi thông tin kết nối giữa các nghành lĩnh vực giữa các vùng miền Từ đó quá trình xã hội hóa sản xuất và lao động được đẩy mạnh
Hai là: sx HH thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
Sx HH là sx ra sản phẩm để bán do đó có sự cạnh tranh gay gắt Để giành ưu thế trong cạnh tranh, người sx phải năng động sáng tạo linh hoạt thường xuyên cải tiến kỹ thuật hợp lý hóa sản xuất để tăng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao chất lượng hàng hóa tiết kiệm chi phí, tiêu thụ nhiều loại hàng hóa và thu lợi nhuận ngày càng cao Vì vậy, sx hàng hóa tạo ra MT kích thích sự phát triển của KH-KT nâng cao trình độ người lao động và máy móc, công nghệ
Ba là: sản xuất hàng hóa có quy mô lớn trình độ cao công nghệ hiện đại
Trang 8Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất làm cho tích lũy tăng quy mô sản xuất được mở rộng hàng hóa phong phú và thỏa mãn tối đa cho nhu cầu đa dạng của xã hội vì vậy sản xuất HH quy mô lớn là hình thức tổ chức KT-XH hiện đại phù hợp với xu thế hiện nay
Bốn là: sản xuất hàng hóa là mô hình kinh tế mở
Do nhu cầu về mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và mua nguyên vật liệu cho sản xuất mà nền sản xuất hàng hóa làm cho giao lưu kinh tế văn hóa giữa các địa phương trong nước và quốc tế ngày càng phát triển từ đó tạo điều kiện ngày càng nâng cao với đời sống vật chất và văn hóa của người dân
So với KT HH, KT tự cấp tự túc có nhiều hạn chế trên mọi khía cạnh trình độ lực lượng sản xuất và năng suất lao động, tính hiệu quả Với lực lượng sx thủ công lạc hậu nguwoif lao động chủ yếu dựa vào kinh nghiệm Nền kinh tế tự cấp tự túc không thể tạo năng suất lđ cao , không tạo ra tích lũy cần thiết để tái sản xuất mở rộng Ngươi lđ trong nền KT sx này không có nhu cầu hoặc không có điều kiện thực hiện nhu cầu tiêu dùng nhiều sản phẩm lao động khác Mặt khác, trong điều kiện sản xuất hạn hẹp , người sản xuất trong KT tự cấp tự túc không có nhu cầu và động lực trao đổi giao lưu với bên ngoài Từ đó càng gia tăng tsinh khép kín, bảo thủ trong cả sxuat và quan hệ xã hội
Tuy nhiên, mục đích của sx hàng hóa là sx để bán, người sxuat quan tâm tới giá trị chư skhoong phải giá trị sử dụng Vì vậy có hiện tượng làm hàng hóa trốn thuế, tình trạng phân hóa giàu nghèo giữa những người sản xuất hàng hóa ngày ngày càng tăng, tiềm ẩn những khả năng khủng hoảng phá hoại môi trường sinh thái, xã hội,
C13: Phân tích bản chất của tiền
Trả lời:
Tiền được xem là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong thanh toán để đổi lấy hàng hoá, dịch vụ hoặc để hoàn trả các khoản nợ
Định nghĩa này chỉ đưa ra các tiêu chí để nhận biết một vật có phải là tiền tệ hay không Tuy nhiên
nó chưa giải thích được tại sao vật đó lại được chọn làm tiền tệ Để giải thích được điều này phải tìm hiểu bản chất của tiền tệ
Về bản chất, tiền tệ là vật trung gian môi giới trong trao đổi hàng hoá, dịch vụ, là phương tiện giúp cho quá trình trao đổi được thực hiện dễ dàng hơn.
Bản chất của tiền tệ được thể hiện rõ hơn qua hai thuộc tính sau của nó:
Giá trị sử dụng của tiền tệ là khả năng thoả mãn nhu cầu trao đổi của xã hội, nhu cầu sử dụng làm
vật trung gian trong trao đổi Như vậy người ta sẽ chỉ cần nắm giữ tiền khi có nhu cầu trao đổi Giá trị sử dụng của một loại tiền tệ là do xã hội qui định: chừng nào xã hội còn thừa nhận nó thực hiện
tốt vai trò tiền tệ (tức là vai trò vật trung gian môi giới trong trao đổi) thì chừng đó giá trị sử dụng của nó với tư cách là tiền tệ còn tồn tại8 Đây chính là lời giải thích cho sự xuất hiện cũng như biến mất của các dạng tiền tệ trong lịch sử
Giá trị của tiền được thể hiện qua khái niệm "sức mua tiền tệ", đó là khả năng đổi được nhiều hay ít
hàng hoá khác trong trao đổi Tuy nhiên khái niệm sức mua tiền tệ không được xem xét dưới góc độ
Trang 9sức mua đối với từng hàng hoá nhất định mà xét trên phương diện toàn thể các hàng hoá trên thị trường
C14: Phân tích tiền công tính theo sản phẩm
Trả lời:
Tiền công tính theo sản phẩm là hình thức tiền công mà số lượng của nó phụ thuộc vào số lượng sản phẩm hay số luợng những bộ phận của sản phẩm mà công nhân đã sản xuất ra hoặc là số lượng công việc đã hoàn thành
Mỗi sản phẩm được trả công theo một đơn giá nhất định Đơn giá tiền công được xác định bằng thương số giữa tiền công trung bình của công nhân trong một ngày với số lượng sản phẩm trung bình
mà một công nhân sản xuất ra trong một ngày, do đó về thực chất, đơn giá tiền công là tiền công trả cho thời gian cần thiết sản xuất ra một sản phẩm Vì thế tiền công tính theo sản phẩm là hình thức biến tướng của tiền công tính theo thời gian
Thực hiện tiền công thính theo sản phẩm, một mặt giúp cho nhà tư bản trong việc quản lý, giám sát quá trình lao động của công nhân dễ dàng hơn: mặt khác kích thích công nhân lao động tích cực, khẩn trương tạo ra nhiều sản phẩm để nhận được tiền công, cao hơn
C15: Phân tích cạnh tranh trong nội bộ ngành và sự hình thành giá trị thị trường
Trả lời:
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cạnh tranh giữa các xí nghiệp trong cùng
một ngành, sản xuất cùng một loại hàng hoá, nhằm giành những điều kiện thuận lợi
nhất trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành thông qua các biện pháp: Cải tiến kỹ thuật, hợp
lý hoá sản xuất, nâng cao NSLĐ, chất lượng hàng hoá làm giảm giá trị cá biệt của
hàng hoá so với giá trị xã hội để thu được lợi nhuận siêu ngạch
- Kết quả của cạnh tranh trong nội bộ ngành là hình thành giá trị thị trường
của hàng hoá (giá trị xã hội của hàng hoá) Điều kiện sản xuất trung bình trong một
ngành thay đổi do kỹ thuật sản xuất phát triển, năng suất lao động tăng lên làm cho
giá trị thị trường của hàng hoá đó có xu hướng giảm xuống Trên thị trường hàng
hoá phải bán theo giá thị trường( giá trị xã hội) mặc dù giá trị cá biệt khác nhau
Điều này làm cho điều kiện sản xuất trung bình của một ngành thay đổi, giá trị xã
hội của hàng hoá giảm xuống, chủng loại hành hoá đa dạng với chất lượng ngày
càng cao
Giá trị thị trường không chỉ chịu sự tác động của giá trị xã hội, mà còn chịu
tác động của giá trị cá biệt của nhà sản xuất cung ứng đại bộ phận một loại hàng hoá
Trang 10cho thị trường Theo C.Mac: “một mặt phải coi giá trị thị trường là giá trị trung bình
của những hàng hoá được sản xuất ra trong một khu vực sản xuất nào đó, mặt khác
phải coi giá trị thị trường là giá trị cá biệt của những hàng hoá được sản xuất ra
trong những điều kiện trung bình của khu vực đó và chiếm một khối lượng lớn trong
tổng số những sản phẩm của khu vực này”
Như vậy, giá trị thị trường là giá trị trung bình của những hàng hoá được sản
xuất ra trong một khu vực sản xuất nào đó Hay là giá trị cá biệt của những hàng
hoá được sản xuất và chiếm đại bộ phận hàng hoá đó trên thị trường
C16: Phân tích tư bản cho vay
Trả lời:
- Tư bản cho vay đã xuất hiện từ rất lâu, sớm hơn cả tư bản công nghiệp, đó là tư bản cho vay nặng lãi
- Tư bản cho vay dưới chủ nghĩa tư bản hoàn toàn khác tư bản cho vay nặng lãi Tư bản cho vay dưới chủ nghĩa tư bản là một bộ phận của tư bản công nghiệp tách ra trong quá trình tuần hoàn của
tư bản
- Sự xuất hiện và tồn tại của tư bản cho vay là sự cần thiết và có khả năng thực hiện:
+ Trong quá trình tuần hoàn và chu chuyển của tư bản công nghiệp, thường xuyên có một bộ phận tư bản tiền tệ ở trạng thái nhàn rỗi Ví dụ: tiền trong quỹ khấu hao nhưng chưa đến kỳ đổi mới hoặc sửa chữa lớn tư bản cố định; tiền mua nguyên, nhiên, vật liệu nhưng chưa đến kỳ hạn mua; quỹ tiền lương để trả cho công nhân nhưng chưa đến kỳ phải trả; phần giá trị thặng dư dùng để tích lũy mở rộng sản xuất nhưng chưa có cơ hội, V.V
+ Nếu tiền để nhàn rỗi có nghĩa là không mang lại thu nhập cho nhà tư bản, tức là tư bản nhàn rỗi không sinh lợi Nhưng đối với nhà tư bản thì tiền phải đẻ ra tiền Do đó họ có mong muốn cho người khác vay để kiếm lời Đồng thời cũng chính trong thời gian đó, có những nhà tư bản khác rất cần tiền Ví dụ như cần tiền để mua nguyên nhiên, vật liệu, để mở rộng quy mô sản xuất, V.V Do đó tất yếu các nhà tư bản đó phải đi vay
Từ hai mặt trên tất yếu sinh ra sự vay mượn lẫn nhau, sinh ra quan hệ tín dụng tư bản chủ nghĩa Nhờ quan hệ vay mượn này mà tư bản nhàn rỗi đã trở thành tư bản cho vay
- Tư bản cho vay là tư bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi mà người chủ sở hữu nó cho người khác sử dụng trong một thời gian nhằm nhận được số tiền lời nhất định Số tiền lời đó được gọi là lợi tức Ký hiệu: z
- Điểm khác nhau giữa tư bản cho vay so với tư bản công nghiệp và tư bản thương nghiệp:
+ Đối với tư bản cho vay thì quyền sử dụng tư bản tách rời quyền sở hữu tư bản