SKKN Sáng kiến kinh nghiệm MỤC LỤC A MỞ ĐẦU 2 1 Lí do chọn đề tài 2 2 Mục đích nghiên cứu 3 3 Đối tượng nghiên cứu 3 4 Phương pháp nghiên cứu 3 B NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 1 Cơ sở lí luận 4 2 Thự.Một số kinh nghiệm đổi mới phương pháp dạy học môn Vật lí 6 ở trường THCS Đông Minh, huyện Đông Sơn tích cực vào việc hình thành và phát triển nhân cách theo mục tiêu đào tạo. Học sinh được tham gia tích cực, chủ động vào các hoạt động học tập thì phẩm chất và năng lực của cá nhân được sớm hình thành phát triển và hoàn thiện. Tính năng động, sáng tạo là những phẩm chất rất cần thiết trong cuộc sống hiện đại, phải được hình thành ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. - Việc đổi mới phương pháp dạy học phải góp phần thực hiện sự phân hóa trong dạy học. Năng lực của học sinh trong một lớp học không hoàn toàn giống nhau, việc phân hóa tiến tới cá nhân hóa trong dạy học là xu hướng tất yếu để đảm bảo sự phát triển tối ưu cho mỗi học sinh. 2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm + Các bài dạy chưa có đầy đủ các thí nghiệm, vẫn còn tình trạng dạy chay. Các bài thực hành thì không có nhiều bộ đồ dùng để học sinh tự làm mà chỉ có 1 đến 2 bộ thí nghiệm. + Giáo viên thuyết trình kết hợp với đàm thoại chưa đưa học sinh vào tình huống có vấn đề. Giáo viên chỉ sợ học sinh không trả lời được do đó học sinh nhiều khi chỉ cần trả lời "có" hay "không". + Học sinh được luyện tập ở mức tối thiểu và chủ yếu là vận dụng tri thức một cách máy móc đơn giản. 3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề: Trong quá trình giảng dạy, cùng với việc sử dụng đổi mới phương pháp dạy học trong trường THCS, bộ môn Vật lí nói chung và Vật lí 6 nói riêng phải thực hiện kết hợp một số giải pháp sau đây: 3.1/ Dạy học hợp tác theo nhóm: Dạy học hợp tác theo nhóm là một thuật ngữ để chỉ cách dạy học trong đó học sinh trong lớp được tổ chức thành các nhóm một cách thích hợp, được giao nhiệm vụ và được khuyến khích thảo luận, hướng dẫn hợp tác làm việc với nhau giữa các thành viên để cùng đạt được kết quả chung là hoàn thành nhiệm vụ của cả nhóm. Hoạt động dạy học hợp tác theo nhóm thường bao gồm các bước: Bước 1: Làm chung cho cả lớp Giáo viên nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức; tổ chức nhóm, giao nhiệm vụ cho từng nhóm và hướng dẫn cách làm việc theo nhóm. Bước 2: Hoạt động nhóm Từng nhóm làm việc riêng trong không khí thi đua với các nhóm khác. Thành viên trong mỗi nhóm trao đổi ý kiến, phân công nhóm sau đó từng thành viên làm việc theo sự phân công đó và có thể bàn bạc, trao đổi với nhau khi cần thiết. Giáo viên giám sát sự hoạt động của nhóm và của từng cá nhân học sinh. Bước 3: Thảo luận, tổng kết trước cả lớp * Các kiểu chia nhóm: Chia nhóm theo trình độ học sinh. Khi đó, học sinh trong lớp được chia vào các nhóm thường theo một số kiểu sau: Nhóm nhiều trình độ (trong nhóm có cả học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu); nhóm cùng trình độ (các em học sinh trong một nhóm có khả năng học tập tương đối như nhau). Với nhóm nhiều trình độ các em học yếu có cơ hội học hỏi các em học khá, giỏi. Ngoài những cách chia nói trên, vẫn có thể có những cách chia nhóm dựa trên sự tương đồng với dụng cụ thực hành thí nghiệm, đảm bả
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 2
1 - Lí do chọn đề tài 2
2 - Mục đích nghiên cứu 3
3 - Đối tượng nghiên cứu 3
4 - Phương pháp nghiên cứu 3
B NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1 - Cơ sở lí luận 4
2 - Thực trang vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 5
3 - Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 6
3.1/ Dạy học hợp tác theo nhóm 6
3.2/ Sử dụng phương pháp trực quan 9
3.3/ Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề 10
3.4/ Phấn đấu làm đầy đủ, có chất lượng các thí nghiệm chứng minh trên lớp 13
3.5/ Xây dựng hệ thống câu hỏi, hướng dẫn học sinh quan sát hiện tượng 14
3.6/ Tăng cường luyện tập độc lập cho học sinh trên lớp 15
3.7/ Sử dụng “phiếu học tập” cho mỗi học sinh 15
Một số ví dụ minh họa 16
4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 21
C KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 22
1 Kết luận 23
2 Kiến nghị 23
Trang 2A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài :
Chúng ta đang sống trong một xã hội với sự phát triển, khoa học kĩ thuậtđang phát triển theo nền công nghệ 4.0, nền kinh tế Việt Nam ngày càng hộinhập sâu rộng vào sự phát triển của khu vực và thế giới Thực tế đó đòi hỏi cần
có một nền giáo dục luôn cải tiến, đổi mới theo kịp với sự thay đối của thời đại Nền giáo dục nước ta những năm gần đây đã và đang có nhiều đổi mới tíchcực Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là phải đổimới phương pháp dạy học, chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện,
xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hànhđộng, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học
Trong các môn học ở bậc THCS, môn Vật lí được xem là môn học gắn nhiềuvới thực tiễn, yêu cầu cao về kĩ năng thực hành ở học sinh Việc đối mới phương phápgiảng dạy trong môn học lại càng quan trọng, nhất là ở lứa tuổi các em học sinh lớp 6.Các em vừa mới đặt chân vào môi trường học mới, còn nhiều bỡ ngỡ nên việc giáoviên định hướng phương pháp học có ý nghĩa quyết định trong tiếp thu bài của các em Chính vì vậy, bản thân tôi là một giáo viên giảng dạy bộ môn Vật lí nhiềunăm, tôi rất quan tâm đến việc đổi mới phương pháp dạy học Vật lí bằng cách sửdụng linh hoạt các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ độngcủa học sinh Vì những lí do trên tôi đã mạnh dạn đề xuất “Một số kinh nghiệm đổi mới phương pháp dạy học môn Vật lí 6 ở trường THCS Đông Minh, huyện Đông Sơn”
2 Mục đích nghiên cứu:
- Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của giáo viên, học sinh trong nhà trường
- Rèn luyện tính tư duy độc lập, sáng tạo và phát huy tính tích cực chủ động củahọc sinh
- Rèn luyện cho học sinh thực hiện thí nghiệm chứng minh trên lớp, sử dụng hìnhảnh trực quan, làm phiếu học tập…trong việc học tập môn Vật lí 6
Trang 33 Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu : Các phương pháp đổi mới dạy học môn Vật lí 6
- Khách thể : Học sinh khối 6 trường THCS Đông Minh
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu lí luận: Phân tích - tổng hợp - khái quát
- Nghiên cứu thực tiễn: Chủ yếu rút ra từ thực tế kinh nghiệm của bản thân và cácbạn đồng nghiệp qua quan sát, thực hành, kiểm tra, đối chiếu chất lượng
B NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Luật giáo dục năm 2005 (điều 5) quy định “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy, sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực học tập, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diệngiáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và họctheo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiếnthức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớmáy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở đểngười học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển
từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạtđộng xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệthông tin và truyền thông trong dạy và học” Để thực hiện tốt mục tiêu về đổimới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhậnthức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng pháttriển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học phải nhằm giúp học sinh phát huytính tích cực, tự giác, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác,
kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập vàtrong thực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập
Trang 4Đổi mới phương pháp dạy học các môn học nói chung và môn Vật lý nóiriêng ở trường THCS xuất phát từ các quan niệm sau:
- Mục tiêu của ngành giáo dục, trong đó hoạt động cơ bản là dạy học, là hìnhthành và phát triển nhân cách của học sinh Dạy học không chỉ đơn thuần cung cấpcho học sinh những tri thức và kinh nghiệm xã hội mà loài người đã tích lũy được,
mà phải góp phần tích cực vào việc hình thành và phát triển nhân cách theo mục tiêuđào tạo Học sinh được tham gia tích cực, chủ động vào các hoạt động học tập thìphẩm chất và năng lực của cá nhân được sớm hình thành phát triển và hoàn thiện.Tính năng động, sáng tạo là những phẩm chất rất cần thiết trong cuộc sống hiện đại,phải được hình thành ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường
- Việc đổi mới phương pháp dạy học phải góp phần thực hiện sự phânhóa trong dạy học Năng lực của học sinh trong một lớp học không hoàn toàngiống nhau, việc phân hóa tiến tới cá nhân hóa trong dạy học là xu hướng tất yếu
để đảm bảo sự phát triển tối ưu cho mỗi học sinh
2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
+ Các bài dạy chưa có đầy đủ các thí nghiệm, vẫn còn tình trạng dạy chay Cácbài thực hành thì không có nhiều bộ đồ dùng để học sinh tự làm mà chỉ có 1 đến
2 bộ thí nghiệm
+ Giáo viên thuyết trình kết hợp với đàm thoại chưa đưa học sinh vào tìnhhuống có vấn đề Giáo viên chỉ sợ học sinh không trả lời được do đó học sinhnhiều khi chỉ cần trả lời "có" hay "không"
+ Học sinh được luyện tập ở mức tối thiểu và chủ yếu là vận dụng tri thứcmột cách máy móc đơn giản
3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
Trong quá trình giảng dạy, cùng với việc sử dụng đổi mới phương pháp dạyhọc trong trường THCS, bộ môn Vật lí nói chung và Vật lí 6 nói riêng phải thựchiện kết hợp một số giải pháp sau đây:
3.1/ Dạy học hợp tác theo nhóm:
Dạy học hợp tác theo nhóm là một thuật ngữ để chỉ cách dạy học trong đó họcsinh trong lớp được tổ chức thành các nhóm một cách thích hợp, được giao nhiệm vụ
Trang 5và được khuyến khích thảo luận, hướng dẫn hợp tác làm việc với nhau giữa cácthành viên để cùng đạt được kết quả chung là hoàn thành nhiệm vụ của cả nhóm Hoạt động dạy học hợp tác theo nhóm thường bao gồm các bước:
Bước 1: Làm chung cho cả lớp
Giáo viên nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức; tổ chức nhóm, giaonhiệm vụ cho từng nhóm và hướng dẫn cách làm việc theo nhóm
Bước 2: Hoạt động nhóm
Từng nhóm làm việc riêng trong không khí thi đua với các nhóm khác.Thành viên trong mỗi nhóm trao đổi ý kiến, phân công nhóm sau đó từng thànhviên làm việc theo sự phân công đó và có thể bàn bạc, trao đổi với nhau khi cầnthiết Giáo viên giám sát sự hoạt động của nhóm và của từng cá nhân học sinh
Bước 3: Thảo luận, tổng kết trước cả lớp
* Giao nhiệm vụ cho nhóm:
Giáo viên giao nhiệm vụ cụ thể cho các nhóm thực hiện Sau khi giaonhiệm vụ cho các nhóm, giáo viên cần kiểm tra xem từng nhóm, từng học sinh
đã hiểu được nhiệm vụ của mình chưa Có thể thực hiện điều này bằng cách hỏimột vài nhóm trưởng cũng như một vài em khác, yêu cầu các em đứng lên nói rõnhiệm vụ của mình Giáo viên cũng cần quy định rõ thời gian yêu cầu phải hoànthành hoạt động nhóm, thường với mọi hoạt động, thời gian từ 5 đến 7 phút
* Giáo viên quản lí hoạt động nhóm:
Trang 6Trong khi các nhóm hoạt động, giáo viên cần bao quát, chỉ đạo học sinhtheo các chú ý sau:
- Quan sát tất cả các nhóm, phát hiện và hỗ trợ các nhóm có khó khănthông qua các câu hỏi dẫn dắt, các hướng dẫn thích hợp
- Phát hiện các nhóm làm việc chưa tích cực, mất trật tự…để nhắc nhở, uốnnắn Các nhóm tích cực khuyến khích, động viên kịp thời Dù là khuyến khíchhay nhắc nhở học sinh, cử chỉ của giáo viên phải thể hiện thái độ thân mật, hợptác, tạo niềm tin cho học sinh
* Tổ chức hoạt động thảo luận, tổng kết trước toàn lớp:
Khi các nhóm đã hoàn thành hoạt động, giáo viên yêu cầu mỗi nhóm cửđại diện lên trình bày trước toàn lớp và nêu rõ quy định về cách trình bày nhưđứng tại chỗ hay lên bảng, chỉ diễn đạt bằng lời nói hay kết hợp với viết bảng…Sau khi giáo viên yêu cầu một vài nhóm lên trình bày, các nhóm khác quan sát,nhận xét, bổ sung Sự nhận xét, bổ sung lẫn nhau giữa các nhóm là rất quantrọng, nó thể hiện sự tương tác giữa các nhóm và sự gắn kết của cả lớp trongmục tiêu chung của nhiệm vụ học tập Sau khi mỗi nhóm đã trình bày và có sựnhận xét, bổ sung của các học sinh ngoài nhóm, giáo viên đưa ra ý kiến củamình, thể thức hóa kết quả của mỗi nhóm trước cả lớp
Cuối cùng, sau khi các nhóm được chỉ định đều đã trình bày xong, giáo viên tổngkết, chốt lại những điểm quan trọng trong kết quả của tất cả các nhóm và nhận xét, độngviên, khen ngợi các nhóm hoàn thành tốt nhiệm vụ, phê phán những khiếm khuyết đãmắc phải của một số nhóm hay cá nhân trong quá trình thực hiện hoạt động nhóm
3.2/ Sử dụng phương pháp trực quan trong tiết học:
Phương pháp trực quan hay nói chính xác hơn là nhóm các phương pháp sửdụng các vật thực, mô hình, tranh vẽ… để minh họa cho các bài học nhằm cụ thể hóacái nhìn trừu tượng trong đối tượng và hiện tượng giúp học sinh khắc phục khó khănban đầu, tiếp thu và vận dụng được các kiến thức một cách hiệu quả, nhanh chóng Phương pháp trực quan thường được sử dụng trong việc dạy và học mônVật lí Nhất là đối với bậc trung học cơ sở, giáo viên cần sử dụng các vật thật,
mô hình hay tranh vẽ để minh hoạ cho các bài học thêm sinh động
Trang 7Ví dụ 1: Bài 5 “Khối lượng – Đo khối lượng” - SGK Vật lí 6
Để giúp học sinh hiểu thêm một số dụng cụ dùng để đo khối lượngthường dùng trong đời sống, giáo viên cần dùng một số tranh vẽ sau:
Cân y tế Cân tạ Cân đòn Cân đồng hồ
Ví dụ 2: Bài 13: “Máy cơ đơn giản” - SGK Vật lí 6
Giáo viên cần đưa một số tranh ảnh minh họa cho học sinh thấy được một
số máy cơ đơn giản thường dùng là mặt phẳng nghiêng, đòn bẩy và ròng rọc
3.3/ Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề:
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là cách thầy tổ chức tạo ra một tìnhhuống hấp dẫn gợi sự tìm hiểu của học sinh, gợi ra những vướng mắc mà học
Trang 8sinh chưa giải đáp ngay được, nhưng có liên hệ với tri thức đã biết, khiến họthấy có triển vọng tự giải đáp được nếu tích cực suy nghĩ.
Trong dạy học và giải quyết vấn đề, thầy giáo tạo ra những tình huống gợivấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủđộng, sáng tạo để giải quyết vấn đề, thông qua đó mà kiến tạo tri thức mới, rènluyện kĩ năng và đạt được những mục tiêu học tập khác
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề thường có những đặc điểm sau đây:
- Học sinh được đặt vào tình huống gợi vấn đề chứ không phải là đượcthông báo tri thức dưới dạng có sẵn
Học sinh hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo, tận lực huy độngtri thức và khả năng của mình để phát hiện và giải quyết vấn đề chứ không phải
là nghe thầy giảng một cách thụ động
- Mục tiêu dạy học không chỉ là làm cho học sinh lĩnh hội kết quả của quátrình phát hiện và giải quyết vấn đề, mà còn ở chỗ làm cho học sinh phát triểnkhả năng tiến hành khám phá và lĩnh hội tri thức mới
Trong dạy học và phát hiện vấn đề là việc điều khiển học sinh tự thực hiệnhoặc hòa nhập vào quá trình nghiên cứu vấn đề, quá trình này có thể chia làmcác bước sau:
Bước 1: Phát hiện và thâm nhập vấn đề
- Phát hiện vấn đề từ một tình huống gợi vấn đề thường do thầy tạo ra Họcsinh có thể liên tưởng, dự đoán, suy nghĩ, tìm tòi tình huống gợi vấn đề
- Giải thích và chính xác hóa tình huống khi cần thiết để hiểu đúng vấn đềđược đặt ra
- Phát hiện vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết vấn đề đó
Bước 2: Tìm giải pháp
- Học sinh tìm một cách giải quyết vấn đề, cần làm rõ mối liên hệ giữa cái
đã biết và cái phải tìm Trong Vật lí thường liên tưởng tới những khái niệm, đặcđiểm hoặc tính chất thích hợp
- Tổ chức thu thập dữ liệu, học sinh tiến hành suy luận tìm ra hướng giảiquyết vần đề một cách hiệu quả
Trang 9Bước 3: Trình bày giải pháp
Khi giải quyết được vấn đề đặt ra, học sinh trình bày lại toàn bộ từ việcphát biểu vấn đề cho tới giải pháp Nếu vấn đề là một đề bài cho sẵn thì có thểkhông cần phát biểu lại vấn đề Trong khi trình bày, học sinh phải trình bày rõràng, mạch lạc, logic
Ví dụ: Biết 10dm3 có khối lượng 15kg
a) Tính thể tích của 1 tấn cát
b) Tính trọng lượng của một đóng cát 3m3
Hoạt động của giáo viên và học sinh Thực hiện lời giải
Giáo viên đặt một số câu hỏi dẫn dắt
học sinh làm bài tập theo trình tự các
bước sau:
Bước 1: Phát hiện và thâm nhập vấn đề
Giáo viên hướng dẫn câu a của bài toán
- Em hãy cho biết đề bài đã cho những
đại lượng nào?
+ HS: Đề bài cho biết khối lượng và thể
-GV yêu cầu học sinh tóm tắt đề bài,
giáo viên theo dõi
Bước 2: Tìm giải pháp
-GV: Bài toán cho biết thể tích và khối
lượng của cát, ta tính được đại lượng
liên quan nào?
+ HS: Ta tính được khối lượng riêng của
Trang 10khối lượng riêng?
+HS: Khối lượng riêng được xác định
theo công thức D =m
V-GV: Sau khi tính được khối lượng riêng
của cát, các em tính thể tích của cát dựa
vào công thức biến đổi V=m
Dvới m = 1tấn = 1000kg
Giáo viên hướng dẫn câu b của bài toán
-GV: Em hãy cho biết công thức tính
trọng lượng của cát?
+HS: Công thức tính trọng lượng là P = 10m
-GV: Muốn tính được trọng lượng của
một đóng cát có thể tích 3m3, trước hết
ta phải tính được khối lượng của cát
Vậy khối lượng của cát được tính theo
công thức nào?
+HS: Khối lượng của cát được tính theo
công thức m = D.V
-GV: Sau khi các em tính được khối
lượng của cát, ta áp dụng lại công thức
P=10m sẽ tính được trọng lượng của cát
Bước 3: Trình bày giải pháp
Bằng các gợi ý và hướng dẫn của giáo
viên, học sinh trình bày bài toán một
cách chi tiết, cụ thể
-GV theo dõi, uốn nắn, sữa sai kịp thời
Khối lượng riêng của cát là
3
V 0,01 a) Thể tích của một tấn cát là:
3
m 1000
D 1500 b)Trọng lượng của một đóng cát 3m3 là:
Khối lượng của 3m3 cát là:
m = D.V = 1500.3 = 4500 (kg) Trọng lượng của 3m3 cát là:
P = 10.m = 10.4500 = 45000 (N)
Đáp số: a) V = 4500 (kg)
Trang 11Trong học tập, nếu sử dụng các đồ dùng dạy học thực hiện các thí nghiệmchứng minh trên lớp ta dễ dàng nhận thấy học sinh học tập hứng thú hơn, sinhđộng hơn, hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, trang thiết bị trong nhà trường còn hạn chế Để thực hiện các thínghiệm trong các tiết dạy đạt hiệu quả, giáo viên bộ môn trực tiếp giảng dạy cầnthực hiện các bước sau:
+ Chủ động và có kế hoạch làm đồ dùng dạy học ngay từ đầu năm học Cùngvới việc lập kế hoạch dạy học, giáo viên phải tính đến các điều kiện cụ thể trongnhà trường mà xây dựng kế hoạch làm và sử dụng trang thiết bị dạy học phùhợp
+ Giáo viên bộ môn phối hợp với nhóm bộ môn, tập thể tổ rèn kĩ năng thựchiện các thí nghiệm chứng minh
3.5/ Giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh quan sát hiện tượng, phân tích các kết quả thí nghiệm, vận dụng các kiến thức có liên quan…để đi đến tri thức mới.
Để tổ chức tốt cho học sinh làm việc trên lớp một cách chủ động, tích cực,đúng hướng…vai trò tổ chức của giáo viên thể hiện chủ yếu qua hệ thống câu hỏi:
+ Các câu hỏi phải được sắp xếp thành hệ thống, đảm bảo tính lôgic vàtheo nguyên tắc từ dễ đến khó, từ khái quát đến cụ thể…
Trang 12+ Các hiện tượng mà học sinh quan sát được là một chỉnh thể, các emcần tự mình phân tích để lí giải từng bộ phận, từng khía cạnh, từng giai đoạn…
để nắm vững được bản chất và quy luật của chúng Nếu học sinh không tự làmđược theo các yêu cầu đó, giáo viên mới tách ra thành những câu hỏi nhỏ, cụ thể
và chi tiết hơn
+ Học sinh quan sát hiện tượng, phân tích kết quả phát huy được nănglực của mọi đối tượng học sinh Đối với học sinh khá - giỏi trả lời những câu hỏichung, khái quát; học sinh trung bình và yếu trả lời các câu hỏi cụ thể, chi tiếthơn Có thể trong thời gian đầu, học sinh chưa quen với cách làm này nhưnggiáo viên cần phải làm như vậy để rèn luyện thói quen cho học sinh
+ Câu hỏi mà giáo viên đặt ra cho học sinh phải được chuẩn bị trước, kể
cả các câu hỏi gợi ý chi tiết Diễn đạt phải rõ ràng, ngắn gọn
3.6/ Tăng cường luyện tập độc lập cho học sinh trên lớp:
Luyện tập là khâu quan trọng trong mỗi tiết học Nó giúp học sinh hoàn
thiện tri thức mới và biết vận dụng tri thức đó để giải quyết các nhiệm vụ thựctiễn Qua luyện tập, giáo viên tiếp nhận thông tin ngược từ học sinh để bổ sungnhững tri thức còn thiếu, uốn nắn những sai lầm thường mắc phải
Nội dung luyện tập phải được lựa chọn ưu tiên cho học sinh trung bình:Tương ứng với yêu cầu tối thiểu của bài học, có tác dụng chuẩn bị cho học sinhhọc bài và làm bài ở nhà Tuy vậy, không thể bỏ qua những đối tượng khá, giỏi.Nên có những bài tập có yêu cầu cao hơn cho các em này Khâu luyện tập cầnđược dành thời gian hợp lí, tốt nhất là khoảng 10 phút cho mỗi tiết học Coitrọng những bài tập có nội dung thực tế, gắn với đời sống để giúp học sinh biếtvận dụng kiến thức giải quyết những nhiệm vụ hàng ngày
Nói chung học sinh phải được tạo điều kiện để làm việc một cách độc lập,đặc biệt trong giai đoạn luyện tập, củng cố kiến thức sau mỗi bài học Mọi cuộctrao đổi thảo luận, mọi chỉ dẫn hay nhận xét, đánh giá của giáo viên, chỉ có hiệuquả cao khi học sinh đã được chuẩn bị và có sự chứng kiến của giáo viên
3.7 / Sử dụng “phiếu học tập” cho mỗi học sinh: