1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐỊNH HƯỚNG DẠY HỌC KẾT HỢP (BLENDED LEARNING) TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0

164 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Định hướng dạy học kết hợp (Blended Learning) trong giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
Tác giả Nguyễn Quốc Khánh, Lê Thanh Tâm
Người hướng dẫn TS. Khoa CNTT, Trường Đại học Công nghiệp Việt Trì, TS. Phó Hiệu trưởng, Trường Đại học Công nghiệp Việt Trì
Trường học Trường Đại học Công nghiệp Việt Trì
Chuyên ngành Giáo dục đại học
Thể loại Nghiên cứu & Ứng dụng
Năm xuất bản 2019
Thành phố Việt Trì
Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 7,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về phía cơ sở đào tạo: Chích sách đối với việc áp dụng mô hình Blended Learning vào đào tạo; Hệ thống hạ tầng mạng và băng thông cho nhiều người vào cùng một lúc; Các giải pháp học tập

Trang 1

1 Đặt vấn đề

Phú Thọ là tỉnh có nhiều cơ sở giáo dục đại học,

nơi cung cấp nguồn nhân lực (NNL) lớn cho các khu

công nghiệp và các doanh nghiệp trên địa bàn Mặt

khác trong xu thế toàn thế giới bước vào cuộc Cách

mạng Công nghiệp (CMCN) 4.0, tập trung chủ yếu

vào sản xuất thông minh, NNL chất lượng cao ngày

càng thể hiện vai trò quyết định trong phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước

Để phát triển nền kinh tế - xã hội của tỉnh Phú

Thọ cần có một NNL chất lượng cao, vì vậy các cơ sở

giáo dục đại học trong tỉnh cần phải đào tạo NNL có

chất lượng Để làm được điều này các cơ sở giáo dục

đại học cần thay đổi về mô hình và phương pháp (PP)

dạy học để thích ứng và tồn tại Một trong những giải

pháp đó là sử dụng mô hình dạy học kết hợp Blended

Learning, bài báo này tác giả đưa ra những lý luận và

giải pháp để sử dụng mô hình dạy học này đáp ứng

được CMCN 4.0 đồng thời nâng cao chất lượng đào

tạo NNL cho nền kinh tế - xã hội

2 Vì sao lựa chọn mô hình dạy học BLENDED

LEARNING

2.1 Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0

tới giáo dục

Trong cuộc CMCN 4.0, công nghệ thực tế ảo

giúp cho giảng viên (GV) và sinh viên (SV) từ khắp

các châu lục vẫn có thể tương tác được với nhau như

đang ngồi trong cùng một nơi, khoảng cách về địa lý,

về không gian và thời gian đã bị xóa nhòa Hệ sinh

thái học tập rộng khắp với vô số “giảng viên internet”

làm việc không mệt mỏi, sẵn sàng chia sẻ thông tin,

* TS Khoa CNTT, Trường Đại học Công nghiệp Việt Trì

** TS Phó hiệu trưởng, Trường Đại học Công nghiệp Việt Trì

tri thức với SV Tư duy giáo dục truyền thống như

“đến trường” điểm danh mới là “đi học”, không đến trường là “không đi học” đã không còn đúng nữa Đến lúc này giáo dục đại học trên thế giới đang đứng

trước câu hỏi lớn: Tôi có internet, vì sao tôi phải đến

trường, nếu tôi có Google vì sao tôi cần đến thư viện Đến lớp làm gì nếu không có gì mới hơn sách điện

tử trên mạng?

Nhờ CMCN 4.0 mà nền tảng là internet kết nối mọi vật (Internet of things, viết tắt là IOT) dựa trên sự phát triển bậc cao của Công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông [4], toàn bộ thông tin của thế giới được đưa vào điện thoại thông minh cầm tay kết nối với bất cứ lớp học nào trên thế giới, nhờ đó

SV có thể dễ dàng tìm ra câu trả lời nhanh hơn bất cứ giáo sư nào và lúc này có cần thiết phải đến trường

để học thuộc những kiến thức biệt lập?

2.2 Nhu cầu thực tế từ sự thay đổi quá trình đào tạo với sự hỗ trợ của CNTT và nhược điểm của học trực tuyến (TT)

Thế kỷ 21, với các công nghệ mới, đặc biệt là

sự xuất hiện của nền giáo dục TT (online education)

có khả năng đáp ứng các yêu cầu của giáo dục, dạy học không giới hạn (mọi nơi, mọi lúc, mọi đối tượng, mọi thông tin nội dung, tri thức, mọi phương tiện )[2] Bên cạnh đó, các chi phí giáo dục ngày càng leo thang, thiếu tài nguyên giáo dục phù hợp đã khiến cho nhiều người tìm đến các giải pháp học tập thay thế Khóa học TT mở dành cho mọi người (MOOC) chính là một trong các giải pháp thay thế đó Việc xuất hiện môi trường mạng và hệ thống máy tính với các ứng dụng hạ tầng CNTT hiện nay không chỉ giữ vai trò “công cụ CNTT” mà còn tạo ra một khuynh hướng mới trong dạy học: dạy học trực tuyến

ĐỊNH HƯỚNG DẠY HỌC KẾT HỢP (BLENDED LEARNING)

TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU

CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0

Nguyễn Quốc Khánh*, Lê Thanh Tâm**

ABSTRACT

Under the vigorous influence of the Industrial Revolution 4.0, Higher education institutions in Phu Tho need to change in the teaching model How to change and how to meet CMCN 4.0 is a matter of research This paper presents a solution that uses Blended learning teaching model.

Keywords: Industrial Revolution 4.0, Online learning, Bended Learning, E-learning, Phu Tho university

education.

Ngày nhận bài: 13/5/2019; Ngày phản biện: 20/5/2019; Ngày duyệt đăng: 30/5/2019.

Trang 2

(DHTT), dạy học điện tử, dạy học kết nối đa phương

tiện…

Giáo dục trong thế kỷ 21 đã bị ảnh hưởng rất

lớn từ cuộc CMCN 4.0 và sự hội nhập của các công

nghệ hiện đại Học tập TT đã được sử dụng như là

một hình thức học tập từ xa Lợi thế cốt lõi của học

tập TT là tính linh hoạt và khả năng tiếp cận Tuy vậy,

học TT không có nghĩa là không có hạn chế của nó

Có nhiều vấn đề cần được giải quyết trong DHTT, ví

dụ: không có môi trường học tập, thiếu kinh nghiệm

học qua mạng, khó khăn trong học tập và hiểu biết

mà không có hướng dẫn trực tiếp và sự tương tác

cần thiết giữa SV với SV, SV với GV, GV với SV

Đối với nhiều ngành và nhiều học phần có nội dung

đào tạo liên quan năng lực thực hành (như gia công,

lắp ghép, chế tạo các thiết bị) không thể dạy học qua

mạng mà cần SV trực tiếp gia công trên các máy,

phòng thí nghiệm hay các xưởng sản xuất Ở đó mới

có các thiết bị, phòng thí nghiệm, phòng máy tính để

SV thực nghiệm trong khi tại nhà SV khó đáp ứng

Để vượt qua những hạn chế và phát huy được lợi

ích từ học tập TT, học tập Blended Learning đã được

đề xuất rộng rãi như một sự kết hợp ưu điểm của PP

truyền thống và công nghệ số Kết hợp học tập có

nghĩa là “sự tích hợp ưu điểm của kinh nghiệm học

tập trực tiếp trong lớp học với kinh nghiệm học tập

TT”, việc học tập này có thể tích cực ảnh hưởng đến

sự hài lòng và hiệu suất của SV Các cơ sở giáo dục

trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng sử dụng

một số hệ thống quản lý học tập (LMS) như: eFront,

Blackboard, WebCT, và Moodle cùng với phương

thức kết hợp PP học truyền thống để cung cấp việc

học linh hoạt và hỗ trợ các PP dạy và học cho SV

Vì vậy, việc kết hợp ưu điểm của mô hình dạy học

truyền thống và ưu điểm của mô hình DHTT là một

chiến lược phù hợp giúp SV phát huy hết những năng lực của mình trong quá trình học tập và nghiên cứu

3 Triển khai dạy học BLENDED LEARNING

3.1 Mô hình dạy học Blended Learning là gì?

Có thể hiểu mô hình Blended Learning (học tập tổng hợp/kết hợp) là sự kết hợp giữa giáo dục

TT và trực tiếp Face - to - Face (F2F) bằng cách sử dụng nhiều tài nguyên học tập khác nhau [1] Mô hình Blended Learning là một chiến lược học tập linh hoạt kết hợp các tiến bộ sáng tạo công nghệ của học tập TT với sự tương tác và sự tham gia của việc học tập truyền thống Nói cách khác, Mô hình Blended learning là một thiết kế lại cơ bản của một mô hình giảng dạy với sự thay đổi từ “giảng dạy lấy người thầy làm trung tâm” sang “hướng dẫn SV làm trung tâm”, trong đó SV trở nên tích cực Điều này cho phép tăng cường sự tương tác giữa SV và GV, SV và

SV, SV và nội dung, SV và nguồn bên ngoài

Có thể khái quát khái niệm mô hình này như Bảng 3.1

3.2 Sử dụng Blended Learning trong đào tạo tại Phú Thọ

Từ những phân tích trên có thể thấy việc áp dụng mô hình dạy học Blended learning cho các cơ

sở giáo dục đại học ở tỉnh Phú Thọ là xu thế tất yếu Tuy nhiên để sử dụng mô hình này có hiệu quả phải xác định được 2 vấn đề lớn đó là: Phải xác định được những khó khăn và thách thức khi sử dụng; Phải xây dựng được chiến lược sử dụng mô hình này

3.2.1 Những khó khăn và thách thức khi sử dụng Blended Learning

a Về phía cơ sở đào tạo: Chích sách đối với

việc áp dụng mô hình Blended Learning vào đào tạo; Hệ thống hạ tầng mạng và băng thông cho nhiều người vào cùng một lúc; Các giải pháp học tập với

Bảng 3.1: Bảng tổng hợp phương thức kết hợp [3]

Phương

thức kết

0% Kiểu truyền thống Khóa học này hoàn toàn truyền thống nhưng có thể sử dụng công nghệ trong quá trình dạy học trên lớp.1% đến

30% đến

79% Khóa học kết hợp

Khóa học này kết hợp TT và trực tiếp Một số nội dung bài học được học một phần TT trước khi đến lớp, khi ở lớp học trực tiếp có thể giải quyết những vấn

đề nâng cao nhằm tăng tư duy bậc cao

Trên 80% Khóa học TT chiếm ưu thế Khóa học này chủ đạo là tập trung TT, trên lớp học trực tiếp chỉ có thể sử dụng để kiểm tra kết thúc khóa học hoặc báo cáo kết thúc các bài tập lớn, seminar …

Trang 3

mô hình Blended Learning; Vấn đề về thay đổi tư

duy quản lý truyền thống

b Đối với GV: Vấn đề quản lý và đánh giá tiến

bộ SV; Người hỗ trợ (trợ giảng) hoặc quản trị viên

phải tương tác với SV khi cần thiết nhất là với những

khó khăn cấp bách của họ; Làm thế nào để cung cấp

một chiến lược học tập hiệu quả đến SV khi học trên

cả 2 môi trường; Năng lực sử dụng CNTT của GV để

thiết kế các bài giảng điện tử, bài giảng E-learning

hiệu quả

c Đối với SV: Năng lực sử dụng CNTT hỗ trợ

học tập; Thay đổi tư duy về lối học truyền thống; Quá

nhiều thông tin có thể gây quá tải không cần thiết cho

SV, làm cho họ ít có khả năng có động lực để hoàn

thành các yêu cầu học tập tự học

3.2.2 Chiến lược giải quyết vấn đề

a Xây dựng và phát triển mô hình Blended

learning phục vụ đào tạo Chiến lược này gồm 2 giai

đoạn chính:

Giai đoạn 1: Trong vòng 5 năm đầu tiên thực

hiện sự kết hợp dạy học truyền thống và TT với mức

độ kết hợp khác nhau cho một số học phần trong

một số ngành đào tạo NCS, ThS, kỹ sư, cử nhân, bồi

dưỡng và đào tạo từ xa, đào tạo tại những đơn vị liên

kết đào tạo theo các công thức 3-7,4-6, 5-5, 6-4, 7-3

(ví dụ 3-7: 30% trực tiếp và 70% TT) và xây dựng

hệ thống DHTT hỗ trợ dạy học với các yêu cầu hệ

thống: Tăng tính tích cực hoạt động cá nhân trên cả 2

môi trường TT và trực tiếp; Tăng tính cộng tác nhóm,

làm việc nhóm và chia sẻ trên cộng đồng học tập;

Tăng tính tương tác đa chiều giữa SV-SV, SV-môi

trường, SV-nội dung, SV-GV và ngược lại Trong đó:

Ở môi trường trực tiếp truyền thống: Tận dụng

môi trường truyền thống trực tiếp để giao tiếp với

SV, giải thích những vấn đề khó khăn mà SV gặp

phải khi họ không thể hiểu ở lớp học TT

Ở môi trường TT: SV có thể tương tác nhóm

trực tiếp với các thành viên, hoạt động cộng tác giải

bài tập với các thành viên, hoạt động tự học, tương

tác với GV như trên lớp học truyền thống GV và

SV trong nhóm có thể họp nhóm qua mạng như cầu

truyền hình trực tiếp, các câu hỏi thảo luận của GV

đưa ra có thể gọi bất kì SV nào trả lời đều có sự theo

dõi thực trên lớp học TT Quá trình tổ chức DHTT

như tài liệu tham khảo [5]

Giai đoạn 2: Sau 5 năm thực hiện, phát triển mô

hình Blended Learning thực hiện sự kết hợp dạy học

truyền thống và TT không hoàn toàn hoặc hoàn toàn

với mức độ kết hợp có thể đến 80+% TT cho toàn bộ

ngành đào tạo ở tất cả các hệ đào tạo theo các công

thức 0 -10, 1-9, 2-8, 3-7, 4-6, 5-5, 6-4, 7-3,8 -2, 9-1,

10 -0

b Xây dựng các chiến lược sư phạm cho dạy học trên lớp và DHTT hiệu quả với các quy trình dạy học cụ thể, xây dựng khóa học cho một số học phần, xây dựng kịch bản dạy học, lập kế hoạch và đề cương từng học phần theo mô hình Blended learning

c Phát triển nguồn học liệu tiến đến xây dựng

được kho cơ sở dữ liệu dùng chung trong DHTT, đồng thời cải tiến, nâng cấp hay thiết kế mới hệ thống

hỗ trợ DHTT đáp ứng số lượng SV truy cập Tập huấn, đào tạo cho GV, SV những phần mềm hỗ trợ cần thiết khi thiết kế bài giảng hay tham gia học tập

d Xây dựng chiến lược kiểm tra đánh giá trên

môi trường Blended Learning phù hợp và đảm bảo chất lượng

4 Kết luận

Xuất phát từ thực tế tác động mạnh mẽ của CMCN 4.0 tới giáo dục, trên cơ sở đánh giá những vấn đề bất cập về đào tạo trực tiếp và đào tạo TT, tác giả đã đưa ra giải pháp sử dụng mô hình đào tạo Blended Learning, một giải pháp hữu hiệu cho đào tạo tại các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Phú Thọ để đáp ứng được cuộc CMCN 4.0 Mặt khác

mô hình này sẽ tạo tiền đề ban đầu cho các cơ sở đào tạo mở hệ đào tạo từ xa trong tương lai nhằm tăng nguồn tuyển sinh trong thời đại 4.0 Hiện tại mô hình này đang được nghiên cứu, vận dụng thử nghiệm ở một số môn học dưới hình thức dạy học đảo ngược, DHTT tại môn Mạng máy tính Khoa CNTT Trường Đại học Công nghiệp Việt Trì và bước đầu thu được kết quả khả quan

Tài liệu tham khảo

1 Nguyễn Thế Dũng (2015) Blearning và quá

trình đánh giá trong dạy học hướng đến phát triển năng lực người học Tạp chí Khoa học Trường Đại

học Sư phạm Hà Nội, số 08 năm 2015, trang 137

130-2 Nguyễn Hồng Sơn (2012), Đào tạo trực

tuyến ở Việt Nam: Thuận lợi và rào cản Hội thảo

Giải pháp e-learning trong đào tạo và bồi dưỡng GV Tiếng Anh, 12- 2012

3 Viện Sư phạm kỹ thuật (2017), Phát triển mô

hình Blended Learning ứng dụng trong đào tạo tại Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đề án cấp nhà

nước

4 Ngô Tứ Thành (2017), Đại học trực tuyến -

mối đe dọa lớn nhất đối với Đại học truyền thống,

5 Nguyễn Quốc Khánh (2018), Dạy học trực

tuyến ngành công nghệ thông tin theo tiếp cận tương

tác, Luận án tiến sĩ Đại học Bách Khoa Hà Nội

Trang 4

1 Đặt vấn đề

Cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0 đang

tạo ra những biến động mạnh mẽ, gây ảnh hưởng đến

mọi mặt của cuộc sống con người Cuộc cách mạng

này sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế, xã hội toàn

cầu, trong đó có nền giáo dục (GD) Nó đặt ra những

vấn đề cấp bách cho nền GD, nếu coi GD (đặc biệt

là giáo dục đại học (GDĐH)) là bước chuẩn bị hành

trang cần thiết cho người học tự tin bước vào cuộc

sống, thì nhà trường cần trang bị một cách đầy đủ

những kỹ năng cần thiết cho họ, không chỉ cho hiện

tại mà còn cả tương lai

Việc tiếp nhận, thay đổi để đáp ứng và theo

kịp tác động của CMCN 4.0 đang đặt ra cho ngành

GDĐH những vấn đề mang tính tất yếu và cấp thiết

Sự thay đổi nhanh chóng do cuộc cách mạng này

mang lại đã tạo ra nhiều thay đổi về cơ cấu và chất

lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực

chất lượng cao Nguồn nhân lực ấy không chỉ cần

kiến thức, kinh nghiệm mà còn cần có khả năng giải

quyết nhanh các vấn đề thực tiễn và tư duy sáng tạo

Muốn bắt kịp xu hướng này, ngành GD &ĐT cần

phải có những thay đổi toàn diện để phù hợp với xu

thế mới vì cuộc CMCN 4.0 đang đặt ra những thực

tiễn, thách thức đối với các trường đại học và đội ngũ

giảng viên (GV)

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Khái niệm Cách mạng Công nghiệp 4.0

a Định nghĩa

CMCN 4.0 là xu hướng tự động hóa và trao đổi

dữ liệu trong công nghệ (CN) sản xuất Bản chất của

CMCN 4.0 là dựa trên nền tảng CN số và tích hợp

tất cả các CN thông minh để tối ưu hóa quy trình,

phương thức sản xuất; nhấn mạnh những CN đang

và sẽ có tác động lớn nhất là CN in 3D, CN sinh học,

* Trường Đại học Thủ Dầu Một, Bình Dương

CN vật liệu mới, CN tự động hóa, người máy, Nó bao gồm các hệ thống không gian mạng, Internet vạn vật và điện toán đám mây Qua đó, người ta tạo ra những nhà máy thông minh với hệ thống máy móc

tự kết nối với nhau, tự tổ chức và quản lí Đây còn được gọi là cuộc cách mạng số, vì chúng ta sẽ được chứng kiến công cuộc “số hóa” thế giới thực thành thế giới ảo

Điều khác biệt giữa CMCN 4.0 với ba cuộc cách mạng trước đó là CMCN 4.0 không gắn với sự ra đời của một CN nào cụ thể mà là kết quả hội tụ của nhiều CN khác nhau, trong đó trọng tâm là CN nano,

CN sinh học và CN thông tin - truyền thông Cuộc CMCN 4.0 trực tiếp nảy nở từ cuộc cách mạng lần

ba, nó kết hợp các CN lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa Vật lý, Kỹ thuật số và Sinh học” Nó sẽ diễn ra trên 3 lĩnh vực chính gồm: CN sinh học, Kỹ thuật

số và Vật lý Những yếu tố cốt lõi của Kỹ thuật số trong CMCN 4.0 sẽ là: Trí tuệ nhân tạo (AI), Vạn vật kết nối - Internet of Things (IoT) và dữ liệu lớn (Big Data)

b Tác động của cuộc CMCN 4.0

Tác động rõ nhất của CMCN 4.0 là sự xuất hiện của robot có trí tuệ nhân tạo, với những tính năng có thể thay thế con người, thậm chí còn tối ưu hơn như khả năng tính toán, phân tích, ghi nhớ, cùng sức lao động bền bỉ, năng suất cao Cuộc CMCN 4.0 có thể tạo ra nguy cơ phá vỡ thị trường lao động trên cả thế giới và Việt Nam Bởi một khi tự động hóa thay thế con người trong toàn bộ nền kinh tế, số lượng người lao động mà máy móc có thể thay thế được

sẽ bị dư thừa và các công việc an toàn với thu nhập cao hơn có thể sẽ gia tăng Có thể hình dung, CMCN 4.0 sẽ tiến tới loại bỏ những công việc phổ thông hoặc mang tính chất lặp đi lặp lại, thay thế toàn bộ bằng máy móc Nhưng đồng thời, nhu cầu về nguồn lao động có tay nghề cao, tư duy sáng tạo, thực hiện

QUẢN TRỊ ĐẠI HỌC TRONG CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0

Nguyễn Thị Hòa*, Nguyễn Thị Kim Phượng*

ABSTRACT

The Industrial Revolution 4.0 has opened new opportunities and prospects for comprehensive development

in all aspects of life in general and the education sector in particular At the same time, there are challenges that require the education sector to be always ready to innovate and change not only knowledge and skills but also thinking to keep up with the changing every day of science and technology and requirements new world in the 4.0 era.

Keywords: Industrial revolution 4.0, university, education model, administration.

Ngày nhận bài: 28/4/2019; Ngày phản biện: 5/5/2019; Ngày duyệt đăng: 27/5/2019.

Trang 5

những công việc phức tạp, làm chủ máy móc lại tăng

lên

c Tác động của Cuộc CMCN 4.0 đối với GDĐH

Theo các chuyên gia trong ngành GD, trong thời

đại mới, người ta sẽ không còn quá quan trọng đến

bằng cấp một cách hình thức, đến nguồn gốc xuất

thân hay những mối quan hệ, vấn đề là kiến thức,

trình độ chuyên môn, kỹ năng Trong cuộc CMCN

4.0, cơ hội dành cho tất cả mọi người là như nhau

Ai có năng lực thực sự, có trình độ chuyên môn tốt,

có kỹ năng và có thể tạo ra nhiều giá trị cho xã hội,

người đó sẽ thành công

Đối với các trường đại học, CMCN 4.0 đòi hỏi

phải đào tạo ra nguồn nhân lực có các kỹ năng mới

và trình độ GD cao hơn so với 10 năm trước, bởi

thị trường đòi hỏi lao động có trình độ GD và đào

tạo cao hơn Cuộc CMCN 4.0 có ảnh hưởng trực

tiếp, lớn nhất đến GD - nơi trực tiếp đào tạo nguồn

nhân lực phục vụ cho CMCN 4.0 Để đáp ứng nhu

cầu nhân lực cho nền công nghiệp mới và đồng thời

tận dụng thế mạnh của CN thông tin (CNTT), nhiều

trường đại học trên thế giới đã và đang đổi mới toàn

diện và theo đó GD 4.0 đang được đánh giá là mô

hình phù hợp

2.2 Mô hình GD 4.0

GD 4.0 là một mô hình GD thông minh, liên kết

chủ yếu giữa các yếu tố nhà trường - nhà quản lý -

nhà doanh nghiệp, tạo điều kiện cho việc đổi mới,

sáng tạo và năng suất lao động trong xã hội tri thức

Mô hình này cũng thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp của

GV, sinh viên (SV); tạo điều kiện cho hợp tác giữa

GDĐH và sản xuất công nghiệp; gắn kết cùng các nỗ

lực phát triển kinh tế khu vực và địa phương… GD

4.0 giúp hoạt động dạy và học diễn ra mọi lúc và

mọi nơi, giúp người học có thể cá nhân hóa, hoàn

toàn quyết định việc học tập theo nhu cầu của bản

thân Bên cạnh đó, GD 4.0 sẽ giúp thay đổi tư duy

và cách tiếp cận về mô hình đại học Trường đại

học không chỉ là nơi đào tạo, nghiên cứu mà còn là

trung tâm đổi mới sáng tạo, giải quyết các vấn đề

thực tiễn, mang giá trị cho xã hội Trường không chỉ

đóng khung trong các bức tường của giảng đường,

lớp học hay phòng thí nghiệm, mà phải mở rộng kết

hợp với các doanh nghiệp, với thị trường lao động để

trở thành một hệ sinh thái GD

2.3 Yêu cầu của mô hình GDĐH 4.0

Độ phức tạp của thế giới “bên ngoài” phải được

phản ánh trong mọi bình diện công tác đào tạo bằng

xây dựng chuẩn hóa, và chuẩn hóa phải đi đôi với

đơn giản hóa Để tạo ra sự khác nhau cần thiết của

quá trình học đại học, phải dựa trên các năng lực tự

tổ chức của cá nhân lẫn tập thể SV; mà điều kiện tiên quyết cho phát triển năng lực đó là SV phải xác định được mục đích học của riêng họ GV có thể hỗ trợ quá trình này bằng cách khuyến khích SV tập trung vào 2 tiêu chí: tài năng và mục đích riêng để họ cam kết và thỏa mãn với việc học

Các thách thức tương lai là tính liên môn và xuyên suốt các môn học tăng lên Phải thấy rằng hàng loạt môn học, ngành học ngày càng trở nên lỗi thời Cái mà SV cần là cách nhìn cấu trúc tổng quan

về việc học để tích hợp kiến thức được thường xuyên tích lũy

Quá trình học cá nhân cần có cách trắc nghiệm

cá nhân Thông tin cần cho SV đang có sẵn rất nhiều

ở khắp nơi Thách thức là làm sao giúp họ sử dụng các khả năng mới này

Đặc biệt, Học (learning) là một hoạt động xã hội Khái niệm E-learning đang mai một và được thay thế bằng “chúng ta học suốt đời” (long live WE-learning) Phải mở toang khuôn viên nhà trường để mọi SV sử dụng không gian này làm chỗ gặp mặt, đọ sức, thảo luận và giao lưu Cần tạo ra các bối cảnh

xã hội thích hợp và dân chủ hơn để SV tranh luận về các vấn đề có thực trong cuộc sống liên quan đến họ

Việc chuyển giao kiến thức theo cách độc thoại giữa

thầy với trò không tạo ra được giá trị gia tăng Môi trường xung quanh rất quan trọng cho các quá trình nhận thức nên khả năng thiết kế và bố trí các không gian làm việc riêng cho SV sẽ mở ra lối thoát cho phong cách tư duy mới

2.4 Quản trị đại học trong CMCN 4.0

Thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện GD Việt Nam thực chất là một cuộc cải cách GD sâu rộng Nó hướng tới một mô hình mới về phát triển GD, nhằm phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, phát huy mặt tích cực của cơ chế thị trường đi đôi với việc bảo đảm định hướng Xã hội chủ nghĩa trong phát triển GD

Mục đích của việc đổi mới quản trị cơ sở GDĐH

là nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, bảo đảm công bằng xã hội trên cơ sở phát huy quyền tự chủ

và trách nhiệm giải trình của cơ sở Muốn vậy, cần một tiếp cận hệ thống trong việc giải quyết đồng

bộ các cơ chế hoạt động của cơ sở liên quan đến ba

mặt công tác chính: năng lực quản trị, bảo đảm chất

lượng và trách nhiệm giải trình.

Trang 6

chủ của cơ sở và được thực hiện theo nguyên tắc dân

chủ, thông qua hội đồng trường Vị trí, vai trò, nhiệm

vụ, quyền hạn, cơ cấu thành phần, lề lối làm việc của

hội đồng trường đã được quy định từ lâu trong Luật

GD 2005, được tiếp tục cụ thể hóa trong Luật GDĐH

2012 và đã được hướng dẫn thực hiện trong Điều lệ

trường đại học Tuy nhiên, đến nay, ở hầu hết các

cơ sở GDĐH, cơ chế này hầu như không được quan

tâm Nguyên nhân có nhiều, nhưng một trong những

nguyên nhân chính là lợi thế độc quyền và thói quen

bao cấp khiến các cơ sở công lập không phải bận tâm

nhiều đến sự thay đổi

Với yêu cầu đổi mới cơ chế tài chính và áp lực

cạnh tranh đang diễn ra trong môi trường đào tạo ở

nước ta, yêu cầu bức thiết là các cơ sở GDĐH cần

sớm xác lập và phát huy cơ chế quản trị thực chất,

không hình thức, để mỗi cơ sở hoạch định được

hướng phát triển đúng đắn, đóng góp có chất lượng

và hiệu quả cho việc đào tạo theo nhu cầu xã hội

b Xây dựng cơ chế bảo đảm chất lượng

Thực hiện quy định về kiểm định chất lượng của

Luật GD 2005, các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cơ

sở GDĐH đã được ban hành; các đơn vị chuyên trách

về đảm bảo chất lượng đã được thành lập ở nhiều cơ

sở GDĐH; việc tham gia vào các mạng lưới đảm bảo

chất lượng khu vực và quốc tế đã được tiến hành Đó

là những bước đi quan trọng trong đổi mới quản lý

chất lượng GD ở nước ta

Tuy nhiên vẫn chưa hình thành trong GDĐH

một cơ chế bảo đảm chất lượng đích thực, hiểu theo

nghĩa là cơ chế trong đó nhà trường xây dựng được

các quy trình, quy chuẩn và quy tắc trong dạy và học

để đảm bảo rằng người học thành công trong học tập

và đáp ứng được các yêu cầu về phẩm chất và năng

lực mà xã hội mong đợi Luật GDĐH đã có bước đi

đột phá trong việc giành hẳn một chương về “Bảo

đảm chất lượng và kiểm định chất lượng GDĐH”

Các cơ sở GDĐH cần căn cứ vào Điều 50 của Luật

GDĐH để xây dựng cơ chế đảm bảo chất lượng từ

việc thành lập tổ chuyên trách; xây dựng và thực hiện

kế hoạch; duy trì và phát triển các điều kiện đảm bảo

chất lượng; đến công bố công khai các điều kiện này

c Xây dựng cơ chế giải trình

Luật GDĐH đã rút ngắn rất nhiều khoảng cách

giữa quyền tự chủ trên văn bản với quyền tự chủ trên

thực tế Dĩ nhiên, việc giao quyền tự chủ đến đâu và

như thế nào còn phụ thuộc vào một số điều kiện liên

quan đến năng lực của cơ sở và kết quả kiểm định

chất lượng Có điều, còn một khiếm khuyết dai dẳng

trong quy định về quyền tự chủ Đó là sự không quan

tâm đầy đủ đến một điều kiện chính yếu, đó là trách

nhiệm giải trình của cơ sở

Cần xây dựng cơ chế giải trình, theo đó khi thực thi quyền tự chủ, nhà trường có trách nhiệm giải trình

về kết quả đầu ra với ba nơi: nội bộ nhà trường, cơ quan quản lý, công chúng Việc giải trình này phải được gắn kết với các kết quả kiểm định để đảm bảo

độ tin cậy Nó cũng phải được xây dựng trên cơ sở phát triển hệ thống thông tin quản lý GD để đảm bảo tính công khai, minh bạch trong giải trình Đó là các yêu cầu bắt buộc để không chỉ bảo đảm niềm tin của nhà nước và xã hội đối với nhà trường, mà còn để tạo dựng môi trường thông tin thuận lợi trong việc gắn kết cung với cầu trong đào tạo

3 Kết luận

CMCN 4.0 đã tác động mạnh mẽ, tạo nên những bước ngoặt lớn đối với nền GD thế giới nói chung, với Việt Nam nói riêng Trên cơ sở phân tích những nội dung trên, có thể thấy trong bối cảnh khoa học,

CN không ngừng phát triển như hiện nay, việc đổi mới tư duy, phương pháp dạy học để tạo ra nguồn lao động có chất lượng cao đang ngày càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết Việc thay đổi đó phải bắt đầu

từ tư duy của những người trong cuộc, đó là những người làm GD, trong đó có cả các trường đại học và đội ngũ GV trẻ Bởi lẽ, trong cuộc CMCN 4.0, những yếu tố mà các nước như Việt Nam đã và đang tự coi

là ưu thế như lực lượng lao động thủ công trẻ, dồi dào

sẽ không còn là thế mạnh Trong tương lai, người dân

có thể gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm bởi những lĩnh vực thủ công giờ đây máy móc đều có thể tác động đến, thậm chí làm tốt hơn Điều này đòi hỏi con người cần phải không ngừng trau dồi bản thân, khiến mình đứng ở vị trí cao hơn, có thể điều khiển được máy móc một cách thông minh và hợp lí thì mới không bị đào thải giữa rất nhiều CN tiên tiến

Tài liệu tham khảo

1 Quốc hội (2013), Luật Giáo dục Đại học, Hà

4 Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển truyền

thông KH&CN (2018), Đổi mới để thích ứng cuộc

Cách mạng công nghiệp 4.0, Hà Nội.

Trang 7

1 Giáo dục tích hợp STEAM + Arts

1.1 Khái niệm STEAM

STEAM là thuật ngữ viết tắt của 5 từ Science

(Khoa học), Technology (Công nghệ), Engineering

(Kỹ thuật), Arts (Nghệ thuật), Maths (Toán học)

Trong đó, Science (Khoa học) là quá trình nghiên

cứu, tìm hiểu, quan sát, đúc kết và tìm ra kiến thức,

quy luật của thế giới quan Quá trình này thường

được bắt đầu từ sự quan sát mọi thứ xung quanh,

đặt ra những câu hỏi về các mối quan hệ giữa các sự

vật và hiện tượng, rút ra quy luật về các mối quan

hệ, rồi tiến hành kiểm chứng lại quy luật để hình

thành nên kiến thức về vấn đề đã quan sát trong thực

tiễn Technology (Công nghệ) là những công cụ, sản

phẩm do con người tạo ra để phục vụ cho những mục

đích khác nhau giúp cuộc sống của mình dễ dàng

hơn, thông qua sự nắm bắt các quy luật của khoa học

Công cụ không nhất thiết phải là vật phẩm, chúng có

thể là một phương pháp, một quy trình nào đó với

các bước để thực hiện dễ dàng hơn một mục đích nào

đó Engineering (Kỹ thuật) là quy trình chế tác, thiết

kế, sắp xếp những công nghệ với nhau để tạo ra sản

phẩm, nhằm đáp ứng mục đích nào đó của con người

Quá trình kỹ thuật yêu cầu sự tìm tòi, thử nghiệm,

khám phá cho đến khi đạt được kết quả và mục đích

đề ra ban đầu Maths (Toán học) xuyên suốt quá trình

nghiên cứu khoa học để tìm ra kiến thức, quy luật tự

* SV; Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội

**TS, Viện SPKT, Trường ĐHBK Hà Nội

nhiên và quá trình kỹ thuật gắn liền với công nghệ, toán học là ngôn ngữ và công cụ truyền tải, thể hiện các mối quan hệ trong tự nhiên thông qua các biểu thức và thuật toán Toán học giúp ta đo lường, so sánh, dự đoán, lập công thức, số hóa các mối quan hệ vật chất, không gian, thời gian để tạo ra các sản phầm Công nghệ Arts (Nghệ thuật) mang ý nghĩa về sự sáng tạo, chế tác, làm sao cho sản phẩm vừa đẹp, vừa nổi bật có tính sáng tạo và thẩm mỹ Bên cạnh đó, nội hàm của Arts ở đây là tính nhân văn, từ các vấn đề như môi trường, văn hóa, xã hội… mang lại một sản phẩm vừa đặc trưng cho KHKT, vừa mang đậm tính nhân văn và sự sáng tạo nghệ thuật ở mỗi sản phẩm.Qua những định nghĩa thành phần trên, có thể thấy định nghĩa STEAM có các tính chất sau:

- STEAM có tính mục đích: Giúp cuộc sống trở nên dễ dàng hơn, tức là STEAM đi tìm những vấn đề

và khó khăn trong cuộc sống để giải quyết

- STEAM có tính quá trình: Đi từ tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi, thử nghiệm, khám phá, đánh giá và hiệu chỉnh đến khi giải quyết được vấn đề đặt ra

- STEAM thường dẫn đến giải pháp Công nghệ qua một quá trình với nhiều thất bại và khó khăn để thử nghiệm các giải pháp khác nhau

Như vậy, để giáo dục tích hợp (GDTH) STEAM,

cả ba yếu tố trên rất quan trọng, đặc biệt là yếu tố quá trình

The Revolution of Industry 4.0 - the Age of Science and Technology poses a need for the education sector

to equip students with skills, knowledge and attitudes The most important skill for students is the capibility of meeting the practical integration competencies How the teaching and learning process can convey content, develop the capacity and orient careers for students is the question for the educators Facing that situation, teachers are required to innovate teaching methods as well as renew the transfering of learning content And STEM, a term that first appeared in the US in 2002 and STEM + Arts (STEAM) now, has gradually become

a trend in worldwide and Vietnam Contributing to the development of STEAM in Vietnam, the paper will address the concept and philosophy of STEAM, propose the process of designing STEAM-oriented lessons and apply STEAM-oriented Question Sets for the teaching subject “The cycle of water in nature”.

Keywords: STEM + Arts, STEAM, Design lesson, STEAM-oriented question set

Ngày nhận bài: 22/5/2019; Ngày phản biện: 26/5/2019; Ngày duyệt đăng: 2/5/2019.

Trang 8

thuật, những kiến thức và sự hiểu biết về công nghệ

gắn liền với ứng dụng của nó trong thực tiễn Thiết

kế chương trình sao cho HS nhìn nhận các vấn đề

thực tiễn bằng con mắt của nhà khoa học, tức là từ

thực tiễn phát sinh câu hỏi, từ câu hỏi người học đưa

ra các phương án và tìm cách giải quyết vấn đề/câu

hỏi đó bằng những tri thức đã được học và sẽ được

học trong quá trình giải quyết vấn đề đặt ra

- GDTH STEAM diễn ra trong một chu trình

hợp nhất bao gồm các yếu tố sau: các nhà khoa học

nghiên cứu tìm ra kiến thức (Sience ® Knowledge),

các kỹ sư vận dụng kiến thức để tạo ra công nghệ

phục vụ cho con người, cho xã hội (Knowledge ®

Engineering ® Technology) Trong đó, toán học

(Maths) được sử dụng như công cụ để tính toán,

chứng minh, biện chứng cho một vấn đề nào đó, kết

hợp với nghệ thuật (Arts) để sản phẩm công nghệ có

tính sáng tạo, thẩm mỹ và quan trọng hơn cả là tính

nhân văn

Hình 1.1 Chu trình STEAM

2 Triển khai dạy học theo định hướng

STEAM+ART

Triển khai dạy học theo định hướng STEAM

xuất phát từ thực tiễn phát sinh câu hỏi, các tình

huống xảy ra có vấn đề cần giải quyết đối vớihọc

sinh ( HS), có tính chất trả lời các câu hỏi và vận

dụng kỹ năng kỹ thuật để giải quyết Có thể là ứng

dụng nào đó trong cuộc sống hàng ngày, con người

cần giải quyết một vấn đề hay công việc nào đó, thúc

đẩy HS tìm hiểu và thực hiện để đáp ứng nhu cầu

Vấn đề cũng có thể là một nhiệm vụ nghề nghiệp

mang tính định hướng cho HS Thứ hai, xác định vấn

đề cần giải quyết là xác đinh rõ vấn đề trọng tâm cần

giải quyết, có thể là một câu hỏi, một quy trình cần

được cải tiến, một sản phẩm đã lỗi thời cần có tính

mới để đáp ứng được nhu cầu hiện tại Xuất phát

từ ý tưởng chủ đề, tiến hành xác định rõ vấn đề cần

giải quyết ở đây là gì để chuyển sang bước 3 là vận

dụng những kiến thức, kỹ năng gì để giải quyết vấn

đề hay trả lời câu hỏi đã đặt ra đó Như vậy, mục tiêu học tập ở đây là những kiến thức, kỹ năng, thái độ và quan trọng hơn cả là năng lực được hình thành sau hoạt động STEAM của HS Từ đó, ở bước 4, người dạy tiến hành phân tích các nội dung STEAM liên quan, là những kiến thức trong chủ đề đã đưa ra liên quan đến tính sử dụng kiến thức Khoa học nào để giải quyết, sử dụng công cụ gì để tạo ra Công nghệ,

kỹ năng gì để thực hiện quy trình Kỹ thuật và tính toán những thông số, đo lường, dự đoán hay thu thập, phân tích số liệu như thế nào trong toán học, đặc biệt

là mang tính nghệ thuật và nhân văn trong cách giải quyết vấn đề đó Ở bước 5, việc dự kiến sản phẩm, xây dựng tiêu chí của sản phẩm là xây dựng bộ tiêu chí định hướng cho sản phẩm, tuy nhiên sản phẩm không phải là đầu ra của hoạt động STEAM, mà đầu

ra ở đây là quá trình tìm tòi, nghiên cứu, khám phá và chấp nhận sai lầm để hướng tới một sản phẩm hoàn thiện (có thể cải tiến ở tương lai) Tiêu chí sản phẩm nên được phân ra thành tính khoa học, kỹ thuật, thẩm

mỹ, tính an toàn, ứng dụng và tính nhân văn

t v , hình thành ý

ng ch

nh v c n gi i quy t

nh m c tiêu h c t p, chu u ra

B4: Phân tích các n i dung STEAM liên quan

Đặc biệt, tại bước 6, giáo viên (GV) cần xây dựng

bộ câu hỏi định hướng chủ đề STEAM, là các câu hỏi

đi từ khái quát đến cụ thể của vấn đề cần giải quyết, được đặt ra cho HS để gợi ý học sinh hình thành kiến thức nền, đề xuất giải pháp, nhiệm vụ nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra Bộ câu hỏi này rất quan trọng với chủ đề STEAM phát triển năng lực sáng tạo, định hướng tương lai, trong quá trình dạy và học, GV cần thường xuyên đặt câu hỏi định hướng hoặc có thể thiết kế bộ câu hỏi thông qua phiếu học tập Căn cứ vào 6 bước đầu này, ở bước 7, GV tiến hành lựa chọn phương pháp, phương tiện dạy học cho hoạt động

Trang 9

STEAM sao cho phù hợp với đối tượng HS, CSVC

và thời lượng cho phép Bước này dảm bảo cho HS là

người chủ động trong quá trình lĩnh hội tri thức, GV

chỉ là người định hướng các hoạt động của HS, tạo

nên bản thiết kế tiến trình tổ HĐDH hoàn chỉnh Cuối

cùng, GV phải tổng kết lại vấn đề, rút ra những ưu

nhược điểm của quy trình và sản phẩm, từ đó tìm ra

hướng khắc phục và cải tiến Cuối cùng, tại bước 8,

sau mỗi một hoạt động hay một bài học STEAM, GV

sẽ là người đánh giá lại HĐDH sao cho phù hợp và

dựa vào tiêu chí là mục tiêu đã đặt ra để đánh giá theo

thang điểm được quy ước trong lớp học Ở đây có thể

mở rộng chủ đề, đặt ra vấn đề từ chủ đề đã thực hiện

để giải quyết một vấn đề vĩ mô hơn

Trong các bước triển khai dạy học định hướng

STEAM, việc thiết kế bộ câu hỏi định hướng sẽ là

linh hồn của bài dạy

3 Bộ câu hỏi định hướng STEAM cho chủ đề

trải nghiệm “Vòng tuần hoàn nước trong tự nhiên”

3.1 Mục tiêu của chủ đề

Sau khi trải nghiệm các hoạt động thí nghiệm

của chủ đề “Vòng tuần hoàn nước trong tự nhiên”,

HS có khả năng:

Xác định sự thay đổi các trạng thái của nước

Trình bày vòng tuần hoàn nước trong tự nhiên

Vẽ sơ đồ vòng tuần hoàn nước trong tự nhiên

Phân tích các giai đoạn của vòng tuần hoàn nước

trong tự nhiên

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Hoạt động 1 Thí nghiệm hình thành kiến

thức nền

- Tổng quan về thí nghiệm: Trong thí nghiệm

này, chúng ta sẽ cùng nghiên cứu vòng tuần hoàn

nước trong tự nhiên bằng cách quan sát các hiện

tượng xuất hiện trong thí nghiệm với cốc nước đá

Bước 1: Cho nước nóng vào cốc, đợi khoảng

30s rồi quẹt que diêm đưa vào cốc nước (không chạm

vào nước) Quan sát hiện tượng xảy ra

Bước 2: Lấy que diêm ra và lấy cốc đã đựng đá

để lên trên cốc nước nóng trong 3 phút Tiếp tục quan

- Chuẩn bị:

Nguyên vật liệu + Dụng cụ Hình ảnh Số lượng (đơn vị)

- Tiến hành [2]:

Bước 1: Dùng bút lông vẽ mực nước bên dưới

của túi và những đám mây bên trên của cái túi có khóa đã chuẩn bị

Bước 2: Cho nước ấm đựng trong cốc vào cái

túi đã vẽ, chiều cao mực nước khoảng 1/5 chiều cao cái túi Cho vài giọt tạo màu (có thể xanh, đỏ, vàng… Trong hướng dẫn này, chúng tôi dùng màu xanh) vào nước rồi khóa kín lại

→ Chú ý: Do nước nóng nên HS chú ý cẩn thận khi cho vào túi

Bước 3: Quan sát hiện tượng và hoàn thành các

câu hỏi

Tài liệu tham khảo

[1] STEAM Cylce, https://www.knowatom.com

[2] Water cycle in a bag, https://greensborosci encecenter.wordpress.com/

[3] Bộ GD-ĐT (2019), Xây dựng và thực hiện

các chủ đề giáo dục STEM trong trường trung học,

Hà Nội

[4] Bùi Phương Nga, Lương Việt Hải (2018),

Khoa học 4, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

Trang 10

1 Đặt vấn đề

Module dạy học là một đơn vị chương trình dạy

học tương đối độc lập được cấu trúc đặc biệt nhằm

phục vụ cho người học và chứa đựng mục tiêu, nội

dung, phương pháp dạy học cũng như hệ thống các

công cụ đánh giá kết quả tạo thành một chỉnh thể Mỗi

module gồm các tiểu module, là các thành phần cấu

trúc module được xây dựng tương ứng với các nhiệm

vụ học tập mà người học phải thực hiện Đặc trưng cơ

bản của module dạy học bao gồm: tính trọn vẹn, tính

cá biệt, tính tích hợp, tính phát triển, tính tự kiểm tra,

đánh giá Việc tìm tòi, thiết kế bài dạy theo hướng phát

huy tính tích cực của cá nhân, tiếp cận năng lực người

học thông qua việc thiết kế nội dung bài giảng theo

module học chế tín chỉ hiện đang được tiến hành trở

nên phổ biến ở các trường sư phạm Nhiều người băn

khoăn với những câu hỏi như: Module dạy học là gì?

Nhận biết chúng bằng cách nào? Biên soạn từng nội

dung của môn học theo module dạy học như thế nào?

Bài viết này giới thiệu cách thiết kế module dạy học

trong đào tạo theo học chế tín chỉ

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Việc thiết kế Module dạy học phải đáp ứng

với mục tiêu đào tạo cử nhân đại học

Căn cứ mục tiêu đào tạo cử nhân trình độ cao

đẳng đã ghi tại điều 39, luật giáo dục “giúp SV có

kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ

bản để giải quyết những vấn đề thông thường thuộc

chuyên ngành được đào tạo”, tức là phải đáp ứng với

mục tiêu đào tạo cử nhân đại học

Căn cứ vào mục tiêu chung của học phần để

xác định mục tiêu cụ thể cho từng chương, từng bài

học, từng chủ đề của chương trình nên người dạy biết

* ThS Khoa Khoa học Tự nhiên, Trường ĐH Hùng Vương Phú Thọ

được mình phải dạy những gì và mức độ sâu nông

ra sao, còn người học cũng biết được sau khóa học mình phải nắm được những kiến thức kỹ năng gì

2.2 Việc thiết kế Module dạy học dựa vào đặc điểm nội dung chương trình học phần

Khi thiết kế Module cần phải dựa vào đặc điểm nội dung chương trình học phần Vì chương trình là bản phác thảo về nội dung kiến thức ở đó người dạy

có thể biết mình cần dạy những gì? và người học cần học những gì? Thông qua nội dung giáo dục các mục tiêu giáo dục sẽ được thực hiện

Việc dựa vào nội dung chương trình khi thiết

kế Module có vai trò quan trọng nhằm nhìn nhận và đánh giá một cách tổng quát nội dung chương trình hiện hành với những nội dung nào cần bổ sung, những nội dung nào cần phải sắp xếp lại, những nội dung nào không cần đưa vào bài giảng mà chỉ ghi chú ở danh mục tài liệu cho SV tham khảo thêm

2.3 Thiết kế Module dạy học phải dựa vào cấu trúc chung của Module dạy học với những yêu cầu riêng cần đáp ứng

Khi thiết kế Module dạy học phải dựa vào cấu trúc của Module bởi cấu trúc Module chính là bộ

“khung”, là “mô hình” để GV hình dung ra các bước cũng như quy trình thiết kế và triển khai Module dạy học Thành công của việc biên soạn Module phụ thuộc vào rất nhiều ở sự linh hoạt, sáng tạo, nhạy bén của người dạy trong việc tái thiết kế bộ “khung”.Khác với cấu trúc của giáo trình truyền thống, giáo trình Module được thiết kế theo dạng các hoạt dưới một cấu trúc chung gồm 3 phần: Đầu vào, thân Module, đầu ra nhằm tạo ra một chỉnh thể trọn vẹn có tính độc lập tương đối

3 Kỹ thuật thiết kế chương trình bài giảng theo cấu trúc Module

THIẾT KẾ MODULE DẠY HỌC TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ

Nguyễn Thị Hiền*

ABSTRACT

The development of the individual’s motivation, approach to learner capacity through the design of credit module modules is now becoming increasingly popular in pedagogical environments Many people have questions such as: What is a teaching module? Know how? How to compile each module content? Throughout this article, I would like to share some of the issues: “What is a teaching module?”, “Module design instruction module structure”, “ biology teacher”

Keywords: Module, engineering design lecture, lecture …

Ngày nhận bài: 3/5/2019; Ngày phản biện: 8/5/2019; Ngày duyệt đăng: 13/5/2019.

Trang 11

3.1 Cách xác định mục tiêu dạy học trong thiết

kế dạy học theo module

Mục tiêu Module là một gói kiến thức tương đối

trọn vẹn về kiến thức, kỹ năng, thái độ Là cái được

người dạy xác định trước khi bắt tay vào thực hiện

Mô đun, nó có tác dụng chỉ đạo hoạt động của người

dạy và người học đồng thời phản ánh một cách thiết

thực cái mà người học đạt được

- Mục tiêu phải ẩn chứa hoạt động mà người học

phải xác định để thực hiện Mục tiêu đặt ra phải được

mô tả rõ để người dạy có thể hình dung được hành

động học trong quá trình tổ chức hoạt động học tập

Do đó khi viết mục tiêu cần lưu ý một số vấn đề sau:

Khi học xong Module, tiểu Module, chủ đề người

học nhận thức thêm được gì? Người học biết làm gì?

Người học cảm thấy như thế nào?

Mục tiêu đề ra phải rõ ràng giữa 3 lĩnh vực: kiến

thức, kỹ năng, thái độ, để giúp SV định hướng được

ngay nhiệm vụ nhận thức trước khi đi vào nghiên cứu

Module, tiểu chủ đề

3.2 Cách thiết kế bài tập kiểm tra đầu vào cho

SV trong thiết kế dạy học theo module

Bài tập kiểm tra đầu vào của SV cần phải đảm

bảo một số yêu cầu sau: Kích thích hứng thú, khơi

dậy nhu cầu hiểu biết, khai thác được kinh nghiệm,

kỹ năng tri thức của SV đối với chủ đề Nội dung

của bài tập nhằm giới thiệu cho người học sơ lược

nội dung sẽ nghiên cứu ở chủ đề này Nội dung bài

tập nhằm kiểm tra mức độ nhận thức và hứng thú của

người học về nội dung chủ đề, giúp người dạy kịp

thời điều chỉnh cách thức tổ chức, nội dung, PP dạy

học phù hợp đem lại hiệu quả cao nhất cho việc dạy

học dưới hình thức Module

Có thể thiết kế một số loại bài tập như sau: Bài

tập trắc nghiệm; Bài tập tình huống; Bài tập tự luận;

Trò chơi

3.3 Cách thiết kế nhiệm vụ cho các hoạt động

trong thiết kế dạy học theo module

* Nhiệm vụ đặt ra phải được khái quát bằng câu

chữ ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, nếu nhiệm vụ trình

bày dài dòng cùng với cách diễn đạt khó hiểu sẽ giảm

hứng thú của người học Trong một hoạt động không

nên đặt ra quá nhiều nhiệm vụ làm cho người học khó

nắm bắt được những việc phải làm cần giải quyết

* Các tài liệu và thông tin nêu trong nhiệm vụ

phải cụ thể (tài liệu nào, trang bao nhiêu) Riêng

nguồn tài liệu cụ thể cho mỗi chủ đề sẽ được giới

thiệu ở đầu ra của mỗi một chủ đề, học xong chủ đề

này người học sẽ được giới thiệu tài liệu cần nghiên

cứu trước cho chủ đề tiếp theo

* Khi viết nhiệm vụ phải luôn chú ý tạo ra điều

kiện thuận tiện nhất cho người dạy và người học và cung cấp các phương tiện dạy học cần thiết như: tranh ảnh, phim tài liệu, sơ đồ

* Các nhiệm vụ phải được triển khai một cách lôgic để người học dễ dàng đạt được mục tiêu đề ra, giữa các nhiệm vụ của hoạt động phải có mối quan hệ chặt chẽ, có sự kế thừa và bổ sung cho nhau để hoạt động đề ra đạt kết quả

* Tên gọi của các nhiệm vụ: Các nhiệm vụ lý thuyết có thể sử dụng các từ ngữ bắt đầu cho nhiệm

vụ như sau: Trao đổi, nghiên cứu tài liệu, viết kế hoạch, phân tích, suy nghĩ, liệt kê, hồi tưởng, đọc, thảo luận Các nhiệm vụ thực hành có thể sử dụng các từ ngữ sau: Thiết kế, tiến hành, ứng dụng, khảo sát, xem băng, tổ chức, lựa chọn, thực hiện, thể hiện

3.4 Thiết kế bài giảng theo cấu trúc module đối với bài Hiện tượng liên kết gen dành cho sinh viên chuyên ngành Sư phạm Sinh học

CHỦ ĐỀ: Hiện tượng liên kết gen

(Nội dung Di truyền học trong học phần Sinh học đại cương, di truyền học )

Module 1: Một số khái niệm cơ bản

* Hệ vào

1 Mục tiêu của module

1.1 Kiến thức: Sau khi học xong module SV sẽ:

Phân tích được hiện tượng liên kết gen

1.2 Kỹ năng: Sau khi học xong module SV sẽ:

Có kỹ năng phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá

Có kỹ năng giải quyết các tình huống dạy học và giáo dục

1.3 Thái độ: Sau khi học xong module SV sẽ:

Nhận thức duy vật về vấn đề nghiên cứu Tác phong nghiên cứu khoa học cẩn thận, tỷ mỷ

2 Các tiểu module: Module này gồm các tiểu module sau: TM1 Khái niệm liên kết gen TM2

Điều kiện cơ bản xảy ra liên kết gen

3 Test vào

3.1 Khái niệm liên kết gen

a Các gen nằm trên một nhiễm sắc thể (NST) phân li cùng nhau và tạo nên một nhóm liên kết

b Số nhóm liên kết ở mỗi loài tương ứng với số lượng NST đơn trong bộ NST đơn bội của loài

c Số nhóm tính trạng di truyền tương ứng với số nhóm gen liên kết

d Cả 3 ý a, b, c ở trên

3.2 Điều kiện cơ bản xảy ra liên kết gen

a Các gen chi phối các tính trạng phải trội hoàn toàn

b Các cặp gen quy định tính trạng nằm trên cùng một cặp NST tương đồng

c Không có hiện tượng tương tác gen và di

Trang 12

truyền liên kết với giới tính.

d Các gen nằm trên các cặp NST đồng dạng

khác nhau

*Thân module

TM1 Khái niệm liên kết gen

Mục tiêu của tiểu module: Sau khi học xong SV

sẽ: Hiểu được khái niệm liên kết gen trên cơ sở khoa

học về di truyền Hiểu được khái niệm liên kết gen

trên quan niệm duy vật

Nội dung và phương pháp học tập

Tình huống vào bài:

Bài tập tình huống: Hãy phân tích thí nghiệm

sau đây của Morgan: Cho các ruồi giấm thuần chủng

mình xám, cánh dài lai với mình đen, cánh ngắn ở

F1 thu được toàn mình xám cánh dài, cho Ruồi đen

- ngắn dùng lai phân tích (1) - hợp về 2 cặp gen

lặn nên cho -(2) loại giao tử F1 mang kiểu gen dị

hợp về 2 cặp gen nhưng đã cho hai giao tử với tỉ lệ

xấp xỉ, dẫn đến sự hình thành ở F2 2 loại kiểu hình

xám- dài, đen - ngắn với tỉ lệ xấp xỉ tỉ lệ 1:1

Yêu cầu:

a/ Hãy lựa chọn phương án đúng cho các phần

khuyết trong thí nghiệm sau:

(1): Đồng hợp/dị hợp

(2): một/hai

b/ Giải thích tại sao cá thể F1 trong thí nghiệm

trên dị hợp về 2 cặp gen, tiến hành lai phân tích lại

chỉ thu được tỉ lệ 1:1, kết quả này có mâu thuẫn với

tỉ lệ 1:1 trong phép lai phân tích đối với một cặp gen

dị hợp mà Menden đã nghiên cứu hay không? Từ đó

cho biết nội dung định luật chi phối phép lai trên?

Qua phân tích tình huống đi đến kết luận sau:

Cho các ruồi giấm thuần chủng mình xám, cánh

dài lai với mình đen, cánh ngắn ở F1 thu được toàn

mình xám cánh dài, cho Ruồi đen - ngắn dùng lai

phân tích đồng/ dị hợp về 2 cặp gen lặn nên cho một/

hai loại giao tử F1 mang kiểu gen dị hợp về 2 cặp

gen nhưng đã cho hai loại giao tử với tỉ lệ xấp xỉ, dẫn

đến sự hình thành ở F2 2 loại kiểu hình xám- dài,

đen - ngắn với tỉ lệ xấp xỉ, chứng tỏ có sự di truyền

liên kết giữa hai tính trạng màu sắc thần và hình dạng

cánh

Nội dung định luật: Các gen nằm trên một NST

phân li cùng nhau và tạo nên một nhóm liên kết Số

nhóm liên kết ở mỗi loài tương ứng với số lượng

NST đơn trong bộ NST đơn bội của loài Số nhóm

tính trạng di truyền tương ứng với số nhóm gen liên

Câu hỏi định hướng nêu vấn đề: Vậy điều kiện của liên kết gen là gì:

TM2 Điều kiện cơ bản xảy ra liên kết gen.

Mục tiêu của tiểu module: Sau khi học xong SV

sẽ: Phân tích được điều kiện cơ bản để xảy ra hiện tượng liên kết gen trên cơ sở khoa học về di truyền Hiểu được bản chất của hiện tượng liên kết gen một cách duy vật

Nội dung và phương pháp học tập

Tình huống vào bài: Qua đánh giá câu hỏi (3.2) của Test đầu vào Trường hợp di truyền liên kết xảy

ra khi: các cặp gen quy định tính trạng nằm trên cùng một cặp NST tương đồng

Bài tập: Hãy cho biết cơ sở tế bào học của hiện tượng di truyền liên kết gen

4 Test kết thúc

4.1 Nội dung định luật liên kết gen

Hãy lựa chọn phương án đúng:

Các gen/tính trạng nằm trên một NST phân li cùng nhau và tạo nên một nhóm liên kết Số nhóm liên kết ở mỗi loài tương ứng với số lượng NST đơn trong bộ NST đơn bội/ lưỡng bội của loài Số nhóm tính trạng/gen di truyền tương ứng với số nhóm gen/tính trạng liên kết

4.2 Liên kết gen xảy ra trong trường hợp nào?

Hãy lựa chọn phương án đúng: Các cặp gen /

tính trạng quy định tính trạng / gen nằm trên cùng một/ các cặp NST tương đồng

Tài liệu tham khảo

1 Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức () Lý luận dạy

học đại học NXB Đại học Sư phạm.

2 Trần Ngọc Chuyên (1994), Cách soạn thảo

một đơn vị học thuật module, Viện nghiên cứu Đại

học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội

3 Quốc hội (2010) Luật Giáo dục, sửa đổi bổ

sung 2010

4 Quốc hội (2012) Luật Giáo dục đại học.

Trang 13

1 Đặt vấn đề

Ngày nay việc dạy học trực tuyến có thể giúp

cho sinh viên (SV) học ngay tại nhà hay bất cứ nơi

nào, điều này có thể giải quyết vấn đề thiếu hụt giáo

viên (GV) hay cơ sở vật chất Có nhiều trường đã

thay đổi hình thức dạy học, họ thay kiểu dạy học

truyền thống bằng dạy học trực tuyến Với kiểu dạy

học này trường có thể giúp người học linh hoạt được

thời gian, giảm thiểu cơ sở vật chất, giải quyết tình

trạng thiếu hụt GV nhưng chất lượng vẫn đảm bảo

giống như cam kết, thậm chí phương thức dạy học

này còn giúp học sinh tự tích lũy kiến thức từ nhiều

nguồn học liệu khác nhau, có được kỹ năng phân

tích, tổng hợp tài liệu tốt hơn kiểu học truyền thống

Tuy nhiên thiết kế bài dạy và tổ chức dạy học

trực tuyến như thế nào mới mang lại hiệu quả cũng

là một thử thách không nhỏ với đại đa số giảng viên

Bài viết này đề xuất một giải pháp để có thể giúp

giảng viên thiết kế bài giảng trực tuyến tốt hơn nhờ

vận dụng khoa học nhận thức

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Khoa học nhận thức trong thiết kế bài dạy

trực tuyến -Elearning

Theo Levonen và Biardeau (2001) “Có một sự

thay đổi tinh tế về những điều có thể làm được với

công nghệ và những gì nên làm với chúng để thiết kế

những ứng dụng dạy học đầy đủ ý nghĩa” Sự chuyển

đổi này bao gồm sự hợp nhất về sư phạm và công

nghệ với nhận thức của người học, thiết kế dạy học

và công nghệ dạy học

Thiết kế bài dạy E-learning cần tập trung vai trò

của ký ức làm việc, những kinh nghiệm mà người

học đã có với sự phát triển nhận thức, hiệu quả đào

* ThS Trường Đại học Thủ Dầu Một, Bình Dương

tạo mong muốn mang lại cho người học Cũng cần quan tâm tới giới hạn tự nhiên của ký ức làm việc

và tải nhận thức của người học để giao bài tập cho phù hợp vì dạy trực tuyến người dạy và người học không gặp nhau để kiểm tra trực tiếp thì cần phải giao nhiệm vụ theo từng nội dung cho phù hợp là điều quan trọng và cần thiết

2.2 Ký ức làm việc

Có 3 mô hình ký ức làm việc: Mô hình lưu trữ kép của Atkinson và Shiffrin, mô hình ký ức làm việc của Baddeley và mô hình chức năng của Anderson.Atkinson và Shiffrin đã nhấn mạnh đến cấu trúc

tự nhiên của ký ức và mô tả ba cấu trúc chủ yếu, ký

ức cảm giác, ký ức ngắn và ký ức dài hạn Hai ông cho rằng con người trải nghiệm thế giới thông qua các cảm giác của họ, lưu trữ tạm thời những cảm giác này dưới định dạng thô tại các vị trí cảm giác Các cảm giác này có thể được mã hoá thành một định dạng quen thuộc với ký ức và được lưu trữ có chủ

ý trong ký ức ngắn hạn, nếu con người nhắc lại sự trải nghiệm đã được mã hoá này thì nó có thể được chuyển vào ký ức dài hạn Sự tác động lẫn nhau giữa

ký ức làm việc và ký ức dài hạn được hợp nhất và không thể thiếu bất kỳ một ký ức nào cũng không thể hình thành năng lực nhận thức cho con người được

Do vậy việc khám phá năng lực nhận thức của con người trong môi trường multimedia cần phải đề cập đến cả ký ức làm việc lẫn ký ức dài hạn Hiện nay có hai lý thuyết về nhận thức định hướng sự phát triển của công nghệ dạy học với multimedia và cũng

là cơ sở để thiết kế bài dạy học E-learning hiệu quả là thuyết mã hoá kép và thuyết tải nhận thức

2.3 Lý thuyết mã hóa kép

Được xây dựng dựa trên sự phụ thuộc qua lại giữa

ký ức làm việc và ký ức dài hạn, Paivio (1971,1990)

VẬN DỤNG KHOA HỌC NHẬN THỨC VÀO THIẾT KẾ BÀI DẠY

TRỰC TUYẾN - ELEARNING

Đoàn Thị Mỹ Linh*

ABSTRACT

Nowadays online teaching has become popular and is growing widely However, in order for this form

of teaching to be effective, it is important to choose the content, the form of presentation, how to evaluate

it because the teacher does not directly monitor the learning attitude and capacity each student by direct contact Thanks to cognitive science, teachers can design online lessons in the direction of students 'self- learning, self-discovery and assessment of students' abilities more easily.

Keywords: Teaching online Elearning.

Ngày nhận bài: 9/4/2019; Ngày phản biện: 10/4/2019; Ngày duyệt đăng: 15/4/2019.

Trang 14

đã xây dựng lý thuyết nhận thức trong đó nhấn mạnh

đến hai loại thông tin: ngôn ngữ (verbal) hoặc phi

ngôn ngữ (nonverbal), ông đã phát biểu rằng ký ức

và nhận thức bởi hai hệ thống xử lý độc lập nhưng có

liên hệ qua lại về mặt chức năng

TT Giác quan

Thể thức Không dùng

2 Thính

giác Nghe một đoạn nhạc, tiếng máy,

tiếng loài vật

Nghe một bài giảng, một bài hát hay một bài đàm thoại

3 Xúc

giác Sờ một miếng vải, một loại vật

liệu

Đọc chữ Braille dành cho người mù, ra ký hiệu ngôn ngữ cho người câm

4 Vị giác Nếm thức ăn,

uống thử Chưa có

5 Khứu

giác Ngửi mùi thức ăn Chưa có

Hệ thống ngôn ngữ chịu trách nhiệm đại diện và

xử lý các thông tin có liên quan đến ngôn ngữ như

các từ, các câu, các bài luận, các bài giảng, các bài

hát, hệ thống không dùng ngôn ngữ chịu trách nhiệm

đại diện và xử lý các thông tin không phải là ngôn

ngữ như hình ảnh, âm thanh, xúc giác, vị giác Mỗi

hệ thống nắm giữ và xử lý những thể thức đại diện

cho cảm giác cụ thể để duy trì những thuộc tính nhất

định của các trường hợp vận động theo cảm giác

Chính vì vậy khi thiết kế một bài giảng E-learning

cần phải xem xét đến vai trò của việc dùng ngôn ngữ

hay không ngôn ngữ vì kết hợp của cả hai kênh cùng

lúc sẽ làm rối trách nhiệm xử lý thông tin của từng

hệ thống và làm ảnh hưởng đến chất lượng của bài

giảng Ví dụ cho học sinh quan sát một đoạn phim có

phụ đề làm cho người học vừa dọc phụ đề để xử lý

thông tin vừa xem hình ảnh làm ảnh hưởng đến việc

tiếp thu nội dung của đoạn phim mà người dạy muốn

truyền tải

2.4 Thuyết tải nhận thức

Tải nhận thức là một cấu trúc đa chiều có liên

quan đến việc tải ký ức, kinh nghiệm, kiến thức mà

bản thân người học có để hoàn thành một tác vụ mà

người học được giao Thuyết tải nhận thức cho rằng

người học có ba nguồn tải nhận thức độc lập với

nhau:

Tải nhận thức bắt buộc: Là đặc tính vốn có của

tải ký ức làm việc được yêu cầu để hoàn thành một tác vụ, nó nằm ngoài tầm kiểm soát của nhà thiết kế dạy học Đối với một số người học mới khi nhìn mớ tài liệu khổng lồ thì đòi hỏi phải tải một lượng nhận thức rất lớn làm cho người học cảm thấy chán nản Tuy nhiên với những người học có kinh nghiệm về vấn đề rồi học sẽ không lúng túng mà tải lượng lớn

ký ức mà sẽ tải đủ nhận thức để giải quyết nhiệm vụ được giao

Với đặc điểm như này thì khi thiết kế bài dạy E-Learning người dạy phải cho người học một lượng tài liệu, thông tin phù hợp để người học quen dần với việc tải nhận thức bao nhiêu là phù hợp sẽ làm cho người học cảm thấy hứng thú hơn khi tham gia vào việc học

Tải nhận thức bổ sung: Nếu tải nhận thức bắt buộc được quyết định bởi bản chất của tài liệu thì tải nhận thức bổ sung phản ảnh nỗ lực xử lý các tài liệu dạy học chứ không đóng góp gì cho việc học tập với tài liệu hay hoàn thành bài tập được giao

Ví dụ khi vừa quan sát phim ảnh vừa kèm theo hướng dẫn hợp với nhau thì tải nhận thức bổ sung giảm còn nếu chúng không được trình bày cùng một lúc thì tải nhận thức bổ sung sẽ tăng lên vì người học không cần phải đọc hướng dẫn rồi lưu trử thông tin vào bộ nhớ đến lúc xem phim minh họa thì người học phải tải thông tin để hiểu được ý nghĩa của đoạn phim

Như vậy khi thiết kế bài giảng người thiết kế cần chú ý đến việc sử dụng hướng dẫn và mô hình, phim ảnh hợp lý để giúp người học giảm tải nhận thức bổ sung nhưng hiệu quả giảng dạy vẫn tốt

Tải nhận thức thích hợp: Quá trình tạo ra tải nhận thức thích hợp chỉ có thể xảy ra khi tổng tải nhận thức bắt buộc và bổ sung ít hơn giới hạn của

ký ức làm việc Cũng giống như tải nhận thức bổ sung, tải nhận thức thích hợp chịu ảnh hưởng bởi nhà thiết kế dạy học vì khi người học giao nhiệm vụ hoàn thành nhiệm vụ thì người học phải tải nhận thức bắt buộc để thực nhiệm nhiệm vụ nhưng tải nhận thức bắt buộc chưa đủ thì tiếp tục tải nhận thức bổ sung, nhưng cả tải nhận thức bắt bược và tải nhận thức bổ sung vẫn chưa đủ để ký ức làm việc thì người học phải tiếp tục tải nhận thức thích hợp

Cả ba hình thức tải nhận thức này cùng phối hợp với nhau tạo thành tải ký ức làm việc đặt lên người học trong suốt quá trình học và có mối quan hệ theo hình sau:

Trang 15

Cột b: Tổng tải nhận thức vượt quá của khả năng

ký ức làm việc tức người học đã tải nhận thức nặng

hơn so với yêu cầu của nhiệm vụ học Làm cho người

học cảm thấy mệt mỏi, sợ hải dẫn đến chất lượng

cũng đạt được không cao

Cột c: Tổng tải nhận thức bắt buộc và bổ sung

bằng với dung lượng của ký ức làm việc thì người

học lại làm tốt các tác vụ học tập của mình

Cột d, e: Tổng tải nhận thức ít hơn dung lượng

của ký ức làm việc thì người học có thể tăng khả

năng xử lý của mình bằng cách tải thêm nhận thức

thích hợp để làm tăng hiệu quả nhận thức tổng thể

2.5 Thiết kế bài dạy E-Learning dựa vào

thuyết nhận thức

Giai đoạn thiết kế bài dạy nhất thiết phải vận

dụng các lý thuyết học tập Thiết kế dạy học nhằm

cấu trúc thông tin để người học có thể học dễ dàng

và thích thú trong suốt quá trình học Tức là thiết kế

dạy học để người học có thể tải nhận thức vừa đủ để

thực hiện nhiệm vụ của mình giống như cột c hay chí

ít cũng là cột d, e

Muốn làm được điều này người thiết kế bài dạy

thường chú ý đến nội dung bài học, ý tưởng thiết kế

E-Learning, giao diện E-Learning

2.6 Xác định nội dung

Nội dung người thiết kế thường chú ý 5 vấn đề

sau: Các đặc tính của người học Mối quan hệ giữa

các ý tưởng với các chủ đề và các mục tiêu Thời

lượng dạy học Giới hạn của các hệ thống phân phối

tài liệu Khả năng xây dựng phần mềm của nhóm

thiết kế

Sau khi đã lựa chọn nội dung và cách trình bày,

GV cần phải rà soát lại lần cuối để loại bỏ các nội

dung không cần thiết

2.7 Ý tưởng thiết kế E-learning

Để ứng dụng công nghệ theo hướng tích cực hóa

quá trình nhận thức của người học, nhà thiết kế phải

đưa ra nhiều cách trình bày nội dung nhằm tạo điều

kiện cho người học tiếp cận theo nhiều cách khác

nhau khi họ được trao quyền chủ động, phải thiết

kế theo hướng mở ra nhiều tương tác giữa người

học và chương trình dạy học nhằm tạo cho người

học có cảm giác được khám phá, được đóng vai trò

của người phát hiện và xử lí các tình huống thực tế

Ngoài ra người thiết kế luôn phải chú trọng đến việc giao bai tập để theo dõi tình hình làm việc của SV khi không có sự giám sát trực tiếp của GV Thiết kế công

cụ, tiêu chí đánh giá cho bài tập cũng cần chú trọng

và đảm bảo tuân thủ các lý thuyết về nhận thức

2.8 Thiết kế giao diện E-Learning

Thiết kế phải xây dựng được kiểu trình bày đặc trưng cho sản phẩm của mình, cụ thể là sẽ sử dụng các kiểu phông chữ, màu sắc nào cho rõ ràng và hài hòa? Các nút tương tác để ở đâu? và các kênh thông tin được dùng phối hợp với nhau như thế nào để tránh quá tải nhận thực cho người học? Giao diện phải được tính toán để việc trình bày nội dung rõ ràng và nhất quán

3 Kết luận

Trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam, một trong những giải pháp trọng tâm là phát triển đội ngũ nhà giáo và thay đổi hình thức giảng dạy Dạy học trực tuyến là một trong các giải pháp cần quan tâm bởi những ưu điểm của nó mang lại và phù hợp trong bối cảnh bùng nổ công nghệ như hiện nay Để dạy học trực tuyến thành công thì việc thiết kế bài giảng chiếm vai trò chủ đạo bởi

GV không trực tiếp giảng dạy mà tri thức SV có được chủ yếu là do tự bản thân tương tác với bài giảng mang lại Do đó việc thết kế bài giảng nhất thiết phải dựa vào khoa học nhận thức để bài giảng vừa sức, học sinh tải nhận thức đủ, đúng và theo hướng tăng dần để đạt mục tiêu bài học Nếu thiết kế không tốt không làm học sinh cảm thấy hứng thú, mệt mỏi, quá tải, học trong trạng thái đối phó thì không thể đạt kết quả tốt được Thiết kế bài dạy E-Learning vẫn phải tuân thủ những yêu cầu của hoạt động học tập của

SV, nghĩa là hoạt động lên lớp của GV và hoạt động

tự học của SV phải diễn ra nhịp nhàng

Tài liệu tham khảo

1 Đỗ Mạnh Cường (2004), Tham khảo về thiết

kế dạy học, Đại học Sư Phạm KT TPHCM.

2 Ngô Anh Tuấn (2012), Công nghệ dạy học,

NXB Giáo dục

3 Thái Duy Tuyên (2008), “Phương pháp dạy

học truyền thống và đổi mới”, NXB Giáo dục, Hà

Nội

4 Peter E Doolittle (2008), Multimedia,

Cognitive load, and pedagogy, Virginia Polytechnic

institute & State Universty, USA

5 Dionysios Politis (2008), E-learning

Methodologies and Computer Applications in Archaeology, information Science Reference (an

imprint of IGI Global), 701 E Chocolate Avenue, Suite 200., 2008

Trang 16

1 Giới thiệu

Trong những năm gần đây lý thuyết Chaos và

hộp thay thế (S-box) được đề xuất và sử dụng nhiều

trong bảo mật nói chung và bảo mật ảnh nói riêng

Nhiều hệ thống bảo mật ảnh dựa trên các hàm Chaos

khác nhau Việc kết hợp S-box và Chaos trong bảo

mật ảnh cũng đã được nghiên cứu Thiết kế S-box

cũng được nghiên cứu nhiều: Chen đề xuất phương

án thiết kế S-box sử dụng hàm Baker 3 chiều;

Muhammad Asim sử dụng hàm PLCM để tạo hàm

S-box; năm 2013 Mona Dara và Koorous Manochehri

đề xuất phương án thiết kế S-box dựa trên khóa bảo

mật và hàm Logistic; Cristian-Iulian Rîncu,

Vasile-Gabriel IANA 2014 kết hợp nhiều hệ thống Chaos là

Logistic, Tent, PLCW khác nhau để tạo ra S-box; F

J Luma1 đề xuất phương án tạo S-box sử dụng một

số hàm Chaos 2D cross, 2D logistic và 2D Cat để tạo

S-box [3]

Bài báo đề xuất phương án sử dụng hàm Chaos

Economic [1] và Logistic cải tiến [2] để tạo S-box

Sử dụng hàm Chaos 2D cross để thay đổi vị trí điểm

ảnh, thay đổi giá trị điểm ảnh sử dụng S-box và

Chaos Logistic 1D Sử dụng các tiêu chuẩn đánh giá

chất lượng ảnh bảo mật để kiểm tra phương án đề

xuất

2 Các hàm Chaos

2.1 Logistic map cải tiến [2]

Hàm Logistic cải tiến được biểu diễn như sau:

G(m) là hàm điều chỉnh với tham số điều chỉnh

* ThS Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

m Giá trị m càng lớn đặc tính chaos càng được thể

hiện rõ Hàm floor được sử dụng để đảm bảo giá trị

2.3 2D cross

2 1

1 1

x n và x n+1 là giá trị thứ i và i+1 Khi µ=2 và k=6 thì

hệ thống trở thành hệ thống Chaos động có tính bảo mật cao [3]

3 Đề xuất mô hình mã hóa và giải mã ảnh

3.1 Mô hình mã hóa: Sơ đồ mã hóa ảnh đề xuất

trên hình 3.1, quá trình mã hóa (bảo mật ảnh) được chia làm 3 bước với chức năng khác nhau, sử dụng ba KEY khác nhau để mã hóa cho từng bước

Bước 1: Thiết kế S-box sử dụng KEY1, 2 hàm

Chaos là Economic và Logistic cải tiến

Bước 2: Sử dụng hàm 2D Cross để tiến hành xáo trộn vị trí của hàng và xáo trộn vị trí cột Bước 3: Thực hiện thay đổi giá trị các điểm ảnh

dựa vào hàm Logistic

3.2 Quá trình giải mã: Các bước ngược với

quá trình mã hóa ảnh

4 Kết quả và đánh giá

4.1 Kết quả ảnh mã hóa và giải mã

Việc thực hiện thuật toán đề xuất được tiến hành trên ảnh lena.jpg, BVB.jpg, chelsea.jpg., khóa mã hóa cho các KEY như sau:

Keywords: Chaos, S-box, Image encryption, replacement box, image security.

Ngày nhận bài: 28/4/2019; Ngày phản biện: 8/5/2019; Ngày duyệt đăng: 14/5/2019.

Trang 17

Ảnh gốc

S-box (Thay đổi giá trị Pixel)

Thay đổi vị trí

4.2 Phân tích độ nhạy của khóa

- Phân tích độ nhạy của khóa S-box: Thuật toán

sử dụng bộ khóa KEY1 để tạo Sbox KEY1: x0, a, b,

c, γ, k, và α

Mô phỏng sử dụng tham số sau: KEY1:

x0=0.345678901234567; a=4; b=0.6; c=0.5; γ=3 ; k=0.22; α=3.7890123456; Ta thu được Sbox có giá trị như sau:

Ảnh trước mã hóa Ảnh sau mã hóa Ảnh giải mã đúng

Hình 3.2 ảnh lena.jpg trước, sau mã hóa giải mã đúng

Trang 18

Khi thay đổi giá trị khởi tạo x0 của khóa với giá trị

mới x0=0.345678901234566 hoặc α=3.7890123455

ta thu được S-box có giá hoàn toàn khác với bảng

S-box trên

Độ nhạy ảnh giải mã với các khóa

Trong KEY1 thay đổi x0=0.345678901234567

sang x0=0.345678901234566 thì kết quả giải mã sai,

hình 3.3 là ảnh trước mã hóa, giải mã với khóa đúng

và giải mã với khóa sai

Ảnh trước mã hóa Ảnh giải mã đúng với

x0=0.345678901234567

Ảnh giải mã sai với x0=0.345678901234566

Hình 3.3 Ảnh Chelsea.jpg khi giải mã đúng

và giải mã sai

4.3 Phân tích Histogram

Historgram phản ảnh phân bố thống kê giá trị

của các điểm ảnh

4.4 Phân tích tương quan

Bảng 4.1 chỉ ra hệ số tương quan giữa ảnh gốc

và ảnh mã hóa, hình 3.5 chỉ ra đồ thị tương quan của ảnh gốc và ảnh mã hóa theo đường chéo

50 100 150 200 250

Tuong quan theo duong cheo anh chua ma hoa

50 100 150 200 250 300

Tuong quan theo duong cheo anh ma hoa

5 Kết luận

Qua các kết quả đánh giá ở trên phương án bảo mật ảnh đề xuất đảm bảo yêu cầu của ảnh bảo mật Không gian khóa ảnh bảo mật lớn, đặc biệt có không gian khóa KEY1 dùng tạo S-box sử dụng Chaos Economic và Logistic cải tiến rất lớn

Tài liệu tham khảo

1 S S Askar, A A Karawia, and Ahmad

Alshamrani, Image Encryption Algorithm Based on

Chaotic Economic Model, Mathematical Problems in

Engineering Volume 2015, Article ID 341729

2 Liu Rui, New Algorithm for Color Image

Encryption Using Improved 1D Logistic Chaotic Map, The Open Cybernetics & Systemics Journal,

2015, Volume 9 211

3 F J Luma1, H S Hilal and A Ekhlas, New

Dynamical Key Dependent S-Box based on chaotic maps, IOSR Journal of Computer Engineering

(IOSR-JCE) e-ISSN: 0661,p-ISSN:

2278-8727, Volume 17, Issue 4, Ver IV (July - Aug 2015),

PP 91-101

Bảng 4.1 Bảng hệ số tương quan giữa ảnh gốc và ảnh mã hóa

Chiều ngang Chiều dọc Đường chéo Chiều ngang Chiều dọc Đường chéo

lena.jpg 0,91385 0,95154 0,88882 -0,00583124 -0,0021475 -0,00051947BVB.jpg 0,95353 0,964006 0,93004 0,011569036 0,00263515 -0,0052455Chelsea.jpg 0,95275 0,95651 0,92247 0,008623245 0,00472025 0,001385926

Histogram ảnh lena.

jpg Histogram ảnh lena. jpg sau mã hóa

Hình 3.4 Histogram ảnh trước và sau mã hóa

Trang 19

1 Đặt vấn đề

Hoạt động trải nghiệm (HĐTN) trong Chương

trình giáo dục phổ thông (CTGDPT) 2018 còn khá

mới mẻ đối với giáo viên (GV) và học sinh (HS)

Nhu cầu được tiếp cận tư liệu, tham khảo và tìm các

kết nối nhằm khai thác thông tin phục vụ cho HĐTN

của GV và HS là rất lớn Trong lĩnh vực giáo dục

đào tạo, việc sử dụng mạng internet, các website đã

và đang giữ vai trò quan trọng trong việc giảng dạy,

học tập Website có nhiều ưu điểm vượt trội so với

các phương tiện thông tin truyền thống như văn bản

in, sách vở: không bị giới hạn về không gian hiển

thị; thông tin đa dạng; giúp tăng khả năng tương

tác với người sử dụng; khả năng cập nhật thông tin

nhanh chóng Với những lợi ích trên, qua nền tảng

weebly chúng tôi đã thiết kế website với tên miền

2.1 Thiết kế website trên nền tảng weebly

Website là một tập hợp các trang web có liên

quan đến nhau, bao gồm các nội dung như văn bản,

hình ảnh, video, âm thanh… Website thường chỉ nằm

* TS Trưởng Bộ môn Giáo dục học, Khoa Khoa học giáo dục, ĐHSP

TP.HCM

** SV Khóa 42 Khoa Khoa học Giáo dục, ĐHSP TP.HCM

trong một tên miền hoặc tên miền phụ trên World Wide Web (tất cả các trang web truy cập công khai chung với nhau tạo thành World Wide Web, viết tắt là www) của Internet Trang mạng có thể được xây dựng

từ các tệp tin HTML (trang mạng tĩnh) hoặc vận hành bằng các CMS chạy trên máy chủ (trang mạng động) Thiết kế website là quá trính bao gồm nhiều kỹ năng, hoạt động khác nhau nhằm xây dựng website Thiết kế web bao gồm thiết kế giao diện web, mã hóa HTML, lập trình web và tối ưu các công cụ tìm kiếm Ngày nay, với sự phát triển nhanh của internet, việc xây dựng website đã phần nào được đơn giản hóa, người thiết kế không cần có nhiều hiểu biết về website vẫn

có thể tự tạo dựng một website cho riêng mình mà không cần thuê nhà thiết kế website chuyên nghiệp Hiện tại có nhiều website hỗ trợ việc xây dựng website

uy tín và dễ sử dụng như Google Sites, Weebly, Wix, WebStarts… Chúng tôi chọn Weebly để hỗ trợ công việc thiết kế website, đây là một công cụ tạo web trực tuyến trên internet với các ưu điểm: Dễ sử dụng, có nhiều công cụ hỗ trợ việc thiết kế, giao diện bắt mắt, không yêu cầu quá cao về hiểu biết ngôn ngữ lập trình, hiểu biết về thiết kế website; Tiết kiệm thời gian qua việc không sử dụng quá nhiều code, tốc độ chỉnh sửa

và đăng tải website nhanh; Tiết kiệm chi phí Không tốn phí cho việc dịch vụ thuê thiết kế website Weebly cung cấp sẵn hosting và domain của Weebly cho người thiết kế; Khả năng tùy biến cao (có khả năng dùng host của weebly kết nối với domain đã có của nhà thiết kế)…

THIẾT KẾ WEBSITE HỖ TRỢ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH LỚP 11 QUA ỨNG DỤNG WEEBLY

Nguyễn Đắc Thanh* Nguyễn Thị Thanh Ly**, Nguyễn Thiên Ý Nhi**

ABSTRACT

The use of information technology applications to design (introduce) website is an educational trend

in which researchers are interested recently The article mentions the results of the website that support organizing experiential learning activities for students according to the new general education program based on the Weebly designer platform This article focuses on introducing the way to access the website studied by the authors to design and organize experiential learning activities for 11 th - grade students when operating the experiential learning program in high school.

Keywords: Design website, support experiential learning activities, experiential learning activities for

11 th -grade students, Weebly application.

Ngày nhận bài: 3/5/2019; Ngày phản biện: 6/5/2019; Ngày duyệt đăng: 14/5/2019.

Trang 20

2.2 Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp lớp

11 trong CTGDPT mới

Khi nghiên cứu về lí thuyết học trải nghiệm,

David A.Kolb tin rằng, học tập là quá trình trong đó

tri thức được kiến tạo thông qua sự chuyển hoá của

kinh nghiệm [4], muốn phát triển năng lực cho HS

đòi hỏi phải qua con đường trải nghiệm CTGDPT

được thông qua ngày 26/12/2018, các tác giả thống

nhất xác định khái niệm về HĐTN như sau: HĐTN

là hoạt động giáo dục do nhà giáo dục định hướng,

thiết kế và hướng dẫn thực hiện, tạo cơ hội cho HS

tiếp cận thực tế, thể nghiệm các cảm xúc tích cực,

khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng

hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học để thực hiện

những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những

vấn đề của thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình,

xã hội phù hợp với lứa tuổi; thông qua đó, chuyển

hoá những kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức

mới, hiểu biết mới, kĩ năng mới góp phần phát huy

tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với cuộc

sống, môi trường và nghề nghiệp tương lai [2] Mục

tiêu, nội dung Chương trình HĐTN hướng nghiệp ở

trường THPT nói chung và lớp 11 nói riêng hướng

đến 4 mạch nội dung chính là: Hoạt động hướng vào

bản thân; Hoạt động hướng đến xã hội; Hoạt động

hướng đến tự nhiên; Hoạt động hướng nghiệp [3]

2.3 Giới thiệu về website hỗ trợ tổ chức HĐTN

cho HS lớp 11 trong CTGDPT mới trên nền tảng

weebly

Trên cơ sở nghiên cứu công trình [1] về thiết kế

website trong dạy học, cùng với nghiên cứu nền tảng

weebly Chúng tôi tạo lập một website hoạt động trên

internet, có độ phân giải cao phù hợp với màn hình

máy tính, laptop Website hoạt động tốt nhất trên các

trình duyệt web có tốc độ xử lý duyệt web và hỗ trợ

chất lượng hình ảnh tốt như Google Chrome, Cốc

Cốc, Địa chỉ website: https://hoatdongtrainghiem

weebly.com/

Mở trình duyệt web đã cài bằng cách nhấn

vào shortcut của trình duyệt web đó trên màn hình

desktop, hoặc vào thư mục cài đặt trình duyệt

website và mở trình duyệt web Khi trình duyệt web

đã khởi động xong, nhập địa chỉ của website https://

hoatdongtrainghiem.weebly.com/ vào dòng address

của trình duyệt, sau đó nhấn phím Enter trên bàn

phím;

Giao diện: Website được xây dựng với giao diện

chung (theo giao diện mẫu của weebly) cho tất cả các

trang của website Nếu cần thay đổi giao diện cho tất

cả các trang trong website, chúng tôi chỉ cần thay đổi

trang giao diện mẫu do weebly cung cấp, đây là một

ưu điểm khi sử dụng weebly làm công cụ hỗ trợ xây dựng website Giao diện chung của website bao gồm:Trên cùng của các page trong website là logo website, bên cạnh logo là thanh menu chính của website Logo website và thanh menu trên cùng này

sẽ luôn hiện trên các page website, không bị mất đi

dù kéo xuống dưới cùng của các page;

Bên dưới logo website và thanh menu là page banner kèm theo page tittle (biểu ngữ và tiêu đề trang); Phía dưới là panner là nội dung của page; Ở phía bên phải là 4 mục menu dọc

Hình 2.1 Giao diện chính của website

Hệ thống menu trên website: Hệ thống menu

của website hỗ trợ tổ chức HĐTN cho HS lớp 11 được đặt ở phần đầu trang cũng như xuyên suốt những trang còn lại, đảm bảo cho người dùng cảm thấy thuận tiện cho việc truy cập cũng như thao tác trên website Để mở một mục trong thanh menu ngang, chúng ta có hai bước:

- Bước 1: người dùng di chuyển con trỏ chuột đến mục trên thanh menu (khi di chuyển con trỏ chuột đến mục bất kì trên thanh menu ngang, màu chữ của mục menu đó sẽ chuyển từ màu trắng sang màu đỏ), sau đó các tag menu con của mục đó sẽ tự động xuất hiện nếu có (khi di chuyển con trỏ chuột đến mục menu con bất kì, màu nền của tag menu con

đó sẽ thay đổi)

- Bước 2: người dùng lựa chọn click trỏ chuột vào mục menu cần sử dụng, webside sẽ đưa người dùng đến trang của mục menu đó

Hình 2.2 Tóm tắt các menu ngang của website

Menu trang chủ: Ở giao diện menu trang chủ,

Trang 21

chúng ta sẽ thấy hệ thống bố cục chính của website,

cùng với đó là hình nền Trường Đại học Sư phạm

TP.HCM và bài giới thiệu về website, công dụng mà

website mang lại, bài giới thiệu về HĐTN

Menu văn bản: Menu Văn bản giới thiệu cho

người dùng các văn bản về CTGDPT tổng thể và văn

bản về HĐTN Muốn xem đầy đủ văn bản cũng như

download về máy, người dùng có thể click trỏ chuột

và dòng chữ màu đỏ “Click vào đây” ở cuối mỗi mục

tương ứng, website sẽ dẫn đến địa chỉ chứa văn bản

trong tab mới của trình duyệt web, người dùng có

thể xem và download tài liệu về máy tại trang tab

mới này

Menu hệ thống giáo án: Menu Hệ thống giáo

án cung cấp cho người dùng những giáo án đặc trưng

cho từng loại hoạt động trong văn bản HĐTN Muốn

xem và download về máy, người dùng click trỏ chuột

vào chữ màu đỏ “Tải xuống” Khi click trỏ chuột vào

một trong những memu con như “Hoạt động hướng

vào bản thân”, website sẽ đưa người dùng đến với

trang chính của menu con này Qua đó, cung cấp cho

người dùng những thông tin, hình ảnh cần thiết, trực

quan về hoạt động như mục tiêu của hoạt động, giáo

án, địa điểm tổ chức, thiết bị giáo dục cần thiết…

Menu mục tiêu: Menu Mục tiêu nêu lên mục

tiêu giáo dục cho người học gồm những mục: Mục

tiêu giáo dục chung; Mục tiêu giáo dục Tiểu học;

Mục tiêu giáo dục THCS; Mục tiêu giáo dục THPT

Các page menu con nêu rõ mục tiêu giáo dục chung

cũng như cho từng cấp học Kèm theo đó là những

hình ảnh minh họa, giúp người sử dụng hình dung

được một phần nào đó về hình thức và mục tiêu

chính của hoạt động trải nhiệm đối vói từng cấp học

Menu phương thức tổ chức: Các hình thức tổ

chức được nhóm tác giả [5] phân tích khá chi tiết

cách thức tổ chức Dựa vào đó, chúng tôi thiết kế các

giáo án, các hình thức tổ chức cụ thể để chuyển tải

HĐTN Menu Phương thức tổ chức giới thiệu cho

người dùng các phương thức tổ chức HĐTN gồm các

nội dung sau: Khám phá; Thể nghiệm - tương tác;

Cống hiến; Nghiên cứu

Giao diện của trang menu này cung cấp khái

niệm và từng loại hình tương ứng với từng phương

thức tổ chức HĐTN Muốn tìm hiểu rõ hơn về từng

loại hình trong mỗi phương thức tổ chức HĐTN,

người dùng có thể click trỏ chuột vào menu con như

“Phương thức có tính khám phá”, website sẽ đưa

người dùng đến trang tương ứng là “Phương thức có

tính khám phá” Trang này sẽ cho người dùng những

hình ảnh đặc trưng cho tùng loại hình tổ chức, và khi

click vào hình, người dùng sẽ có những thông tin về

khái niệm, các bước tổ chức của loại hình đó

Menu loại hình - Quy mô: Loại hình: Hoạt

động câu lạc bộ; Hoạt động theo chủ đề; Sinh hoạt

lớp; Sinh hoạt dưới cờ Quy mô: Nhóm; Lớp học;

Khối lớp; Trường học

Menu yêu cầu cần đạt: Menu này cung cấp cho

người dùng những yêu cầu cần thiết khi tham gia HĐTN Người dùng muốn xem những thông tin chi tiết hơn thì click trỏ chuột vào tiêu đề của mỗi mục hoặc rê trỏ chuột lên thanh menu chính, di chuyển đến menu Yêu cầu cần đạt, menu này sẽ xuất hiện 2 menu con, sau đó click vào mục cần xem

Một số mục menu khác: Ngoài một số menu

chính đã giới thiệu ở trên, website còn một số menu phụ khác, được đặt bên phải trong bố cục của trang website gồm: tin tức, học liệu, liên hệ - góp ý, nhà tài trợ

3 Kết luận

Tận dụng sức mạnh của công nghệ trong lĩnh vực giáo dục là một trong những giải pháp góp phần tiết kiệm công sức của GV và HS Thiết kế website trên nền tảng weebly để hỗ trợ tổ chức HĐTN lớp 11

đã được chúng tôi thiết kế, sử dụng qua khảo nghiệm

ý kiến đánh giá của các GV, HS tại một số trường THPT đều có phản hồi tích cực trong việc hỗ trợ

họ thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ HĐTN Dựa vào thế mạnh lưu trữ thông tin và liên kết giữa các nguồn học liệu từ internet, website sẽ được tiếp tục cập nhật, bổ sung, kết nối để có thể phục vụ cho GV,

HS trong tổ chức HĐTN theo CTGDPT mới đề ra

Tài liệu tham khảo

1 Vũ Thị Ân (2009), Xây dựng website và cơ sở

dữ liệu hỗ trợ cho dạy - học môn tự nhiên - xã hội ở Tiểu học, đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Bộ, mã số đề tài: B2007.19.29, Trường Đại học

Sư phạm TP Hồ Chí Minh

2 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương

trình giáo dục phổ thông tổng thể phê duyệt ngày

26/12/2018, Hà Nội

3 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương

trình giáo dục phổ thông - HĐTN và HĐTN, hướng nghiệp, phê duyệt ngày 26/12/2018, tr.3, Hà Nội.

4 Kolb, D (1984), Experiential Learning: experience as the source of learning and development, Englewood Cliffs, NJ: Prentice Hall.

5 Nguyễn Thị Liên (2017), Tổ chức HĐTN

sáng tạo trong nhà trường phổ thông, NXB Giáo dục

Việt Nam, Hà Nội

Trang 22

1 Đặt vấn đề

Chương trình môn Toán THCS mới công bố

ngày 26-12-2018, được xây dựng theo định hướng

hình thành và phát triển năng lực Toán học (TH)

Các năng lực TH cần hình thành cho học sinh (HS)

là: Năng lực tư duy và lập luận TH, năng lực giải

quyết vấn đề TH, năng lực mô hình hoá TH, năng

lực giao tiếp TH và năng lực sử dụng công cụ và

phương tiện TH; trong đó, năng lực sử dụng công cụ

và phương tiện học toán khá mới đối với GV và HS

Nội dung Tam giác đồng dạng là nội dung quan trọng

trong chương trình Hình học phẳng ở THCS Đây là

nội dung có nhiều cơ hội để kết nối với thực tiễn cuộc

sống như đo gián tiếp khoảng cách từ một điểm đến

một điểm khác không thể đến được, đo chiều cao của

tòa nhà mà không cần đo trực tiếp, …Vấn đề đặt ra

là: Cần thiết kế bài tập Tam giác đồng dạng như thế

nào nhằm tạo cơ hội để HS hình thành và phát triển

năng lực sử dụng công cụ và phương tiện học Toán

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Năng lực sử dụng công cụ và phương tiện

học Toán

Theo Niss (1999): “Năng lực TH như khả năng

của cá nhân để sử dụng các khái niệm TH trong một

loạt các tình huống có liên quan đến TH, kể cả những

* GV Trường THCS Bình Trị Đông A -TP Hồ Chí Minh

** GV Trường ĐH Sài Gòn

lĩnh vực bên trong hay bên ngoài của TH”

Các năng lực TH cần hình thành cho HS là: Năng lực tư duy và lập luận TH; Năng lực giải quyết vấn đề TH; Năng lực mô hình hoá TH; Năng lực giao tiếp TH và Năng lực sử dụng công cụ và phương tiện học toán

Mục đích then chốt của việc học toán là để trở thành những con người biết cách suy nghĩ giải quyết các vấn đề trong học tập và đời sống Muốn vậy, mỗi người cần biết cách “chuyển dịch”, mô tả các tình huống (có ý nghĩa toán học) đặt ra trong các vấn đề thực tiễn phong phú sang một bài toán hay một mô hình TH thích hợp, tìm cách giải quyết các vấn đề

TH trong mô hình được thiết lập, từ đó đối chiếu, giải quyết các vấn đề thực tiễn đề ra” Hơn nữa, năng lực môn toán còn được thể hiện ở việc sử dụng thành thạo và linh hoạt các công cụ và phương tiện học toán, đặc biệt là phương tiện khoa học công nghệ để tìm tòi, khám phá và giải quyết vấn đề TH

Chương trình môn Toán đã xác định các thao tác nhằm góp phần hình thành và phát triển năng lực sử dụng công cụ và phương tiện học toán Đó là:

- Nhận biết được tên gọi, tác dụng, quy cách sử dụng, cách thức bảo quản các công cụ, phương tiện học toán (mô hình hình học phẳng và không gian, thước đo góc, thước cuộn, tranh ảnh, biểu đồ, );

- Trình bày được cách sử dụng công cụ, phương tiện học toán để thực hiện nhiệm vụ học tập hoặc để diễn tả những lập luận, chứng minh TH;

THIẾT KẾ BÀI TẬP TAM GIÁC ĐỒNG DẠNG NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỬ DỤNG CÔNG CỤ

VÀ PHƯƠNG TIỆN TOÁN HỌC

Nguyễn Văn Dũng*, Phạm Sỹ Nam**

ABSTRACT

Vietnamese Mathematics Curriculum define mathematical competences, these are: Thinking and reasoning mathematically; Posing and solving mathematical problems; Modelling mathematically; Communicating; Making use of aids and tools Making use of aids and tools is new competence However, the content similar triangle has many opportunities to connect with real life such as indirectly measuring the distance from one point to another point that cannot be reached, measuring the height of the building without measuring directly so, this is a content with great potential for developing this competence This paper presents the design of similar triangular exercises to help students develop making use of aids and tools competence.

Keywords: Design, exercises, math, triangles, capacity development, mathematical means

Ngày nhận bài:21/5/2019; Ngày phản biện:22/5/2019; Ngày duyệt đăng:23/5/2019.

Trang 23

- Sử dụng được máy tính cầm tay, một số phần

mềm tin học và phương tiện công nghệ hỗ trợ học

tập;

- Chỉ ra được các ưu điểm, hạn chế của những

công cụ, phương tiện hỗ trợ để có cách sử dụng hợp

Năng lực được hình thành, phát triển thông qua

hoạt động và thể hiện ở sự thành công trong hoạt

động thực tiễn.Năng lực có thể hiểu là sự kết hợp của

các kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, thái độ và hành vi

của một cá nhân để thực hiện một công việc có hiệu

quả Bởi vậy, để phát triển năng lực môn Toán cần tổ

chức cho HS thực hành khám phá, vận dụng, luyện

tập kiến thức, kĩ năng TH.Thông thường, người ta

cần tìm kiếm các cơ hội giúp HS phát triển các thành

tố của năng lực môn Toán

2.2 Thiết kế bài tập Tam giác đồng dạng nhằm

phát triển năng lực sử dụng công cụ và phương

tiện họctoán

Nhóm tác giả xây dựng một số bài tập nhằm

góp phần tạo cơ hội để HS thực hiện các thao tác cụ

thể Trong mỗi bài tập được thiết kế, chúng tôi chỉ ra

các thao tác mà HS thực hiện để giải quyết bài tập

đó.Qua đó HS có cơ hội phát triển năng lực sử dụng

công cụ và phương tiện học toán

Bài 1: Cho ∆ABC vuông tại A, AB = 3cm, AC

= 4cm Biết ∆NMP ~ ∆ABC Hãy vẽ ∆MNP, biết độ

dài cạnh nhỏ nhất của ∆MNP là 4,5cm

Các thao tác thực hiện lời giải:

- Biết được tên gọi, tác dụng, quy cách sử dụng

công cụ, phương tiện học toán

- Xác định phương tiện được sử dụng để vẽ độ

dài, góc vuông: eke hoặc thước có chia độ dài sẵn

- Sử dụng thước có chia độ dài sẵn, vẽ độ dài AB

= 3cm, trên đường thẳng vuông góc với AB tại A, lấy

điểm C sao cho AC = 4cm

- Trình bày được cách sử dụng công cụ, phương

tiện học toán để thực hiện nhiệm vụ học tập hoặc để

diễn tả những lập luận, chứng minh TH.

Sử dụng tính chất của hai tam giác đồng dạng và

Cách 2: Chỉ sử dụng thước thẳngThước có chia độ dài sẵn, vẽ độ dài NM = 4,5cm, trên đường thẳng vuông góc với NM tại N, lấy điểm

P sao cho NP = 6cm

- Bước đầu nhận biết được một số ưu điểm, hạn

chế của những công cụ, phương tiện hỗ trợ để có cách sử dụng hợp lí.

- Nhận ra được việc sử dụng eke thuận tiện cho việc vẽ góc vuông mà không phải đo góc vuông.Nếu sử dụng thước thẳng thì cần phải căn chỉnh

vị trí thước khi vẽ đường thẳng vuông góc với đường thẳng cho trước

Bài 2: Cho ∆ABC vuông tại A, AB = 3cm, AC

= 4cm Biết ∆NMP ~ ∆ABC Hãy vẽ ∆MNP, biết độ dài cạnh nhỏ nhất của ∆MNP là 4,5cm

Các thao tác thực hiện lời giải:

- Nhận biết được tên gọi, tác dụng, quy cách sử dụng phương tiện học toán

- Xác định phương tiện được sử dụng để vẽ độ dài, góc vuông: eke hoặc thước có chia độ dài sẵn

- Sử dụng được dụng cụ và công cụ toán học.

Sử dụng tính chất của hai tam giác đồng dạng và máy tính cầm để tính độ dài:

- Sử dụng eke, lấy đỉnh góc vuông của eke là A,

vẽ đoạn thẳng AB = 3cm theo một cạnh góc vuông của eke, vẽ đoạn AC = 4 cm theo cạnh góc vuông còn lại của eke Ta được tam giác vuông ABC thỏa mãn

- Sử dụng eke, lấy đỉnh góc vuông của eke là

N, vẽ đoạn thẳng NM = 4,5 cm theo một cạnh góc vuông của eke, vẽ đoạn NP = 6 cm theo cạnh góc vuông còn lại của eke Ta được tam giác vuông ABC thỏa mãn

Cách 2: Chỉ sử dụng thước thẳnghoặc thước

có chia độ dài sẵn, vẽ độ dài AB = 3cm, trên đường thẳng vuông góc với AB tại A, lấy điểm C sao cho

AC = 4cm

- Bước đầu nhận biết được một số ưu điểm, hạn

chế của những công cụ, phương tiện hỗ trợ để có cách sử dụng hợp lí.

Trang 24

- Nhận ra được việc sử dụng eke thuận tiện cho

việc vẽ góc vuông mà không phải đo góc

Nếu sử dụng thước thẳng thì cần phải căn chỉnh

vị trí thước khi vẽ đường thẳng vuông góc với đường

thẳng cho trước

Bài 3: Cho ∆ABC có AB = 3cm, BC = 5cm; AC

= 4cm Cho ∆NMP đồng dạng ∆ABC có tỉ số đồng

dạng k = 2 Hãy vẽ ∆MNP?

Các thao tác thực hiện lời giải:

- Nhận biết được tên gọi, tác dụng, quy cách sử

dụng phương tiện học toán

- Xác định phương tiện được sử dụng để vẽ độ

dài, góc vuông: eke hoặc thước có chia độ dài sẵn

- Sử dụng được các công cụ và phương tiện toán

- Sử dụng eke, lấy đỉnh góc vuông của eke là M,

vẽ đoạn thẳng MN = 6cm theo một cạnh góc vuông

của eke, vẽ đoạn AC = 8 cm theo cạnh góc vuông còn

lại của eke Ta được tam giác vuông MNP thỏa mãn

Cách 2: Chỉ sử dụng thước thẳng hoặc thước có

chia độ dài sẵn, vẽ độ dài MN = 6cm, trên đường

thẳng vuông góc với MN tại M, lấy điểm P sao cho

MP = 8cm

- Bước đầu nhận biết được một số ưu điểm, hạn

chế của những công cụ, phương tiện hỗ trợ để có

cách sử dụng hợp lí

- Nhận ra được việc sử dụng eke thuận tiện cho

việc vẽ góc vuông mà không phải đo góc

Nếu sử dụng thước thẳng thì cần phải căn chỉnh

vị trí thước khi vẽ đường thẳng vuông góc với đường

thẳng cho trước

Bài 4: Em hãy đề xuất cách tính chiều cao của

bức tường mà không cần đo trực tiếp như hình vẽ

Các thao tác thực hiện lời giải:

- Nhận biết được tên gọi, tác dụng, quy cách sử

dụng phương tiện học toán

- Xác định phương tiện được sử dụng để vẽ độ

dài, góc vuông: eke hoặc thước có chia độ dài sẵn

- Sử dụng các công cụ và phương tiện học toán

- Sử dụng thước thẳng vẽ đường thẳng a nằm

ngang, Trên a lấy điểm B vẽ đoạn thẳng AB vuông

góc với a, chiều cao của bức từng là AB

- Dùng Eke vẽ hai đoạn thẳng b, c vuông góc với

a tại E, D, trên b, c lấy 2 điểm F, K sao cho 3 điểm

A, F, K thẳng hàng

- Dùng thước thẳng nối A, F và K để xác định điểm C trên a (F, K, C thẳnghàng)

- Dùng thước thẳng đo độ dài CB = a, CD = b,

DK =h

- Diễn tả những lập luận, chứng minh toán học;

Ta có: ∆CDK ~ ∆CAB Suy ra: CD CK DK

và phương tiện học toán; phân tích những bước thực hiện để giải bài toán nhằm hình thành và phát triển năng lực này Các bài toán được xây dựng cùng các phân tích về các thành tố là cơ sở để có thể phát triển các năng lực sử dụng công cụ và phương tiện học toán thông qua học tập nội dung Tam giác đồng dạng

Tài liệu tham khảo

1 Bộ GD và ĐT (2018), Chương trình giáo dục

phổ thông môn Toán Hà Nội

2 Đặng Thành Hưng (2014), Chương trình và

sách theo tiếp cận năng lực.

3 Vũ Đình Phượng (chủ biên), Phạm Sỹ Nam, Bùi Hải Quang, Hoàng Nam Thắng, Lê Sơn Tùng,

Lưu Lý Tưởng Ôn tập - kiểm tra, đánh giá năng lực

học sinh môn Toán, lớp 8 - học kì 2, Nxb Đại học Sư

phạm Hà Nội

4 Đỗ Đức Thái (chủ biên), Đỗ Tiến Đạt, Lê Tuấn Anh, Đỗ Đức Bình, Phạm Xuân Chung, Ngyễn

Sơn Hà, Phạm Sỹ Nam, Vũ Thị Thúy (2018), Dạy

học phát triển năng lực môn Toán THCS, Nxb Đại

học Sư phạm Hà Nội

Trang 25

1 Mở đầu

Toán học là một trong những môn học rất quan

trọng trong hệ thống các môn học có trong hệ thống

giáo dục Nó có mặt ở tất cả các bậc học, từ mẫu giáo

cho đến đại học Toán học giúp người học rèn luyện

khả năng tư duy logic, độc lập trong suy nghĩ, có khả

năng tự học và tự giải quyết vấn đề không chỉ với

những con số mà còn với nhiều vấn đề tư duy logic

khác Tư duy toán học là biết cách vận dụng tư duy

vào giải toán Vì vậy, để học tốt môn Toán, người học

cần có tư duy tốt Ở cuối cấp tiểu học, HS đã có thể

bước đầu thực hiện các thao tác tư duy với độ phức

tạp cao hơn, có khả năng bước đầu nhận thức được

các quy luật, bản chất của các vấn đề, bài toán mà

các em đối mặt Do vậy, việc rèn luyện tư duy sáng

tạo là cần thiết, giúp các em những bước đi đầu tiên,

cơ bản trong quá trình nhận thức thế giới khách quan

một cách ngày càng bản chất hơn

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Tư duy và tư duy sáng tạo

Trong cuộc sống có rất nhiều điều con người

chưa biết, do đó đòi hỏi con người phải tìm hiểu

những cái chưa biết đó, phải vạch ra được cái bản

chất và những quy luật tác động của chúng Quá

trình nhận thức đó gọi là tư duy

Theo V A Cruxtexki [1], đã đưa ra hình ảnh ba

đường tròn đồng tâm để biểu diễn quá trình sáng tạo

của con người Theo ông quan niệm, quá trình sáng

tạo phải bắt nguồn từ một ý tưởng mới và tư duy sáng

tạo là sự kết hợp cao nhất, hoàn thiện nhất của tư duy

độc lập và tư duy tích cực, tạo ra cái mới có tính hiệu

quả và chất lượng

* TS Trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên

Tư duy sáng tạo có những tính chất cơ bản như: tính mềm dẻo, tính nhuần nhuyễn, tính độc đáo, tính hoàn thiện, tính nhảy cảm vấn đề Bên cạnh đó còn

có các yếu tố khách quan khác như: tính chính xác, năng lực định giá trị và năng lực định nghĩa lại Các tính chất không tách rời nhau mà chúng có quan hệ mật thiết với nhau, bổ trợ bổ sung cho nhau Khả năng dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác (tính mềm dẻo) tạo điều kiện cho việc tìm được nhiều giải pháp trên nhiều góc độ

và tình huống khác nhau (tính nhuần nhuyễn) và nhờ

đề xuất được nhiều khương án khác nhau mà có thể tìm được phương án mới, đặc sắc (tính độc đáo) Như thế có thể thấy rằng ba tính chất này là ba yếu tố có bản, cốt lõi của sáng tạo, góp phần tạo nên tư duy sáng tạo, đỉnh cao nhất của hoạt động trí tuệ của con người [1]

2.2 Một số biểu hiện đặc trưng của HS lớp 5

có tư duy sáng tạo

Tư duy của HS lớp 5 là giai đoạn cuối của tư duy thao tác cụ thể Lúc này, các em đã đạt được những tiến bộ về cả lĩnh vực nhận thức không gian Có thể coi đây là giai đoạn đầu của tư duy hình thức Phần lớn HS lớp 5 đã có khả năng khái quát hoá trên cơ sở phân tích, tổng hợp và trừu tượng hoá bằng trí óc đối với các biểu tượng sự vật đã tích luỹ được trong kinh nghiệm HS lớp 5 có một số biểu hiện đặc trưng của

tư suy sáng tạo:

THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP HÌNH HỌC CHO HỌC SINH LỚP 5 NHẰM PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO

Lâm Thùy Dương*

ABSTRACT

Creative thinking is the highest level of human intellectual activity, which is able to create new ideas and out of the box solutions In this article, I am referring to the design of geometry exercises to foster creative thinking for 5th graders.

Keywords: Thinking, creative thinking, mathematical thinking, primary education.

Ngày nhận bài: 15/5/2019; Ngày phản biện: 16/5/2019; Ngày duyệt đăng: 21/5/2019.

Trang 26

- Có khả năng vận dụng thành thạo những kiến

thức đã biết vào bài toán cụ thể.

Khi đứng trước một bài toán mới, các em biết

biến đổi những bài tập đó về những dạng bài tập đã

biết, quen thuộc để giải một cách dễ dàng, từ đó HS

thể hiện được tính sáng tạo khi giải những bài toán

đó

- Có khả năng phát hiện, đề xuất cái mới từ một

vấn đề quen thuộc

Khi đứng trước một bài tập, các em nhận ra

được vấn đề mới trong các điều kiện, vấn đề quen

thuộc, tránh được sự rập khuôn máy móc, dễ dàng

điều chỉnh được hướng giải, đây cũng là biểu hiện

tạo điều kiện cho HS rèn luyện tính mềm dẻo của tư

duy

- Có khả năng phối hợp nhiều phương pháp

khác nhau để giải quyết một bài toán

Đứng trước một bài toán mang tính sáng tạo cao,

các em biết vận dụng rất nhiều kiến thức, phương

pháp và cách giải khác nhau Đồng thời cũng phải

biết huy động những kĩ năng, kinh nghiệm của bản

thân cộng với sự nỗ lực, phát huy khả năng tư duy

sáng tạo cao của cá nhân để tìm tòi, giải quyết vấn đề

- Có khả năng tìm được nhiều cách giải khác

nhau đối với bài toán đã cho

Khi đứng trước những bài toán có những quan

hệ có thể xem xét dưới nhiều khía cạnh khác nhau

Đứng trước những bài toán loại này, các em biểu hiện

khả năng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt

động trí tuệ khác, thể hiện khả năng nhìn một đối

tượng toán học dưới nhiều khía cạnh khác nhau

2.3 Thiết kế hệ thống bài tập hình học cho HS

lớp 5 để phát triển tư duy sáng tạo

2.3.1 Định hướng thiết kế hệ thống bài tập

Thiết kế hệ thống bài tập hình học để phát triển

tư duy sáng tạo cho HS lớp 5 có hiệu quả, cần xác

định một số định hướng như sau:

Định hướng 1: Hệ thống bài tập cần đươc thiết

kế sao cho đảm bảo tính hệ thống, đa dạng, phù hơp

với nhiều đối tượng HS với khả năng học tập khác

nhau, trong đó có tính đến sự sáng tạo trong lời giải

Định hướng này giúp cho GV xác định được

tính đa dạng của các cách xử lí khi giải toán; khả

năng tìm được nhiều giải pháp trên nhiều góc độ và

tình huống khác nhau

Định hướng 2: Hệ thống bài tập cần đươc thiết

kế sao cho bồi dưỡng và phát triển các kiến thức cơ

bản.

Định hướng này giúp cho GV thiết kế bài tập

nhằm củng cố các kiến thức cơ bản, nhưng đồng thời rèn luyện các thao tác phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa nhằm giúp HS dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác và điều chỉnh kịp thời hướng suy nghĩ khi gặp trở ngại

Định hướng 3: Hệ thống bài tập cần đươc thiết

kế sao cho bồi bưỡng được tính sáng tạo của HS.

Định hướng này giúp cho giáo viên đặt các bài toán trong mối liên hệ với thực tiễn, xây dựng mô hình, đối chiếu lời giải với thực tế, kiểm tra và điều chỉnh

2.3.2 Thiết kế bài tập hình học nhằm phát triển

tư duy sáng tạo cho HS lớp 5

Trong mục này tôi thiết kế một số bài tập minh họa nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho HS:

Bài toán 1: Có bao nhiêu tam giác trong hình

Cách 1: Ta thấy cứ nối đỉnh O với một cặp điểm trên đường thẳng AE sẽ xác định được một tam giác Vậy có bao nhiêu cặp điểm (hay bao nhiêu đoạn thẳng) trên đường thẳng AE thì có bấy nhiêu tam giác Ta liệt kê các đoạn thẳng:

Từ điểm A ta vẽ được 4 đoạn thẳng: AB, AC,

AD, AE

Từ điểm B ta vẽ được 3 đoạn thẳng: BC, BD, BE

Từ điểm C ta vẽ được 2 đoạn thẳng: CD, CE

Từ điểm D ta vẽ được 1 đoạn thẳng: DE

Số đoạn thẳng tạo thành là: 4 + 3 + 2+ 1 = 10 (đoạn thẳng)

Có 10 đoạn thẳng, do đó có 10 tam giác trên hình vẽ

Ngoài cách giải như trên, HS có thể xác định

số tam giác cần tìm bằng số đoạn thẳng trên đường thẳng AE, hay HS cũng có thể đánh số trên mỗi tam giác nhỏ Sau đó ghép hai (ba, bốn) tam giác nhỏ để được các tam giác mới Số các tam giác trong hình

Trang 27

bằng tổng số các tam giác nhỏ và các tam giác mới

Từ bài toán đếm số hình như trên giáo viên có

thể mở rộng bài toán bằng cách tăng số điểm trên

đường thẳng AE hay yêu cầu HS đặt các đề toán

trong thực tế bằng cách thay đối tượng điểm bởi đối

tượng khác, chẳng hạn như:

Bài toán: Có 5 đội bóng đá thi đấu theo thể thức

vòng tròn, một đội đấu với các đội còn lại Hỏi có

bao nhiêu trận đấu diễn ra?

Bài toán 2: Cho tam giác ABC Hãy chia tam

giác ABC thành 4 tam giác có diện tích bằng nhau

A

Hướng dẫn:

Đây là bài toán chia (cắt) hình tam giác để

các tam giác có diện tích bằng nhau Để đưa ra các

phương án chia (cắt) hình HS cần nắm chắc về mối

quan hệ giữa các yếu tố chiều cao, cạnh đáy và diện

tích của tam giác Nếu kẻ một đường thẳng đi qua

đỉnh thì cần dựa vào tỉ lệ diện tích để chia độ dài cạnh

đối diện với đỉnh đó thành các phần theo tỉ lệ diện

tích đã cho, tương ứng với mỗi đỉnh ta có những cách

vẽ khác nhau Chẳng hạn như cách chia như sau:

Trên cạnh BC lấy các điểm G, F, H sao cho các

BG = GF = FH =HC =1

4AB Khi đó các tam giác

ABG, AGF, AFH, AHC có chung đường cao hạ từ

đỉnh A và các đáy bằng nhau Do đó tam giác ABC

đã được chia thành 4 tam giác có diện tích bằng nhau

Tương tự như cách chia trên, tương ứng với mỗi

Bài toán 3: Cho diện tích tam giác ABC có diện

tích bằng 780cm2 Trên cạnh AB lấy điểm E sao cho

- Hai tam giác có chung đường cao (chiều cao bằng nhau) thì diện tích và độ dài đáy có quan hệ tỉ

lệ cùng tăng hoặc cùng giảm.

- Hai tam giác có đáy bằng nhau (chung đáy) thì diện tích và chiều cao tương ứng với đáy có quan hệ tỉ lệ cùng tăng hoặc cùng giảm.

+) Để tính được diện tích tam giác BDC phải dựa vào quan hệ tỉ lệ độ dài cạnh đáy giữa tam giác BCD và ABC

+) Để tính được diện tích tam giác EBD phải dựa vào quan hệ tỉ lệ độ dài cạnh đáy giữa tam giác EBD và ABD

Với định hướng phân tích như trên HS dễ dàng giải bài toán như sau:

Hai tam giác BDC và ABC có chung đường cao

E

(Xem tiếp trang 54)

Trang 28

1 Đặt vấn đề

Trong mục tiêu chương trình giáo dục Toán học

phổ thông, một trong những năng lực mà GV cần

hình thành cho học sinh (HS) là năng lực (NL) mô

hình hóa (MHH) Toán học Phương trình (PT) là chủ

đề xuyên suốt chương trình phổ thông từ cấp Tiểu

học đến Trung học phổ thông Để giải tốt dạng toán

này HS cần toán học hóa các yếu tố thực tế trong bài

thông qua mối liên hệ giữa các đại lượng Công việc

đó chính là xây dựng MHH toán học để giải các bài

toán có nội dung thực tế

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Cơ sở lý luận

Khái niệm MHH Toán học và năng lực MHH

- MHH toán học là một cấu trúc toán học mô tả

gần đúng đặc trưng của một tình huống thực tế nào

đó Theo tác giả Lê Thị Hoài Châu (2014) và Nguyễn

Thị Nga (2014), “MHH toán học là sự giải thích toán

học cho một hệ thống ngoài toán học nhằm trả lời cho

những câu hỏi mà người ta đặt ra trên hệ thống này”

- Năng lực MHH Toán học NL sử dụng toán để

giải quyết các vấn đề trong thế giới thực được các

nhà giáo dục toán gọi với thuật ngữ là NL MHH toán

học NL MHH toán học đặc trưng cho khả năng thực

hiện cho toàn bộ quá trình MHH toán học và phản

ảnh về quá trình đó

* TS Trường ĐH Sài Gòn

** Học viên Cao học Trường ĐH Sài Gòn

2.2 Thực nghiệm về dạy học giải bài toán bằng cách lập phương trình ở lớp 8 nhằm phát triển năng lực MHH Toán học cho HS.

Mô tả thực nghiệm

Gồm 2 bài toán sau:

Bài toán 1: Một miếng đất hình chữ nhật được

vẽ lại bởi hình 2 Biết chu vi của miếng đất là 64m

Tính kích thước của miếng đất

Hình 2 Hình ảnh minh họa bài toán 1

Bài toán 2: Cửa hàng A nhập 50kg trái cây bao

gồm nho và xoài Biết giá tiền nhập của 1kg xoài gấp đôi giá tiền của 1kg nho Số tiền mà cửa hàng A đã trả

để nhập mặt hàng nho là 1200000 đồng và mặt hàng xoài là 1600000 đồng Hỏi mặt hàng nào được nhập nhiều hơn và nhiều hơn bao nhiêu kg?

Phân tích ý tưởng thực nghiệmBài toán 1 là thuần túy toán học và cho sẵn mô hình toán học là hình ảnh minh họa miếng đất hình chữ nhật Với những dữ kiện được cho sẵn là chiều dài và chiều rộng, HS chỉ cần sử dụng kiến thức toán

mà các em đã được học như: công thức tính chu vi, nửa chu vi của hình chữ nhật và phương pháp giải PT bậc nhất một ẩn

DẠY HỌC GIẢI BÀI TOÁN BẰNG CÁCH LẬP PHƯƠNG TRÌNH

Ở LỚP 8 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

MÔ HÌNH HÓA TOÁN HỌC CHO HỌC SINH

Hoa Ánh Tường*, Lương Thanh Phúc**

ABSTRACT

Mathematical modelling appears in the current mathematics curiculum in Vietnam In the upcoming

of new mathematics curiculum, mathematical modelling competency is one of basic competencies Solving real situation by making equation is a difficult content (Algebra 8) for secondary school students in Vietnam When students solve this problem, they have to know how to analyze events in the problem that students apply mathematical modelling This paper focuses on the students’ difficulty in solving real situation to develop mathematical modelling applying competence.

Keywords: Mathematical modelling competency, solving problems by using equation, the element of

mathematical modelling competency.

Ngày nhận bài: 20/5/2019; Ngày phản biện: 21/5/2019; Ngày duyệt đăng: 22/5/2019.

Trang 29

Bài toán 2 là bài toán thực tế, chúng tôi kiểm tra

HS có biết cách vận dụng kiến thức đã học trước đó

để giải quyết bài toán thực tế hay không Ở bài toán

2, chúng tôi đặt HS vào ngữ cảnh thực tế là tính khối

lượng xoài và nho nhập vào của một cửa hàng Từ

đó, so sánh mặt hàng nào nhập nhiều hơn Tuy nhiên,

chúng tôi không cho sẵn mô hình toán học do đó, để

giải quyết bài toán 2 đòi hỏi HS phải biết xây dựng

mô hình toán học HS chuyển từ bài toán thực tế sang

mô hình trung gian khi biết cách chọn ẩn là: khối

lượng hay giá tiền của xoài hay nho, từ đó biểu diễn các đại lượng chưa biết qua ẩn đã chọn và lập PT Từ

mô hình toán học đó, HS áp dụng phương pháp giải

PT để giải quyết bài toán toán học rồi đi đến kết luận cho bài toán thực tế ban đầu

Kết quả thực nghiệm

Phân tích bài toán dựa trên những thành tố cốt lõi của NLMHH Toán học thể hiện qua việc thực hiện được các hành động:

Bảng 1 Thống kê kết quả bài làm cá nhân của HS

với bài toán 1

Bảng 2 Thống kê kết quả bài làm cá nhân của HS

với bài toán 2

* HS sử dụng được đoạn thẳng để mô tả

tình huống xuất hiện trong bài toán, cụ thể

là: AD và BC là chiều rộng của của miếng

đất, AB và CD là chiều dài của miếng đất

Do đó, Chiều rộng của miếng đất được

biểu diễn bởi AD = BC = x Chiều dài của

miếng đất được biểu diễn bởi AB = CD =

* HS biết gọi ẩn x để mô tả khối lượng nho nhập vào của cửa hàng A

* HS biết khai thác thông tin:

Tổng khối lượng nhập vào của nho và xoài là 50 kg từ đó khối

lượng xoài được biểu diễn bởi 50 - x (kg).

Số tiền mà cửa hàng A đã trả để nhập mặt hàng nho là 1200000 đồng, nên giá 1kg nho được biểu diễn bởi 1200000

Biết thể hiện và đánh giá lời giải toán học trong ngữ cảnh thực tế

Chiều rộng là: 12m Chiều dài là: 20m Chu

Kết quả trên phù hợp với dữ kiện của tình huống thực tiễn đưa ra

Trang 30

HS sử dụng được mô hình Toán học để mô tả

các tình huống đặt ra trong các bài toán thực tế

Phân tích bài giải dựa trên 4 bước của quá trình

MHH

Bước 1: Chuyển bài toán thực tế sang mô hình

trung gian.

Bài toán 1 đây là

HS chọn ẩn là khối lượng của nho,

từ đó biểu diễn đại lượng chưa biết là khối lượng xoài, giá tiền của 1kg nho và xoài thông qua ẩn

đã chọn

* HS gặp khó khăn trong việc chuyển

từ khối lượng nho và xoài sang giá tiền 1kg nho và giá 1kg xoài

Bước 2: Chuyển mô hình trung gian về mô hình

toán học.

HS phải nhớ được công thức

tính chu vi hay nửa chu vi

của hình chữ nhật từ đó thiết

lập được PT tương ứng với

bước 2 của quá trình MHH

* HS gặp khó khăn ở bước

2 của quá trình MHH do HS

Từ dữ kiện của bài toán

đã cho: giá tiền nhập vào của 1kg xoài gấp đôi giá tiền của 1 kg nho HS lập được PT

* HS không gặp khó khăn ở bước này, do

không nhớ công thức tính chu vi hoặc nửa chu vi của hình chữ nhật, khi đó HS không thiết lập được PT

ngôn ngữ 1kg xoài gấp đôi giá tiền của 1kg nho

đã quen thuộc với các em

Bước 3: Giải quyết bài toán toán học (giải PT

thiết lập bước 2): Cả hai bài toán, HS không gặp khó khăn ở bước 3 do HS được luyện tập nhiều về giải dạng toán này

Bước 4: Chuyển câu trả lời bài toán toán học

cho bài toán thực tế.

HS không gặp khó khăn

do thông tin đã có sẵn HS trả lời mặt hàng nào được nhập nhiều hơn và

nhiều hơn bao nhiêu kg?

HS không gặp khó khăn

do thông tin đã có sẵn.Thảo luận

* Trong bảng 3: bài toán 1, HS đạt được năng lực

B13 thiết lập được phương trình đến 90% thì đến bài toán 2 khi không có mô hình toán học cho sẵn chỉ có 27,5% HS đạt được Từ đó, chúng tôi rút ra kết luận: HS gặp khó khăn ở bước 2 của quá trình MHH toán học

3 Kết luận

Kết quả thực nghiệm cho thấy HS từng bước xây dựng được mô hình Toán học, dùng mô hình này

để giải quyết các bài toán

HS còn gặp khó khăn với bài toán 2 vì chưa cho

mô hình Toán học nên NLMHH Toán học của HS còn hạn chế Nhưng qua làm việc nhóm và làm việc tập thể HS đã từng bước xác định được kiến thức và cách giải quyết bài toán 2 đồng thời HS đã từng bước hình thành và phát triển NLMHH Toán học

Tài liệu tham khảo

1 Bộ GD&ĐT (2018), Chương trình GDPT

môn Toán.Hà Nội

2 Đặng Thành Hưng (2014), Chương trình rà

sát theo tiếp cận năng lực Hà Nội.

Bảng 3 Thống kê NL MHH đạt được của HS với bài toán 1 và 2

Bài toán 1 Bài toán 2

B3 Biết thể hiện và đánh giá lời giải toán học trong ngữ cảnh thực tế 30 (75%) 8 (20%)

Trang 31

1 Mở đầu

Môn Công nghệ lớp 10 THPT là một môn khoa

học chứa nhiều kiến thức thực tế nhằm hình thành

cho học sinh (HS) những kiến thức, kĩ năng cơ bản

về trồng trọt, chăn nuôi, kinh doanh tạo tiền đề cho

cuộc sống và định hướng nghề nghiệp Tuy nhiên,

hiện nay nếu sử dụng phương pháp dạy học chỉ cung

cấp kiến thức cơ bản cho HS mà không tạo được mối

liên hệ giữa tri thức khoa học và thực tiễn thì chưa

đáp ứng được yêu cầu giải thích những vấn đề liên

quan đến trồng trọt, lâm nghiệp… trong đời sống và

sản xuất Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học

để nâng cao chất lượng dạy học phù hợp với mục

tiêu giáo dục của Đảng và Nhà nước “học đi đôi với

hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận

gắn liền với thực tiễn” là điều cần thiết Bởi thực

tế, kiến thức càng thiết thực, càng hấp dẫn, càng lôi

cuốn thì HS càng dễ dàng tiếp nhận, vận dụng và

nhớ lâu Việc sử dụng tình huống gắn với thực tiễn

sẽ giúp HS có cơ hội rèn luyện tư duy, hoạt hóa năng

lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển khả năng thích

ứng với các tình huống khác nhau trong học tập cũng

như cuộc sống và biến những kiến thức khoa học khô

cứng trở nên gần gũi với HS Trong nghiên cứu này

chúng tôi đưa ra một số cơ sở lý luận cũng như xây

dựng một số tình huống thực tiễn (THTT) để dạy học

phần Trồng trọt, Lâm nghiệp, môn Công nghệ lớp

10, THPT

2 Một số cơ sở lý luận

2.1 Tình huống thực tiễn trong dạy học

Thuật ngữ THTT được Hoàng Phê (2003) đưa

* TS Khoa Sư phạm và Ngoại ngữ - Học viện Nông nghiệp Việt Nam

** ThS Khoa Sư phạm và Ngoại ngữ - Học viện Nông nghiệp Việt

Nam

ra là: Toàn bộ những hoạt động đã và đang diễn ra trong đời sống xã hội Nó tồn tại và phát triển theo thời gian, không gian mà chúng ta có thể quan sát và tác động vào chúng thông qua các hoạt động mang tính chất kinh tế, chính trị, tư tưởng

Một THTT chỉ trở thành THTT dạy học khi giáo viên (GV) đưa những nội dung cần truyền thụ vào trong các sự kiện tình huống và cấu trúc các sự kiện sao cho phù hợp với logic sư phạm, để khi người học giải quyết nó sẽ đạt được mục tiêu dạy học

Tiêu chuẩn của một THTT dạy học tốt: Về nội dung phải chứa đựng vấn đề mang tính giáo dục, phù hợp với trọng tâm bài học, phù hợp với trình độ, nhu cầu tâm sinh lý của người học, có chứa đựng mâu thuẫn kích thích người học đưa ra quyết định để giải quyết vấn đề; Về hình thức trình bày yêu cầu các chi tiết trong THTT được sắp xếp logic, hợp lý, cách hành văn ngắn gọn, súc tích, mạch lạc không gây nhiễu hoặc khó hiểu cho người học khi giải quyết vấn

đề (Phạm Vũ Nhật Uyên, 2013)

2.2 Quy trình thiết kế THTT dạy học

Theo Nguyễn Thị Phương Hoa (2010), thiết kế THTT dạy học gồm các bước sau:

- Bước 1 Xác định mục tiêu và nội dung bài học: Xuất phát từ nội dung dạy học, GV đưa ra các THTT, người học tích cực tham gia giải quyết Khi đưa ra THTT, GV xác định rõ kiến thức mà người học cần đạt được về thái độ, kĩ năng và kiến thức

- Bước 2 Lựa chọn nội dung để thiết kế THTT

và hướng giải quyết: Lựa chọn các nội dung phù hợp với việc thiết kế THTT hoặc đã có những THTT từ nguồn tài liệu khác

- Bước 3 Xây dựng câu hỏi định hướng: Bộ câu hỏi định hướng giúp việc giải quyết tình huống tập trung vào các hoạt động dạy học trọng tâm và giúp

THIẾT KẾ TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN DẠY HỌC PHẦN TRỒNG TRỌT LÂM NGHIỆP, MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 10

Nguyễn Tất Thắng*, Bùi Thị hải Yến**

ABSTRACT

Teaching and learning links theory with reality in order to foster skill of applying knowledge into real life that is an important requirement in the general education and need to be done right This paper confirms some theoretical frameworks of designing reality situations and some examples of real life situation are introduced in teaching Agricultural techniques subject to improve the quality of teaching and learning at high school

Keywords: Situation, reality, teaching and learning situation, Agricultural techniques subject.

Ngày nhận bài: 28/4/2019; Ngày phản biện: 8/5/2019; Ngày duyệt đăng: 30/5/2019.

Trang 32

người học có được kiến thức cơ bản về nội dung bài

học và đạt được các mục tiêu bài học Câu hỏi có

dạng như: tại sao, bằng cách nào, là gì…

- Bước 4 Hoàn thiện THTT dạy học: Chỉnh sửa

các lỗi chính tả hoặc các chi tiết chưa hợp lý hoặc

tham khảo ý kiến của đồng nghiệp hay những người

có cùng chuyên môn sẽ làm tăng giá trị của tình

huống khi sử dụng

2.3 Chức năng của GV trong dạy học THTT

Theo Ngô Ngọc Minh Châu (2012), trong dạy

học bằng tình huống, GV có ba chức năng chính và

được thể hiện ở các giai đoạn làm việc của GV

- Giai đoạn chuẩn bị: Đây là giai đoạn quan

trọng nhất của dạy học tình huống vì ở đó diễn ra

sự uỷ thác của GV Trong giai đoạn này, GV cần xác

định mục tiêu và nội dung giảng dạy cụ thể mà thông

qua tình huống, HS phải đạt được những mục tiêu

đó; phân tích nội dung bài học, lựa chọn những nội

dung có thể áp dụng dạy học tình huống; xây dựng

tình huống gắn với nội dung bài học; phân tích tình

huống, tìm các giải pháp và giải pháp tối ưu; chuẩn

bị các câu hỏi, các phương tiện kĩ thuật cần thiết

cho việc giải quyết tình huống; soạn giáo án cho bài

giảng

- Giai đoạn thực hiện: GV giới thiệu tình huống

cho HS bằng cách cung cấp thông tin về tình huống

(phát tài liệu, băng video,…) và nêu rõ công việc

phải thực hiện, mục đích cần đạt được; tổ chức cho

HS hành động với tình huống theo cá nhân, theo

nhóm, cả lớp

- Giai đoạn tổng kết: GV thực hiện chức năng tham vấn của mình thông qua việc xác nhận những tri thức, kĩ năng, phương pháp hành động mà HS thu nhận được từ việc giải quyết tình huống Trong trường hợp HS không thể giải quyết được các tình huống thì GV cần có các biện pháp để giúp đỡ, tùy theo mức độ khác nhau GV có thể dùng kỹ thuật trao đổi để cho HS tóm tắt, phát biểu và trao đổi, sau đó

GV kết luận vấn đề trước lớp học

3 Thiết kế THTT dạy học phần Trồng trọt, Lâm nghiệp, môn Công nghệ lớp 10 THPT

3.1 Đặc điểm, cấu trúc phần Trồng trọt, Lâm nghiệp, môn Công nghệ lớp 10 (xem bảng)

3.2 Một số THTT dạy học phần Trồng trọt, Lâm nghiệp, môn Công nghệ 10, THPT

Tình huống 1: Cách trồng mía

Cây mía trồng bằng hom Khi thu hoạch người nông dân chặt lấy phần thân còn phần ngọn giữ lại làm giống cho vụ sau, cây non sẽ mọc lên từ các mắt mía ở phần ngọn

Câu hỏi 1 Cây mía được nhân giống dựa trên phương pháp nào?

Câu hỏi 2 Hãy nêu 5 giống cây trồng sử dụng phương pháp nhân giống tương tự như đối với cây mía nêu ở tình huống trên

Hướng dẫn trả lời: Phương pháp trồng mía của

người nông dân ở tình huống trên là phương pháp giâm cành 5 loại cây trồng nhân giống bằng giâm cành là: khoai lang, sắn, chè, tiêu, hoa hồng

Tình huống 2: Chuyện làm đồng

Nội dung

Loại kiến thức Kiến thức

cơ sở Kiến thức kỹ thuật

Ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô tế bào trong nhân giống cây trồng nông, lâm nghiệp x x

Biện pháp cải tạo và sử dụng đất xám bạc màu, đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá x x

Đặc điểm, tính chất, kĩ thuật sử dụng một số loại phân bón thông thường x x

Điều kiện phát sinh, phát triển của sâu, bệnh hại cây trồng x

Ảnh hưởng của thuốc hóa học bảo vệ thực vật đến quần thể sinh vật và môi trường x

Ứng dụng công nghệ vi sinh sản xuất chế phẩm bảo vệ thực vật x x

Trang 33

Quan sát một số người nông dân khi đi làm ruộng

về có hiện tượng móng chân, móng tay và những phần

da ngâm dưới nước bị cáu vàng hoặc đen bám vào

Theo em, hiện tượng đó được giải thích như thế nào

dựa trên đặc tính của một số loại đất trồng?

Hướng dẫn trả lời: Móng chân, móng tay và

những phần da ngâm dưới nước bị cáu vàng bám vào

là do người nông dân đã làm việc trên khu đất trồng

thuộc loại đất phèn Đây là loại đất có chứa nhiều

màu đen hoặc màu nâu ở tầng đất mặt do chứa hàm

lượng Fe3+ rất lớn

Tình huống 3: Nhận biết

bao bì phân bón

Dựa vào hình ảnh dưới đây

em hãy cho biết:

Câu hỏi 1 Tên của loại phân

bón trên?

Câu hỏi 2 Loại phân trên

thuộc nhóm phân bón nào?

Câu hỏi 3 Con số

15.15.15+TE trên bao bì của bao

phân bón cho biết điều gì?

Hướng dẫn trả lời:

- Tên loại phân bón là phân đa lượng NPK (đạm,

lân, kali)

- Phân bón trên là nhóm phân hóa học

- Con số 15.15.15+TE có nghĩa là loại phân

này có 15%N, 15% P2O5,15% K2O, TE (là chất dinh

dưỡng vi lượng gồm kẽm, bo, sắt, đồng, mangan và

molipden), dựa vào tỉ lệ thành phần này để bón phân

Tháng tư làm mạ, mưa sa đầy đồng

Câu hỏi 1 Nêu tên biện pháp phòng trừ dịch hại

cây trồng được đề cập trong đoạn ca dao trên?

Câu hỏi 2 Theo em biện pháp phòng trừ dịch

hại cây trồng ở trên có tác dụng như thế nào?

Hướng dẫn trả lời: Biện pháp phòng trừ dịch

hại cây trồng được đề cập là biện pháp cày bừa thuộc

biện pháp kỹ thuật Biện pháp này giúp làm đất tơi

xốp cải thiện tính chất vật lý của đất, diệt sâu non,

trứng, nhộng gây bệnh cho cây trồng

Tình huống 5: Trồng rau thuỷ canh

Xu hướng trồng rau không dùng đất đang thực

sự nở rộ tại nước ta nói chung, tại Lâm Đồng nói

riêng, tạo ra 1 làn sóng trồng rau thủy canh ở các hộ

gia đình Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn Lâm Đồng, hiện diện tích trồng rau

thủy canh trên địa bàn tỉnh đã lên tới 20 ha và con số này đang không ngừng tăng lên Vì sao phương pháp trồng rau thủy canh lại có xu hướng phát triển như hiện nay?

Hướng dẫn trả lời: Trồng rau thủy canh có xu

hướng phát triển như hiện nay do có nhiều ưu điểm: linh hoạt trong mọi vị trí trồng, tận dụng được tối đa không gian và diện tích canh tác, hạn chế sâu bệnh, đảm bảo năng suất cây trồng cao hơn từ 20-30% so với phương thức trồng cây trên đất, tốn ít công chăm sóc, kiểm soát tối đa thuốc bảo vệ thực vật

Tình huống 6: Ý thức bảo vệ môi trường

Hiện nay chỉ cần bước ra ruộng rau hay ruộng lúa bất kỳ chúng ta sẽ thường bắt gặp các vỏ của thuốc trừ sâu, trừ cỏ bị vứt bừa bãi trên bờ hay dưới ruộng Theo em, hiện tượng này có ảnh hưởng gì tới môi trường và con người?

Hướng dẫn trả lời: Vỏ thuốc trừ sâu, trừ cỏ vứt

bừa bãi trên bờ hay dưới ruộng sẽ gây ô nhiễm nguồn nước, không khí và đất, vì thế ảnh hưởng trực tiếp đến con người

Kết quả thực nghiệm sư phạm cho thấy, HS lớp thực nghiệm rất hứng thú học tập, tích cực thảo luận, trả lời câu hỏi trên lớp HS đã biết vận dụng kiến thức công nghệ đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn sản xuất ở gia đình, địa phương Kết quả bài kiểm tra của HS lớp thực nghiệm cao hơn hẳn lớp đối chứng

ở mức độ đáng tin cậy…

4 Kết luận

Trong bài báo này, chúng tôi đã trình bày một số

cơ sở lý luận về việc xây dựng THTT trong dạy học, thiết kế THTT để phát triển năng lực cho HS trong dạy học phần Trồng trọt, lâm nghiệp đại cương, môn Công nghệ 10 THPT THTT là một công cụ hữu hiệu trong việc phát triển các năng lực cho HS đặc biệt là năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn

Tài liệu tham khảo

1 Ngô Ngọc Minh Châu (2012) Thiết kế hệ

thống tình huống gắn với thực tiễn trong dạy học Hóa học THPT Luận văn thạc sĩ giáo dục học Trường

ĐHSP TPHCM

2 Nguyễn Thị Phương Hoa (2012) Sử dụng

phương pháp tình huống trong giảng dạy môn Giáo dục học tại trường ĐHNN - ĐHQG Hà Nội Đề tài

NCKH, ĐHQG Hà Nội

3 Hoàng Phê (2003) Từ điển Tiếng Việt NXB

Khoa học xã hội, Hà Nội

4 Phạm Vũ Nhật Uyên (2013) Dạy học tình

huống và một số biện pháp để sử dụng tình huống trong dạy học Hóa học ở trường THPT Tạp chí khoa

học, Trường ĐHSP TPHCM

Trang 34

1 Đặt vấn đề

Cách mạng công nghiệp 4.0 đã, đang diễn ra và

có sức ảnh hưởng ngày càng lớn đến cuộc sống của

con người Với hàng loạt sản phẩm công nghệ (CN)

mới trong tay như: CN Internet vạn vật (IoT), trí tuệ

nhân tạo (AI), mạng xã hội, điện toán đám mây, di

động, phân tích dữ liệu lớn (SMAC)… cách mạng

công nghiệp 4.0 đã thay đổi hoàn toàn cách làm việc,

tư duy cũng như các hệ giá trị mà con người đang có

Trong phạm vi bài viết chúng tôi trình bày việc

sử dụng CN Edmodo vào rèn luyện kĩ năng siêu nhận

thức (SNT) trong việc dạy đọc tiếng Việt cho sinh

viên (SV) ngành tiếng Việt du lịch thuộc khoa Khoa

học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Rajabhat

Udon Thani, Thái Lan để đáp ứng yêu cầu đổi mới

và từ đó khẳng định nội dung có sơ sở khoa học và

thực tiễn

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Một số lí luận về CN Edmodo

2.1.1 Khái niệm: Từ năm 2008, GV Nic Borg

- Jeff và O’Hara - Crystal Hutter đã chính thức phát

* TS,Trường Đại học Rajabhat Udon Thani, Thái Lan

** ThS Trường Đại học Rajabhat Udon Thari, Thái Lan

triển mạng học tập lớn nhất thế giới (năm 2008 với hơn 63.000.000 người dùng thuộc nhiều nhóm người như: giáo viên/ GV -học sinh/ SV, phụ huynh, chuyên gia,…) Edmodo được xây dựng trên quan điểm tập trung xây dựng nền tảng CN nhằm giúp GV chủ động

sử dụng CN vào trong dạy học thay vì phải sử dụng

Có thể nói, những tiện ích của Edmodo mang tính

ở mọi nơi, mọi lúc

2.1.2 Ưu điểm của mạng xã hội GD Edmodo

Edmodo có các ưu điểm: nền tảng an toàn và bảo mật; môi trường đóng; đăng ký tham gia dễ dàng, không cần cài đặt và không tốn chi phí bản quyền; không yêu cầu thông tin từ cá nhân người học (trừ khi GV yêu cầu); HSSVchỉ có thể tham gia lớp học khi được GV mời; tất cả các quá trình liên lạc của các thành viên đều được lưu trữ; GV có quyền

SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ EDMODO VÀO RÈN LUYỆN

KĨ NĂNG SIÊU NHẬN THỨC TRONG DẠY ĐỌC TIẾNG VIỆT

CHO SINH VIÊN NƯỚC NGOÀI

Nguyễn Thị Hồng Chuyên* Songgot Paanchiangwong**, Mrs.Orphin Nasaweng**

ABSTRACT

The article uses some of theories about Edmodo technology such as: concepts, advantages and features

of Edmodo in training metacognitive skills in teaching Vietnamese reading to students of Tourism Vietnamese

of the Humanities and Social Sciences Faculty, Rajabhat Udon Thani University with specific contents such

as creating classes in parallel with two forms: online and direct ; guide students to study and evaluate Since then, we affirm: the application of Edmodo technology allows teachers and students to enhance interaction ability and improve teaching and learning efficiency of students Teachers can help students self-study and self-study under the help of teachers Students through online classes and traditional classes (going to class) will improve their cognitive abilities and critical thinking (metacognition) In particular, the knowledge updated on Edmodo has a high level of storage which will help students to self-check and review their learning logs They will draw experience and be more confident in communicating Vietnamese in all circumstances.

Keywords: edmodo technology, training, skills, metacognition, teaching reading, Vietnamese, foreign

students.

Ngày nhận bài: 10/4/2019; Ngày phản biện: 15/4/2019; Ngày duyệt đăng: 2/5/2019.

Trang 35

kiểm soát tối đa; Edmodo giúp việc theo dõi tiến bộ

học tập của SV trở nên dễ dàng hơn

GV có thể giao bài tập, thiết kế câu hỏi trắc

nghiệm (Quiz), thăm dò ý kiến (Polls), cho người

học đánh giá chéo…; Phụ huynh của HSSV có thể

tham gia vào lớp học để theo dõi quá trình học tập

của con em mình

2.1.3 Tính năng của Edmodo

* Chia sẻ tài nguyên không giới hạn

- Chia sẻ các tài liệu dưới nhiều dạng khác nhau

như: doc; ppt; xls; pdf; mp3; mp4;…

- Chia sẻ liên kết tới các trang web hoặc

nhúng thêm các ứng dụng trên nền flash như: prezi,

slideshare, google forms, YouTube videos…

- Sử dụng hoặc tự phát triển các ứng dụng học

tập trên nền Edmodo như: các ứng dục học phát âm,

học từ vựng, ứng dụng chia sẻ giáo án dạy học qua

dự án, …

- GV và SV có thể chia sẻ cùng một lúc nhiều

tài nguyên với các định dạng khác nhau thông qua

hoạt động giao bài tập, yêu cầu SV tự học thêm ở nhà

hay gửi bài cho SV đọc tài liệu, xem video bài giảng

trước mỗi bài học…

- GV và SV cũng có thể kết hợp theo dõi về các

lĩnh vực khác nhau như: giới thiệu, thông tin về hoạt

động du lịch cũng như các địa điểm du lịch,…đồng

thời tạo ra cộng đồng học tập, chia sẻ thông tin giống

như facebook page

* Cộng tác hiệu quả

+ Lớp học Edmodo: Mục đích của việc tạo ra

các lớp/nhóm GV - SV sẽ giúp chia sẻ tài nguyên,

chia sẻ các ý tưởng về hoạt động dạy và học Điều

này giúp GV mở rộng cách thiết kế các kịch bản giờ

dạy cho phù hợp với SV; SV có thêm cơ hội bày tỏ

quan điểm muốn tạo ra một giờ học phù hợp với năng

lực và sở thích của bản thân

+ Nhóm Edmodo nhỏ: Để tạo ra độ tương tác

hiệu quả, trong các lớp/nhóm học có thể chia nhỏ

theo các nhóm như: nhóm GV - GV, nhóm SV - SV

Điều này sẽ tạo cơ hội cho các nhóm thảo luận hiệu

quả hơn bằng việc các cá nhân được trao cho cơ hội

tham gia ý kiến nhiều hơn

+ Cộng đồng Edmodo: Để mạng lưới phát triển

và số lượng cá nhân tham gia đông, có thể tạo ra

mạng lưới liên kết giữa các nhóm/lớp với nhau, giữa

bộ môn với khoa, giữa các khoa với nhau và với nhà

trường

* Đẩy mạnh hoạt động dạy và học

Trong quá trình dạy học, GV sử dụng CN

Edmodo cho phép GV có thể lấy được nhiều phản

hồi của SV thông qua các công cụ như: chức năng

Polls - lấy ý kiến đánh giá; chức năng Quizzzes - yêu cầu trả lời câu hỏi hay làm trắc nghiệm; chức năng Post - thảo luận, thông báo tin tức,…Sử dụng Edmodo còn cho phép các cơ quan chủ quản (các trường) thiết lập mạng lưới quản lí thông qua tạo ra các tên miền con cho đơn vị mình và làm cho quá trình GD thông suốt và minh bạch GV có thể cập nhật kế hoạch từng tuần, từng tháng,…cũng như xem kết quả và hỗ trợ SV, phụ huynh khi cần thiết

* Phương pháp kiểm tra, đánh giá

- Tính năng giao bài (Assignments): Giúp GV giao nhiệm vụ học tập đến SV cụ thể hơn cả về nội dung lẫn thời gian hoàn thành Đặc biệt với các lớp

có số SV đông thì tính năng này giúp cho GV quản lí việc hoàn thành bài của SV rất hiệu quả Bởi vì, khi

SV làm bài tập thì tính năng sẽ ghi nhận thời gian hoàn thành Điều này, giúp GV đánh giá chính xác hơn và GV có thể phản hồi đến SV đánh giá kết quả bài tập được giao một cách chính xác và thiện cảm nhất

- Tính năng ghi nhận kết quả bài tập (Gradebook): Kết thúc quá trình GV đánh giá bài tập của SV bằng việc cho điểm vào bài thì tính năng này tự động cập nhật vào sổ điểm

- Tính năng Badges được dùng để giúp GV thể hiện thái độ, ghi nhận sự tiến bộ, nỗ lực của SV bằng các danh hiệu do mình khởi tạo như: SV chăm chỉ,

SV tích cực, SV của tuần, SV trả lời hài hước nhất,…

2.2 Sử dụng CN Edmodo vàorèn luyện kĩ năng SNT dạy đọc cho SV

2.2.1 Tạo lớp học song song với hai dạng: Online và trực tiếp

Tạo ra hai môi trường tương tác giữa GV - SV

và SV - SV trên lớp học trực tiếp (trên lớp) và lớp học online (trên CN Edmodo) cho phép GV và HS đa dạng hóa các hoạt động học tập hơn Cụ thể:

- Đối với GV sau khi chuẩn bị: giáo án dạng doc; giáo án điện tử (PowerPoint), các file đọc do bản thân ghi âm sẽ đẩy lên nhóm/lớp do mình tạo ra trên Edmodo Đồng thời, GV giao nhiệm vụ cho SV xem các bài đọc cho trước giờ lên lớp trực tiếp

- Đối với SV: Truy cập vào lớp học online do

GV cung cấp mã lớp và thực hiện theo yêu cầu của

GV

Ví dụ: GV dạy văn bản: Hồ Núi Cốc

Bước 1: Trước khi lên lớp (lớp học online), GV cung cấp bài đọc giới thiệu về Hồ Núi Cốc dưới dạng văn bản; cung cấp file nghe do GV chuẩn bị với tốc

độ đọc trung bình; cung cấp clip giới thiệu do Tạp chí du lịch online giới thiệu Yêu cầu SV đọc văn bản, nghe các file nghe và xem clip để SV có những

Trang 36

hình dung về nội dung bài đọc, định hướng tra từ mới

được tốt hơn và chuẩn bị trước các câu hỏi do bài đọc

yêu cầu

Bước 2: Lên lớp: GV cho SV đọc bài theo cách:

đọc to từng tổ/ nhóm và đọc cá nhân, giúp SV tự tin

trong việc đọc, lĩnh hội văn bản GV phát hiện các lỗi

ngữ âm, từ vựng, ngữ điệu của SV và sửa Sau đó, SV

dịch bài và làm bài tập theo nhóm

Bước 3: Sau khi lên lớp: SV thực hành các sản

phẩm độc lập là các bài viết cá nhân dựa theo bài đọc

Tranh luận các vấn đề phát sinh về một chủ đề thuộc

1 địa điểm du lịch tự chọn

Như vậy, bài đọc sẽ được tiếp cận theo 3 bước

với độ khó và kĩ năng làm việc độc lập của SV tăng

lên rõ rệt

2.2.2 Hướng dẫn SV học tập

Hướng dẫn SV học tập là khâu vận dụng triệt để

SNT vào trong dạy đọc cho SV nước ngoài Phương

pháp này cho phép SV nhận thức vấn đề một cách

nhanh nhất, đồng thời có thể điều chỉnh nhận thức

thông qua quá trình phản biện bằng lí luận (SNT) để

lĩnh hội tri thức tốt nhất Để làm được điều này, GV

cần đầu tư giáo án cũng như thời gian quan sát SV

làm việc để điều chỉnh SV học tập

Bước 1: GV đưa các bài đọc, các file nghe vào

nhóm/lớp học trên Edmodo SV chủ động vào lớp

học để xem nội dung và thực hiện yêu cầu đọc trước

văn bản, nghe bài đọc

Bước 2: Ở trên lớp, GV triển khai cho SV đọc to

theo nhóm và chỉ định một số SV đọc văn bản

Bước 3: SV thực hành yêu cầu của bài đọc Trả

lời câu hỏi theo nhóm Đại diện các nhóm trình bày

Bước 4: GV đánh giá kiểm tra lại phần trả lời

của các nhóm

Bước 5: GV đưa ra nội dung thảo luận Ví dụ:

trong quá trình đọc văn bản SV vướng mắc ở những

khâu nào? Em có thích du lịch ở các địa điểm săn

mây trong bài giới thiệu không?

2.2.3 Đánh giá

Việc áp dụng Edmodo cho phép GV và SV đánh

giá thường xuyên và chính xác hoạt động học tập của

SV Một số hình thức đánh giá như:

* Hình thức trắc nghiệm: Trắc nghiệm là một

trong những hình thức giúp SV nắm được thông tin

của bài đọc nhanh nhất và có định hướng về nội dung

bài đọc Tạo ra cho SV tâm thế thoải mái khi tiếp cận

bài đọc Các bài tập theo hình thức trắc nghiệm sẽ đi

cùng với các bài đọc và giúp SV khi tiếp cận bài có

thêm cơ hội lựa chọn hiểu bài đọc

* Đối với hình thức kiểm tra tự luận: Dựa trên

tính năng Assignment, GV có thể tạo và giao bài tập

cho SV dễ dàng Đồng thời, tính năng này còn cho phép GV gửi các tài liệu liên quan, các trang web,…

để SV tham khảo trong quá trình xử lí bài tập Với thời gian hạn định của các bài tập được ghi rõ ràng

và yêu cầu SV hoàn thành đúng thời hạn Việc trả bài của SV sẽ được hệ thống ghi nhận chính xác Đặc biệt, tính năng này cho phép SV nộp bài dưới nhiều hình thức: có thể là file word, file ảnh,… Vì vậy, GV

có thể cho điểm SV dễ hơn, nhanh hơn và chính xác hơn Đồng thời, việc nhận xét của GV cũng đa dạng, linh hoạt hơn

Khi GV chấm bài cho điểm, điểm số của SV sẽ

tự động cập nhật trong tính năng gradebook Tính năng này cho phép GV tải về máy tính dưới nhiều định dạng khác nhau giúp GV hoàn thành hồ sơ dạy học

Một ưu thế khác của lớp học trong Edmodo là khi điểm số được GV cho và cập nhật trong tính năng gradebook thì SV có thể ngay lập tức xem điểm của mình Điều này cho phép SV tăng cường khả năng tương tác, tạo ra sự độc lập và tự chủ, đảm bảo quyền lợi của SV

3 Kết luận

Sử dụng CN Edomodo vào rèn luyện kĩ năng SNT trong dạy đọc tiếng Việt nói riêng cho SV thì áp dụng CN Edmodo cho phép GV và SV tăng cường khả năng tương tác và nâng cao hiệu quả dạy và học của SV Quá trình tự học ở nhà của SV được kiểm soát tích cực từ cả SV lẫn GV Các kĩ năng đọc của

SV được nâng cao rõ rệt SV có khả năng đọc đúng con chữ, đúng ngữ âm và ngữ của văn bản Từ đó,

SV đi sâu vào đọc hiểu và sáng tạo văn bản thông qua các tương tác trong và ngoài lớp học Đặc biệt, các kiến thức được cập nhật trên Edmodo có tính lưu trữ cao sẽ giúp cho SV tự rà soát và xem lại nhật kí học tập SV sẽ tự rút kinh nghiệm và tự tin hơn trong giao tiếp tiếng Việt ở mọi hoàn cảnh

Tài liệu tham khảo

1 Lê Phương Nga (chủ biên, 2009), Phương

pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học tập I,II,NXB Đại

học Sư phạm, Hà Nội

2 Phạm Thành Nghị (2011), Giáo trình Tâm lý

học giáo dục, NXB Đại học quốc gia Hà Nội,

3 Brown A (1987), Metacognition, excutive

control, self -regulation and other more musterious mechanisms, In Metacognition, Motivation and

Understanding, Erlbaum, NJ, USA

4 Vũ Dũng (2008), Từ điển Tâm lí học, Nxb Từ

điển Bách khoa, Hà Nội

Trang 37

1 Đặt vấn đề

Giáo dục môi trường (GDMT) cho học sinh tiểu

học (HSTH) không chỉ là cung cấp những kiến thức,

kĩ năng, hành vi bảo vệ môi trường (MT) mà còn

giáo dục cho học sinh (HS) có thái độ tích cực đối với

MT Truyện kể về MT rất gần gũi với HS và có thể là

một phương tiện dạy học giúp HS nhận thức về thế

giới xung quanh, từng bước có những khái niệm mới

và mở rộng kinh nghiệm sống, góp phần phát triển

cảm xúc, tình yêu MT cho HS Môn Tự nhiên và xã

hội (TN&XH) có nhiều nội dung liên quan đến MT

Chính vì thế, GDMT trong môn TN&XH ở tiểu học

thông qua truyện kể là phù hợp và cần thiết

2 Giáo dục MT trong môn TN&XH ở tiểu

học thông qua truyện kể

2.1 Giáo dục MT và truyện kể về MT

Xu hướng GDMT hiện nay tại các trường tiểu

học dựa trên các nguyên tắc dạy học theo ba cách

tiếp cận: Giáo dục về MT, Giáo dục trong MT, Giáo

dục vì MT Với ba cách tiếp cận trên, truyện kể có

khả năng GDMT cho HS theo cả ba hướng tiếp cận,

bởi truyện kể về MT ngoài cung cấp những kiến thức

đa dạng về MT, nó còn hình thành cho HS thái độ và

cách ứng xử phù hợp với MT qua cách HS tham gia

giải quyết các tình huống của truyện Vì vậy sử dụng

truyện kể để GDMT cho HSTH là xu hướng GDMT

hiện nay tại các trường tiểu học

Truyện kể được dùng với ý nghĩa một câu

chuyện được kể bằng lời có hình thức hoàn chỉnh,

được in trên sách báo Truyện kể về MT là truyện kể

* ThS Trường Đại học Sài Gòn

có nội dung về MT và bảo vệ MT nhằm khai thác để giáo dục hiệu quả cho HS những vấn đề MT và bảo

vệ MT

Dưới đây là một số hình thức thể hiện truyện kể

mà chúng tôi lựa chọn, sử dụng để GDMT cho HS: Truyện kể bằng lời, truyện tranh, truyện kể bằng kịch

2.3 Quy trình GDMT trong môn TN&XH ở tiểu học thông qua truyện kể

Sử dụng truyện kể để GDMT trong dạy học các môn về TN&XH mang lại hiệu quả cao [1], chúng tôi đã xây dựng một quy trình sử dụng gồm các bước sau:

Bước 1 Chuẩn bị: Xác định mục tiêu, nội dung GDMT của bài học Lựa chọn truyện kể Lựa chọn,

xác định phương pháp, hình thức tổ chức dạy học Chuẩn bị phương tiện, đồ dùng cho quá trình dạy học

Bước 2 Giới thiệu truyện kể Bước 3 Tổ chức dạy học nội dung GDMT:

Tiến hành các hoạt động dạy học theo các bước của

phương pháp mà giáo viên (GV) đã lựa chọn Phối

hợp các phương pháp dạy học và chú ý đến thời gian dành cho nội dung GDMT vừa đủ, phù hợp không ảnh hưởng đến mục tiêu và nội dung bài dạy

Bước 4 Tổng kết: Hệ thống lại kiến thức của

GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI

Ở TIỂU HỌC THÔNG QUA TRUYỆN KỂ

Bùi Thị Kim Trúc*

ABSTRACT

Environmental education for primary students is not only to provide environmental protection knowledge, skills and behaviors, but also to teach them positive attitudes the environment The stories about the environment are very close to the children and can have an important meaning of teaching, because it helps them have

an aware of the world around them, gradually have new concepts and expand to their life experiences, and contribute to the emotional development of the children (about their love of the environment) Nature and society subjects have many contents relating to environment Therefore, environmental education in Nature and society subjects in primary schools through stories plays a vital role in enhancing the understanding of environmental education of the children in the early years of life.

Keywords: Enviroment education, Society and Science, Primary school, Story.

Ngày nhận bài: 28/4/2019; Ngày phản biện: 5/5/2019; Ngày duyệt đăng: 8/5/2019.

Trang 38

Bảng 2.1 Nội dung GDMT được khai thác từ truyện kể về MT

1

Cây gỗ - Lợi ích của cây gỗ.- Cách giữ gìn và sử dụng tiết kiệm đồ dùng bằng gỗ.

Trời nắng, trời mưa

- Các hiện tượng thời tiết: Trời nắng, trời mưa

- Mô tả đơn giản hiện tượng trời nắng, trời mưa

- Cách ăn mặc phù hợp để giữ gìn và bảo vệ mình khi đi dưới trời nắng hoặc trời mưa

2 Loài vật sống ở đâu? - Nơi loài vật có thể sống.- Tên một số loài vật và nơi sống của chúng.

3

Thực vật, thân cây, rễ cây, lá cây, khả năng kì diệu của lá cây - Các bộ phận của cây và vai trò của chúng

Hoa - Hoa là cơ quan sinh sản của cây.- Yêu quý và bảo vệ các loài hoa.

Cá - Lợi ích của một số loài cá.- Yêu quý, bảo vệ và khuyến khích mọi người cùng bảo vệ chúng.Chim - Ích lợi của một số loài chim.- Yêu quý, chăm sóc và bảo vệ chúng.

Thú - Tác hại của các hoạt động săn bắn thú rừng bừa bãi.- Bảo vệ thú rừng, chăm sóc thú nhà.

Ngày và đêm trên Trái Đất - Hiện tượng ngày và đêm trên Trái Đất

Bề mặt Trái Đất - Nước chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất

Bề mặt lục địa - Bề mặt lục địa có những dòng chảy (sông, suối) và những nơi chứa nước (ao, hồ, biển…).

2 Giữ sạch MT xung quanh nhà ở - Tác dụng của việc giữ sạch MT xung quanh nhà ở.- Làm một số việc giữ sạnh MT xung quanh

- Có ý thức giữ gìn MT xung quanh nhà ở

Vệ sinh MT - Tác hại của rác thải đối với sức khoẻ con người- Cách xử lí rác thải

- Thải rác đúng nơi quy định

3 Ôn tập: Xã hội - Mô tả cuộc sống xung quanh.- Tìm hiểu về MT địa phương.

bài, củng cố và khắc sâu thêm những kĩ năng hành

vi cũng như thái độ ứng xử của HS được hình thành

qua bài học

2.4 Ví dụ minh họa

a Lớp 1, bài 24 Cây gỗ

Mục tiêu GDMT thông qua truyện kể: Giúp

HS biết được ích lợi của cây gỗ và một số sản phẩm

được làm từ gỗ

Bước 1 Chuẩn bị: Lựa chọn truyện kể: Gỗ

được chặt xuống để làm gì? Lựa chọn phương pháp:

kể chuyện, thảo luận Một số đồ dùng được làm bằng

gỗ, tranh ảnh các sản phẩm bằng gỗ

Bước 2 Giới thiệu truyện kể: Các con thấy

cây gỗ được trồng trong rừng, và ở nhiều nơi Vậy

“Gỗ được dùng để làm gì?”, chúng ta cùng nghe câu chuyện để khám phá điều này nhé

Bước 3 Tổ chức dạy học nội dung GDMT

Kể chuyện: GV kể truyện: GỖ ĐƯỢC DÙNG

Bố ôn tồn giảng giải:

- Cây được chặt xuống được gọi là nguyên liệu

gỗ, nguyên liệu gỗ đối với cuộc sống con người có

Trang 39

rất nhiều tác dụng - Rồi bố lại nói tiếp:

- Con người ở thời kì tiền sử đã biết dùng gỗ

để dựng nhà, sưởi ấm, chế tạo thành các vũ khí để

chống lại kẻ địch Con người ngày nay càng biết làm

thế nào để tận dụng triệt để nguyên liệu này, dùng nó

để xây nhà, làm đồ gia dụng, tạo giấy, sưởi ấm, chế

thuốc, thậm chí còn đóng thuyền

Bước vào nhà của mỗi gia đình, thứ đầu tiên đập

vào mắt chúng ta là các sản phẩm bằng gỗ: giường,

tủ, bàn, ghế, giá sách… tất cả đều được làm bằng gỗ

Mai thấy bố nói rất đúng vì nhà Mai cũng có rất

nhiều đồ vật được làm bằng gỗ Cô bé hào hứng:

- Con biết rồi, cây gỗ thật nhiều tác dụng bố nhỉ!

Chưa hết đâu con - Bố Mai lại kể:

- Những phiến gỗ còn được nghiền nhỏ và thêm

vào các nguyên liệu khác, sau khi được làm mềm thì

được chế thành bột giấy, có thể tạo thành các loại

giấy cho chúng ta sử dụng Gỗ của cây Sam có thể

chế biến rất đơn giản, lại có mùi thơm, không bị kiến

trắng và mọt ăn mất nên rất thích hợp dùng làm đồ

gia dụng, đóng thuyền

Nguyên liệu gỗ còn có thể dùng để đóng tàu, xe

cộ, cũng có thể dùng làm các loại quân cờ, đồ chơi

mà các bạn nhỏ rất yêu thích

Hôm nay, Mai vui lắm vì biết được rất nhiều

điều về cây gỗ Cô bé định bụng mai sẽ lên lớp và kể

cho các bạn nghe về tác dụng của cây gỗ đấy Chắc

các bạn sẽ rất ngạc nhiên cho mà xem (Mỹ Châu)

Thảo luận: GV cho HS tìm hiểu truyện qua hoạt

động thảo luận nhóm với câu hỏi: Qua câu chuyện,

em hãy kể những ích lợi của cây gỗ? Ngoài ra, cây gỗ

còn có lợi ích nào khác? (HS có thể thảo luận kết hợp

với xem tranh ảnh các sản phẩm làm từ gỗ)

GV quan sát, giúp đỡ HS trong khi thảo luận

Các nhóm trình bày kết quả thảo luận, nhóm khác

nhận xét, bổ sung

Bước 4 Kết luận: Cây gỗ có rất nhiều ích lợi:

Làm nguyên liệu để dựng nhà, làm đồ gia dụng (bàn,

ghế, giường, tủ, giá sách…), để chế tạo giấy, làm chất

đốt, thậm chí còn dùng để đóng thuyền Ngoài ra gỗ

còn được sử dụng để làm đồ chơi cho các bạn nhỏ…

b Lớp 3, bài 53 Chim

Mục tiêu GDMT thông qua truyện kể: Biết

được lợi ích của một số loài chim Biết yêu quý,

chăm sóc, bảo vệ chúng

Bước 1 Chuẩn bị: Truyện kể: Cuộc họp của

các loài chim Phương pháp: kể chuyện, thảo luận

Đồ dùng: tranh ảnh một số loài chim

Bước 2 Giới thiệu truyện kể: Chim là một

động vật có xương sống Tất cả các loài chim đều có

lông vũ, có mỏ, hai cánh và hai chân Vậy các em đã

từng được nghe các loài chim nói chuyện với nhau

chưa? Các em sẽ cùng nghe câu chuyện “Cuộc họp

của các loài chim” để biết xem chúng nói chuyện với nhau về con người chúng ta như thế nào nhé!

Bước 3 Tổ chức dạy học nội dung GDMT

Kể chuyện: GV kể chuyện: Cuộc họp của loài chim [4]

- Sau khi kể xong, GV đưa ra câu hỏi: Các loài chim tụ họp để làm gì? Qua câu chuyện của Sáo, Quạ, Sẻ em biết được các loài chim này giúp ích gì cho con người?

- HS trả lời các câu hỏi, HS khác nhận xét, bổ sung GV tổng kết:

Một số loài chim rất có ích cho con người, như chim sẻ thì bắt sâu cho cây lá, chim sáo cứu làng mạc khỏi nạn tấn công của châu chấu, cả quạ (nghe cái tên

có vẻ xấu xí) cũng giúp con người bắt lũ chuột hoành hành khắp đồng ruộng, rồi cả hoạ mi xinh xắn cũng đem đến cho cuộc sống của con người những bản nhạc tuyệt diệu nữa

Nhưng con người đã đối xử như thế nào với các loài chim? Các loài chim muốn nói gì với con người? Chúng ta sẽ cùng thảo luận để rõ điều đó nhé!

Thảo luận: GV chia nhóm, giao nhiệm vụ để

HS thảo luận: “Câu chuyện là thông điệp của loài

chim với con người Em hãy nói giúp các loài chim

nhé” HS trình bày kết quả thảo luận, các nhóm nhận

xét, bổ sung

Bước 4 Kết luận: Cuộc sống chỉ cần có tiếng

chim hót, cuộc sống cũng đã tươi vui biết bao Những chú chim không chỉ mang đến tiếng hót, bài ca mà còn giúp con người rất nhiều trong công việc đồng áng Vì thế, HS hãy biết yêu thương, chăm sóc, bảo

vệ và giữ gìn chúng

3 Kết luận

Truyện kể được coi là một phương tiện dạy học, có tác dụng to lớn trong việc GDMT cho HS trong dạy học môn TN&XH Hơn thế nữa, quy trình GDMT trong môn TN&XH ở tiểu học là một gợi ý

để hỗ trợ GV trong dạy học một cách có hiệu quả

Tài liệu tham khảo

1 Nguyễn Thị Mỹ Châu (2008), Sử dụng truyện

kể để giáo dục môi trường trong dạy học các môn về TN&XH, Luận văn thạc sĩ.

2 Nguyễn Hữu Dục, Vũ Thu Hương, Nguyễn

Thị Vân Hương, Nguyễn Thị Thấn (2002), Giáo dục

môi trường trong trường tiểu học, Tài liệu lưu hành

nội bộ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

3 Nguyễn Thượng Giao (2004), Phương pháp

dạy học các môn TN&XH, NXB Đại học Sư phạm

Hà Nội

4 Lê Trọng Túc (1998), Kể chuyện về môi

trường thiên nhiên quanh em, NXB Giáo dục, Hà

Nội

Trang 40

1 Đặt vấn đề

Trong học tập môn Lịch sử, học sinh (HS) tiếp

thu một khối lượng kiến thức lý thuyết lớn Đối với

người đã có kỹ năng ghi tắt, ghi bằng hệ thống ký

hiệu, bằng cách hiểu của mình thì việc ghi chép dễ

dàng và đơn giản hơn Nhưng ở HS trung học phổ

thông (THPT), trong thời lượng của tiết học, HS gặp

khó khăn, nhất là với HS đầu cấp khi hoàn thành

một lúc nhiều việc: nghe giảng để hiểu kiến thức,

suy nghĩ trả lời câu hỏi, thực hiện các nhiệm vụ học

tập…, nhưng vẫn phải ghi chép bài học đầy đủ, đúng

giờ Chính vì vậy, hướng dẫn HS sử dụng một số

PP ghi chép trong dạy học lịch sử (DHLS) ở trường

THPT là rất cần thiết, góp phần nâng cao kết quả học

tập của HS

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Ý nghĩa của việc hướng dẫn HS sử dụng

một số phương pháp (PP) ghi chép trong DHLS ở

trường THPT

Trong học tập, ghi chép là hoạt động viết nhằm

mục đích lưu lại những thông tin thầy cô và bạn bè

đã trình bày, cũng như cảm xúc, suy nghĩ,… của cá

nhân HS về bài học Bản ghi chép chính là bức tranh

ngôn từ phản ánh thông tin thu thập được, cảm nghĩ,

sự tập trung, mức độ hiểu bài và tính cẩn thận của

người ghi chép

Thuộc phạm trù Khoa học xã hội, phần lớn kiến

thức của môn Lịch sử là lý thuyết, nên HS chỉ có thể

ghi nhớ một phần nội dung đã nhìn, nghe hoặc đọc

được và HS cũng không có khả năng ghi nhớ mãi,

vì bộ não người chỉ tập trung vào những điều gây

chú ý trong một thời điểm cụ thể Do vậy, muốn ghi

* ThS Khoa Lịch sử - Trường ĐHSP, ĐH Huế

nhớ bài học đầy đủ, lâu dài, dễ dàng sắp xếp thông tin và nhớ lại chúng khi cần thiết, HS buộc phải ghi chép Kỹ năng ghi chép của HS được hình thành và rèn luyện trong cả quá trình học tập Nó là hoạt động

tự học một cách có ý thức, có PP, cần nhiều năng lực khác nhau, góp phần nâng cao kết quả học tập… Mặc dù có vai trò quan trọng, nhưng không phải HS nào cũng biết cách ghi chép khoa học Đa số HS có thói quen ghi lại nguyên văn lời giảng của giáo viên (GV) với tâm lý cố gắng ghi được càng nhiều càng tốt, về nhà sẽ đọc để hiểu nội dung sau Các tác giả

của tác phẩm “Các PP dạy học hiệu quả” cho rằng,

ghi chép nguyên văn là cách ghi chép kém hiệu quả

nhất Bởi “Một điều rõ ràng là khi HS cố gắng ghi tất

cả mọi thứ các em nghe được hoặc đọc được, các em

sẽ không thể tham gia vào các hoạt động tổng hợp, phân tích thông tin Cố gắng ghi nhớ tất cả mọi thứ nghe hoặc đọc được sẽ chiếm nhiều chỗ trong bộ nhớ

và HS sẽ không còn “chỗ” dành cho việc phân tích thông tin mới” [5, tr 56 - 57]

Ngoài ra, HS thường ghi chép bài học theo kiểu truyền thống, thành từng câu, từ trái sang phải dưới hai dạng: Dạng đầu tiên là ghi chép thành các đoạn văn như trong sách nhưng khác ở chỗ là chỉ tổng hợp các ý quan trọng Dạng ghi chép thứ hai là ghi chép dưới dạng nhiều phân mục Ở dạng này, các đoạn văn hoặc các câu văn ngắn được đánh số và sắp xếp theo trình tự Mỗi câu văn chứa một ý chính liên quan cần được học Trong tiết học trên lớp, HS phải hoàn thành cùng một lúc nhiều việc: nghe giảng

để hiểu kiến thức, suy nghĩ trả lời câu hỏi, thực hiện các nhiệm vụ học tập, thì cách ghi chép truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế như: Mất nhiều thời gian, HS không ghi chép kịp và cũng không ghi nhớ bài học

HƯỚNG DẪN HỌC SINH SỬ DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GHI CHÉP TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Trần Thị Hải Lê*

ABSTRACT

Taking notes is also a self-study activity, helping students develop many different abilities Although it

is important, not everyone knows how to record science Therefore, guiding students to use some method of recording in teaching history in high school is very necessary, contributing to improve the learning results

of students.

Keywords: Method of recording, teaching history, high school

Ngày nhận bài: 27/4/2019; Ngày phản biện: 16/5/2019; Ngày duyệt đăng: 20/5/2019.

Ngày đăng: 07/12/2022, 15:08

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm