1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÁO CÁO THÀNH TÍCH ĐỀ NGHỊ KHEN THƯỞNG HUÂN CHƯƠNG ĐỘC LẬP HẠNG BA

22 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo Cáo Thành Tích Đề Nghị Khen Thưởng Huân Chương Độc Lập Hạng Ba
Trường học Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất Hà Nội
Chuyên ngành Kỹ thuật Mỏ
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hạ Long
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 905,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả thực hiện các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh chính 10 năm như sau: Trong lộ trình chuyển đổi công nghệ khai thác từ lộ thiên sang hầm lò, nhiệm vụ trọng tâm của Công ty giai đoạn

Trang 1

TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP

THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM

CÔNG TY CỔ PHẦN THAN NÚI BÉO - VINACOMIN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hạ Long, ngày 15 tháng 1 năm 2022

BÁO CÁO THÀNH TÍCH

ĐỀ NGHỊ KHEN THƯỞNG HUÂN CHƯƠNG ĐỘC LẬP HẠNG BA

Tên tập thể đề nghị: Công ty Cổ phần Than Núi Béo - Vinacomin,

Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

I SƠ LƯỢC ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH:

1 ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH:

1.1 Địa điểm trụ sở chính:

- Số 799, Đường Lê Thánh Tông, Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

- Điện thoại: 02033.825220 Fax: 02033.625270

- Email: giaodich @ nuibeo.com.vn

- Website: http://www.nuibeo.com.vn 1.2 Quá trình thành lập và phát triển:

Công ty Cổ phần Than Núi Béo - Vinacomin (tiền thân là Mỏ than Núi Béo trực thuộc Công ty Than Hòn Gai) được thành lập ngày 7/11/1988 Trải qua hơn 33

năm xây dựng và phát triển, bằng sự năng động, sáng tạo, đoàn kết vượt khó, Công

ty đã có những bước phát triển vững chắc Hiện nay, Công ty đã kết thúc hoàn toàn

khai thác lộ thiên và chuyển sang công nghệ khai thác hầm lò thay thế nhằm thích

ứng với điều kiện địa chất và đảm bảo môi trường cho thành phố Hạ Long - Thành

phố du lịch nằm bên cạnh kỳ quan thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long

2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHÍNH CỦA CÔNG TY:

2.1 Điều kiện tự nhiên, xã hội:

- Diện tích mặt bằng sản xuất của Công ty rộng trên 700 ha thuộc địa phận quản lý của các phường: Hà Tu, Hà Phong, Hà Trung và Bạch Đằng thuộc thành phố

Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

2.2 Cơ cấu tổ chức:

- Công ty có 3.029 CBCNLĐ, trong đó lao động nữ: 603 người

- Công ty có 14 phòng kỹ thuật, nghiệp vụ; 01 ban quản lý Dự án hầm lò; 22 công trường, phân xưởng

- Các tổ chức Đảng, đoàn thể, quần chúng:

+ Đảng bộ Công ty có 38 chi bộ với 756 đảng viên;

+ Công đoàn Công ty có 38 công đoàn bộ phận với 3.029 đoàn viên;

+ Đoàn Thanh niên Công ty có 25 chi đoàn với 658 đoàn viên;

+ Hội Cựu chiến binh Công ty có 8 chi hội với 80 hội viên

Trang 2

2.3 Cơ sở vật chất:

Hiện nay Công ty có 01 trụ sở giao dịch, 01 trung tâm điều hành sản xuất, 01 trung tâm sinh hoạt văn hóa, thể thao; Các trang thiết bị sản xuất, xe vận tải, máy khoan, máy gạt, máy xúc, nhà, xưởng… phục vụ khai thác than lộ thiên và hầm lò

cố gắng phấn đấu vượt khó và sẵn sàng chia sẻ trong thời điểm Công ty gặp khó khăn của tập thể cán bộ, công nhân lao động Công ty

- Ranhgiới khai trường ngày càng mở rộng về khu vực dân cư nên công tác

nổ mìn chuẩn bị đất đá cho các thiết bị bốc xúc, vận chuyển hết sức khó khăn; công tác bảo vệ an ninh trật tự, bảo vệ tài nguyên ranh giới mỏ, chống khai thác, vận chuyển, chế biến, tiêu thụ than trái phép hết sức phức tạp

- Do khó khăn chung của ngành than hiện nay về công tác tuyển dụng lao động làm việc trong hầm lò nên mặc dù Công ty đã triển khai nhiều chính sách ưu đãi để thu hút lao động nhưng việc tuyển dụng vẫn gặp nhiều khó khăn, số lượng lao động hiện có chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất, nhiều công nhân mới vào nghề nên trình độ tay nghề chưa cao

II THÀNH TÍCH XUẤT SẮC ĐẠT ĐƯỢC 10 NĂM ( TỪ 2012 ĐẾN 2021):

1 CÁC GIẢI PHÁP CHÍNH TRONG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ ĐƯỢC GIAO MANG LẠI HIỆU QUẢ CAO TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH:

1.1 Công tác tổ chức và việc đổi mới quản lý, chỉ đạo, các giải pháp điều hành sản xuất kinh doanh để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả:

Trong 10 năm vừa qua, Công ty đã hoàn thành toàn diện kế hoạch sản xuất kinh doanh được giao, các chỉ tiêu chính đều đạt và vượt so với kế hoạch Công ty luôn đạt các tiêu chí: giữ vững an toàn, an ninh trật tự, ổn định việc làm, thu nhập cho người lao động, đảm bảo lợi nhuận, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước và Tập đoàn, làm tốt công tác xã hội từ thiện, phối hợp cùng địa phương tháo

gỡ khó khăn Đặc biệt, số lượng lao động giai đoạn trước đây so với giai đoạn hiện

Trang 3

nay tăng không đáng kể đã giúp Công ty không phải chịu áp lực lớn về lao động dôi dư khi thực hiện chủ trương tái cơ cấu lại lực lượng lao động

Kết quả thực hiện các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh chính 10 năm như sau:

Trong lộ trình chuyển đổi công nghệ khai thác từ lộ thiên sang hầm lò, nhiệm

vụ trọng tâm của Công ty giai đoạn 2012 - 2021 là: tập trung các nguồn lực để xây dựng mỏ than hầm lò hiện đại Dự án đầu tư xây dựng mỏ than hầm lò được khởi công ngày 3/2/2012 tại mặt bằng khai trường + 35 của Công ty là dự án do Công ty làm chủ đầu tư với tổng vốn đầu tư trên 5.300 tỷ đồng, Dự án có công suất thiết kế khai thác đạt 2 triệu tấn than/năm Với nhiều nỗ lực, cố gắng, trong năm 2016 Công

ty đã hoàn thiện thi công lò ngầm thông gió từ mức + 36 nối thông với lò ngầm vận tải mức -50 Đến ngày 19/5/2017, nhân kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Công ty đã đưa lò chợ đầu tiên 41101 vào hoạt động Những tấn than hầm lò đầu tiên được khai thác sớm hơn dự kiến đã minh chứng đây là những cố gắng vượt bậc của đội ngũ thợ mỏ Núi Béo đã lập nên thành tích xuất sắc ban đầu ở

độ sâu -350 trong lòng đất Năm 2019 Công ty áp dụng công nghệ đào lò bằng máy combai kết hợp chống lò bằng vì neo Ngày 20/11/2021 vừa qua, CBCNLĐ Công ty

đã vui mừng chào đón tấn than hầm lò thứ 1 triệu của năm kế hoạch 2021, khẳng định bước tiến mới của Công ty trên con đường chinh phục những thành tựu mới trong lĩnh vực khai thác than hầm lò

Để dự án hoàn thành đúng tiến độ, Công ty đã và đang đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, vật liệu mới, cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hóa vào sản xuất và quản lý Nhằm góp phần đẩy nhanh tiến độ đào lò, Công ty đang tập trung thực hiện công tác đào chống lò bằng vì neo chất dẻo cốt thép Bên cạnh đó, Công

ty phối hợp với các đơn vị tư vấn trong nước, chuyên gia nước ngoài tổ chức đào tạo, hướng dẫn cán bộ, công nhân về kỹ thuật chống lò bằng vì neo, xây dựng đội ngũ thợ lò chuyên nghiệp sử dụng thành thạo các thiết bị hiện đại thi công neo để đẩy nhanh tiến độ đào lò - đây chính là điểm nhấn quan trọng khẳng định sự năng động, sáng tạo, thể hiện ý chí quyết tâm cũng như khả năng tiếp cận công nghệ mới trong lĩnh vực khai thác than hầm lò của tập thể CBCNLĐ Công ty

Trong năm 20210 và năm 2021, trước bối cảnh khủng hoảng kinh tế và đại dịch Covid tiếp tục ảnh hưởng đến sản xuất; quá trình thực hiện kế hoạch phối hợp kinh doanh của Công ty hết sức khó khăn; tiến độ tiêu thụ than chậm làm ảnh

Trang 4

hưởng đến dòng tiền phục vụ sản xuất và cân đối tài chính; công tác tuyển dụng thợ

lò gặp nhiều khó khăn… Vượt lên khó khăn, với quyết tâm đạt mục tiêu đề ra, Công ty tiếp tục thực hiện các giải pháp tiết giảm chi phí triển khai đến các tổ, đội sản xuất; tập trung toàn bộ hệ thống chính trị cùng với chuyên môn tạo nên sức mạnh tổng hợp để góp phần tháo gỡ khó khăn chung; phối hợp với tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người lao động Kết quả, Công ty đã hoàn thành toàn diện kế hoạch sản xuất kinh doanh được giao, các chỉ tiêu chính đều đạt và vượt so với năm trước; Công ty luôn đạt các tiêu chí: giữ vững an toàn, an ninh trật tự, ổn định việc làm, thu nhập cho người lao động, đảm bảo lợi nhuận, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước và Tập đoàn, làm tốt công tác xã hội từ thiện, phối hợp cùng địa phương tháo gỡ khó khăn Đầu năm

2020, Công ty đã lắp đặt hoàn thiện và đưa vào sử dụng hệ thống đầu tàu Diezen kết hợp ray bánh răng dẫn hướng để vận chuyển thiết bị vật tư; Đưa vào khai thác 1

lò chợ cơ giới hóa, 5 lò chợ giá xích, đưa vào hoạt động hệ thống quan trắc khí mỏ

và một số hạng mục đầu tư kịp thời phục vụ sản xuất Có thể nói, lò chợ cơ giới hoá đồng bộ đầu tiên vào hoạt động đã khẳng định bước tiến mới của Công ty trên con đường chinh phục công nghệ hiện đại trong lĩnh vực xây dựng mỏ hầm lò, phấn đấu đạt công suất thiết kế 2 triệu tấn than/năm trong thời gian sớm nhất

1.2 Công tác tiền lương, thực hiện chế độ, chính sách với người lao động:

Mặc dù sản lượng khai thác than lộ thiên hiện nay giảm rất nhiều so với các năm trước nhưng Công ty vẫn cố gắng cân đối đủ việc làm cho người lao động lộ thiên đồng thời đảm bảo thu nhập, tiền lương bình quân cho người lao động Công ty đang duy trì sử dụng nguồn tiền lương khuyến khích để kịp thời động viên người lao động làm việc có năng suất, an toàn và đạt hiệu quả cao, đặc biệt là công nhân đang làm việc trong hầm lò

Người lao động được hưởng chế độ bồi dưỡng nặng nhọc độc hại theo đúng quy định của Nhà nước, của Tập đoàn và của Công ty, được trang bị đầy đủ bảo hộ lao động phù hợp từng ngành nghề, được hưởng tiền lương theo quy định khi làm việc vào ngày lễ, làm thêm giờ, làm ca đêm 100% người lao động được Công ty mua bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và giải quyết các chế độ trợ cấp theo đúng quy định hiện hành Công ty duy trì tốt việc khám sức khoẻ định

kỳ cho toàn thể CBCNLĐ, khám sức khoẻ định kỳ cho cán bộ chủ chốt và khám bệnh nghề nghiệp cho công nhân làm việc trong môi trường nặng nhọc, độc hại Công ty thường xuyên cử cán bộ y tế đi kiểm tra công tác vệ sinh - an toàn thực phẩm, phun thuốc diệt ruồi, muỗi tại các bếp ăn, kiểm tra chất lượng nước uống được sản xuất tại Công ty trước khi cung cấp cho các đơn vị, phòng ban

Công ty thực hiện nghiêm túc công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm và

vệ sinh môi trường cho người lao động; triệt để sử dụng nước lọc tinh khiết chất lượng cao do Công ty sản xuất để phục vụ nấu ăn tại các nhà ăn trong Công ty

Công ty luôn xác định việc tái tạo sức khỏe cho người lao động góp phần quan trọng để thúc đẩy năng suất lao động Mặc dù địa bàn sản xuất nằm dàn trải, cách xa nhau song Công ty luôn đảm bảo cung cấp bữa ăn giữa ca đạt chất lượng và bồi dưỡng độc hại kịp thời cho 100% người lao động thuộc đối tượng Công ty luôn duy trì kiểm tra định kỳ ở các bếp ăn, chỉ đạo cấp dưỡng thực hiện nghiêm túc

Trang 5

Quyết định số: 4128/QĐ - BYT ngày 03/10/2001 của Bộ Y tế về việc đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm; Kiểm tra định kỳ việc thực hiện các quy trình, quy phạm

kỹ thuật an toàn trong quản lý, vận hành thiết bị gas, hệ thống điện và phòng chống cháy nổ tại các nhà ăn Để chất lượng bữa ăn ngày càng được nâng cao và được phục vụ tốt hơn, Công ty thường xuyên trao đổi thông tin và tiếp thu các ý kiến đóng góp của công nhân, nhân viên, cán bộ nhằm nâng cao chất lượng phục vụ

Để góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần cho người lao động, Công ty đã tổ chức cho hàng trăm lượt CBCNLĐ có thành tích xuất sắc, tiêu biểu

đi tham quan tại các danh lam thắng cảnh trong và ngoài nước; tổ chức các đợt nghỉ cuối tuần, nghỉ điều dưỡng phục hồi chức năng tại các cơ sở điều dưỡng của Tập đoàn và giải quyết nghỉ dưỡng sức tại chỗ cho công nhân lao động suy giảm sức khỏe Nhằm tạo điều kiện cho công nhân hầm lò có chỗ ở, sinh hoạt sau ca làm việc, trong khi chờ phê duyệt phương án thiết kế xây dựng khu tập thể cho công nhân, Công ty đã thuê và cải tạo lại nhiều nhà ở phục vụ nhu cầu ăn, ở, sinh hoạt cho hàng trăm công nhân hầm lò và học sinh thực tập Mỗi phòng ở được bố trí đầy

đủ tiện nghi và có các phòng khách, khu bếp, nhà vệ sinh, phòng tắm giặt, phòng sinh hoạt chung Tại phòng sinh hoạt chung có sách báo, ti vi và được lắp đặt wifi hoạt động 24/24 đáp ứng đủ nhu cầu của công nhân và học sinh

1.3 Thực hiện đảm bảo công tác môi trường và an toàn vệ sinh lao động:

Đi đôi với thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, Công ty luôn thực hiện nghiêm túc công tác an toàn vệ sinh lao động

Về môi trường, Công ty luôn làm tốt các phần việc để đảm bảo môi trường sản xuất như: Phòng chống ngập lụt khu dân cư liền kề, xây kè chắn chống sạt lở, xây dựng các hệ thống xử lý nước thải, các hệ thống chứa và bảo quản chất thải nguy hại theo quy định, thường xuyên tưới nước dập bụi các tuyến đường vận tải mỏ… Ngoài ra Công ty đã và đang tiếp tục triển khai dự án trồng hoa, trồng cỏ, keo tai tượng để cải tạo, phục hồi môi trường tại bãi thải chính Bắc từ mức +256 và các vị trí giáp khu dân cư

Công tác bảo vệ an ninh ở Công ty có phần phức tạp hơn so với các đơn vị bạn do khai trường nằm liền kề và đan xen với các cụm dân cư, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn Bên cạnh việc tăng cường lực lượng bảo vệ an ninh, Công

ty đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc Đến nay tình hình an ninh trong khai trường, ranh giới mỏ cơ bản giữ được ổn định

1.4 Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu SXKD:

Để đáp ứng yêu cầu sản xuất khai thác than, Công ty duy trì tổ chức cho hàng trăm lượt cán bộ, công nhân, nhân viên được học các lớp bồi dưỡng chuyên sâu do Công ty phối hợp với các đơn vị đào tạo trong Tập đoàn tổ chức Cùng với những nỗ lực triển khai thi công đảm bảo tiến độ của Dự án, Công ty đang tiếp tục khẩn trương xây dựng phương án chuyển đổi sản xuất, chuẩn bị nguồn nhân lực qua việc ký thỏa thuận hợp tác với Trường Cao đẳng Than - Khoáng sản đào tạo công nhân làm việc trực tiếp trong hầm lò và các cán bộ kỹ thuật, nghiệp vụ, điều

Trang 6

hành sản xuất, công nhân các nghề ngoài lò Đến nay, Công ty đã liên kết tuyển sinh đào tạo thợ lò được hàng trăm học sinh, số đã ra trường được thực hành nghề trực tiếp tại các đường lò trong Công ty và sau đó được Công ty tiếp nhận làm việc Hiện nay Công ty đang tiếp tục áp dụng các chính sách ưu đãi nhằm thu hút người lao động về chung tay xây dựng Công ty

2 THAM GIA CÁC PHONG TRÀO THI ĐUA:

2.1 Công tác lãnh đạo, chỉ đạo công tác thi đua:

Hàng năm, Chủ tịch Hội đồng TĐ - KT Công ty đều phân công nhiệm vụ cho các ủy viên Hội đồng để: tư vấn, tham gia ý kiến và đề xuất các nội dung cơ bản về công tác TĐ - KT; thực hiện cơ chế phối hợp giữa cơ quan chuyên môn và các đoàn thể trong tổ chức, chỉ đạo, tổng kết, phổ biến kinh nghiệm, xây dựng và nhân điển hình tiên tiến; thẩm định thành tích, xét chọn các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua để đề nghị khen thưởng theo quy định

Để công tác TĐ - KT được thực hiện tốt từ tổ, đội đến Công ty, Công ty luôn chú trọng đến việc hướng dẫn các công trường, phân xưởng, phòng ban xây dựng các tiêu chí trong bản đăng ký thi đua; tuyên truyền, xây dựng, phát hiện, nhân rộng điển hình tiên tiến; hoàn thiện thủ tục hồ sơ trình khen; thực hiện chế độ thông tin báo cáo Qua đó đã giúp cho các đơn vị, phòng ban nắm được những quy định hiện hành của Nhà nước về TĐ - KT, nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ về công tác TĐ -

KT, từ đó có nhiều giải pháp, biện pháp sáng tạo, sát với tình hình thực tế của đơn

vị để tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua tại đơn vị mình

Trên cơ sở kế hoạch phát động thi đua của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam và UBND tỉnh Quảng Ninh, Công ty đều tham gia hưởng ứng và đăng ký thi đua với Hội đồng TĐ - KT Tập đoàn, Hội đồng TĐ - KT tỉnh Quảng Ninh…; tham gia ký kết giao ước thi đua giữa các đơn vị trong cụm thi đua;

tổ chức phát động phong trào thi đua trong toàn Công ty, tập trung nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh…

2.2 Các phong trào thi đua được áp dụng trong thực tiễn sản xuất:

Trong 10 năm qua, Công ty luôn duy trì tổ chức phát động các phong trào thi đua tiêu biểu như:

+ Phong trào thi đua hoàn thành các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh năm;

+ Phong trào thi đua thực hiện chiến dịch sản xuất than 90 ngày đêm;

+ Phong trào thi đua đảm bảo giữ vững an ninh trật tự, an toàn lao động, môi trường “Xanh - Sạch - Đẹp”;

+ Phong trào thi đua hưởng ứng Tháng Công nhân;

+ Phong trào thi đua phát huy sáng kiến, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, đạt năng suất dẫn đầu, về trước kế hoạch năm;

+ Phong trào thi đua học tập nâng cao trình độ tay nghề;

+ Phong trào thi đua lao động sản xuất chào mừng kỷ niệm ngày thành lập Công ty và ngày Truyền thống Công nhân vùng Mỏ - Truyền thống ngành Than;

+ Phong trào thi đua đoàn kết, không có tệ nạn xã hội, tổ chức Đảng và Đoàn thể trong sạch, vững mạnh…

Trang 7

Các phong trào thi đua được tổ chức sâu rộng, có nội dung, tiêu chí thi đua, điển hình là các đợt thi đua cao điểm chào mừng các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, của tỉnh và của ngành Ngoài ra Công ty còn phát động các phong trào thi đua góp phần đổi mới lề lối làm việc, thực hiện văn minh công sở, học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh…

Công ty đặc biệt quan tâm đến phong trào thi đua giành năng suất dẫn đầu, đảm nhận công trình việc khó Tuy gặp nhiều khó khăn do Công ty đang trong quá trình giảm dần sản lượng than lộ thiên trong khi khai thác than hầm lò mới chỉ ở giai đoạn bắt đầu song trong 10 năm liên tục vừa qua Công ty đã có hàng chục tổ sản xuất đạt và vượt mức năng suất Tập đoàn giao

2.3 Công tác khen thưởng, xây dựng điển hình tiên tiến:

Công ty luôn quán triệt, nâng cao nhận thức của người lao động về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác phát hiện, xây dựng và nhân rộng điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua yêu nước nhằm tạo chuyển biến tích cực trong mỗi CBCNLĐ Công ty, góp phần xây dựng Tập đoàn, xây dựng Công ty ngày càng phát triển Thông qua quá trình tổ chức, triển khai thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, Công ty phát hiện được nhiều nhân tố điển hình tiên tiến trong đó luôn chú trọng xây dựng đối tượng công nhân lao động trực tiếp Đặc biệt, trong giai đoạn Công ty đang chuyển đổi mô hình sản xuất từ công nghệ khai thác than lộ thiên sang công nghệ khai thác than hầm lò hiện nay, Công ty luôn quan tâm bồi dưỡng, xây dựng gương điển hình tiên tiến là những thợ lò tiêu biểu có ngày công

và thu nhập cao Công ty thường xuyên kiểm tra, phát hiện những khó khăn, kịp thời có biện pháp giúp đỡ các điển hình tiên tiến phấn đấu, rèn luyện, tiếp tục duy trì thành tích và phát huy hiệu quả Nội dung, hình thức và biện pháp tuyên truyền

về gương người tốt, việc tốt của Công ty thường xuyên được đổi mới theo hướng thiết thực, phù hợp với thực tế của Công ty

Công ty luôn thực hiện tốt công tác khen thưởng, kịp thời động viên các tập thể, cá nhân tiêu biểu trong các phong trào thi đua yêu nước, đặc biệt là các tấm gương vượt qua hoàn cảnh khó khăn, các tấm gương điển hình trong thực hiện phong trào thi đua lao động sản xuất Hàng năm, nhân kỷ niệm ngày thành lập Công ty 7/11 và truyền thống Công nhân vùng Mỏ - Truyền thống ngành Than 12/11, tổng kết Tháng Công nhân, Hội nghị Người lao động… Công ty thường xuyên tổ chức lồng ghép tuyên dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích trong lao động sản xuất được Nhà nước, các bộ, ban, ngành, Công ty tặng cờ, bằng khen, giấy khen… Qua đó, nhằm ghi nhận, khích lệ tinh thần thi đua lao động sản xuất của các tập thể, cá nhân

Trong 10 năm qua, Công ty đã được khen thưởng:

- Huân chương lao động các hạng: 16 tập thể và cá nhân;

- Bằng khen Thủ tướng Chính phủ: 20 tập thể cá nhân;

- Chiến sĩ thi đua toàn quốc: 01 cá nhân;

- 02 lần được Thủ tướng Chính phủ tặng Cờ dẫn đầu phong trào thi đua;

- 02 lần được Bộ Công thương tặng Cờ dẫn đầu phong trào thi đua;

- 01 lần được Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tặng Cờ dẫn đầu phong trào thi đua;

Trang 8

- 01 lần được Bộ Công an tặng Cờ dẫn đầu phong trào thi đua;

- Bằng khen của Bộ Công nghiệp, Bộ Công thương và Ủy ban quản lý vốn Nhà nước: 145 tập thể và cá nhân;

- Chiến sĩ thi đua Bộ Công nghiệp, Bộ Công thương, UBQLVNN: 115 cá nhân;

- Bằng Lao động sáng tạo: 40 lượt cá nhân;

- Chiến sĩ thi đua Tập đoàn: 440 lượt cá nhân;

- Tập thể lao động xuất sắc: 804 tập thể;

- Tập thể lao động tiên tiến: 2.113 tập thể;

- Cá nhân lao động tiên tiến: 21.960 lượt cá nhân;

- Chiến sĩ thi đua cơ sở: 2.563 lượt cá nhân;

- Giấy khen của Giám đốc Công ty: 223 tập thể, 847 cá nhân…

Với thành tích đạt được, trong 10 năm qua Công ty có nhiều cá nhân điển hình tiên tiến là những tấm gương lao động tiêu biểu, trong đó có các công nhân trực tiếp sản xuất như: Hoàng Văn Hiện, Nguyễn Văn Khơi thuộc Công trường Đào lò 1; Hoàng Công Dương thuộc Công trường Đào lò 2, Nguyễn Công Quân, Phạm Đình Tuấn thuộc Công trường Đào lò 5, Nguyễn Duy Thanh thuộc Công trường Khai thác 2, Đoàn Văn Hưởng thuộc Phân xưởng Sửa chữa ô tô…

Tỷ lệ khen thưởng các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng giữa lãnh đạo, quản lý và người lao động trong Công ty luôn đảm bảo tỷ lệ 50/50 Quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Đảng ủy và Giám đốc Công ty là tập trung tuyên dương, khen thưởng công nhân sản xuất, đặc biệt chú trọng khen thưởng công nhân trực tiếp đào lò

Thực hiện văn bản chỉ đạo của TKV về việc xây dựng quy định khen thưởng các cá nhân xuất sắc hàng tháng, hàng quý, qua 2 năm triển khai, toàn Công ty đã

có trên 2 nghìn công nhân, nhân viên và cán bộ được khen thưởng hàng tháng; Trên

500 công nhân, nhân viên và cán bộ được khen thưởng hàng quý; 100 công nhân, nhân viên và cán bộ xuất sắc nhất được khen thưởng dẫn đầu quý và cả năm

3 CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC, SÁNG KIẾN, GIẢI PHÁP: Trong quá trình sản xuất kinh doanh, Công ty luôn coi trọng phong trào thi đua phát huy sáng kiến, hiến kế, cải tiến kỹ thuật bởi những sáng kiến được áp dụng thành công đã góp phần giải quyết kịp thời khó khăn, giảm chi phí, nâng cao năng suất và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động Do làm tốt quá trình tuyên truyền, vận động, hỗ trợ, giúp đỡ và khen thưởng kịp thời các tác giả đề tài, hàng trăm sáng kiến đã được áp dụng vào thực tế sản xuất, mang lại hiệu quả cả về kinh tế và xã hội cho Công ty Trong 10 năm qua, Công ty đã thu được 1.780 sáng kiến với tổng giá trị làm lợi đạt trên 40 tỷ đồng

Với thành tích đạt được trong phong trào phát huy sáng kiến, nhiều cá nhân

đã được Tổng LĐLĐ Việt Nam ghi nhận và tặng bằng lao động sáng tạo

Một số sáng kiến điển hình:

* Sáng kiến 1: “Nghiên cứu quy hoạch đá thải bãi thải +60 Đông Bắc rút ngắn cung độ vận chuyển đất đá, hình thành tuyến đường vận chuyển lên sàng 7”

Trang 9

- Nội dung giải pháp: Vào các tháng cuối năm 2010, do ảnh hưởng của đứt gãy Tây phay K, tuyến đường vận chuyển đất đá lên bãi thải Chính Bắc và vận chuyển than lên sàng 7 mức +84 lên +110B của Công trường Vỉa 14 thường xuyên

bị tụt lở, không đảm bảo an toàn, có nguy cơ không giữ được tuyến đường này Mặt khác, bãi thải trong Công trường Vỉa 14 chật hẹp, chưa đủ không gian đổ thải theo

kế hoạch do quá trình thi công động tụ Đông Nam gặp nhiều khó khăn Toàn bộ khối lượng đất đá của khai trường Vỉa 14 nếu đổ tại bãi thải Chính bắc cung độ tăng lên rất lớn so với kế hoạch, đồng thời không đảm bảo an toàn cho các xe vận

chuyển qua tuyến đường +84 lên +110

- Triển khai thực hiện: Trước thực trạng trên, Công ty đã tiến hành quy hoạch bãi thải +60 Đông Bắc rút ngắn cung độ vận chuyển đất đá và hình thành tuyến đường vận chuyển than lên Sàng 7 Cụ thể: Công ty tận dụng cao độ địa hình mức +46 Đông Bắc vận chuyển đất đá bốc xúc từ các tầng khai thác của Công trường Vỉa 14 lên đổ thải hình thành bãi thải +60 Đông Bắc và tuyến đường vận chuyển +60 lên +72 Đông Bắc để vận chuyển than lên Sàng 7 với tổng khối lượng thiết kế 76.500 m3

- Phạm vi áp dụng đề tài: Giải pháp hoàn toàn phù hợp và áp dụng có hiệu quả trong điều kiện hiện tại và các tháng tiếp theo của Công ty

- Hiệu quả: Đề tài đã giải quyết được 3 vấn đề cần thiết trong Công ty tại

thời điểm đó là: Giảm cung độ vận chuyển đất đá khu vực Công trường Vỉa 14 lên

bãi thải Chính Bắc và bãi thải trong, tiết kiệm chi phí; Tạo không gian đổ thải mới cho Công trường Vỉa 14 trong khi không gian bãi thải trong khu vực Đông Nam còn chật, hẹp do tiến độ khai thác khu vực này gặp nhiều khó khăn, chậm; Hình thành tuyến đường vận chuyển than lên Sàng 7 để thay thế cho tuyến đường vận

chuyển +84 lên +110B khi tuyến đường này bị mất

- Giá trị làm lợi: 1,38 tỷ đồng

trụ Đông lên +110 phía Bắc - Công trường Vỉa 14, tránh vùng sụt lún nguy hiểm

do khai thác hầm lò của Công ty Cổ phần Than Hà Lầm - Vinacomin trong quý

4 năm 2012 và cả năm 2013”

- Nội dung giải pháp: Từ tháng 7 năm 2012, tuyến đường vận chuyển từ +75 đến +110 Đông Bắc - Công trường Vỉa 14 chạy qua cua +79 dừng hoạt động do nằm trong vùng sụt lún nguy hiểm bởi khai thác hầm lò của Công ty Cổ phần Than

Hà Lầm - Vinacomin, vì vậy gây khó khăn cho việc liên lạc, điều hành sản xuất, vận chuyển than và đất đá giữa Công trường Vỉa 14 và các Công trường khác trong Công ty Mặt khác, các tầng +120, +108, +96, +84 phía Bắc chưa đạt giới hạn kết thúc dự án mở rộng năm 2012, cần thiết phải có tuyến đường vận chuyển tránh vùng sụt lún nguy hiểm do khai thác hầm lò của Công ty Cổ phần Than Hà Lầm - Vinacomin để bốc xúc đất đá các tầng trên đến đạt giới hạn kết thúc của dự án

- Triển khai thực hiện: Để khắc phục những tồn tại trên, tận dụng không gian địa hình hiện trạng phía Đông Bắc, Công ty đã nghiên cứu thi công đổ thải làm đường vận chuyển từ +45 trụ Đông lên +110 phía Bắc - Công trường Vỉa 14

Trang 10

- Phạm vi áp dụng đề tài: Giải pháp hoàn toàn phù hợp và áp dụng có hiệu quả trong điều kiện hiện tại của Công ty

- Hiệu quả thu được: Giảm khối lượng vận chuyển đất đá đổ thải tại bãi thải trong Công trường Đông Bắc, do đó giảm chi phí sản xuất; Hình thành tuyến đường vận chuyển mới từ +45 trụ Đông lên +110 phía Bắc, tránh vùng sụt lún nguy hiểm

do khai thác hầm lò của Công ty Cổ phần Than Hà Lầm - Vinacomin trong quý 4 năm 2012 và cả năm 2013

- Giá trị làm lợi: 3,47 tỷ đồng

tại moong Bắc Hữu Nghị thay thế giếng tháo nước số 6 tại cống từ mức -55”

- Nội dung đề tài: Dự án mở rộng khai thác lộ thiên mỏ than Núi Béo được

lập trên cơ sở tài liệu địa chất đã được Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng sản phê duyệt Theo đó, sau khi kết thúc khai thác, khu vực giáp ranh sẽ hình thành

02 vùng trũng là động tụ 55 và 75, giữa 02 động tụ là sơn tụ ngăn cách mức

-25 Công ty phải triển khai xây dựng các giếng thu nước tại các vùng trũng để đảm bảo an toàn cho việc khai thác hầm lò mức dưới; trước mắt thi công thử nghiệm giếng thu nước số 5 tại mức -120 Vỉa 14 cánh Đông, sau đó áp dụng mở rộng các khu vực khác Viện KHCN Mỏ khi lập dự án mở rộng đã đề xuất xây dựng 02 giếng số 6, số 7 thu nước tại động tụ -55 (Giếng số 6) và động -75 (Giếng số 7), đặt bơm tại đáy giếng để bơm nước thoát ra ngoài Do có sự thay đổi về mặt địa chất, giữa 02 động tụ -55 và -75 là sơn tụ mức -40, tài nguyên than tăng lên tại khu vực giáp ranh Vì vậy, việc lựa chọn giáp pháp khác, phù hợp với thực tế này để tháo khô nước trong đất đá thải khu vực giáp ranh là cần thiết và phù hợp

- Triển khai thực hiện: Để giảm chi phí sản xuất, góp phần đảm bảo an toàn cho mỏ hầm lò phía dưới, Công ty đã nghiên cứu lựa chọn giải pháp tháo nước trong đất đá thải tại moong Bắc Hữu Nghị thay thế giếng tháo nước số 6 tại động tụ -55; Thi công nổ mìn (không xúc) tạo hào tự ngấm nước từ động tụ -55 sang động

tụ -75, không xây dựng giếng thu nước số 6 tại động tụ -55, sử dụng giếng thu nước

số 7 tại động tụ -75 để tháo khô nước trong đất đá thải tại khu vực Bắc Hữu Nghị

và khu vực phía Đông, Đông Bắc Vỉa 14 cánh Tây

- Phạm vi áp dụng: Đề tài đã giải quyết được vấn đề đổ thải cho Công ty Cổ phần Than Hà Lầm - Vinacomin và một phần của Công ty Cổ phần Than Núi Béo -

Vinacomin khi đổ thải vào moong Bắc Hữu Nghị

- Hiệu quả thu được khi áp dụng đề tài: Góp phần đảm bảo an toàn cho mỏ than Hà Lầm khi khai thác hầm lò dưới đáy moong Vỉa 14 và giảm chi phí xây giếng tháo khô nước số 6

- Giá trị làm lợi: Hiệu qủa của đề tài được tính toán trên cơ sở tính toán

chênh lệch giữa chi phí thi công giếng thoát nước số 6 và chi phí khoan nổ mìn tạo hào thoát nước từ -55 moong Bắc Hữu Nghị sang -75 moong Vỉa 14 cánh Tây Sáng kiến có giá trị làm lợi 2,8 tỷ đồng

* Sáng kiến 4: Quy hoạch kho để sản phẩm ngoài than tại mặt bằng +12 Công trường Đông Bắc hợp lý, giảm chi phí sản xuất

Trang 11

- Nội dung đề tài: Theo Dự án mở rộng khai thác lộ thiên mỏ than Núi Béo,

do không gian đổ thải chật hẹp, Công ty Cổ phần Than Núi Béo -Vinacomin phải nâng cao bãi thải Vỉa 14 cánh Đông đến mức +60, sau đó xúc đổ thải hoàn thổ mooong khai thác, đất đá xúc lại bãi thải Vỉa 14 cánh Đông là 7.360.000 m3 (năm 2015: 3.700.000 m3, năm 2016: 3.660.000 m3) và được tính toán vào giá thành khai thác Trong điều kiện kho bãi chứa sản phẩm ngoài than gặp nhiều khó khăn, cần phải quy hoạch mở rộng kho bãi chứa sản phẩm ngoài than là cần thiết Mặt bằng +12 Công trường Đông Bắc có khả năng quy hoạch thành mặt bằng chứa sản phẩm ngoài than, đồng thời quy hoạch luôn thành khu vực chế biến các sản phẩm trên mặt bằng sẽ rất thuận lợi và phù hợp với thực tế

- Triển khai thực hiện: Để giảm chi phí sản xuất, giải quyết không gian đổ thải sản phẩm ngoài than, Công ty đã triển khai quy hoạch đổ sản phẩm ngoài than

tại mặt bằng +12 Công trường Đông Bắc Cụ thể: Lựa chọn sản phẩm ngoài than đổ

thải nâng cao cốt bãi thải Vỉa 14 cánh Đông phù hợp theo cốt thiết kế, phù hợp với quy hoạch kho bãi và có thể tổ chức chế biến trên mặt bằng +12 Sản phẩm ngoài than sẽ không phải xúc bốc vận chuyển đổ thải lấp moong

- Phạm vi áp dụng: Việc đổ thải lấp moong sau khi kết thúc khai thác do Công ty Cổ phần Than Hà Tu - Vinacomin thực hiện theo Đề án các giải pháp khai

thác, đổ thải, thoát nước tiến tới kết thúc khai thác lộ thiên vùng Hòn Gai

- Hiệu quả đề tài: Giải quyết được các vấn đề cấp bách là: Tạo không gian đổ sản phẩm ngoài than; giảm sức ép đối với kho bãi chứa than và sản phẩm ngoài

than; giảm chi phí sản xuất cho các năm về sau

- Giá trị làm lợi:5,7 tỷ đồng

Hữu nghị hợp lý, rút ngắn cung độ vận chuyển đất đá năm 2014”

- Nội dung đề tài: Theo bản đồ phối hợp đổ thải khu vực Bắc Hữu Nghị năm

2014 giữa Công ty Cổ phần Than Núi Béo - Vinacomin và Công ty Cổ phần Than

Hà Lầm - Vinacomin đã được TKV phê duyệt với tổng khối lượng đổ thải là 5.450.000 m3, trong đó: Than Núi Béo đổ thải với khối lượng là 450.000 m3 từ mức -60 đến mức -20; Than Hà Lầm đổ thải với khối lượng là 5.000.000 m3 từ mức -30 đến mức +70 Thực hiện phối hợp đổ thải khu vực Bắc Hữu Nghị năm 2014 giữa 2 công ty, trong 7 tháng đầu năm 2014, Than Núi Béo đã đổ thải theo phân lớp tại khu vực Bắc Hữu Nghị từ mức -60 đến mức -20 với khối lượng 440.159 m3 (đạt 97,8 %

so với kế hoạch) Toàn bộ khối lượng đổ thải 4 tháng cuối năm của Công trường Vỉa 14 sẽ phải dồn vào đổ thải tại bãi thải trong Công trường Đông Bắc thì cung độ vẫn đảm bảo theo kế hoạch năm 2014 Tuy nhiên, sẽ không thực hiện được theo tinh thần Công số 3352/TKV - KH ngày 20/6/2014 của Tổng Giám đốc Tập đoàn

về các giải pháp tăng cường quản trị doanh nghiệp năm 2014, đảm bảo hiệu quả SXKD và thu nhập cho người lao động

- Triển khai thực hiện: Để khắc phục những tồn tại trên, Công ty đã nghiên cứu thi công phối hợp đổ thải tại bãi thải trong khu vực Bắc Hữu Nghị hợp lý, góp phần rút ngắn cung độ vận chuyển đất đá năm 2014 Cụ thể: Tận dụng không gian địa hình đổ thải từ mức -20 trở lên tại khu vực Bắc Hữu Nghị mà Công ty Cổ phần

Ngày đăng: 07/12/2022, 14:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w