1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi sử dụng tấm lưới nhân tạo 3D ngoài phúc mạc điều trị thoát vị bẹn hai bên ở người lớn

141 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Ứng dụng Phẫu Thuật Nội Soi Sử Dụng Tấm Lưới Nhân Tạo 3D Ngoài Phúc Mạc Điều Trị Thoát Vị Bẹn Hai Bên Ở Người Lớn
Trường học Bệnh Viện Thanh Nhàn
Chuyên ngành Chuyên ngành Phẫu thuật
Thể loại đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (3)
    • 1.1. Giải phẫu, cơ chế bệnh sinh ứng dụng trong phẫu thuật thoát vị bẹn (3)
    • 1.2. Tình hình nghiên cứu về đặc điểm bệnh lý thoát vị bẹn hai bên (10)
      • 1.2.1. Dịch tễ học (10)
      • 1.2.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh (12)
      • 1.2.3. Chẩn đoán (14)
      • 1.2.4. Phân loại thoát vị bẹn (16)
    • 1.3. Phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn hai bên (0)
      • 1.3.1. Lịch sử (16)
      • 1.3.2. Các phương pháp phẫu thuật (18)
      • 1.3.3. Các vật liệu nhân tạo ứng dụng trong phẫu thuật thoát vị bẹn (23)
    • 1.4. Ứng dụng PTNS hoàn toàn ngoài phúc mạc (TEP) đặt tấm lưới nhân tạo 3D điều trị TVB hai bên (24)
      • 1.4.1. Vai trò của lưới nhân tạo 3D (24)
      • 1.4.2. Các bước kỹ thuật (26)
    • 1.5. Tình hình nghiên cứu về kết quả PTNS TEP điều trị TVB hai bên (33)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (37)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (37)
      • 2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn (37)
      • 2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ (37)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (37)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (37)
      • 2.2.1. Cỡ mẫu nghiên cứu (37)
      • 2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu (38)
      • 2.2.5. Các chỉ tiêu nghiên cứu (48)
      • 2.2.6. Xử lý số liệu (58)
      • 2.2.7. Đạo đức nghiên cứu của đề tài (58)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (59)
    • 3.1. Đặc điểm bệnh lý TVB hai bên ở người lớn được PTNS đặt lưới 3D ngoài phúc mạc (59)
      • 3.1.1. Đặc điểm chung (59)
      • 3.1.2. Đặc điểm bệnh lý (62)
    • 3.2. Kết quả PTNS đặt tấm lưới nhân tạo 3D điều trị TVB hai bên (70)
      • 3.2.1. Kết quả trong mổ (70)
      • 3.2.2. Kết quả sớm (76)
      • 3.2.3. Kết quả xa (79)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (81)
    • 4.1. Đặc điểm bệnh lý TVB hai bên ở người lớn được PTNS đặt lưới 3D ngoài phúc mạc (81)
      • 4.1.1. Đặc điểm chung (81)
      • 4.1.2. Đặc điểm bệnh lý (86)
    • 4.2. Kết quả PTNS đặt tấm lưới nhân tạo 3D điều trị TVB hai bên (91)
      • 4.2.1. Kết quả trong mổ (91)
      • 4.2.2. Kết quả sớm (106)
      • 4.2.3. Kết quả xa (111)
  • KẾT LUẬN (116)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (120)

Nội dung

Tóm tắt những đóng góp mới của luận án: Nghiên cứu được tiến hành trên 60 bệnh nhân thoát vị bẹn hai bên được điều trị bằng phẫu thuật nội soi hoàn toàn ngoài phúc mạc đặt tấm lưới nhân tạo 3D, tác giả rút ra một số kết luận chính: - Về đặc điểm bệnh lý: Tất cả bệnh nhân là nam, tuổi trung bình 51,0. Thời gian phát hiện bệnh trung bình 11,02 tháng. Đánh giá tổn thương trong mổ ghi nhận: Phân loại theo Nyhus chủ yếu loại IIIA (thoát vị bẹn trực tiếp 63,3%); đa số cùng loại thoát vị trên một bệnh nhân, chỉ có 4 bệnh nhân có 1 bên là thoát vị trực tiếp, bên kia là thoát vị gián tiếp. 76,7% túi thoát vị có đường kính từ 1,5 - < 3 cm. - Về kết quả phẫu thuật nội soi đặt lưới 3D ngoài phúc mạc điều trị thoát vị bẹn hai bên ở người lớn: Nghiên cứu đã đưa ra quy trình phẫu thuật theo 5 bước cụ thể, đánh giá và phân tích các khó khăn, thuận lợi theo từng bước phẫu thuật. Tai biến trong mổ 15%, không trường hợp nào phải chuyển mổ mở, biến chứng sớm 10,0% gồm tụ máu vùng bìu, tê bì vùng đùi ngoài và bí tiểu. 57 bệnh nhân (95%) được tái khám sau mổ với thời gian theo dõi trung bình 21,8 tháng ghi nhận 1 trường hợp (1,8%) đau mạn tính vùng bẹn bìu, không bệnh nhân nào tái phát. Nghiên cứu khẳng định phẫu thuật nội soi hoàn toàn ngoài phúc mạc đặt tấm lưới nhân tạo 3D là phương pháp an toàn, khả thi và hiệu quả trong điều trị thoát vị bẹn hai bên ở người lớn. Những đóng góp trên có tính thiết thực, và giá trị khoa học cao, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị bệnh lý thoát vị bẹn tại Việt Nam.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Gồm 60 BN trên 18 tuổi được chẩn đoán trong mổ là TVB hai bên và được điều trị bằng PTNS hoàn toàn ngoài phúc mạc đặt tấm lưới nhân tạo 3D tại Bệnh viện Thanh Nhàn, thời gian từ tháng 01/2017 đến hết tháng 11/2020

Bệnh nhân được chẩn đoán TVB hai bên dựa trên đánh giá trong mổ và được điều trị bằng PTNS hoàn toàn ngoài phúc mạc (TEP) với đặt tấm lưới nhân tạo 3D.

- Hồ sơ bệnh án đầy đủ theo chỉ tiêu nghiên cứu

- BN đồng ý tham gia nghiên cứu

- BN được chẩn đoán thoát vị bẹn hai bên trước mổ nhưng trong mổ chỉ ghi nhận thoát vị bẹn 1 bên

- Các trường hợp TVB một bên, TVB nghẹt, tái phát

- BN có chống chỉ định với PTNS TEP điều trị thoát vị bẹn (đã trình bày ở phần tổng quan tài liệu)

- BN đang có nhiễm khuẩn toàn thân hoặc tại vùng bẹn hai bên

- Điểm phân loại sức khỏe trước gây mê hồi sức ASA > III

- BN có rối loạn đông máu

- BN không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Hồ sơ không đủ thông tin theo chỉ tiêu nghiên cứu hoặc thất lạc dữ liệu

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến cứu, theo dõi dọc, không đối chứng

Cỡ mẫu được tính theo công thức:

𝑝ε % Trong đó: n là cỡ mẫu tối thiểu z1-α/2= 1,96 (chọn α = 0,05; độ tin cậy 95%); ε = 0,05 (ε là độ sai lệch mong muốn 5%) p: tỷ lệ mong muốn PTNS điều trị TVB 2 bên thành công là 96%

Thay vào công thức ta có, số lượng BN nghiên cứu tối thiểu là 56 BN

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu

Nhóm hồi cứu: từ tháng 01/2017 đến hết tháng 12/2017 có 10 BN

- BN được phẫu thuật nội soi điều trị TVB hai bên theo đúng quy trình kỹ thuật như nhóm tiến cứu

- Lấy bệnh án tại phòng lưu trữ hồ sơ của bệnh viện

- Tổng hợp và nhập thông tin BN theo mẫu bệnh án nghiên cứu đã thiết kế sẵn

Nhóm tiến cứu: từ tháng 01/2018 đến hết tháng 11/2020 có 50 BN

- Lựa chọn các BN phù hợp với tiêu chuẩn của đối tượng nghiên cứu

- BN được phẫu thuật theo đúng quy trình đã thông qua đề cương nghiên cứu và giống với quy trình kỹ thuật trong nhóm hồi cứu

- Các thông tin được thu thập qua mẫu bệnh án nghiên cứu, mẫu theo dõi BN được thiết kế sẵn Phương pháp thu thập thông tin:

+ Thăm khám lâm sàng, cận lâm sàng BN trước khi phẫu thuật

+ Tham gia trực tiếp các ca phẫu thuật Đối với các trường hợp không thể tham gia được, chúng tôi ghi lại hình ảnh các kỹ thuật trong mổ

+ Theo dõi điều trị BN khi nằm viện và đánh giá tại thời điểm ra viện

+ Ghi nhận các thông tin theo chỉ tiêu nghiên cứu

2.2.4 Quy trình PTNS đặt tấm lưới nhân tạo 3D ngoài phúc mạc điều trị TVB hai bên được thực hiện trong nghiên cứu

Khi bệnh nhân nhập viện, tất cả đều được thăm khám lâm sàng và thực hiện các xét nghiệm thăm dò cận lâm sàng như siêu âm ổ bụng, sinh hóa máu và huyết học cơ bản Các xét nghiệm bổ sung được chỉ định tùy từng trường hợp, gồm siêu âm tim đối với bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên, điện tâm đồ và X-quang ngực.

Chúng tôi sẽ giải thích cho bệnh nhân và gia đình về kỹ thuật mổ PTNS, bao gồm kỹ thuật đặt tấm lưới nhân tạo 3D ngoài phúc mạc và các phương án chuyển đổi khi PTNS không thể thực hiện được, nhằm giúp người nhà hiểu rõ quá trình phẫu thuật và quyết định điều trị Nội dung giải thích còn đề cập tới các tai biến có thể xảy ra trong quá trình mổ như tổn thương cơ quan lân cận, chảy máu hoặc các biến chứng trong lúc phẫu thuật, cũng như các biến chứng sau mổ có thể gặp phải như nhiễm trùng, đau kéo dài hoặc tái phát và các biện pháp theo dõi xử lý Việc cung cấp thông tin đầy đủ sẽ giúp BN và gia đình nắm được lợi ích và rủi ro của kỹ thuật PTNS, các lựa chọn thay thế và kế hoạch quản lý biến chứng.

- BN nhịn ăn uống hoàn toàn trước phẫu thuật tối thiểu 6 giờ

- Thụt tháo đại tràng sạch phân 2 lần trước phẫu thuật bằng Fleet 133ml:

- Vệ sinh sạch sẽ vùng mổ, đánh dấu vết mổ

- Cho BN đi tiểu 30 phút trước phẫu thuật, đảm bảo bàng quang xẹp Không đặt sonde tiểu trước và trong quá trình phẫu thuật

Kháng sinh dự phòng trước mổ nên dùng Cephalosporin thế hệ II hoặc thế hệ III với liều 1 gram, tiêm tĩnh mạch trước khi tiến hành phẫu thuật 30 phút và tiêm lại 1 gram sau mổ 6 giờ để tăng cường hiệu quả dự phòng nhiễm khuẩn.

2.2.4.2 Chuẩn bị dụng cụ và phương tiện phẫu thuật

- Dàn máy PTNS có đầy đủ các thiết bị như: Màn hình, đầu thu phát hình ảnh từ camera, máy bơm khí CO2, nguồn sáng lạnh

- Bộ dụng cụ PTNS thông thường

Hình 2.1 Bộ dụng cụ phẫu thuật nội soi (Nguồn: Bệnh viện Thanh Nhàn)

+ Các trocar gồm: 01 trocar 10 mm và 02 trocar 5 mm

+ Optic nội soi đường kính 10 mm và 5 mm, góc nhìn 30 o hoặc 0 o

+ Các dụng cụ phẫu tích nội soi: Panh mềm nội soi 5 mm (grasper), panh phẫu tích nội soi 5 mm (dissector)

+ Móc điện (L-hook), kìm mang kim, kéo nội soi, ống hút,

- Bộ dụng cụ mổ mở thông thường: Dao, panh, kéo cắt chỉ, kìm kẹp kim, phẫu tích có mấu và không mấu, các loại chỉ khâu (Ethilon 3/0, Vicryl 2/0, 3/0)

Chúng tôi sử dụng tấm lưới nhân tạo 3D Bard–Davol (Pháp), tên thương mại 3DMax™ Mesh, được làm từ polypropylene và có hai kích thước phổ biến là 8,5 x 13,7 cm và 10,8 x 16 cm, nhằm đáp ứng nhu cầu che phủ, nâng đỡ và cố định trong các ứng dụng phẫu thuật.

Hình 2 2 Tấm lưới nhân tạo 3D Max TM Mesh của hãng Bard – Davol [63]

Bảng 2 1 Các thông số của tấm lưới nhân tạo polypropylene

(Nguồn: Công ty B/Braun và Công ty Bard-Davol [63]) Đặc tính 3D MAX TM Mesh

Chất liệu Polypropylen đơn sợi

Hình dạng Uốn lượn 3 chiều

2.2.4.3 Trình độ, năng lực của người thực hiện

- Bác sĩ chẩn đoán hình ảnh: Trình độ bác sĩ, thạc sĩ trở lên, có chứng chỉ chuyên ngành chẩn đoán hình ảnh

- Bác sĩ gây mê: Trình độ bác sĩ, thạc sĩ trở lên, có chứng chỉ chuyên ngành gây mê hồi sức

Bác sĩ phẫu thuật đảm bảo mọi ca mổ được thực hiện bởi một kíp PTV thống nhất; trong kíp, bác sĩ phẫu thuật chính có trình độ thạc sĩ chuyên ngành ngoại tiêu hóa và được đào tạo chuyên sâu về phẫu thuật nội soi TEP điều trị thoát vị bẹn tại Singapore, nhằm đảm bảo chất lượng và an toàn tối đa cho mọi bệnh nhân.

2.2.4.4 Phương pháp vô cảm, tư thế BN và vị trí kíp phẫu thuật

- Phương pháp vô cảm: Gây mê nội khí quản

BN nằm ngửa ở tư thế Trendelenburg, đầu thấp hơn bàn khoảng 10–15 độ; hai tay khép dọc thân mình, hai chân khép và được cố định trên bàn mổ bằng đai cố định ở ngang mức hai đầu gối.

- Vị trí kíp phẫu thuật:

Hình 2 3 Vị trí kíp phẫu thuật (Nguồn: Bệnh viện Thanh Nhàn)

+ PTV đứng đối diện với bên thoát vị đang phẫu thuật, mặt hướng về phía màn hình Người phụ cầm optic đứng phía trên của phẫu thuật viên Sau đó PTV sẽ đổi bên để xử lý túi thoát vị bên đối diện Dụng cụ viên đứng đối diện phẫu thuật viên, phía dưới màn hình

+ Sử dụng một hoặc hai màn hình nội soi đặt ở hai bên ngang hông bệnh nhân Trong trường hợp sử dụng một màn hình, đặt màn hình phía dưới chân bệnh nhân, kéo hơi chếch đối diện phẫu thuật viên và cùng bên thoát vị đang thao tác sao cho thẳng trục phẫu thuật viên – bên thoát vị – màn hình Do thiết bị cần giữ màn hình trên dàn nội soi dài và linh hoạt nên việc chuyển đổi vị trí màn hình chếch sang phải hoặc trái khi thao tác từng bên thoát vị khá dễ dàng

+ Bàn dụng cụ được đặt cạnh dàn nội soi phía dưới chân BN

2.2.4.5 Kỹ thuật mổ được thực hiện trong nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành phẫu thuật nội soi đặt tấm lưới 3D hoàn toàn ngoài phúc mạc (TEP) để điều trị thoát vị bẹn hai bên cùng một lúc Theo thứ tự các bước chuẩn bị và tiến hành phẫu thuật, gây mê được thực hiện, đường vào nội soi được xác định để mở khoang ngoại phúc mạc, sau đó giảm hai túi thoát vị và đặt tấm lưới 3D phủ rộng lên vùng thoát vị; lưới được cố định bằng kỹ thuật nội soi phù hợp Cuối cùng, vết mổ được đóng kín và khoang ngoại phúc mạc được kiểm tra để đảm bảo an toàn Phương pháp TEP mang lại nhiều ưu điểm như giảm đau sau mổ, hồi phục nhanh và có tỉ lệ thành công cao cho thoát vị bẹn hai bên.

+ Phẫu tích khoang trước phúc mạc và xử lý túi thoát vị bên phải

Quá trình phẫu thuật thoát vị được mô tả với việc đổi vị trí màn hình và phẫu thuật viên để tối ưu hóa việc quan sát và phối hợp giữa bác sĩ và ekip phẫu thuật Phẫu tích khoang trước phúc mạc được thực hiện nhằm xử lý túi thoát vị bên trái, sau đó đặt lưới nhân tạo 3D che phủ lỗ cơ lược bên trái nhằm tăng độ ổn định và giảm nguy cơ tái phát.

+ Đổi vị trí, đặt lưới 3D che phủ lỗ cơ lược bên phải

+ Xả khí CO2, đóng bụng

Các bước kỹ thuật cụ thể được mô tả như sau:

Bước 1: Rạch da và đặt trocar

Rạch da theo đường ngang ngay dưới vòng cân rốn, dài khoảng 15–20 mm Mở lá trước bao cơ thẳng bụng và phẫu tích tách lớp cân cơ cho đến lá sau của cân cơ ngang bụng, hướng về phía bên thoát vị Dùng panh vén và nâng lớp cơ lên để bộc lộ khoang trước phúc mạc, chuẩn bị cho bước tiếp theo trong phẫu thuật thoát vị.

Trocar đầu tiên có đường kính 10 mm được đặt vào khoang trước phúc mạc thông qua cửa bộc lộ trực tiếp; sau đó thực hiện nâng nhẹ và đưa đầu trocar vào sâu theo hướng tạo góc 60° về phía xương cùng.

Bước 2: Tạo khoang trước phúc mạc và đặt các trocar thao tác

Phẫu tích trên đường giữa được thực hiện bằng phẫu thuật nội soi với kính soi phẫu thuật 0o qua trocar 10 để quan sát trực tiếp khoang trước phúc mạc Tiến hành bơm CO2 lên đến áp lực không quá 12 mmHg và với tốc độ 3 lít/phút để tạo không gian làm việc Phẫu tích tạo phẫu trường mổ bằng ngón tay hoặc bằng đầu của kính soi phẫu thuật Trong các trường hợp thành bụng dày hoặc dính gây khó khăn, có thể sử dụng trocar kèm bóng chuyên dụng đưa vào sau đó bơm bóng căng lên để bóc tách tạo khoang trước phúc mạc Phẫu trường đủ rộng khi lộ rõ các mốc giải phẫu: xương mu, thừng tinh và bó mạch thượng vị dưới.

Tiếp tục phẫu thuật nội soi, bộc lộ xuống phía dưới xương mu và chếch ra ngoài cho đến khi thấy dây chằng Cooper, rồi phẫu tích rộng hai bên để tạo phẫu trường Trong giai đoạn này cần chú ý tránh làm tổn thương động mạch thượng vị dưới Trocar thứ hai, đường kính 5 mm, được đặt tại điểm giữa đường nối giữa rốn và xương mu trên đường trắng giữa dưới rốn Trocar thứ ba được đặt ngay phía trên xương mu, cách đường trắng giữa dưới rốn 2 cm Việc đặt trocar thứ hai và thứ ba phải được tiến hành dưới sự quan sát trực tiếp của kính soi phẫu thuật để tránh gây tổn thương mạch máu, các tạng trong ổ bụng hoặc thủng phúc mạc.

Trong các tình huống khó khăn khi phẫu tích hoặc gặp tai biến gây trở ngại cho phẫu thuật, có thể cân nhắc thêm một trocar 10mm ở hố chậu phải hoặc trái để hỗ trợ, đặc biệt khi xảy ra tổn thương mạch máu hoặc thủng phúc mạc, tùy thuộc vào mức độ tổn thương và đánh giá của phẫu thuật viên.

Hình 2 4 Vị trí đặt trocar

Trong trường hợp thoát vị trực tiếp, túi thoát vị sẽ được quan sát thấy trước khi nhìn thấy bó mạch thượng vị dưới trong quá trình phẫu tích

Hình 2 5 Tạo khoang trước phúc mạc bằng tay và khí CO2

(Nguồn: BN Vũ Công Ph., mã bệnh án 020328)

Phẫu tích thành bên khoang trước phúc mạc hai bên

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm bệnh lý TVB hai bên ở người lớn được PTNS đặt lưới 3D ngoài phúc mạc

Nhóm tuổi Số bệnh nhân

- Tuổi trung bình của BN là 51,0 ± 19,0 tuổi Đa số trong nhóm dưới 60 tuổi chiếm 56,7%

Nghề nghiệp Số bệnh nhân

Nhận xét: Nhóm BN hưu trí và lao động tự do chiếm tỷ lệ cao 36,7% và 36,7%

3.1.1.4 Bệnh nội khoa kết hợp

Bảng 3.3 Bệnh nội khoa kết hợp

Bệnh nội khoa kết hợp Số bệnh nhân

Tăng huyết áp 7 11,7 Đái tháo đường 2 3,3

Phì đại tiền liệt tuyến 8 13,3

Nhận xét: 17/60 bệnh nhân (28,3%) có bệnh nội khoa kết hợp Trong đó phì đại tiền liệt tuyến chiếm đa số với 13,3%

3.1.1.5 Tiền sử phẫu thuật vùng bụng

Bảng 3.4 Tiền sử phẫu thuật vùng bụng

Tiền sử phẫu thuật vùng bụng Số bệnh nhân

Mổ mở cắt ruột thừa 1 1,7

- 4/60 bệnh nhân (6,7%) có tiền sử phẫu thuật vùng bụng, trong đó PTNS cắt ruột thừa chiếm 3,3%

3.1.1.6 Phân loại sức khỏe theo ASA

Biểu đồ 3.1 Phân loại sức khỏe theo ASA Nhận xét:

- Số BN có phân loại sức khỏe theo ASA loại II chiếm đa số với 53,3%

3.1.1.7 Phân loại theo chỉ số khối cơ thể (BMI)

Bảng 3.5 Phân loại theo chỉ số khối cơ thể (BMI)

Phân loại theo chỉ số khối cơ thể (BMI) Số bệnh nhân

BMI trung bình, (Nhỏ nhất, lớn nhất)

- Chỉ số BMI trung bình của nhóm BN nghiên cứu là 21,6 ± 2,4 kg/m 2 Đa số

BN thuộc nhóm phân loại BMI bình thường, chiếm 78,3%

3.1.2.1 Thời gian phát hiện bệnh

Bảng 3.6 Thời gian phát hiện bệnh

Thời gian phát hiện bệnh (tháng) Số bệnh nhân

Thời gian phát hiện bệnh trung bình,

- Thời gian phát hiện bệnh trung bình là 11,02 ± 6,28 tháng 73,3% BN có thời gian phát hiện bệnh < 12 tháng

Bảng 3.7 Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng lâm sàng Số bệnh nhân

Khối phồng vùng bẹn 2 bên 36 60,0 Đau tức vùng bẹn 2 bên 18 30,0

Khối phồng kèm đau tức vùng bẹn 2 bên 6 10,0

- Đa số bệnh nhân khám thấy khối phồng vùng bẹn 2 bên, chiếm 60,0%

- 6 bệnh nhân (10,0%) xuất hiện khối phồng kèm đau tức vùng bẹn 2 bên

3.1.2.3 Siêu âm vùng bẹn trước mổ

Bảng 3.8 Phân loại thoát vị bẹn từng bên theo siêu âm trước mổ

Phân loại thoát vị bẹn theo siêu âm

Túi thoát vị bên phải

Túi thoát vị bên trái

- Tất cả các BN đều phát hiện được túi thoát vị bẹn hai bên qua siêu âm

- Phân loại theo siêu âm trước mổ: Ở cả bên phải và bên trái, thoát vị trực tiếp điều chiếm đa số với lần lượt 66,7% và 60%

Bảng 3.9 Phân loại thoát vị bẹn cả hai bên theo siêu âm trước mổ

Phân loại thoát vị bẹn cả hai bên theo siêu âm trước mổ

Tổng số túi thoát vị (n = 120) Tỷ lệ %

Nhận xét: Tính trên tổng số túi thoát vị, kết quả siêu âm trước mổ thoát vị bẹn trực tiếp chiếm đa số với 63,3%

Bảng 3.10 Đánh giá tạng thoát vị từng bên theo siêu âm trước mổ

Tạng thoát vị theo siêu âm trước mổ

Túi thoát vị bên phải

Túi thoát vị bên trái

Ruột non và mạc nối 9 15,0 7 11,7

- Siêu âm túi thoát vị ở bên phải và bên trái, tạng thoát vị là ruột non chiếm đa số với lần lượt 66,7% và 78,3%

Bảng 3.11 Phân loại thoát vị bẹn cả hai bên theo siêu âm trước mổ

Tạng thoát vị theo siêu âm trước mổ

Tổng số túi thoát vị (n = 120) Tỷ lệ %

Ruột non và mạc nối 16 13,3

Kết quả siêu âm trước mổ trên tổng số túi thoát vị cho thấy tạng thoát vị đa phần là ruột non, chiếm 72,5%, và có một trường hợp (0,8%) không thấy tạng thoát vị.

3.1.2.4 Đặc điểm tổn thương trong mổ

Bảng 3.12 Phân loại thoát vị bẹn theo vị trí giải phẫu trong mổ

Phân loại TVB theo vị trí giải phẫu trong mổ

Túi thoát vị bên phải

Túi thoát vị bên trái

- Phân loại thoát vị bẹn theo vị trí giải phẫu trong mổ

+ Bên phải: Thoát vị trực tiếp chiếm 66,7%, thoái vị gián tiếp 33,3%

+ Bên trái: Thoát vị trực tiếp chiếm 60,0%, thoái vị gián tiếp 40,0 %

Bảng 3.13 Phân loại thoát vị bẹn cả hai bên trong mổ

Phân loại thoát vị bẹn cả hai bên trong mổ

Tổng số túi thoát vị (n = 120) Tỷ lệ %

Nhận xét: Tính trên tổng 120 túi thoát vị, nhận định trong mổ thấy thoát vị trực tiếp chiếm đa số với 63,3%

- Trong mổ không ghi nhận túi thoát vị nào có tạng chui vào

Bảng 3.14 Tương quan thoát vị bẹn hai bên trên một bệnh nhân

Tương quan TVB hai bên trên một bệnh nhân

Số bệnh nhân (n = 60) Tỷ lệ %

Cả 2 bên cùng TV trực tiếp 36 60,0

Cả 2 bên cùng TV gián tiếp 20 33,3

1 bên trực tiếp, 1 bên gián tiếp 4 6,7

Nhận xét: Đa số bệnh nhân có thoát vị bẹn 2 bên cùng là trực tiếp, chiếm 60%

4 bệnh nhân (6,7%) có phân loại TVB 2 bên khác nhau

Bảng 3.15 Phân loại thoát vị bẹn theo Nyhus trong mổ

Túi thoát vị bên phải

Túi thoát vị bên trái

- Phân loại thoát vị bẹn theo Nyhus trong mổ: Ở cả bên phải và bên trái, thoát vị bẹn Nyhus IIIA chiếm đa số với lần lượt 66,7% và 60,0%

Bảng 3.16 Phân loại thoát vị bẹn theo Nyhus cả hai bên trong mổ

Phân loại thoát vị bẹn theo Nyhus cả hai bên trong mổ

Tổng số túi thoát vị (n = 120) Tỷ lệ %

Nhận xét: Tính trên tổng 120 túi thoát vị, nhận định trong mổ thấy thoát vị Nyhus

IIIA chiếm đa số với 63,3%

Bảng 3.17 Đường kính túi thoát vị trong mổ Đường kính túi thoát vị

Túi thoát vị bên phải

Túi thoát vị bên trái

≥ 3 cm 5 8,3 7 11,7 Đường kính trung bình

Kết quả đánh giá đường kính túi TV cho hai bên cho thấy đường kính trung bình của túi TV bên phải là 2,08 ± 0,56 cm và bên trái là 2,24 ± 0,52 cm; không có sự khác biệt có ý nghĩa về đường kính túi TV giữa hai bên (p > 0,05) Phần lớn đường kính túi TV nằm trong khoảng 1,5– 0,05)

Bảng 3.20 Đường kính túi thoát theo phân loại Nyhus

Phân loại túi thoát vị theo phân loại Nyhus

Số lượng túi TV Đường kính túi thoát vị (cm) Hẹp nhất Trung bình Rộng nhất

Nhận xét: Đường kính trung bình túi thoát vị (TV) theo phân loại Nyhus cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm Nyhus I có đường kính nhỏ nhất là 1,23 ± 0,13 cm, trong khi Nyhus IIIB có đường kính lớn nhất là 3,20 ± 0,18 cm Có sự khác biệt về đường kính túi thoát vị giữa các nhóm TV phân loại Nyhus với p < 0,01.

Kết quả PTNS đặt tấm lưới nhân tạo 3D điều trị TVB hai bên

3.2.1.1 Bước 1: Đặt trocar và phẫu tích khoang trước phúc mạc

Bảng 3.21 Phương pháp phẫu tích khoang trước phúc mạc

Phương pháp phẫu tích khoang trước phúc mạc

Lóc tách bằng ngón tay và khí CO2 55 91,7%

Kết hợp lóc tách bằng ngón tay, khí CO2 và móc điện 3 5,0%

- Đa số trường hợp chúng tôi phẫu tích tạo khoang trước phúc mạc bằng ngón tay và khí CO2, chiếm 91,7%

Kết quả bước 1 Số BN

(n = 60) Tỷ lệ % Xử lý khó khăn

Thành bụng dính 1 1,7 Gỡ dính

Thành bụng dày 2 3,3 Phẫu tích bằng bóng

Thủng phúc mạc 4 6,7 Kẹp Clip lỗ thủng

Dính và thủng phúc mạc 2 3,3 Gỡ dính, kẹp clip lỗ thủng

Nhận xét: 85% BN được thực hiện bước 1 thuận lợi 15,0% có khó khăn, trong đó

6,7% thủng phúc mạc đơn thuần

3.2.1.2 Bước 2: Bộc lộ túi thoát vị

Kết quả bước 2 Số BN

(n = 60) Tỷ lệ % Xử lý khó khăn

Chảy máu nhánh ĐM thượng vị dưới 2 3,3 Đốt điện cầm máu

Thành bụng dính 1 1,7 Gỡ dính bằng móc điện

Tiến hành phẫu tích bình thường, sau dùng kim Veress để xả khí

Nhận xét: 93,3% BN được thực hiện bước 2 thuận lợi, 6,7% có khó khăn do chảy máu nhánh ĐM thượng vị dưới, thành bụng dính hoặc thủng phúc mạc

3.2.1.3 Bước 3: Phẫu tích và xử lý túi thoát vị

Bảng 3.24 Phẫu tích và xử lý túi thoát vị từng bên

Phẫu tích và xử lý túi thoát vị

Túi thoát vị bên phải

Túi thoát vị bên trái

(n = 60) n Tỷ lệ n Tỷ lệ % Đẩy túi thoát vị vào ổ bụng 40 66,7 36 60,0

Thắt và cắt túi thoát vị 20 33,3 24 40,0

Nhận xét: Tỷ lệ đẩy túi thoát vị vào ổ bụng chiếm tỷ lệ 66,7% túi TVB phải và 60% túi TVB trái

Bảng 3.25 Phẫu tích và xử lý túi thoát vị hai bên

Phẫu tích và xử lý túi thoát vị Tổng số túi thoát vị

(n = 120) Tỷ lệ % Đẩy túi thoát vị vào ổ bụng 76 63,3

Thắt và cắt túi thoát vị 44 36,7

- 76 túi thoát vị bẹn trực tiếp (63,3%) được đẩy vào trong ổ bụng

- 44 túi thoát vị gián tiếp (36,7%) được thắt và cắt tại cổ túi thoát vị

Kết quả bước 3 Số BN

(n = 60) Tỷ lệ % Xử lý khó khăn

Tổn thương đứt ĐM thượng vị dưới bên phải 1 1,7 Thêm 1 trocar 10 mm hỗ trợ kep clip cầm máu

Tổn thương bó mạch thừng tinh phải 1 1,7 Đốt điện cầm máu

Nhận xét cho thấy 96,6% bệnh nhân được thực hiện bước 3 thuận lợi, trong khi 3,4% có khó khăn và tất cả các trường hợp này nằm ở bên phải, bao gồm tổn thương động mạch thượng vị dưới và tổn thương bó mạch thừng tinh phải.

3.2.1.4 Bước 4: Đặt và cố định lưới nhân tạo

Bảng 3.27 Loại lưới nhận tạo 3D sử dụng trong mổ

Loại lưới nhân tạo 3D sử dụng trong mổ

Túi thoát vị bên phải

Túi thoát vị bên trái

Nhận xét: Tất cả BN đươc phục hồi thành bẹn mỗi bên bằng một tấm lưới nhân tạo

3D để che phủ hoàn toàn lỗ cơ lược Đa số trường hợp (80,0%) sử dụng tấm loại nhỏ 8,5 x 13,7 cm

Bảng 3.28 Loại lưới 3D sử dụng theo đường kính túi thoát vị

Loại lưới 3D sử dụng Số lượng túi TV Đường kính túi thoát vị (cm) Hẹp nhất Trung bình Rộng nhất

Nhận xét cho thấy loại lưới to được sử dụng cho túi thoát vị có đường kính trung bình 2,66 ± 0,57 cm, trong khi lưới nhỏ được sử dụng cho túi thoát vị có đường kính 2,03 ± 0,46 cm Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,01).

Bảng 3.29 Loại lưới 3D sử dụng theo phân loại Nyhus

Loại lưới 3D sử dụng Loại lưới 3D

Tổng Lưới nhỏ Lưới to

Nhận xét: Đối với phân loại Nyhus I, II, IIIA chủ yếu sử dụng lưới 3D kích thước nhỏ với tỷ lệ lần lượt 100%, 93,75% và 81,58%

100% túi thoát vị Nyhus IIIB được sử dụng lưới 3D loại to

Bảng 3.30 Cố định tăng cường lưới

Cố định tăng cường lưới

Túi thoát vị bên phải

Túi thoát vị bên trái

Không cố định tăng cường 59 98,3 60 100

Nhận xét: Hầu hết các trường hợp (98,3%) chúng tôi không cần cố định lưới

1 BN (1,7%) phải khâu căng cường lưới qua nội soi bằng chỉ Vicyl 3/0 sau khi đặt

Kết quả bước 4 Số BN

(n = 60) Tỷ lệ % Xử lý khó khăn

Lưới bị mắc vào trocar 10 mm 5 8,3

Cuộn chặt lại lưới quấn quanh dissector để đưa qua trocar 10 mm Phẫu tích khoang trước phúc mạc không đủ rộng

Dùng móc điện gỡ dính mở rộng khoang trước phúc mạc để đặt vừa lưới

Nhận xét: 86,7% BN được thực hiện bước 4 thuận lợi 13,3% có khó khăn do lưới bị mắc vào trocar 10mm hoặc phẫu tích khoang trước phúc mạc không đủ rộng

3.2.1.5 Bước 5: Xả khí CO2, đóng bụng

Kết quả bước 5: 100% thuận lợi, không có khó khăn gì

3.2.1.6 Tổng số tai biến trong mổ

Bảng 3.32 Tổng số tai biến trong mổ

Tai biến trong mổ Số BN

Chảy máu nhánh ĐM thượng vị dưới 1 1,7

Thủng phúc mạc và chảy máu nhánh ĐM thượng vị dưới 1 1,7

Thủng phúc mạc và đứt ĐM thượng vị dưới 1 1,7

Tổn thương bó mạch thừng tinh 1 1,7

Nhận xét: Tổng số tai biến theo các bước ghi nhận là 9 trường hợp (15,0%), chủ yếu là thủng phúc mạc đơn thuần (8,3%)

3.2.1.7 Thêm trocar/ chuyển phương pháp phẫu thuật

1 trường hợp (1,7%) thêm trocar 10mm vùng hố chậu trái để xử lý tai biến Không trường hợp nào phải chuyển phương pháp phẫu thuật

3.2.1.8 Thời gian đặt – cố định lưới và tổng thời gian phẫu thuật

Bảng 3.33 Thời gian cố định lưới và tổng thời gian phẫu thuật (n = 60)

Ngắn nhất Trung bình Dài nhất Thời gian đặt và cố định lưới (phút) 15 21,1 ± 4,1 40

Tổng thời gian phẫu thuật (phút) 60 74,9 ± 10,4 100

Nhận xét: Thời gian đặt và cố định lưới trung bình là 21,1 ± 4,1 phút

Tổng thời gian phẫu thuật trung bình là 74,9 ± 10,4 phút

3.2.2.1 Thời gian và tình trạng đau sau mổ theo thang điểm VAS

Bảng 3.34 Đánh giá mức độ đau sau mổ theo thang điểm VAS

Ngày sau mổ Đau rất nhẹ Đau nhẹ Đau vừa Đau nhiều Điểm VAS trung bình

Nhận xét: Thời gian đau sau mổ trung bình 2,2 ± 1,7 ngày Mức độ đau theo thang điểm VAS giảm dần từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 3

3.2.2.2 Thời gian trung tiện và trở lại sinh hoạt bình thường sau mổ

Bảng 3.35 Thời gian trung tiện và trở lại sinh hoạt bình thường sau mổ (n = 60)

Ngắn nhất Trung bình Dài nhất

Trung tiện sau mổ (ngày) 1 1,1 ± 0,2 2

Thời gian trở lại sinh hoạt bình thường sau mổ (ngày) 1 1,8 ± 0,5 4

- Thời gian trung tiện trở lại trung bình là 1,1 ± 0,2 ngày

- Thời gian trở lại sinh hoạt bình thường sau mổ trung bình là 1,8 ± 0,5 ngày

Biến chứng sớm Số bệnh nhân

Tụ máu vùng bẹn bìu 3 5,0%

Tê bì vùng đùi ngoài 1 1,7%

Bí tiểu và tê bì vùng đùi ngoài 1 1,7%

- Biến chứng sớm gặp ở 6/ 60 bệnh nhân (10,0%)

- Trong đó tụ máu vùng bẹn bìu chiếm đa số với 5,0%

3.2.2.4 Thời gian nằm viện sau mổ

Bảng 3.37 Thời gian nằm viện sau mổ

Thời gian nằm viện sau mổ (ngày) p Ngắn nhất Trung bình Dài nhất

- Thời gian nằm viện sau mổ trung bình là 3,97 ± 1,31 ngày, ngắn nhất là 3, dài nhất là 9 ngày

- Thời gian nằm viện sau mổ của nhóm có biến chứng (7,33 ± 1,03 ngày) dài hơn nhóm không biến chứng (3,59 ± 0,63 ngày) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01

3.2.2.5 Đánh giá kết quả sớm

Bảng 3.38 Đánh giá kết quả sớm Đánh giá kết quả sớm Số bệnh nhân

- Kết quả sớm của BN đa phần đạt mức tốt, chiếm 90,0%

3.2.3.1 Tỷ lệ bệnh nhân theo dõi sau mổ

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ bệnh nhân theo dõi xa Nhận xét:

- 57/ 60 BN (95,0%) được theo dõi xa và khám lại

- 3 bệnh nhân (5,0%) mất liên lạc

3.2.3.2 Kết quả khám lại tại các thời điểm

Bảng 3.39 Kết quả khám lại sau mổ 1 tháng đến 2 năm

Tái phát (n/ tỷ lệ %) Đau mạn tính vùng bẹn Đau thừng tinh và tinh hoàn

- Thời gian theo dõi sau mổ trung bình là 21,8 ± 12,6 tháng Ngắn nhất là 1 tháng, dài nhất là 47 tháng

- Tại thời điểm 1 tháng sau mổ, phát hiện 1 BN (1,8%) đau mạn tính vùng bẹn

3.2.3.3 Đánh giá kết quả sau 1 tháng

Bảng 3.40 Đánh giá kết quả sau 1 tháng Đánh giá kết quả sau 1 tháng Số bệnh nhân

Khám lại sau 1 tháng có 57 BN và được đánh giá với kết quả như sau:

- Tốt có 56 BN (98,2%); khá 1 BN (1,8%); trung bình 0%; kém 0%

3.2.3.4 Đánh giá kết quả sau 6 tháng, 1 năm và 2 năm

Khám lại sau 6 tháng có 49 BN, kết quả 100% tốt

Khám lại sau 1 năm có 40 BN, kết quả 100% tốt

Khám lại sau 2 năm có 27 BN, kết quả 100% tốt

3.2.3.5 Đánh giá kết quả xa tại thời điểm kết thúc nghiên cứu

Bảng 3.41 Đánh giá kết quả xa tại thời điểm kết thúc nghiên cứu Đánh giá kết quả xa Số bệnh nhân

Đến thời điểm kết thúc nghiên cứu (tháng 12/2020), có tổng cộng 57 bệnh nhân được khám lại Ghi nhận 1 trường hợp biến chứng đau mạn tính vùng bẹn-bìu, không có bệnh nhân nào tái phát Đánh giá kết quả xa: tốt 56 BN (98,2%); khá 1 BN (1,8%); trung bình 0%; kém 0%.

BÀN LUẬN

Đặc điểm bệnh lý TVB hai bên ở người lớn được PTNS đặt lưới 3D ngoài phúc mạc

Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi trung bình của BN là 51,0 ± 19,0 tuổi, với tuổi tối thiểu 18 và tối đa 84 tuổi Đối với nhóm BN TVB hai bên trong các nghiên cứu của Aloysius U.S [85], Juan M.S.G [68], Markus Gass [2] và Lau H [64], tuổi trung bình lần lượt là 56,21 ± 15,26 tuổi, 43 tuổi, 54,6 tuổi và 67 ± 10 tuổi.

60 tuổi chiếm 56,7% Tác giả Kalpesh H Patel thấy BN có tuổi dao động từ 21 –

Trong nghiên cứu, nhóm tuổi 41–50 chiếm đa số với 31,67%, nhóm 51–60 tuổi chiếm 21,67% và nhóm ≥60 tuổi chiếm 43,3% số BN [14] Chúng tôi có cùng nhận định rằng phần lớn BN thuộc nhóm tuổi lao động chính trong xã hội, vì vậy thực hiện PTNS sửa chữa TVB hai bên cùng một thì giúp BN tránh được hai cuộc phẫu thuật, thời gian nằm viện ngắn và quay trở lại với cuộc sống và lao động sớm hơn là yếu tố quan trọng được các BN quan tâm [14] Đa phần các nghiên cứu đều cho thấy tỷ lệ mắc TVB hai bên ở nam cao hơn nữ; tất cả BN của chúng tôi đều là nam giới Tương tự các nghiên cứu khác ghi nhận tỷ lệ nam mắc TVB hai bên từ 96,3–100% [2], [64], [14] Nghiên cứu của Aloysius U.S và cs với 308 BN thoát vị bẹn hai bên cho thấy có 302 BN (98,1%) là nam và 6 BN nữ (1,9%) [85].

Giải thích sự chênh lệch giới tính dựa trên cấu trúc giải phẫu: ở nam giới, ống bẹn là đường đi của tinh hoàn từ ổ bụng xuống bìu trong thời kỳ phôi thai; quá trình xuống bìu kéo theo phúc mạc hình thành ống phúc tinh mạc Sau khi tinh hoàn đã xuống bìu, ống bẹn chứa thừng tinh và trở thành điểm yếu dễ bị thoát vị Ngược lại, nam giới thường có nhiều yếu tố làm tăng áp lực ổ bụng như lao động nặng, u xơ tiền liệt tuyến và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính… [2], [64], [14].

Theo kết quả bảng 3.2, phần lớn BN thuộc nhóm hưu trí và lao động tự do, mỗi nhóm chiếm 36,7%; BN là sinh viên và nhân viên văn phòng mắc bệnh ở tỷ lệ thấp 8,3% và 6,7% Nghiên cứu của Phan Đình Tuấn Dũng cho thấy nhóm BN hưu trí chiếm 47,8% và BN nông dân 38,8% [4] Aloysius và cộng sự [85] ghi nhận ở các trường hợp TVB hai bên: 138 BN (44,8%) là nông dân, 74 BN (24,0%) là nghệ nhân và 96 BN (31,2%) thuộc nghề khác; các tác giả cho rằng công việc nặng nhọc, gắng sức gây tăng áp lực ổ bụng thường xuyên làm tăng nguy cơ TVB hai bên [85], [4] Tuy nhiên, kết quả của chúng tôi cho thấy mối liên hệ này vẫn chưa rõ ràng, có thể do kích thước mẫu còn nhỏ nên chưa đánh giá đầy đủ.

4.1.1.3 Bệnh nội khoa kết hợp

Theo các nghiên cứu, thoát vị bẹn hai bên hay gặp ở người trưởng thành và người già do tổ chức thành bụng gồm cân, cơ và PM bị biến đổi, suy yếu, mô lão hóa và liên kết trở nên lỏng lẻo nên thành bụng ở vùng bẹn suy yếu, dễ hình thành TVB Bên cạnh đó, các bệnh lý nội khoa đi kèm có thể là yếu tố nguy cơ làm tăng áp lực ổ bụng thường xuyên (xơ gan cổ chướng; ho, khó thở kéo dài trong viêm phế quản mãn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính; tắc nghẽn đường niệu do phì đại lành tính tuyến tiền liệt; táo bón) và có thể ảnh hưởng tới lựa chọn điều trị PTNS và kết quả phẫu thuật (như tăng huyết áp, đái tháo đường).

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 17/60 bệnh nhân (28,3%) có bệnh nội khoa kết hợp Trong nhóm này, phì đại tiền liệt tuyến chiếm tỉ lệ cao nhất với 13,3% (tương đương 8 bệnh nhân), tiếp đến tăng huyết áp 11,7% (7 bệnh nhân) và đái tháo đường 3,3% (2 bệnh nhân).

Kết quả tương tự tác giả Trịnh Văn Thảo [60] cho thấy 23,4% có bệnh nội khoa, và các yếu tố nguy cơ kết hợp gồm 9,1% phì đại tiền liệt tuyến chưa được điều trị; 5,2% ho do viêm phế quản mạn tính; 3,9% tăng huyết áp; 1,3% táo bón kéo dài; 1,3% béo phì; 2,6% thiếu máu cơ tim Phan Đình Tuấn Dũng ghi nhận 28,3% có táo bón kéo dài, 4,5% phì đại lành tính tuyến tiền liệt, bệnh lý về hô hấp 3%, tăng huyết áp 4,5% [4] Al-Shemy và cộng sự cho thấy phần lớn bệnh nhân là nông dân và mắc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, tăng sản lành tính tuyến tiền liệt và hút thuốc lá lần lượt là 22,5%, 12,5% và 37,5% bệnh nhân [33].

Nghiên cứu của Aloysius và các cộng sự [85] cho thấy 59 bệnh nhân (19,2%) bị thoát vị bẹn hai bên liên quan đến tăng áp lực ổ bụng do tắc nghẽn đường tiểu, cổ trướng, béo phì và các bệnh hô hấp mãn tính Đáng chú ý, 36 bệnh nhân (11,7%) có tiền sử gia đình bị thoát vị bẹn.

Phân tích từ nhiều nghiên cứu cho thấy người cao tuổi thường có kèm theo nhiều bệnh lý và có nguy cơ cao bị thoát vị bẹn hai bên Một vấn đề lớn ở các trường hợp thoát vị bẹn lớn hai bên là khi khối thoát vị đã nằmOutside khoang bụng một thời gian dài, làm hệ thống cân cơ vùng bẹn bị giãn kéo và yếu đi, kèm theo viêm dính hoặc thoát vị kẹt (thoát vị không phục vị) gây khó khăn trong phẫu thuật, đặc biệt là phẫu thuật nội soi.

Đánh giá toàn diện và điều trị các bệnh lý nội khoa phối hợp trước và sau mổ giúp giảm nguy cơ tai biến, biến chứng và tái phát trong các phẫu thuật TVB nói chung Đối với TVB hai bên, đặc biệt khi thực hiện PTNS TEP đặt lưới 3D, nguyên tắc này giúp tối ưu kết quả điều trị và an toàn cho người bệnh.

4.1.1.4 Tiền sử phẫu thuật vùng bụng

Tiền sử phẫu thuật vùng bụng ở bệnh nhân TVB luôn được các PTV quan tâm, đặc biệt ở các PT vùng bẹn bụng Đối với PTNS TEP điều trị thoát vị bẹn hai bên, các sẹo mổ vùng bẹn bụng có thể gây dính giữa phúc mạc với lớp cân cơ thành bụng trước, từ đó làm khó khăn trong đặt trocar, tạo khoang trước phúc mạc, phẫu tích và nhận định các mốc giải phẫu, làm tăng nguy cơ tai biến như thủng phúc mạc, chảy máu, tổn thương thần kinh, biến chứng sau mổ và tăng tỷ lệ chuyển từ PTNS TEP sang TAPP hoặc sang mổ mở Ngoài ra, sẹo mổ vùng tầng trên ổ bụng thường ít ảnh hưởng tới phẫu thuật.

Trước đây, nhiều tác giả cho rằng sẹo mổ cũ dưới rốn là chống chỉ định của PTNS điều trị TVB Ngày nay, với sự phát triển và hoàn thiện kỹ thuật PTNS, nhiều nghiên cứu đã chứng minh PTNS có thể điều trị TVB an toàn và hiệu quả, đặc biệt là TVB hai bên, ngay cả khi bệnh nhân có sẹo mổ cũ vùng bụng dưới [60], [86], [87].

Từ năm 2001 - 2004, Al-Sahaf O và cs đã PTNS TEP điều trị TVB cho 108

Trong nghiên cứu trên 17 trường hợp có sẹo mổ cũ dưới rốn, kết quả cho thấy chỉ có 1 BN phải chuyển sang mổ mở và 1 BN chảy máu sau mổ phải mổ dẫn lưu, còn lại đều thành công với tỷ lệ biến chứng thấp [86] Một nghiên cứu khác của Ramshaw B trên 192 BN với 245 túi thoát vị cho thấy ở 45 trường hợp với 55 sẹo mổ cũ ở thành bụng dưới được PTNS TEP, tỷ lệ tai biến ở nhóm có sẹo mổ là 23,1% so với 11,3% ở nhóm không có sẹo mổ [87].

Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Trịnh Văn Thảo (2010) [60], có 8 trường hợp sẹo mổ dưới rốn chiếm 10,4%, trong đó 1 sẹo theo đường mổ thoát vị bẹn bên phải được điều trị tinh hoàn ẩn, 4 sẹo (5,2%) do mổ thoát vị bẹn tái phát và 3 trường hợp (3,9%) sẹo mổ cắt ruột thừa đường McBurney cùng bên với thoát vị Trong 8 trường hợp có vết mổ cũ dưới rốn, 3 trường hợp không xuất hiện biến chứng trong phẫu thuật, 4 trường hợp bị thủng phúc mạc trong quá trình phẫu tích bộc lộ khoang ngoài phúc mạc nhưng không cần xử trí gì, 1 trường hợp rách nhánh nhỏ bó mạch thượng vị dưới do sẹo làm dính phúc mạc Không có trường hợp nào phải chuyển sang mổ mở hoặc phải can thiệp phức tạp [60].

Kết quả của nghiên cứu cho thấy 4/60 bệnh nhân (6,7%) có tiền sử phẫu thuật vùng bụng dưới Cụ thể, 2 trường hợp PTNS cắt ruột thừa chiếm 3,3%, 1 trường hợp PTNS cắt túi mật (1,7%), và 1 trường hợp mổ mở cắt ruột thừa (1,7%) Tất cả các trường hợp này đều gặp tình trạng dính tại vết mổ vùng rốn gây khó khăn khi thao tác kỹ thuật, và sẽ được phân tích kỹ hơn ở phần dưới Chúng tôi tiến hành gỡ dính cẩn thận, dù gặp một số tai biến nhưng tất cả đã được xử trí phù hợp và không phải chuyển đổi phương pháp mổ.

Kết quả PTNS đặt tấm lưới nhân tạo 3D điều trị TVB hai bên

4.2.1 Kết quả trong mổ Đối với các trường hợp TVB hai bên, cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận trong vấn đề lựa chọn chiến thuật điều trị (sửa chữa đồng thời hay từng bên một), phương pháp tiếp cận (mổ mở, PTNS TEP hay TAPP), lựa chọn và cố định lưới nhân tạo,… [2], [90], [91], [66] Một số nghiên cứu cho rằng sửa chữa TVB hai bên cùng lúc có thể làm tăng tỷ lệ tai biến, biến chứng và thời gian phẫu thuật [2] Tuy nhiên các tác giả nhận định, sự tăng nhẹ của các tai biến, biến chứng là chấp nhận được bởi việc sửa chữa 2 bên cùng lúc sẽ tránh được tất cả các vấn đề tiềm ẩn, sự bất tiện và chi phí của hai lần nằm viện và hai cuộc phẫu thuật, mỗi lần BN được gây mê toàn thân [2], [66] Vì vậy, đối với những BN bị TVB hai bên, phương pháp nội soi sử dụng kỹ thuật TEP là một lựa chọn điều trị phù hợp, có thể được thực hiện với kết quả tương tự như phương pháp sửa chữa thoát vị một bên [2], [66], [14] Theo hướng dẫn của Hiệp hội thoát vị Châu Âu (European Hernia Society - EHS) và Hiệp hội thoát vị Mỹ (Americas Hernia Society - AHS), điều trị bằng PTNS có thể được coi là tiêu chuẩn vàng ở những trường hợp thoát vị bẹn hai bên, trừ khi có chống chỉ định cụ thể với PTNS hoặc gây mê toàn thân [68]

Nghiên cứu của Kalpesh H Patel và cs (2017) cho rằng phẫu thuật điều trị TVB hai bên đồng thời qua nội soi không làm tăng nguy cơ cho BN và có tỷ lệ tai biến, biến chứng tương đương so với phẫu thuật từng bên, thời gian nằm viện, trở lại làm việc bình thường và hồi phục sau PTNS đồng thời hai bên nhanh hơn so với mổ mở PTNS nên được khuyến cáo là tiêu chuẩn vàng trong điều trị thoát vị hai bên [14] Tuy nhiên cần tuân thủ theo quy trình các bước kỹ thuật chính như sau:

4.2.1.1 Bước 1: Đặt trocar và phẫu tích khoang trước phúc mạc Đa số trường hợp chúng tôi (91,7%) phẫu tích tạo khoang trước phúc mạc bằng cách rạch da theo đường vòng cung dưới rốn (không nên sát rốn quá vì ở đó phúc mạc dính rất chặt vào cuống rốn) vào phía sau cơ và trước lá sau của cơ thẳng bụng, sau đó dùng ngón tay trỏ lóc tách tạo khoang đủ rộng để đặt trocar 10mm, quá trình tạo khoang trước phúc mạc được tiếp tục bằng việc bơm khí CO2 duy trì với áp lực 12 mmHg Tất cả các trường hợp chúng tôi bóc tách khoang phúc mạc thành bên và xác định các mốc giải phẫu vùng bẹn hai bên như xương mu, thừng tinh, bó mạch thượng vị dưới, dây chằng Cooper Tương tự tác giả Tajamul Rashid [48] và Trịnh Văn Thảo [60] Tác giả Zulfiqar Hanif và cs (2017) [6] đặt trocar 10mm đầu tiên qua đường rạch dưới rốn, bóc tách tạo khoang trước phúc mạc bằng optic 0 o dưới quan sát trực tiếp qua camera, Optic được đẩy qua lại nhẹ nhàng theo đường giữa để chạm đến xương mu rồi sang hai bên đồng thời bơm khí CO2 để tạo khoang trước phúc mạc đủ rộng, sau đó đặt 2 trocar 5mm còn lại ở đường giữa (3 trocar trên cùng 1 đường thẳng từ rốn đến bờ trên xương mu) Sau khi các trocar cổng được đặt đầy đủ, có thể sử dụng dụng cụ phẫu tích nội soi để bóc tách và thực hiện các thao tác kỹ thuật một cách dễ dàng [6] Ở bước này, chúng tôi có 9 trường hợp (15,0%) khó khăn khi đặt trocar và phẫu tích tạo khoang trước phúc mạc Trong đó thủng phúc mạc đơn thuần chiếm 6,7% được xử trí kẹp clip lỗ thủng 2 trường hợp (3,3%) bệnh nhân có tiền sử PTNS cũ với vết mổ trocar vùng rốn nên khi rạch ra và phẫu tích bộc lộ lá sau cơ thẳng bụng khó khăn do dính và thủng phúc mạc Chúng tôi xử lý bằng cách dùng S- Retractor hoặc Farabeuf nhỏ móc 2 mép cân nâng lên bộ lộ cơ thẳng bụng, vén cơ thẳng bụng ra xa đường giữa, dùng móc điện để phẫu tích gỡ dính và nâng cơ lên bộc lộ rõ lá sau của cân cơ thẳng bụng sau đó tạo khoang trước phúc mạc bằng tay và khí CO2 Lỗ thủng phúc mạc được phục hồi bằng kẹp Clip Hemolock 1 trường hợp dính đơn thuần (1,7%) do sẹo mổ mở cắt ruột thừa vùng hố chậu phải được phẫu tích gỡ dính bằng móc điện

Hình 4 2 Gỡ dính, bóc tách vào khoang trước phúc mạc (Nguồn: BN Lê Trường S, mã bệnh án 37451)

Ngoài ra nghiên cứu có 2 trường hợp thành bụng dày (3,3%) ở những BN thừa cân được chúng tôi phẫu tích tạo khoang trước phúc mạc bằng bóng Nghiên cứu của Zulfiqar Hanif cũng thấy rằng việc sử dụng bóng bóc tách tạo khoang trước phúc mạc có ưu điểm thuận tiện, nhanh chóng và tránh được tai biến thủng phúc mạc, có thể áp dụng đối với những BN có thành bụng dày, tuy nhiên bóng bóc tách chỉ sử dụng được 1 lần và có giá thành cao [6] Do vậy tác giả đưa ra kỹ thuật bóc tách tạo khoang trước phúc mạc dưới quan sát của ống soi (Optic) 0 o mà không cần dùng bóng chuyên dụng, giúp làm giảm chi phí phẫu thuật [6] Theo đó, sau khi rạch da, bộc lộ cân cơ thẳng bụng, một ống soi 0 o được sử dụng để bóc tách dưới quan sát của camera để tạo khoang trước phúc mạc, ống soi được đẩy qua lại nhẹ nhàng theo đường giữa để bóc tách đến xương mu rồi sang hai bên để tạo khoang trước phúc mạc đủ rộng Sau đó đặt 2 trocar 5mm tiếp theo trên đường giữa để phẫu tích và bóc tách sâu hơn về hai bên và xung quanh túi thoát vị [6] Tác giả cho rằng kỹ thuật này an toàn và tiết kiệm chi phí ngay cả ở bệnh viện đa khoa tuyến huyện và có thể được áp dụng rộng rãi do phẫu thuật nội soi TEP sửa chữa thoát vị bẹn bằng nội soi được ưa chuộng hơn cả [6]

Sau khi đặt trocar cho Optic và tạo khoang trước phúc mạc, còn lại 5 mm để đặt trocar phụ thuộc vào thói quen thao tác của PTV và vị trí thoát vị; ba cách được sử dụng phổ biến nhất để đặt trocar 5 mm còn lại sẽ được lựa chọn dựa trên đặc điểm từng ca và kinh nghiệm của bác sĩ.

Trong cách thứ nhất, việc đặt trocar được mô tả như sau: thao tác thứ nhất được đặt ở giữa bờ trên xương mu và rốn, thao tác thứ hai được đặt ở bờ trên xương mu, và cả ba trocar được bố trí trên cùng một đường thẳng phục vụ cho quá trình phẫu thuật nội soi.

+ Cách thứ hai: một trocar thao tác được đặt giữa xương mu và rốn, trocar thứ 2 đặt tại hố chậu đối diện với bên thoát vị

+ Cách thứ ba: 2 trocar thao tác hợp với trocar optic thành tam giác đều

Hình 4 3 Các vị trí lựa chọn đặt trocar trong PTNS TEP

Cách thứ nhất là đặt 3 trocar trên một đường thẳng, được nhiều tác giả lựa chọn nhất vì bố trí này tạo phẫu trường rộng hơn và thao tác dễ dàng để sửa chữa TVB hai bên cùng lúc Việc duy trì một đường thẳng cho 3 trocar cho phép tiến hành phẫu thuật hiệu quả mà không cần thêm trocar, tối ưu hóa quy trình và giảm thiểu xáo trộn dụng cụ trong quá trình chỉnh sửa, theo các tài liệu tham khảo [44], [27].

4.2.1.2 Bước 2: Bộc lộ túi TV

Ở bước này, chúng tôi gặp 4 trường hợp (6,7%) gặp khó khăn trong phẫu tích để bộc lộ túi thoát vị Trong đó, 2 trường hợp (3,3%) chảy máu nhánh động mạch vị dưới khi bóc tách được xử trí bằng đốt điện cầm máu Một trường hợp thành bụng dính được gỡ dính bằng móc điện Một trường hợp (1,7%) thủng phúc mạc khi phẫu tích túi TVB bên phải; ở trường hợp này, do lỗ thủng nhỏ nên chúng tôi không xử lý lỗ thủng mà vẫn tiếp tục các bước phẫu thuật như bình thường Sau khi kết thúc phẫu thuật, chúng tôi xả khí từ từ qua đường mở phúc mạc tại trocar rốn.

4.2.1.3 Bước 3: Phẫu tích và xử lý túi thoát vị

Nghiên cứu có 76 túi TVB trực tiếp (63,3%) sau khi bộc lộ rõ túi thoát vị, chúng tôi sử dụng graspers không sang chấn để kẹp và kéo các cấu trúc quanh túi thoát vị, đẩy túi trở lại vào ổ bụng Đối với 44 túi thoát vị gián tiếp (36,7%), việc phẫu tích túi thoát vị chung với thừng tinh phức tạp hơn, vì tất cả các thành phần như bó mạch thừng tinh, thần kinh sinh dục và túi thoát vị cùng đi vào lỗ bẹn sâu Lưu ý tránh làm rách phúc mạc, các dụng cụ phẫu thuật phải là loại không gây sang chấn, khi thực hiện phẫu tích túi thoát vị phải thực hiện ngay sát lỗ bẹn sâu Tay trái sử dụng graspers kéo túi thoát vị lên sát thành bụng, tay phải dùng dissector nhẹ nhàng phẫu tích túi thoát vị ra khỏi ống dẫn tinh và bó mạch tinh Sau khi tách được túi thoát vị ra khỏi thừng tinh, túi thoát vị được kẹp bằng clip và cắt bỏ túi ở vị trí gần sát lỗ bẹn sâu (Hình 4.4).

Hình 4 4 Phẫu tích thắt và cắt túi thoát vị gián tiếp (Nguồn: BN Vũ Văn S., mã bệnh án 5152)

Chúng tôi sử dụng Clip Hemolock để đóng kín đầu gần của túi thoát vị ở vị trí gần lỗ bẹn sâu, tương tự như các tác giả khác Trịnh Văn Thảo sử dụng chỉ không tiêu để cắt túi thoát vị bằng nơ Roeder, cho rằng cách làm này vừa khắc phục thiếu dụng cụ để cặp clips trong phẫu thuật nội soi vừa giảm giá thành điều trị cho bệnh nhân Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng Clip Hemolock và một sợi chỉ không tiêu có giá thành tương đương, nhưng kẹp Clip thuận tiện, nhanh hơn và rút ngắn thời gian phẫu thuật Ở bước này, chúng tôi ghi nhận hai trường hợp (3,4%) gặp khó khăn khi phẫu tích và xử lý túi thoát vị, đều ở bên phải, gồm một tổn thương đứt ĐM thượng vị dưới phải do sẹo mổ cắt ruột thừa cũ đường McBurney được thêm trocar để kẹp clip cầm máu và một tổn thương bó mạch thừng tinh phải được đốt điện cầm máu Nghiên cứu không ghi nhận trường hợp nào có khó khăn ảnh hưởng tới kỹ thuật khi phẫu tích và xử lý túi thoát vị bên trái.

4.2.1.4 Bước 4: Đặt và cố định lưới nhân tạo

Toàn bộ bệnh nhân được phục hồi thành bẹn hai bên bằng tấm lưới nhân tạo 3D để che phủ hoàn toàn lỗ cơ lược Đa số trường hợp (80,0%) sử dụng lưới 3DMax nhỏ kích thước 8,5 x 13,7 cm, trong khi 20% còn lại dùng lưới loại to 10,8 x 16 cm được đặt ở từng bên túi thoát vị Lưới loại to được sử dụng cho túi thoát vị có đường kính trung bình 2,66 ± 0,57 cm (1,1 – 3,0 cm), trong khi lưới nhỏ được dùng với đường kính 2,66 ± 0,57 cm (1,2 – 3,5 cm); sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,01) Đối với phân loại Nyhus I, II, IIIA, phần lớn sử dụng lưới 3D kích thước nhỏ lần lượt là 100%, 93,75% và 81,58%, trong khi 100% túi thoát vị Nyhus IIIB được sử dụng lưới 3D loại to để đảm bảo che phủ hoàn toàn lỗ cơ lược.

Đối với những bệnh nhân có túi thoát vị lớn, cơ sàn bẹn yếu hoặc cao tuổi có kèm các bệnh lý làm tăng áp lực ổ bụng như u tiền liệt tuyến hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, chúng tôi chủ động sử dụng tấm lưới 3DMax có kích thước lớn để che phủ toàn bộ lỗ cơ lược và đảm bảo mép trên và mép dưới của lưới cách lỗ cơ lược ít nhất 2,5–3 cm, tương tự với những người đã công bố như Krishna và cộng sự Tác giả này đã sử dụng ba loại lưới khác nhau trong nghiên cứu, gồm lưới polypropylene 3DMax định hình sẵn ( Bard, kích thước lớn 10,8×16 cm, trọng lượng 80–85 g/m2), lưới polypropylene phẳng (kích thước 15×10 cm2, trọng lượng 80–85 g/m2) và lưới polypropylene nhẹ (Prolene mềm; Ethicon) với kích thước chưa được nêu đầy đủ trong đoạn trích.

Lưới có kích thước 15 × 10 cm^2 và trọng lượng 28 g/m^2 được nêu ra như một lựa chọn phổ biến cho nhiều kỹ thuật phẫu thuật, vì sự cân bằng giữa kích thước và độ bền phù hợp với nhiều vị trí mô Tác giả cho rằng việc lựa chọn sử dụng lưới phụ thuộc vào tình trạng sẵn có, thói quen của phẫu thuật viên và khả năng chi trả của bệnh nhân [7].

Hình 4 5 Đặt lưới 3DMax che phủ từng bên thoát vị (Nguồn: BN Vũ Văn S., mã bệnh án 5152)

Một trong những ưu điểm của tấm lưới nhân tạo 3D là có cấu trúc và hình dáng uốn lượn phù hợp với giải phẫu vùng bẹn, khi được đặt vào khoang trước phúc mạc tấm lưới tự ôm sát vào các cấu trúc thành sau ống bẹn và bao phủ toàn bộ lỗ cơ lược Vì vậy, ở hầu hết trường hợp (98,3%), chúng tôi không cần cố định lưới; chỉ có 1 trường hợp (1,7%) phải khâu tăng cường lưới qua nội soi bằng chỉ Vicryl 3/0 do khoang trước phúc mạc không đủ rộng để đặt lưới.

Đối với tấm lưới nhân tạo phẳng được đặt tại khoang trước phúc mạc, cần trải tấm lưới sao cho không bị gấp hay trượt và phải che phủ toàn bộ lỗ cơ lược; để tăng cường độ cố định lưới, có thể cố định bằng chỉ khâu, ProTack hoặc keo fibrin.

Ngày đăng: 07/12/2022, 14:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Talha AR, Shaaban A, Ramadan R. (2015). Preperitoneal versus Lichtenstein tension-free hernioplasty for the treatment of bilateral inguinal hernia. Egypt J Surg. 34, 79-84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Preperitoneal versus Lichtenstein tension-free hernioplasty for the treatment of bilateral inguinal hernia
Tác giả: Talha AR, Shaaban A, Ramadan R
Nhà XB: Egypt J Surg.
Năm: 2015
3. Phạm Văn Thương, (2018). Nghiên cứu đặc điểm kỹ thuật và kết quả phẫu thuật nội soi một lỗ qua ổ bụng đặt mảnh ghép ngoài phúc mạc điều trị thoát vị bẹn. Luận án tiến sĩ. Viện nghiên cứu khoa học y dược lâm sàng 108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm kỹ thuật và kết quả phẫu thuật nội soi một lỗ qua ổ bụng đặt mảnh ghép ngoài phúc mạc điều trị thoát vị bẹn
Tác giả: Phạm Văn Thương
Nhà XB: Viện nghiên cứu khoa học y dược lâm sàng 108
Năm: 2018
4. Phan Đình Tuấn Dũng, (2017). Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi ngoài phúc mạc với tấm lưới nhân tạo 2D và 3D trong điều trị thoát vị bẹn trực tiếp. Luận án tiến sĩ. Đại học Y Dược Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi ngoài phúc mạc với tấm lưới nhân tạo 2D và 3D trong điều trị thoát vị bẹn trực tiếp
Tác giả: Phan Đình Tuấn Dũng
Nhà XB: Đại học Y Dược Huế
Năm: 2017
5. Ger R. (1982). The Management of certain abdominal hernias by intra- abdominal closure of the neck. Ann. R. Coll. Surg. Engl. 64, 342-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Management of certain abdominal hernias by intra- abdominal closure of the neck
Tác giả: Ger R
Nhà XB: Annals of the Royal College of Surgeons of England
Năm: 1982
6. Zulfiqar Hanif, Rishi Pandya Mohammad Ahmed Sajid, Kumaran Shanmugarajah, Sajid Mahmud (2017). Modification of standard laparoscopic total extra peritoneal hernia repair technique: Methods to improve feasibility in the UK health service. International Journal of Surgery Open. 9, 45 - 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Modification of standard laparoscopic total extra peritoneal hernia repair technique: Methods to improve feasibility in the UK health service
Tác giả: Zulfiqar Hanif, Rishi Pandya, Mohammad Ahmed Sajid, Kumaran Shanmugarajah, Sajid Mahmud
Nhà XB: International Journal of Surgery Open
Năm: 2017
7. Asuri Krishna, et al (2019). Totally Extraperitoneal Repair in Inguinal Hernia: More Than a Decade’s Experience at a Tertiary Care Hospital.Surg Laparosc Endosc Percutan Tech. 29, 247 - 251 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Totally Extraperitoneal Repair in Inguinal Hernia: More Than a Decade’s Experience at a Tertiary Care Hospital
Tác giả: Asuri Krishna
Nhà XB: Surg Laparosc Endosc Percutan Tech
Năm: 2019
8. Chowbey P. K., Garg N., Khullar R., et al. (2010). Prospective randomized clinical trial comparing lightweight mesh and heavyweight polypropylene mesh in endoscopic totally extraperitoneal groin hernia repair. Surg Endosc.24, 3073 - 3079 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prospective randomized clinical trial comparing lightweight mesh and heavyweight polypropylene mesh in endoscopic totally extraperitoneal groin hernia repair
Tác giả: Chowbey P. K., Garg N., Khullar R., et al
Năm: 2010
9. Poobalan A., Bruce J., Cairns W (2003). A review of chronic pain after inguinal herniorrhaphy. The clinical journal of pain. 19, 48 - 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A review of chronic pain after inguinal herniorrhaphy
Tác giả: Poobalan A., Bruce J., Cairns W
Năm: 2003
10. Bell R. C. W., Price J. G. (2003). Laparoscopic inguinal hernia repair using an anatomically contoured three-dimensional mesh. Surg Endosc. 17, 1784- 1788 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Laparoscopic inguinal hernia repair using an anatomically contoured three-dimensional mesh
Tác giả: Bell R. C. W., Price J. G
Nhà XB: Surgical Endoscopy
Năm: 2003
11. Iqbal Saleem Mir, et al (2018). Laparoscopic totally extraperitoneal repair of inguinal hernia using three-dimensional mesh: a 5 years experience at a tertiary care hospital in Kashmir, India. International Surgery Journal. 5(3), 1016-1020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Laparoscopic totally extraperitoneal repair of inguinal hernia using three-dimensional mesh: a 5 years experience at a tertiary care hospital in Kashmir, India
Tác giả: Iqbal Saleem Mir
Nhà XB: International Surgery Journal
Năm: 2018
12. Elmessiry M.M., Gebaly A.A. (2020). Laparoscopic versus open mesh repair of bilateral primary inguinal hernia: A three-armed Randomized controlled trial. Ann Med Surg (Lond). 59, 145-150 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Laparoscopic versus open mesh repair of bilateral primary inguinal hernia: A three-armed Randomized controlled trial
Tác giả: Elmessiry M.M., Gebaly A.A
Nhà XB: Ann Med Surg (Lond)
Năm: 2020
13. Doudakmanis C., et al (2022). Laparoscopic bilateral inguinal hernia repair: Should it be the preferred technique? World J Methodol. 12(4), 193- 199 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Laparoscopic bilateral inguinal hernia repair: Should it be the preferred technique
Tác giả: Doudakmanis C
Nhà XB: World Journal of Methodology
Năm: 2022
14. Kalpesh H. Patel, Jayesh B. Gohel, Bhumika J. Patel (2017). Managing bilateral inguinal hernia laparoscopically: is it gold standard? International Surgery Journal. 4(1), 296 - 299 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Managing bilateral inguinal hernia laparoscopically: is it gold standard
Tác giả: Kalpesh H. Patel, Jayesh B. Gohel, Bhumika J. Patel
Nhà XB: International Surgery Journal
Năm: 2017
15. Trịnh Văn Minh Minh, (2007). Ống bẹn, in Giải phẫu người - Tập 2, NXB Giáo dục - Việt Nam. p. 100-108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải phẫu người - Tập 2
Tác giả: Trịnh Văn Minh Minh
Nhà XB: NXB Giáo dục - Việt Nam
Năm: 2007
16. D.L. Drake, Vogl A.W., Mitchell A.W.M., (2015). Abdominal wall, in Gray's Anatomy for students. 3rd edition, Elsevier. p. 280-292 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gray's Anatomy for students
Tác giả: D.L. Drake, Vogl A.W., Mitchell A.W.M
Nhà XB: Elsevier
Năm: 2015
17. D.B. Jones, Fischer J.E., (2013). Anatomy and pathophysiology of hernias, in Master Techniques in Surgery: Hernia, Lippincott Williams &amp;Wilkins. p. 1- 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Master Techniques in Surgery: Hernia
Tác giả: D.B. Jones, Fischer J.E
Nhà XB: Lippincott Williams & Wilkins
Năm: 2013
18. Trịnh Văn Minh Minh, (2007). Các cơ của bụng, in Giải phẫu người - Tập 2, NXB Giáo dục - Việt Nam. p. 92-100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các cơ của bụng
Tác giả: Trịnh Văn Minh Minh
Nhà XB: NXB Giáo dục - Việt Nam
Năm: 2007
19. R.J. Fitzgibbons, Richards A.T., Quinn T.H., (2006). Open Hernia Repair, in ACS Surgery: Principles and Practice, WebMD Professional Publicshing. p.1-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Open Hernia Repair
Tác giả: R.J. Fitzgibbons, Richards A.T., Quinn T.H
Nhà XB: WebMD Professional Publishing
Năm: 2006
20. C.M. Townsend, Beauchamp R.D., et al, (2012). Chapter 46: Hernias, in Sabiston Textbook of Surgery: The Biological Basis of Modern Surgical Practice, 19th edition, Elsevier. p. 1114-1128 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sabiston Textbook of Surgery: The Biological Basis of Modern Surgical Practice
Tác giả: C.M. Townsend, Beauchamp R.D
Nhà XB: Elsevier
Năm: 2012
21. Standring Susan, (2016). Abdomen and pelvis: overview and surface anatomy, in Gray's Anatomy The Anatomical Basis of Clinical Practice - Forty first Edition, Elsevier Limited. p. 1033- 1047 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gray's Anatomy: The Anatomical Basis of Clinical Practice
Tác giả: Susan Standring
Nhà XB: Elsevier Limited
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w