Công nghệ nuôi trồng thuỷ sản hoàn lưu RAS là một trong những giải pháp công nghệ có thể giảm thiểu ô nhiễm môi trường một cách triệt để nhất.Với hệ thống nuôi tuần hoàn hoàn lưu, toàn b
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Lê Thanh Huyền
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NITƠ
VÔ CƠ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG NUÔI TRỒNG
THỦY SẢN VEN BIỂN
Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường
Mã số: 9850101 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Hà Nội - 2022
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ- VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học 1: TS Đỗ Mạnh Hào
Người hướng dẫn khoa học 2: GS.TS Lê Mai Hương
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học và Công nghệ
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Với xu thế phát triển kinh tế biển đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, các hoạt động kinh tế xã hội khu vực ven biển đang hàng ngày xả ra môi trường một lượng chất thải lớn, gây nguy cơ ô nhiễm môi trường cũng như hệ sinh thái ven biển Trong đó hoạt động nuôi trồng thủy sản là một trong những nguồn ô nhiễm đáng quan tâm, cần được kiểm soát chặt chẽ
Một trong những giải pháp quan trọng để quản lý hiệu quả môi trường nuôi trồng thủy sản ven biển, khắc phục tình trạng gây ô nhiễm môi trường của các vùng ven biển là phát triển và ứng dụng các công nghệ nuôi trồng thủy sản tiên tiến, thân thiện môi trường Công nghệ nuôi trồng thuỷ sản hoàn lưu (RAS) là một trong những giải pháp công nghệ có thể giảm thiểu ô nhiễm môi trường một cách triệt để nhất.Với
hệ thống nuôi tuần hoàn hoàn lưu, toàn bộ nước nuôi sẽ được xử lý đảm bảo yêu cầu
để có thể cấp lại cho hệ thống nuôi mà không thải ra ngoài môi trường.Áp dụng công nghệ RAS là một trong những giải pháp công nghệ phù hợp giúp giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong nuôi trồng thủy sản
Tuy nhiên, yêu cầu xử lý ammonia và nitritegặp khó khăn do quá trình nitrate hoá bị giới hạn vì tốc độ sinh trưởng của vi khuẩn nitrate hoá được đánh giá là chậm hơn rất nhiều so với các nhóm vi khuẩn khác Hơn nữa, sự sinh trưởng và hoạt lực của nhóm vi khuẩn này dễ bị ức chế trong điều kiện môi trường không thuận lợi như thiếu khí và nguồn chất hữu cơ dồi dào
Chính vì những lý do trên, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài nghiên cứu: "Nghiên
cứu ứng dụng công nghệ xử lý nitơ vô cơ trong quản lý môi trường nuôi trồng thủy sản ven biển" với mong muốn nghiên cứu đưa ra các giải pháp nhằm xử lý lượng
ammoniavà nitrite trong nước tuần hoàn của hệ thống nuôi thủy sản, góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm của ngành nuôi trồng thủy sản
2.Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ xử lý ni tơ vô cơ bằngmàng lọc nitrate hoá để
xử lý nước tuần hoàn trong hệ thống nuôi trồng thủy hoàn lưu, góp phần quản lý môi trường nuôi trồng thủy sản ven biển
Trang 44 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Nghiên cứu quy trình làm giầu quần xã vi khuẩn nitrate hoá từ môi trường ven biển
Nội dung 2: Nghiên cứu tạo màng nitrate hoá trên giá thể nhằm định hướng ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản nước lợ
Nội dung 3: Đánh giá hiệu quả xử lý TAN và nitrite của màng lọc nitrate hoá trong hệ thống nuôi hải sản hoàn lưu quy mô 1m3
Nội dung 4: Đánh giá hiệu quả xử lý TAN và nitrite của màng lọc nitrate hoá trong hệ thống nuôi hải sản hoàn lưu quy mô 100m3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUANVẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Hiện trạng nuôi trồng thuỷ sản nước lợ trên thế giới và tại Việt Nam
Nuôi trồng thủy sản nói chung và nghề nuôi tôm nói riêng trên thế giời đã và
đang tạo ra sự chuyển đổi hiệu quả và mang lại giá trị kinh tế cao cho nhiều quốc gia, manglại nhiều lợi ích thiết thực cho người nuôi
Ngành nuôi trồng thủy sản của Việt Nam và đang tạo ra sự chuyển đổi hiệu quả
và mang lại giá trị kinh tế cao cho nhiều quốc gia, đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho người nuôi Ở Việt Nam, trong khoảng 2 thập niên gần đây, chúng ta đang chứng kiến ngành nuôi trồng thuỷ sản đặc biệt là ngành nuôi trồng thuỷ sản nước lợ trong đang phát triển với tốc độ rất nhanh
Tuy nhiên, hiện nay, ngành nuôi tôm đang bị ảnh hưởng nặng do ô nhiễm môi trường.Một trong những nguyên nhân chính làm giảm sản lượng tôm là do dịch bệnh và
ô nhiễm môi trường.Để đáp ứng được nhu cầu thực tiễn thì có 85% sản lượng tôm được nuôi thâm canh, đặc trưng nhất là nuôi với mật độ dày và siêu tải trọng thức ăn, như vậy, 40% các ao nuôi sẽ phải thay nước sau vài ngày để loại bỏ chất độc hại Sự thay nước ở các ao NTTS ven biển đã gây ra hiện tượng phú dưỡng cho môi trường nước và cạn kiệt oxy cho hệ sinh thái ven biển Tùy thuộc vào mật độ nuôi tôm mà tổng số các chất ô nhiễm như phosphor, nitrogenvà chất rắn lơ lửng lên tới 321; 668 và 215.000 kg/ha tương ứng gây ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường nuôi
1.2 Ô nhiễm các hợp chất nitơ vô cơ trong nuôi trồng thuỷ sản nước lợ
Nuôi trồng thủy sản ở nước ta hiện nay chủ yếu theo qui mô công nghiệp, kéo theo việc lạm dụng thức ăn để nâng cao năng suất đã làm cho môi trường đầm phá và các vùng
Trang 5nuôi tôm bị ô nhiễm nghiêm trọng và dịch bệnh phát triển nhanh Ô nhiễm ao nuôi tôm chủ yếu là do thức ăn thừa và các chất bài tiết của tôm tích tụ đáy ao gây ô nhiễm hữu cơ Trung bình 1 ha mặt nước hồ ao nuôi 1 vụ 6 tháng sẽ tạo ra một lượng tảo khoảng 18.000
kg chất hữu cơ/ha, 1 ha nuôi tôm sú sản lượng 6 - 8 tấn/vụ sẽ thải ra khoảng 3,6 - 4,8 tấn chất thải Do vậy, 1 ha nuôi tôm sú sẽ thải ra môi trường khoảng 22 tấn chất thải (gồm cả sinh khối tảo chết) Các chất thải này phần lớn tích tụ ở đáy ao gây ô nhiễm chất hữu cơ tùy thuộc vào phương thức nuôi tôm
1.3 Vai trò của vi sinh vật trong quá trình chuyển hoá các chất ô nhiễm nitơ vô cơ
Trong môi trường sống của vi sinh vật, khi có giá thể vi sinh vật sẽ dính bám trên bề mặt giá thể sinh trưởng và phát triển tạo thành lớp màng nhầy Quá trình sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật sẽ tiêu thụ cơ chất có trong nước thải và làm sạch nước thải
Dựa vào nguyên lý hoạt động của giá thể vi sinh người ta thường sử dụng giá thểtrong xử lý nước thải để tăng hiệu suất của quá trình phânhủy sinh học, giảm thiểu được lượng bùn sinh ra Tăng hiệu quả và sự vận hành ổn định của hệ thống Giảm thiểu mùi hôi do sự phân hủy sinh học của các hợp chất hữu cơ
Hiện nay, nguồn nguyên liệu chủ yếu được sử dụng làm giá thể gồm xơ dừa, zeolite, mảnh vụn san hô, sỏi, cát, gốm, nhựa Hình dạng cá thể thườngđược làm ở dạng hình cầu rỗng, hình thanh dài v.v…Các loại giá thể đang đóng vai trò rất tích cực trong việc tăng cường hiệu quả hoạt động của các hệ thống sinh học và đang được ứng dụng rất nhiều trong các hệ thống xử lý nước thải
Tuy nhiên hiện nay, chưa có nghiên cứu nào được tiến hành riêng biệt chuyên sâu
về vật liệu sẵn có trên địa bàn thành phố Hải Phòng để làm giá thể đảm bảo sự bám dính cao, quá trình tạo màng có hiệu quả, sinh trưởng, pháttriển tốt cho nhóm vi sinh vật nitrate hoá
1.4 Các giải pháp xử lý chất ô nhiễm nitơ vô cơ trong đầm nuôi thuỷ sản nước lợ bằng vi sinh vật
1.4.1 Giải pháp tăng cường sinh học
Giải pháp tăng cường sinh học là việc sử dụng các chủng vi khuẩn nitrate hoá
và phản nitrate hoá có hoạt tính sinh học cao đã được phân lập và làm giầu từ tự nhiên (Chế phẩm sinh học) để bổ sung vào các đầm nuôi nhằm tăng khả năng tự loại bỏ các chất ô nhiễm TAN, N-NO2 và N-NO3.Theo kết quả nghiên cứu này thì các chủng vi
Trang 6khuẩn nitrate hoá có thể làm giảm ammonia, nitrite do đólàm tăng tỷ lệ sống và sinh trưởng của tôm nuôi
Nghiên cứu tạo ra các quần hợp vi khuẩn nitrate hoá bản địa bằng phương pháp làm giầu cải tiến tại Luận án này là nghiên cứu đầu tiên được tiến hành ở Việt Nam nhằmtạo ra các quần hợp vi sinh vật nitrate hoá và phản nitrate có tính thích nghi cao
và sinh trưởng phát triển tốtsẽ góp phần khắc phục các khó khăn trong việc xử lý các hợp chất ni tơ vô cơ bằng chế phẩm sinh học hiện nay
1.4.2 Giải pháp kích thích sinh học
Giải pháp kích thích sinh học (Biostimulation) là việc thay đổi điều kiện môi trường theo hướng kích thích khả năng loại bỏ các chất ô nhiễm nitơ của vi sinh vật bản địa
Theo các nghiên cứu nồng độ cơ chất là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và khả năng loại bỏ các chất ô nhiễm nitơ vô
cơ Đối với nhóm vi khuẩn ôxy hoá ammonialà cơ chất là TAN và đối với nhóm vi khuẩn ôxy hoá nitrite làcơ chất là nitrite Trong điều kiện nồng độ cơ chất giới hạn, tốc
độ nitrate hoá của các chủng vi khuẩn thuần khiết hay cả quần xã vi khuẩn thường có mối tương quan tỷ lệ thuận với nồng độ cơ chất Nhưng khi nồng độ cơ chất cao thì quá trình sinh trưởng và tốc độ nitrate hoá của vi khuẩn lại bị ức chế
Các nhà nghiên cứu mới chỉ quan tâm đến việc thiết kế hệ thống lọc, phương thức vận hành hệ thống, đánh giá cơ chế ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến hiệu quả xử lý.Chưa có nghiên cứu nào mang tính toàn diện, hình thành một giải pháp công nghệ tổng thể có thể triển khai áp dụng phù hợp với thực tiễn, mang tính ứng dụng cao
Để khắc phục được các nhược điểm đã nêu trên, luận án sẽ tiến hành nghiên cứu theo hướng chú trọng các nội dung gồm: (1) tạo ra nhóm vi khuẩn có tính thích nghi cao, tốc độ phát triển tốt để khắc phục đặc tính phát triển chậm của vi sinh vật; (2) Lựa chọn loại giá thể để quá trình tạo màng có hiệu quả trong đó xác định các loại giá thể giúp vi sinh vật nitrate hóa sinh trưởng và phát triển tốt;(3) Hình thành lớp màng lọc
Trang 7bằng các visinh vật nitrate giống như các nhà máy xử lý mi ni hoạt động ổn định và hiệu quả; (4) Vận hành các hệ thống thử nghiệm ở quy mô phòng thí nghiệm và quy
mô thực tế để có các giải pháp ứng dụng có hiệu quả các màng lọc này vào thực tiễn Các nội dung nghiên cứu cụ thể sẽ được trình bày trong phần tiếp theo của Luận án
CHƯƠNG 2 TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
- Mẫu nước để làm giầu vi khuẩn nitrate hoá được thu thập trong rừng ngập mặn Phù Long, Cát Hải, thành phố Hải Phòng
- Quá trình làm giầu, cô đặc tạo chế phẩm được tiến hành tại Trạm Nghiên cứu biển Đồ Sơn – Viện Tài nguyên và Môi trường biển
- Phân tích đặc điểm hình thái được tiến hành tại Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Hà Nội
- Phân tích đa dạng di truyền quần xã vi khuẩn làm giầu tại Trung tâm Nghiên cứu Đa dạngsinh học, Academia Sinica, Đài Loan
- Thử nghiệm hiệu quả xử lý của chế phẩm nitrate hoá tại khu thực nghiệm, Trạm Nghiên cứu biển Đồ Sơn – Viện Tài nguyên và Môi trường biển
- Thử nghiêm mô hình nuôi tôm và nuôi cá rô phi quy mô thử nghiệm tại khu thực nghiệm, Trạm Nghiên cứu biển Đồ Sơn – Viện Tài nguyên và Môi trường biển
- Thử nghiệm mô hình nuôi tôm hoàn lưu quy mô 100m3 tại xã Tam Đa, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
- Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian 5 năm (2017 – 2022)
2.1.3 Đối tượng nghiên cứu
-Vi khuẩn nitrate hoá xử lý chất ô nhiễm ammonia, nitrite
- Công nghệ lọc tuần hoàn nuôi trồng thuỷ sản (RAS)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Các bước nghiên cứu
Trước tiên, mẫu trầm tích được thu thập ngoài hiện trường sẽ được chuyển về phòng thí nghiệm để tiến hành làm giầu làm nhiều bước trong môi trường chọn lọc Sinh khối vi khuẩn nitrate hoá được cô đặc từ huyền dịch làm giầu bằng phương pháp
ly tâm Sau đó, quần xã vi sinh vật cô đặc sẽ được tiếp tục nghiên cứu theo 3 hướng
Trang 8khác nhau để đánh giá đa dạng quần xã vi khuẩn và khả năng ứng dụng vào nuôi trồng thuỷ sản nước lợ
+ Phân tích đặc điểm hình thái của quẩn thể vi sinh vật
+ Phân tích đặc điểm đa đạng di truyền của vi sinh vật
+ Đánh giá hiệu quả xử lý ammonia và nitrite của quần xã vi khuẩn nitrate trong nuôi trồng thuỷ sản ven biển
2.2.2Phương pháp hồi cứu, kế thừa tài liệu liên quan
2.2.3.Làm giầu và tạo màng trên giá thể bám của vi khuẩn nitrate hóa định hướng ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản
- Thu thập mẫu vật: Để làm giầu các quần xã vi sinh vật nitrate hoá phục vụ cho nghiên cứu màng sinh học, chúng tôi đã tiến hành thu thập mẫu vật từ khu vực rừng ngập rừng ngập mặn Phù Long, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng
- Làm giầu các quần xãvi khuẩn nitrate hoá: Thực hiện làm giàu nhóm vi khuẩn trong điều kiện bổ sung cơ chất thường xuyên vào các bình thí nghiệm có chứa nhóm vi khuẩn đã được thu thập
- Tăng sinh khối quần xãvi sinh vật trong hệ thống lên men: Tăng sinh khối quần xã vi sinh vật nitrate được thực hiện trong hệ thống lên men dung tích 2 lít (BIOFLO 2000) Môi trường được sử dụng để nuôi trong hệ thống lên men gồm: nước biển 1000 ml; (NH4)2SO4 4.72 mg hoặc NaNO2 4.93 mg;K2HPO4 0.88 mg; pH - 8
- Phân tích đặc điểm hình thái tế bào của quần xãvi khuẩn đã được làm giầu:được phân tích bằng phương pháp nhuộm màu, tế bào sau khi cố định trên tiêu bản sẽ được quan sát dưới kính hiển vi phản pha và kính hiển vi điện tử quét (SEM)
- Phân tích đa dạng di truyền quần xãvi khuẩn nitrate hoá được làm giầu: Sinh khối
vi khuẩn trước khi được tách chiết bằng phương pháp Cetyltrimethyl amonium Bromidesau đó được phân tích đa dạng di truyển
- Phân tích cấu trúc bề mặt vật liệu làm giá thể bám: Hình dạng bề mặt của vật liệu lọc được xác định bằng kính hiển vi điện tử quét Diện tích bề mặt của vật liệu lọc được tính toán bằng phần mềm chuyên dụng
- Tạo màng các quần xãvi khuẩn trên các giá thể bám:Cấy truyền chế phẩm nitrate hoá vào bình tam giác dung tích 500 mL có chứa môi trường dịch thể với tỷ lệ 1:10 (v/v) Nồng độ cơ chất ban đầu trong môi trường kích hoạt chế phẩm là 10 mg N/l Các bình nuôi cấy được nuôi trong máy lắc, trong tối và pH được điều chỉnh
Trang 9- Lựa chọn giá thể:Để kiểm tra mức độ dính bám của quần xãvi khuẩn vào chất mang
sẽ được kiểm tra bằng kính hiển vi điện tử quét (SEM)
- Tạo màng các quần xãvi khuẩn trên các giá thể bám: Màng lọc này sẽ được kiểm tra hiệu quả xử lý ammonia và nitrite bằng cách nuôi cấy trong môi trường dịch thể giống như môi trường nuôi làm giầu quần xã vi khuẩn
2.2.4 Đánh giá hiệu quả xử lý ammoniavà nitrite của màng lọc nitrate hoá trong hệ thống nuôi hải sản hoàn lưu quy mô pilot
- Thiết kế thí nghiệm: Xây dựng 06 hệ thống tuần hoàn nước với quy mô 1m3/hệ
thống.Thí nghiệm được thiết kế 02 nghiệm thức là nghiệm thức đối chứng (ĐC) và nghiệm thức thí nghiệm (TN), mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần’; Đối tượng nuôi thí nghiệm: cá rô phí đơn tính 21 ngày tuổi và tôm thẻ chân trắng giống Post 12
- Kích hoạt bể lọc sinh học, vận hành và quan trắc:Sau khi bổ sung chế phẩm vào bể lọc sinh học của nghiệm thức TN, hệ thống được tuần hoàn không tải trong thời gian
30 ngày,cơ chất được bổ sung thường xuyên
2.2.5 Đánh giá hiệu quả xử lý ammoniavà nitrite của màng lọc nitrate hoá trong hệ thống nuôi hải sản hoàn lưu quy mô 100m 3
- Thiết kế thí nghiệm: Thí nghiệm được thiết kế gồm 02 nghiệm thức là nghiệm thức thí nghiệm 1 (TN1) và nghiệm thức thí nghiệm 2 (TN2).Mỗi nghiệm thức là 1 hệ thống lọc tuần hoàn nuôi tôm thẻ chân trắng quy mô 50 m3/hệ thống
- Kích hoạt bể lọc sinh học, vận hành và quan trắc:Sau khi bổ sung chế phẩm vào bể lọc sinh học của nghiệm thức TN, hệ thống được tuần hoàn không tải trong thời gian
30 ngày,cơ chất được bổ sung thường xuyên
- Vận hành: Thời gian thí nghiệm: 2 tháng (5/2019 - 7/2019); Mật độ: 300 con/m
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Nghiên cứu làm giầu và tạo màng trên giá thể bám của vi khuẩn nitrate hóa định hướng ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản
3.1.1.Làm giầu quần xã vi khuẩn nitrate hoá
Quá trình làm giàu bước bước thứ nhất:
Trang 10Hình 3.1.Mức tiêu thụ cơ chất và tốc độ loại bỏ cơ chất của tổ hợp vi sinh vật nitrate
hóa trong quá trình làm giàu bước 1
Hình 3.2 Mức tiêu thụ cơ chất và tốc độ loại bỏ cơ chất của tổ hợp vi sinh vật nitrate
hóa trong quá trình làm giàu bước 2
0.000 0.020 0.040 0.060 0.080 0.100 0.120
Thời gian (ngày)
Thời gian (ngày)
Trang 11Hình 3.3.Mức tiêu thụ cơ chất và tốc độ loại bỏ cơ chất của tổ hợp vi sinh vật nitrate
hóa trong quá trình làm giàu bước 3
Hình 3.4 Mức tiêu thụ cơ chất và tốc độ loại bỏ cơ chất của tổ hợp vi sinh vật nitrate
hóa trong quá trình làm giàu bước 4
Thời gian (ngày)
Thời gian (ngày)
Trang 12Hình 3.5.Mức tiêu thụ cơ chất và tốc độ loại bỏ cơ chất của tổ hợp vi sinh vật nitrate
hóa trong quá trình làm giàu bước 4
Kết luận: Qua 5 bước, cả vi khuẩn oxy hóa ammoniavà vi khuẩn oxy hóa
nitrite đều được làm giàu đồng thời Mặc dù cơ chất cho vi khuẩn oxy hóa nitrite không được thêm trực tiếp vào môi trường nuôi cấy, nitrite được tạo ra từ vi khuẩn oxy hóa ammonia được sử dụng làm cơ chất cho vi khuẩn oxy hóa nitrite Hệ vi khuẩn nitrate hóa đã tiêu thụ 1,238 mgN L-1 trong 122 ngày Lượng cơ chất tiêu thụ tăng dần trong quá trình làm giàu Trong bước làm giàu đầu tiên, tổng cơ chất tiêu thụ khoảng
28 mg L-1, nhưng lên đến 495 mg L-1 trong lần làm giàu thứ năm Tốc độ loại bỏ cơ chất tăng từ 0,083 mg L-1 h-1 trong quá trình làm giàu bước đầu tiên lên 3,65 mg L-1h -1trong làm giàu bước thứ năm (Hình 3.6)
Hình 3.6.So sánh mức tiêu thụ cơ chất và tốc độ loại bỏ cơ chất của liên kết giữa các
bước làm giàu
Thời gian (ngày)
Trang 133.1.2 Đa dạng hình thái quần xãvi khuẩn nitrate hoá
Bảng 3.1 Đặc điểm hình thái của tổ hợp vi khuẩn nitrate hóa được làm giàu
tế bào (µm)
Bề mặt của tế bào
Phản ứng Gram
1 Thanh dài mảnh cong có đầu tròn 0,5 x 1,9 Bề mặt ít gồ ghề -
2 Thanh thẳng có đầu tròn 0,6 x 1,4 Bề mặt ít gồ ghề +
3 Thanh ngắn có đầu nhọn 0,7 x 1,1 Bề mặt ít gồ ghề +
8 Thanh dài mảnh cong có đầu nhọn 0,3 x 1,3 Bề mặt ít gồ ghề ND
9 Thanh cong thanh mảnh đầu nhọn 0,2 x (1,2 -1,6) Bề mặt ít gồ ghề ND
10 Thanh thẳng có đầu tròn 0,2 x 0,7 Bề mặt ít gồ ghề ND
Hình 3.7.Sự đa dạng về hình dạng tế bào của tổ hợp vi sinh vật làm giàu ở dạng lơ lửng