BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ --- UÔNG THỊ NGỌC HÀ NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP VÀ SỬ DỤNG CHẤT LỎNG ION TRONG QUÁ TRÌNH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
-
UÔNG THỊ NGỌC HÀ
NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP VÀ SỬ DỤNG CHẤT LỎNG ION
TRONG QUÁ TRÌNH THU HỒI PLATINUM
TỪ XÚC TÁC THẢI CỦA CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN DẦU
Chuyên ngành: Hóa Hữu cơ
Mã số: 9440114
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓA HỌC
TP HỒ CHÍ MINH, 2022
Trang 2Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Học viện Khoa học và Công nghệ
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Hàng năm, ngành công nghiệp lọc hóa dầu và công nghiệp vận tải thải ra một lượng lớn chất xúc tác chứa một số kim loại quí (chủ yếu là platinum) mang trên Al2O3 Theo cách phân loại của Hiệp hội bảo vệ môi trường Bắc
Mỹ, chất xúc tác thải được xếp vào loại nguy hại vì chúng có thể cháy và tạo
ra khí độc Việt Nam hiện đã có các nhà máy Lọc Dầu Dung Quất và Nghi Sơn đang hoạt động và thải ra lượng lớn xúc tác Ngoài ra lượng ô tô đưa vào sử dụng ngày càng nhiều hơn nên xúc tác chứa Pt từ bộ chuyển đổi xúc tác của chúng cũng gia tăng Tuy nhiên, Việt Nam chưa có công nghệ thu hồi
Pt và chất mang nên phải bán rẻ xúc tác thải cho các công ty tái sinh và nhà cung cấp nước ngoài Vì vậy, việc nghiên cứu thu hồi kim loại quí trong xúc tác thải đồng thời giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tạo việc làm cho người lao động đang ngày càng được quan tâm
Chất lỏng ion (ionic liquids - ILs) được xem là chất xúc tác, dung môi xanh và có thể thiết kế được nên rất phù hợp cho quá trình thu hồi Pt Do chúng có các tính chất nổi bật như: ổn định nhiệt, áp suất hơi bão hòa thấp, tan ít trong nước, an toàn môi trường nên chúng có thể cạnh tranh được với dung môi truyền thống để tách kim loại Một số nghiên cứu đã sử dụng IL để chiết kim loại và cho hiệu suất chiết Pt(IV) sử dụng các IL đều đạt trên 90% Với mục đích dị thể hóa quá trình để việc tách và thu hồi Pt(IV) từ tác nhân chiết đơn giản hơn và giảm lượng IL cần sử dụng, các IL này đã được sử dụng để điều chế nhựa tẩm tác nhân chiết Cyphos® IL 101 là một loại IL đã được sử dụng cho quá trình tẩm lên polymer sinh học để hấp phụ Pt
Các kết quả này mở ra hướng nghiên cứu mới thu hồi Pt(IV) sử dụng chất mang rắn tẩm IL, việc cố định các tác nhân chiết lên chất mang rắn đang được quan tâm nhiều vì nó kết hợp được cả ưu điểm của phương pháp chiết
và hấp phụ Đây cũng chính là hướng nghiên cứu mà tác giả tập trung vào với mục đích sử dụng chất mang rắn tẩm IL có khả năng thu hồi Pt cao, dễ thực hiện, dễ tái sinh và thân thiện môi trường Có hai hướng là tẩm dung
Trang 4môi chiết lên chất mang rắn và lên polymer sinh học Mặc dù polymer sinh học thân thiện với môi trường nhưng lại bị biến chất không ổn định và thất thoát dung môi ra khỏi polymer dẫn đến hiệu suất hấp phụ Pt(IV) giảm dần qua các lần sử dụng Chất lỏng ion dùng tẩm lên chất mang rắn mới chỉ sử dụng dạng phosphoni (Cyphos® IL 101), trong khi đó các IL dạng muối amoni, pyridini và imidazoli phổ biến hơn có khả năng hấp phụ platinum cao lại chưa được nghiên cứu một cách toàn diện Hơn nữa, quá trình giải hấp và tái sinh vật liệu hấp phụ chưa được nghiên cứu một cách hệ thống về hấp phụ platinum lên các chất mang rắn tẩm các IL có cấu trúc khác nhau Xuất phát
từ thực tế và những cơ sở khoa học trên, đề tài: “Nghiên cứu tổng hợp và
sử dụng chất lỏng ion trong quá trình thu hồi Pt từ xúc tác thải của công nghiệp chế biến dầu” được lựa chọn để thực hiện trong luận án này
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án
- Tổng hợp một số chất lỏng ion và ứng dụng cho quá trình chiết lỏng thu hồi Pt(IV)
lỏng Chế tạo được các chất hấp phụ dạng chất mang rắn tẩm chất lỏng ion sử dụng cho quá trình hấp phụ thu hồi Pt(IV)
- Đánh giá được khả năng chiết Pt(IV) của các chất lỏng ion và khả năng hấp phụ Pt(IV) của các vật liệu hấp phụ
-Đánh giá được khả năng giải chiết thu hồi, tái sử dụng chất lỏng ion và khả năng giải hấp thu hồi, tái sử dụng vật liệu hấp phụ
3 Các nội dung nghiên cứu chính
- Tổng hợp một số chất lỏng ion dạng imidazole, pyridine, ammonium có khả năng chiết Pt(IV) Xác định đặc trưng cấu trúc các chất lỏng ion tổng hợp được bằng các phương pháp: FT-IR, HRMS, 1H và 13C-NMR
- Nghiên cứu khả năng chiết ion Pt(IV) trong dung dịch của các chất lỏng ion
- Tẩm các chất lỏng ion lên một số chất mang rắn xốp tạo vật liệu hấp phụ như nhựa Amberlyte XAD-4 và XAD-7 để tạo ra các chất hấp phụ
- Nghiên cứu khả năng hấp phụ Pt của vật liệu chế tạo được, xác định
Trang 5độ Pt trong dung dịch bằng quang phổ phát xạ ghép khối phổ
- Nghiên cứu quá trình giải chiết và giải hấp Pt(IV) để thu hồi Pt(II) Đồng thời đánh giá khả năng tái sử dụng IL và vật liệu hấp phụ
Đề tài này đã nghiên cứu tổng hợp các chất lỏng ion có khả năng thu hồi Pt(IV) và Pt có trong xúc tác thải được hòa tan dưới dạng H2PtCl6 Sử dụng các IL để thu hồi P(IV) từ dung dịch có chứa H2PtCl6 các bằng 2 phương pháp chiết lỏng - lỏng và hấp phụ Thực hiện quá trình giải chiết và giải hấp
để thu hồi Pt(II) và khả năng tái sử dụng của IL và vật liệu hấp phụ (SILP)
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về chất lỏng ion
Chất lỏng ion là một nhóm chất có nhiều tính chất đặc biệt tính như áp suất hơi bão hòa thấp, khả năng hòa tan được nhiều chất, khả năng phản ứng cao nhờ thay đổi các anion và các cation khác nhau, khả năng tái sinh và tái
sử dụng cao Do đó, IL có thể ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như: xúc tác, đồng xúc tác, dung môi cho nhiều phản ứng Chính vì vậy mà trong đề tài này, các chất lỏng có cấu trúc cation khác nhau được tổng hợp sử dụng cho quá trình chiết lỏng - lỏng và mang lên các chất mang rắn để hấp phụ thu hồi platinum từ xúc tác thải
1.2 Tổng quan về thu hồi Pt từ xúc tác đã qua sử dụng
v Phương pháp hòa tan Pt
Pt trong xúc tác của quá trình reforming theo công nghệ UOP (Pt/Al2O3) chứa 0,29% khối lượng Pt, được hòa tan bằng dung dich H2O2/HCl Phương pháp này cho hiệu quả hòa tan Pt cao, không tạo khí độc hại, tương đối thân thiện với môi trường
v Phương pháp thu hồi Platinum từ dung dịch hòa tan
Các phương pháp thường sử dụng để thu hồi Pt(IV) từ dung dịch chloride sau khi hòa tan platinum là kết tủa, hấp phụ, điện hóa và chiết, mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm riêng
Trang 6Xu hướng mới hiện nay sử dụng chất lỏng ion làm dung môi chiết hoặc tẩm IL lên chất mang rắn để hấp phụ Pt(IV) Gần đây, các chất lỏng ion
ammonium và phosphonium đã được sử dụng nhiều để chiết chọn lọc Pt(IV)
để chiết và hấp phụ Pt(IV) từ dung dich hòa tan Pt dưới dạng H2PtCl6 nhằm mang lại hiệu quả kinh tế và giảm thiểu ô nhiễm môi trường
CHƯƠNG 2 THỰC NGHIỆM 2.1 Nguyên liệu
Xúc tác thải R-134 từ phân xưởng reforming của nhà máy lọc Dầu Dung Quất có đường kính 1 - 1,5 mm, dạng viên hình tròn, màu xám, theo số liệu nhà máy, xúc tác chứa platinum được mang trên Al2O3
1-methyl-3-n-và trioctylammonium hydrogen chloride Các phản ứng tổng hợp IL đều không sử dụng dung môi hữu cơ và được tiến hành bằng phương pháp gia nhiệt có khuấy từ Các sản phẩm được làm sạch và xác định cấu trúc
Trang 72.3 Quá trình tiền xử lý và hòa tan Pt trong xúc tác thải
Xúc tác thải R-134 từ phân xưởng reforming của nhà máy lọc dầu Dung
Quất được nghiền nhỏ thành bột có đường kính từ 0,1-0,3 mm, để loại cốc
bột xúc tác thải này được nung ở nhiệt độ là 800 oC, với thời gian là 5 giờ
Sau đó được hòa tan bằng dung dịch HCl 9M/H2O2 30%với tỉ lệ thể tích là
10:1 thu được dung dịch chứa H2PtCl6 có màu vàng
Phương trình phản ứng:
Pt + 6 HCl + 2 H2O2 → H2PtCl6 + 4 H2O (2.1)
2.4 Sử dụng chất lỏng ion trong việc thu hồi Pt từ xúc tác thải
2.4.1 Phương pháp chiết lỏng - lỏng thu hồi Pt(IV)
Tiến hành chiết Pt bằng 7 chất lỏng ion, thực hiện trên cùng một phương
pháp, phản ứng xảy ra trong quá tình chiết như sau:
2 [R3 R’N]+Cl- + H2PtCl6 → [R3 R’N+ ]2[PtCl6] 2- + 2 HCl (2.2)
Chất lỏng ion được pha trong dầu hỏa với nồng độ 15%, trộn với dung
dịch chứa H2PtCl6 theo tỉ lệ thể tích là 1:1, ở 40 oC, 30 phút, để lắng 1 giờ,
dung dịch tách làm 2 lớp: Lớp trên là dầu hỏa và [R3R’N+]2PtCl62-, lớp dưới
là nước chứa các chất vô cơ Tách riêng từng lớp, đo hàm lượng Pt, xác định
hàm lượng Pt(IV) còn lại trong pha nước, tính hiệu suất chiết Pt
2.4.2 Phương pháp hấp phụ chất lỏng ion lên chất mang rắn
- Khảo sát sự hấp phụ Pt trên chất mang trắng: SiO2, XAD-7,XAD-4
- Khảo sát sự hấp phụ Pt trên chất mang đã tẩm sẵn chất lỏng ion
- Nghiên cứu dung lượng hấp phụ cực đại
Các thí nghiệm dung lượng hấp phụ cực đại được thực hiện bằng cách
trộn một lượng chất hấp phụ được tính toán với thể tích cố định dung dịch
H2PtCl6 sao cho tỉ lệ mol giữa Pt và IL (nIL/nPt) thay đổi từ 1 đến 14 Đo hàm
lượng Pt(IV) còn lại và tính hiệu suất cũng như dung lượng hấp phụ Pt(IV)
2.5 Giải chiết và giải hấp thu hồi Pt(II), tái sử IL và chất hấp phụ
Sử dụng hệ dung dịch thioure 2M:HCl 5M với tỉ lệ thể tích 1:1 để giải
chiết và giải hấp nhằm tái sử dụng chất lỏng ion và chất hấp phụ Hiệu suất
giải chiết và giải hấp được tính theo công thức:
(2.8)
(2.9)
(2.10)
(2.11)
Trang 8m1: Khối lượng Pt có trong xúc tác thải;
m2: Khối lượng Pt(II) thu hồi
2.6 Phương pháp nghiên cứu đặc trưng của vật liệu
Sử dụng Phổ FT-IR, NMR, HRMS để xác định cấu trúc các IL và phổ phát xạ Plasma (ICP) để xác định hàm lượng Pt của các mẫu thực nghiệm
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 Kết quả tổng hợp chất lỏng ion
3.1.1 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất tổng hợp IL
Đề tài thực hiện các phản ứng tổng hợp các IL, khảo sát ảnh hưởng của thời gian, nhiệt độ và tỉ lệ mol của các chất tham gia phản ứng tới hiệu suất phản ứng Các IL được tổng hợp ở điều kiện phù hợp với hiệu suất tương đối cao (> 82,7%) Kết quả khảo sát được trình bày ở Bảng 3.1
Bảng 3.1 Điều kiện phù hợp của phản ứng tổng hợp các chất lỏng ion
[C4BIM]Cl [C14MIM]Cl [C14BIM]Cl [C14Py]Cl [N0888]Cl
Nhiệt độ 95 oC 95 oC 100 oC 100 50
Hiệu suất (%) 90,8 91,4 91,1 86,3 82,7
3.1.2 Xác định cấu trúc của chất lỏng ion
Áp dụng các điều kiện trên để tổng hợp [C14MIM]Cl, sản phẩm được xác định cấu trúc bởi phổ MNR, HRMS và kết quả đo phổ được ghi ở Bảng 3.2
Từ kết quả của các phổ trên mẫu tổng hợp [C14MIM]Cl được xác định cấu trúc như sau:
Trang 9N N 2
1'
14' Cl
Thực hiện phản ứng tương tự như trên với mẫu tổng hợp [C4BIM]Cl và [C14BIM]Cl, [C14Py]Cl và [N0888]Cl với điều kiện phù hợp ở Bảng 3.1, tiến hành đo các loại phổ Từ kết quả đo phổ hồng ngoại, phổ HRMS (ESI) và phổ cộng hưởng từ hạt nhân đã xác định được cấu trúc các chất lỏng ion:
1-n-Butyl-3- n -butylimidazolium chloride ([C4BIM]Cl)
1' 4'
1- n -Butyl-3- n -tetradecyllimidazolium chloride ([C14BIM]Cl)
Trang 1014' Cl
N
2 3 4
Tetradecylpyridinium chloride ([C14Py]Cl)
N
H 1
8
Cl
Trioctylammonium hydrogen chloride ([N0888]Cl)
3.2 Sử dụng chất lỏng ion cho quá trình thu hồi Pt
30 g xúc tác thải sau khi nghiền mịn và nung và được hòa tan bởi dung
dịch HCl 9M/H2O2 30% với tỉ lệ thể tích là 10:1, dung dịch sau hòa tan được xác định hàm lượng Pt và tính hiệu suất Hiệu suất đạt là 89,1%, kết quả cho thấy hệ dung dịch HCl 9M/H2O2 30% (v/v: 10/1) là phù hợp để hòa tan Pt có
PtCl62- + 2XCl → X2PtCl6 + 2Cl- (3.1) Hiệu suất chiết Pt(IV) ở các thí nghiệm này rất cao.Tuy nhiên, quá trình chiết này cần sử dụng lượng lớn chất lỏng ion nên chi phí cao và khó áp dụng với khối lượng lớn trong công nghiệp Vì vậy việc tẩm chất lỏng ion
Trang 11trên chất mang rắn tạo ra vật liệu hấp phụ (SILP) giúp tăng diện tích tiếp xúc giữa chất lỏng ion và pha nước và cho phép dị thể hóa quá trình để thực hiện
dễ dàng ở quy mô công nghiệp Do đó, sự hấp phụ Pt(IV) sử dụng các SILP khác nhau được nghiên cứu trong phần tiếp theo
3.2.1.2 Phương pháp hấp phụ
- Khảo sát sự hấp phụ Pt trên chất mang không tẩm chất lỏng ion
Thực hiện các thí nghiệm với chất mang rắn không tẩm chất lỏng ion nhằm mục đích so sánh và đánh giá sự thu hồi Pt(IV) trên các chất mang rắn (nhựa silica gel, XAD-4 và XAD-7) đã tẩm chất lỏng ion
Sự hấp thụ Pt(IV) của chất mang rắn tinh khiết được tiến hành ở nhiệt độ phòng (25oC) và với thời gian là 48 giờ, kết quả cho thấy bản chất của các chất hấp phụ chỉ có thể hấp phụ ion Pt(IV) với hiệu suất rất thấp, thực nghiệm khi thực hiện trên XAD-4, SiO2, XAD-7 cho hiệu suất hấp phụ Pt(IV) lần lượt là 3,5%, 4,7% và 5,8 %
Để xác định thời gian ngâm tẩm chất lỏng ion phù hợp, chất lỏng ion [C14BIM]Cl lần lượt được tẩm lên ba chất mang SiO2, XAD-7, XAD-4 trong các khoảng thời gian khác nhau 6, 12, 24 và 36 giờ Kết quả cho thấy thời
gian tẩm chất lỏng ion lên cả ba chất mang rắn với 24 giờ là phù hợp
Để xác định thời gian thực hiện quá trình hấp phụ, dãy thí nghiệm hấp phụ được thực hiện trên [C14BIM]Cl/SiO2 với thời gian từ 12-60 giờ Kết quả
là hiệu suất thu hồi Pt(IV) cao nhất là 99,98% với thời gian là 48 giờ
- Ảnh hưởng của cấu trúc IL và tỷ lệ mol IL/Pt
Theo giới thiệu ở phần thực nghiệm, việc tẩm chất lỏng ion lên chất mang rắn tạo ra chất hấp phụ rắn tẩm chất lỏng ion (Supported ionic liquid phase, SILP) Bốn chất lỏng ion [C14MIM]Cl, [C4BIM]Cl, [C14BIM]Cl và [C14Py]Cl được tẩm lên 3 chất mang SiO2, XAD-7, XAD-4 tạo thành 12 chất hấp phụ được sử dụng để hấp phụ thu hồi Pt(IV)
Sự hấp phụ Pt(IV) của tất cả các mol IL/Pt (Hình 3.10) Tùy thuộc vào chất mang rắn và cấu trúc IL mà cần SILP tạo ra từ các chất mang rắn và IL khác nhau đều tăng lên khi tăng tỷ lệ thay đổi tỉ lệ mol IL/Pt cho phù hợp Sự hấp phụ Pt(IV) của các SILP tạo thành từ [C4BIM]Cl và [C14MIM]Cl tăng
Trang 12lên khi tăng chiều dài chuỗi mạch nhánh 3-alkyl của vòng imidazolium Điều này có thể được giải thích bởi sự tăng thể tích Van der Waals dẫn đến giảm tính ưa nước của chất lỏng ion và tăng tính ổn định của cation imidazolium
và do đó hiệu suất thu hồi Pt(IV) tăng Vì vậy SiO2 và XAD-7 tẩm chất lỏng ion [C14BIM]Cl và [C14MIM]Cl với tỉ lệ mol Pt/IL = 5, hiệu suất thu hồi Pt(IV) đều đạt trên 93,4% Trong khi đó cùng tỉ lệ IL/Pt này, hiệu suất thu hồi của cả 3 chất mang tẩm IL [C4BIM]Cl đều cho hiệu suất rất thấp (11/6 - 49,4%) và nếu tăng tỉ lệ mol IL/Pt cao hơn thì hiệu suất tăng cụ thể như hiệu suất đạt 45,4% khi sử dụng SILP [C4BIM]Cl/XAD-4 và khoảng 80% khi sử dụng [C4BIM]Cl/XAD-7 và [C4BIM]Cl/SiO2 SILPs ở tỉ lệ mol IL/Pt là 10 Hiệu suất hấp phụ Pt(IV) của [C14BIM]Cl/SiO2 cao hơn 90% và của [C14BIM]Cl/XAD-7 đạt gần 100%, đặc biệt là hiệu suất cao ở tỉ lệ mol IL/Pt cao từ 6 đến 10
Sự hấp phụ Pt(IV) của các SILP tạo thành từ [C14BIM]Cl và [C14MIM]Cl cũng được so sánh để nghiên cứu ảnh hưởng của chuỗi bên thứ hai của vòng imidazolium (tại vị trí 1 của vòng) Các SILP tạo thành từ [C14MIM]Cl đã cho hiệu suất thu hồi platinum cao hơn so với các SILP tạo thành từ [C14BIM]Cl Hiệu quả hấp phụ platinum của SILP tạo thành từ [C14MIM]Cl
và XAD-4, XAD-7, SiO2 lần lượt 60,2%, 99,9% và 99,0% với tỷ lệ mol IL/Pt là 5 Ở tỉ lệ mol IL/Pt = 6, hiệu suất hấp phụ platinum của các SILP tạo thành từ [C14BIM]Cl đạt gần 100% và ổn định ở tỉ lệ mol IL/Pt từ 6 đến 10 Điều này có thể là do hai chuỗi alkyl dài trong chất lỏng ion [C14BIM]Cl ngăn cản sự tiếp cận của các ion hexachloplatinate vào vòng imidazolium
Để nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc của vòng trong cation của IL đến khả năng hấp phụ Pt(IV), một số SILP tạo thành từ [C14Py]Cl đã được điều chế và sử dụng để hấp phụ Pt(IV) từ dung dịch chloride, mặc dù [C14MIM]Cl, [C14BIM]Cl và [C14Py]Cl có số cùng số nguyên tử carbon trong nhánh ankyl thứ nhất (ở vị trí 3) của vòng, nhưng các SILP tạo thành
từ [C14Py]Cl cho năng suất hấp phụ Pt(IV) thấp hơn Điều này có thể là do ion imidazolium là vòng năm, chứa hai nguyên tử nitrogen liên kết với hai
Trang 13nitrogen kết nối với một nhóm alkyl Do đó, [C14MIM]Cl có kỵ nước hơn và
ổn định hơn trên bề mặt mao quản SiO2 so với [C14Py]Cl, dẫn đến các SILPs tạo thành từ [C14MIM]Cl có hiệu suất hấp phụ Pt(IV) cao hơn (Hình 3.10a)
Hình 3.10a Sự hấp phụ Pt(IV) của SiO2, tẩm các chất lỏng ion khác nhau (tỉ
lệ lấp mao quản 20%, 48 giờ và 25 o C)
- Ảnh hưởng của chất mang rắn
Tất cả các SILP được điều chế từ SiO2 và bốn IL đều hấp phụ Pt(IV) tốt hơn so với các SILP tạo thành từ hai loại nhựa trao đổi ion (XAD-4, XAD-7)
và bốn IL khi sử dụng cùng tỷ lệ mol IL/Pt Diện tích bề mặt và tính chất hóa học (tính phân cực và tính kỵ nước) của chất mang rắn là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hấp phụ Pt(IV) Diện tích bề mặt cao làm tăng sự tiếp xúc pha giữa IL và pha nước có chứa Pt, do đó, hiệu suất hấp phụ Pt của các SILP từ SiO2 cao hơn so với các SILPs từ nhựa XAD-7
Tất cả các SILP được điều chế từ SiO2 và bốn IL đều hấp phụ Pt(IV) tốt hơn so với các SILP tạo thành từ hai loại nhựa trao đổi và bốn IL khi sử dụng cùng tỷ lệ mol IL/Pt Mặc dù diện tích bề mặt của XAD-4 cao hơn SiO2nhưng hiệu suất lại tuân theo SiO2>XAD-7>XAD-4, điều này cho thấy yếu
tố ưa nước là quan trọng hơn Tính ưa nước của SiO2 cao hơn các nhựa