LỜI MỞ ĐẦU Thị trường tài chính là một sản phẩm bậc cao của nền kinh tế thị trường, ở đó, thị trường tài chính hoạt động như là một sự kết nối giữa người cho vay đầu tiên và người
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT HƯNG YÊN
KHOA KINH TÊ
TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN: TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài nhóm 8: Thực trạng thị trường tài chính Việt Nam hiện nay
Giảng viên giảng dạy : Vũ Thị Huyền
Sinh viên thực hiện : Cao Thị Minh Thùy
: Phạm Hằng Nga : Phạm Thị Lụa
Hưng Yên - 2022
Trang 2MỤC LỤC Lời mở đầu
1 Tổng quan về thị trường tài chính 3
1.1 Khái niệm về thị trường tài chính 3
1.2 Đặc điểm chức năng của thị trường tài chính 3
1.3 Vai trò của thị trường tài chính 3
1.4 Cấu trúc của thị trường tài chính 4
2 Thực trạng thị trường tài chính Việt Nam hiện nay 5
2.1 Thực trạng thị trường tiền tệ 5
2.2 Thực trạng thị trường vốn 6
3 Một số định hướng phát triển thị trường tài chính 8
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU Thị trường tài chính là một sản phẩm bậc cao của nền kinh tế thị trường, ở đó, thị trường tài chính hoạt động như là một sự kết nối giữa người cho vay đầu tiên và người sử dụng cuối cùng, tạo ra vô số các giao dịch, tạo ra các dòng chảy về vốn trong một nền kinh tế - như là sự lưu thông máu trong một cơ thể - một nền kinh tế hoạt động lành mạnh và có hiệu quả chỉ khi nào thị trường này cũng hoạt động có hiệu quả như thế, và ngược lại Ở Việt Nam, kể từ khi nền kinh tế chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, gia nhập WTO, lĩnh vực tài chính là lĩnh vực mang tính nhạy cảm luôn đòi hỏi sự đổi mới cả về mặt nhận thức và thực tiễn
Trang 41 Tổng quan về thị trường tài chính.
1.1 Khái niệm về thị trường tài chính
Thị trường tài chính là tổng hòa các mối quan hệ cung cầu về vốn diễn ra dưới hình thức vay mượn, mua bán về vốn tiền và các chứng từ có giá nhằm chuyển dịch từ nơi cung cấp đến nơi có như cầu về vốn cho các hoạt động kinh tế
Đối tượng được mua bán trên thị trường tài chính là các khoản vốn
Để mua bán các khoản vốn này, người ta sử dụng các công cụ giao dịch nhất định
1.2 Đặc điểm chức năng của thị trường tài chính
Thị trường tài chính gồm 5 chức năng cơ bản:
– Thị trường tài chính thực hiện chức năng kinh tế nòng cốt trong việc dẫn vốn từ những người thừa vốn vì họ chi tiêu ít hơn thu nhập tới những người thiếu vốn vì họ muốn chi tiêu nhiều hơn thu nhập của họ
+ Trong thị trường tài chính trực tiếp các chủ thể có vốn tiết kiệm nhàn rỗi trực tiếp chuyển vốn cho các chủ thể có nhu cầu sử dụng vốn bằng cách mua các tài sản tài chính trực tiếp do các chủ thể có nhu cầu vốn phát hành thông qua các thị trường tài chính
+ Trong thị trường tài chính gián tiếp người cho vay và người đi vay giao dịch gián tiếp thông qua trung gian tài chính thông thường là các ngân hàng thương mại, quỹ tín dụng
– Thị trường tài chính được thể hiện qua việc hình thành giá của các tài sản tài chính – Thị trường tài chính là tạo tính thanh khoản cho các tài sản tài chính Thiếu tính thanh khoản các nhà đầu tư phải năm giữ tài sản tài chính cho đến khi nào đáo hạn, hoặc đối với cổ phiếu cho khi nào công ty tự nguyện thu hồi hoặc nếu không tự nguyện thì phải chờ thanh lý tài sản Mặc dù tất cả các thị trường tài chính đều có tính thành khoản, nhưng mức độ thanh khoản sẽ là khác nhau giữa chúng
– Thị trường tài chính giảm bớt chi phí tìm kiếm và chi phí thông tin: Để các giao dịch
có thể được diên ra thì những người mua và người bán phải tìm được nhau Họ phải mất rát nhiều tiền và thời gian cho việc tìm kiếm này, ảnh hưởng đến lợi nhuận kỳ vọng của họ Chi phí đó là chi phí tìm kiếm Bên cạnh đó, để tiến hành đầu tư họ cần
có các thông tin về giá trị đầu tư như khối lượng và tính chắc chắn của dòng tiền kỳ vọng Thị trường tài chính nhờ có tính trung lập này- là nơi để người mua, người bán đến đó tìm gặp nhau, là nơi cung cấp các thông tin một cách công khai và đầy đủ- nên
có khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch lớn vì thế nó cho phép giảm đến mức thấp nhất những khoản chi phí trên
– Thị trường tài chính là ổn định và điều hòa lưu thông tiền tệ
Nhìn chung, thị trường tài chính nâng cao năng suất hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế Nó cũng trực tiếp cải thiện mức sống ccuar người tiêu dùng bằng cách giúp họ chọn thời điểm cho việc mua sắm của họ tốt hơn Thị trường tài chính hoảt động hiệu quả sẽ cải thiện đời sống kinh tế của mỗi người trong xã hội
1.3 Vai trò của thị trường tài chính
Thị trường tài chính đóng vai trò là kênh dẫn vốn từ người tiết kiệm đế người kinh doanh, giúp cho việc chuyển vốn từ người không có cơ hội đầu tư sinh lời đến những người có cơ hội đầu tư sinh lợi Hiện nay, nguồn vốn đầu tư đóng góp khoảng
Trang 550%-55% tăng trưởng kinh tế hàng năm Bởi vậy, huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế-xã hội là một khâu cốt yếu của toàn bộ hệ thống các ngân hàng nước ta
Trong điều kiện vốn ngân sách nhà nước có hạn, vốn tự có của doanh nghiệp và người sản xuất còn ít ỏi, thì vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh chỉ yếu dựa vào vốn tín dụng ngân hàng Để có vốn cho vạy, các ngân hàng thương mại đã huy động vốn cho đầu tư phát triển bằng đa dạng các phương thức, như giải tỏa vốn đọng trong nợ xấu, phát hành cổ phiếu và trái phiếu tăng vốn điều lệ, thu hút tiền gửi tiết kiệm và phát triển dịch vụ ngân hàng
Có thể khẳng định, hệ thống ngân hàng đóng vai trò chủ lực đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế Đáng chú ý là các ngân hàng thương mại nhà nước chiếm trên 70% thị phần huy động vốn; thị phần của các ngân hàng thương mại cổ phần tuy còn khiêm tốn, nhưng đang có xu hướng tăng nhanh Bên cạnh các kênh huy động vốn nói trên hệ thống ngân hàng còn là đầu mối đàm phán và ký kết, tổ chức tiếp nhận vốn và cho vay nhiều dự án của WB, ADB về điện lực, giao thông, cải thiện môi trường, xóa đói giảm nghèo
1.4 Cấu trúc của thị trường tài chính
Có nhiều cách xem xét thị trường tài chính dựa vào nhiều khía cạnh khác nhau:
Theo cơ sở kì hạn thanh toán của các công cụ tài chính thị trường tài chính bao gồm:
Thị trường tiền tệ: Thị trường tiền tệ là một bộ phận của thị trường tài chính trong
đó chỉ mua bán các công cụ tài chính ngắn hạn (thị trường có thời gian luân chuyển vốn không quá 1 năm)
Thông thường các chủ thể đi vay trên thị trường này là những chủ thể tạm thời thiếu hụt tiền tệ phục vụ cho các nhu cầu thanh toán Do vậy, khi thông qua các giao dịch mua bán quyền sử dụng vốn ngắn hạn mà thị trường tiền tệ đã cung ứng một lượng tiền tệ cho các bên cần vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu thanh toán (cũng chính vì lý
do này mà nó được gọi là thị trường tiền tệ)
Những chủ thể cung vốn (cho vay) thì lại là những chủ thể tạm thời có vốn nhàn rỗi (có thể là do chưa dùng tới hoặc đang tìm kiếm cơ hội đầu tư), do vậy họ tranh thủ chuyển nhượng quyền sử dụng các khoản vốn nhàn rỗi của họ trong thời gian ngắn để hưởng lãi Tuy nhiên, vì là đầu tư thời gian ngắn, đầu tư mang tính nhất thời nên những nhà đầu tư này quan tâm không nhiều đến mức lãi mà quan tâm tới độ an toàn, tính thanh khoản để có thể rút vốn ngay khi cần Các hình thức đầu tư như thế trên thị trường tiền tệ thường có độ an toàn tương đối cao nhưng lại thường có mức lợi tức thấp
Khối lượng và giá trị giao dịch trên thị trường tiền tệ thường có quy mô lớn nên bên cho vay thường là các ngân hàng, công ty tài chính hoặc phi tài chính còn bên vay vốn thường là Chính phủ, các công ty và ngân hàng
Các công cụ tài chính lưu thông trên thị trường tiền tệ hay hàng hóa của thị trường tiền tệ bao gồm: tính phiếu kho bạc, các loại thương phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ gửi tiền, kỳ phiếu ngân hàng, khế ước cho vay
Thị trường tiện tệ có một số đặc trưng:
Các công cụ thị trường tiền tệ có thời gian đáo hạn trong vòng một năm nên có tính thanh khoản cao, độ rủi ro thấp và hoạt động tương đối ổn định
Trang 6Hoạt động của thị trường tiền tệ diễn ra chủ yếu là hoạt động tín dụng, do đó giá cả được hình thành thể hiện thông qua lãi suất tín dụng ngân hàng
Cấu trúc của thị trường tiền tệ bao gồm thị trường tín dụng, thị trường liên ngân hàng, thị trường chứng khoán ngắn hạn, thị trường ngoại hối
Thị trường vốn: Thị trường vốn là thị trường trao đổi mua bán các công cụ tài chính
trung và dài hạn (thị trường có thời gian luân chuyển vốn trên một năm trở lên)
Thị trường này cung cấp vốn cho các khoản đầu tư dài hạn các doanh nghiệp, chính phủ và các hộ gia đình Do thời gian luân chuyển vốn trên thị trường này dài hạn hơn so với thị trường tiền tệ nên các công cụ tài chính trên thị trường vốn có độ rủi ro cao hơn tính thanh khoản kém hơn và đi theo nó là mức lợi tức kỳ vọng cũng cao hơn
Thị trường tiền tệ là thị trường được hình thành trước vì ban đầu do kinh tế chưa phát triển nên nhu cầu vốn và nhu cầu tiết kiệm vốn chưa nhiều chủ yếu là ngắn hạn Sau khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu về các nguồn vốn dài hạn cho đầu tư xuất hiện thì thị trường lao động vốn ra đời Bên cạnh việc huy động vốn dài hạn thông qua các định chế tài chính trung gian thì Chính phủ và các doanh nghiệp còn tự huy động vốn băng cách phát hành chứng khoán
Các công cụ của thị trường vốn bao gồm cổ phiếu, trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty
Cấu trúc thị trường vốn bao gồm thị trường tín dụng dài hạn và thì trường chứng khoán
2 Thực trang thị trường tài chính Việt Nam hiện nay
2.1 Thực trạng thị trường tiền tệ
Trong tháng 7/2022, Ngân hàng Nhà nước đã tích cực can thiệp thông qua thị trường mở và phát hành tín phiếu để điều tiết thanh khoản tiền đồng trong hệ thống ngân hàng, đồng thời giúp kiềm giữ đà tăng của tỷ giá
Cụ thể, việc phát hành tín phiếu được sử dụng liên tục trong 1 tháng từ 22/6 đến 21/7 nhằm hút bớt tiền đồng ra khỏi hệ thống ở các kỳ hạn khác nhau Tính đến ngày 31/7, lượng tín phiếu đang lưu hành đạt xấp xỉ 111.000 tỷ đồng, trong đó có khoảng 87.000 tỷ đồng sẽ đáo hạn vào nửa đầu tháng 8/2022, và phần còn lại sẽ đáo hạn vào trung tuần tháng 9/2022 Diễn biến phát hành tín phiếu khởi động bằng các kỳ hạn ngắn sau đó kéo dài lên các kỳ hạn dài hơn là 28 ngày và 56 ngày
Cũng trong tháng 7/2022, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh tăng giá bán USD từ mức 23.250 VND lên 23.400 VND, đồng thời chuyển từ phương thức bán kỳ hạn 3 tháng sang phương thức bán giao ngay Lượng USD bán giao ngay trong tháng qua ước đạt 3,5 tỷ USD, tương đương 81.900 tỷ đồng
Bởi lượng tiền đồng rút ra khỏi hệ thống quá lớn từ cả hai kênh tín phiếu và bán USD, trong tuần cuối tháng, Ngân hàng Nhà nước đã hỗ trợ thanh khoản trở lại thông qua nghiệp vụ mua kỳ hạn
Điểm đáng chú ý, Ngân hàng Nhà nước hút tiền về ở các kỳ hạn dài nhưng chỉ bơm
hỗ trợ thanh khoản cho kỳ hạn ngắn là 7 ngày, đồng thời chuyển từ phương thức đấu thầu khối lượng sang đấu thầu lãi suất
Trang 7Khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố tính đến cuối tháng 7 lên đến hơn 52.000 tỷ đồng, mức cao đột biến so với giai đoạn nửa đầu năm, tuy nhiên, do đều là các kỳ hạn ngắn và lượng tiền bơm trở lại có xu hướng giảm dần nên số dư trên kênh này giảm chỉ còn khoảng 29.500 tỷ đồng tính đến ngày 2/8/2022
Trước những động thái điều hành kể trên, áp lực mất giá tiền đồng đã có dấu hiệu hạ nhiệt thể hiện qua việc lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh lên vùng 4,0-5,0% khiến cho chênh lệch lãi suất VND và USD trên thị trường liên ngân hàng đã đảo chiều từ âm sang dương Đồng thời, tỷ giá USD/VND thu hẹp đà tăng từ mức tăng đỉnh điểm 2,7% còn 2,3% vào cuối tháng
Theo Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), diễn biến điều hành chính sách tiền tệ trên của Ngân hàng Nhà nước cho thấy hàm ý rằng ngân hàng trung ương sẽ kiểm soát chặt chẽ thanh khoản tiền đồng trong hệ thống từ nay đến cuối năm nhằm giảm bớt áp lực lên tỷ giá
Đồng thời, việc vay tiền từ Ngân hàng Nhà nước sẽ không còn rẻ như trước bởi những ngân hàng bị thiếu hụt về thanh khoản buộc phải đấu thầu để vay với mức chi phí cao hơn
Ngoài ra, trong tháng 7/2022, với việc Ngân hàng Nhà nước tuyên bố giữ mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm 2022 ở mức 14% trong khi tăng trưởng tín dụng đến 26/7 đã là 9,4% đồng nghĩa với định hướng thắt chặt chính sách tiền tệ cho dù Ngân hàng Nhà nước chưa có động thái nâng lãi suất điều hành
Theo các chuyên gia phân tích của VDSC, từ nay đến cuối năm, việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước vẫn còn gặp 4 thách thức lớn
Thứ nhất, lãi suất điều hành của Fed sẽ còn vài lần tăng nữa với mức tăng kỳ vọng
khoảng 1,5-1,75% trong cuộc họp tháng 9, 11 và 12 sẽ tiếp tục là yếu tố hỗ trợ cho nhu cầu USD
Thứ hai, lãi suất huy động tiếp tục tăng kéo theo việc tăng trưởng huy động vốn bắt
kịp tăng trưởng tín dụng sẽ gây áp lực lên việc điều tiết thanh khoản trong hệ thống ngân hàng
Thứ ba, thời điểm và mức độ cấp phép thêm room tín dụng nếu không khéo léo sẽ ảnh
hưởng đến triển vọng tăng trưởng năm 2023
Thứ tư, triển vọng xuất khẩu và kinh tế toàn cầu kém khả quan sẽ khiến nguồn cung
USD không dồi dào như thời điểm cuối năm của các năm trước
VDSC cũng lưu ý thêm, điểm thuận lợi là lạm phát Việt Nam vẫn đang diễn biến trong biên độ cho phép nhờ giá dầu thế giới đang giảm, tăng trưởng kinh tế năm
2022 không đáng lo trên cơ sở mức nền thấp của cùng kỳ Dù vậy, bức tranh kinh tế năm 2023 đang dần hé lộ với rất nhiều khó khăn phía trước, ưu tiên kiểm soát lạm phát và ổn định tăng trưởng nhiều khả năng sẽ không thể song hành trong năm sau
2.2 Thực trạng thị trường vốn
Sau 20 năm phát triển, thị trường vốn của Việt Nam phát triển nhanh cả về chiều rộng và chiều sâu; khung khổ pháp lý được hoàn thiện; quy mô, sản phẩm, thanh khoản tăng nhanh, góp phần huy động được nguồn lực tài chính rất quan trọng cho nền kinh tế, hỗ trợ và bổ sung cho kênh cung ứng vốn truyền thống là tín dụng ngân hàng
Trang 8Thứ nhất, khung khổ pháp lý về thị trường vốn ngày càng được hoàn thiện, theo
hướng: (i) tăng cường các biện pháp tái cơ cấu TCTD, định chế tài chính yếu kém, xử
lý các hành vi vi phạm trên thị trường; (ii) nâng cao tính minh bạch, kỷ luật thị trường và chuẩn mực giám sát; (iii) tiệm cận gần hơn với thông lệ, nguyên tắc và các cam kết quốc tế; thúc đẩy thị trường vốn phát triển nhanh, mạnh hơn, góp phần đảm bảo sự an toàn và lành mạnh của hệ thống tài chính Một số văn bản pháp lý và thể chế chính sách quan trọng có thể kể đến:
Nghị quyết 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng; Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020”;… ra đời giúp đẩy mạnh công tác xử lý nợ xấu cũng như tăng cường nhận thức, trách nhiệm của khách hàng, TCTD trong việc tuân thủ quy định của pháp luật, đảm bảo an toàn hệ thống, góp phần ổn định tài chính, tiền tệ của quốc gia Luật Chứng khoán sửa đổi năm 2019 khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật Chứng khoán năm 2006 (được sửa đổi, bổ sung năm 2010), tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển, bảo đảm an ninh, an toàn thị trường chứng khoán; Nghị định
155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán; Nghị định
156/2020/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực chứng khoán củng cố, hoàn thiện nền tảng pháp lý để thị trường hoạt động hiệu lực, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư
Nghị định 153/2020/NĐ-CP quy định về chào bán và giao dịch trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) riêng lẻ thay thế Nghị định số 163/2018/NĐ-CP ngày 04 tháng 12 năm
2018 của Chính phủ quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp và Nghị định số 81/2020/NĐ-CP ngày 09/7/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2018/NĐ-CP ngày 04/12/2018 quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp Theo đó, khung khổ pháp lý thị trường TPDN đã liên tục được hoàn thiện, đảm bảo phù hợp với thông lệ tốt của quốc tế, thị trường đã dần hình thành các cấu phần cần thiết để phát triển, đáp ứng nhu cầu huy động vốn của các DN, tổ chức kinh tế, cũng như nhu cầu đầu tư của thị trường
Thứ hai, quy mô thị trường tăng nhanh Quy mô thị trường chứng khoán tăng nhanh
trong giai trong giai đoạn 2016 - 2017 và 2020 - 2021 Đến tháng 6/2022, giá trị vốn hoá thị trường chứng khoán đạt 7,8 triệu tỷ đồng, tương đương 78,16% GDP (tháng 12/2015, vốn hoá thị trường chứng khoán đạt 2,1 triệu tỷ đồng, tương đương 41,8% GDP) Trong đó, vốn hoá thị trường cổ phiếu đạt 6,2 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 340%
so với cuối năm 2015; vốn hoá thị trường trái phiếu đạt 1,6 triệu tỷ đồng, tăng 111% so với cuối năm 2015
Quy mô thị trường chứng khoán tăng trưởng mạnh và từng bước thu hẹp khoảng cách với thị trường tiền tệ (hiện tỷ lệ tín dụng/GDP tại thời điểm tháng 6/2022 đạt khoảng 113,9%), chia sẻ vai trò kênh dẫn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, hỗ trợ tiếp cận nguồn lực tài chính cho doanh nghiệp để ổn định và phát triển sản xuất, đặc biệt là có thêm nguồn lực mở rộng quy mô hoặc đầu tư vào công nghệ, giảm rủi ro phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng ngắn hạn của hệ thống ngân hàng thương mại Tổng giá trị huy động vốn qua thị trường chứng khoán giai đoạn 2016 - 2020 đạt 2,67 triệu
Trang 9tỷ đồng, tăng 133% so với giai đoạn 2011 - 2015, trong đó huy động vốn qua TPDN tăng 532%, huy động vốn qua phát hành TPCP tăng 54%, giá trị thu được qua cổ phần hóa, thoái vốn Nhà nước tại doanh nghiệp tăng 712%
Thứ ba, số lượng sản phẩm tăng, mức độ đa dạng hoá cải thiện Trên cả ba thị trường
ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, các sản phẩm dịch vụ tài chính phát triển nhanh, xuất hiện nhiều sản phẩm và dịch vụ mới, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của các khách hàng và nhà đầu tư Đặc biệt, các sản phẩm ngày càng được phát triển theo hướng tích hợp công nghệ do ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực tài chính được đẩy mạnh Trong lĩnh vực ngân hàng, các TCTD đang tích cực đầu tư hạ tầng công nghệ để chuyển đổi mô hình từ ngân hàng truyền thống sang ngân hàng số Trên thị trường chứng khoán, trong giai đoạn 2016 - tháng 6/2022, số doanh nghiệp niêm yết tăng từ hơn 1.100 mã cổ phiếu, chứng chỉ quỹ lên hơn 1.600 mã cổ phiếu, chứng chỉ quỹ Các sản phẩm được đa dạng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư, phòng ngừa rủi ro như quỹ mở, quỹ thành viên, quỹ ETF, quỹ đầu tư bất động sản (REIT) Tháng 8/2017, thị trường chứng khoán phái sinh ra đời với sản phẩm hợp đồng tương lai chỉ số VN30 Tháng 6/2019, sản phẩm chứng quyền có bảo đảm chính thức được đưa vào giao dịch
Thứ tư, tình hình tài chính và hoạt động của các định chế tài chính nhìn chung đảm bảo
an toàn, ổn định Hoạt động cơ cấu lại các TCTD yếu kém kết hợp với xử lý nợ xấu đã đạt được các kết quả tích cực Hệ thống TCTD đã thoát khỏi rủi ro đổ vỡ và tác động tiêu cực đến tổng thể hệ thống Các ngân hàng đã có bước tiến lớn trong việc đáp ứng các yêu cầu an toàn vốn theo các thông lệ quốc tế Đến tháng 6/2022, có 26/35 ngân hàng thương mại trong nước áp dụng Thông tư 41/2016/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện trụ cột I của Basel II Mức độ tập trung vốn tại các ngân hàng thương mại vốn nhà nước giảm; cạnh tranh trên thị trường ngày một tăng Cùng với đó, hệ thống CTCK, công ty Quản lý quỹ (QLQ) được tái cơ cấu, lành mạnh hóa tài chính, chất lượng tài sản được cải thiện Theo đó, tính đến 30/6/2021, 82 CTCK trên thị trường có tổng tài sản đạt 277 nghìn tỷ đồng, tăng 3,7 lần so với cuối 2016, tổng vốn chủ sở hữu đạt 104 nghìn tỷ đồng, tăng 2,3 lần Tỷ lệ nợ có vấn đề giảm xuống 2,1% từ mức 6,4% năm
2016 Đến 30/6/2021, có 46 công ty QLQ đang hoạt động với vốn chủ sở hữu đạt 5,5 nghìn tỷ đồng, tăng 33% Tổng tài sản quản lý (tới 31/12/2020) đạt khoảng 358 nghìn
tỷ đồng, tăng 2,3 lần
3 Một số định hướng phát triển thị trường tài chính
Phát triển thị trường tiền tệ ổn định, minh bạch, hiện đại, phù hợp với định hướng và lộ trình cơ cấu lại thị trường tài chính
Phát triển thị trường vốn theo chiều sâu nhằm gia tăng vốn trung và dài hạn, phục vụ phát triển kinh tế
Phát triển các dịch vụ tài chính hiện đại theo xu hướng của quốc tế về tài chính toàn diện, công nghệ tài chính
Trang 10Tiếp tục tái cơ cấu toàn diện các tổ chức tài chính, đặc biệt là hệ thống các tổ chức tín dụng
Tăng cường công tác thanh tra, giám sát, đảm bảo an toàn hệ thống tài chính
Phát triển cơ sở hạ tầng tài chính đồng bộ, hiện đại, từng bước theo hướng phát triển chung của thế giới