Một số hiện tượng biểu hiện hạn chế trong năng lực sử dụng từ tình thái và các cách nói biểu thị cảm xúc của học viên trình độ C và trên C ..... Đóng góp của luận văn Kết quả nghiên cứu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
l-ơng hoàng nga
khảo sát năng lực sử dụng từ tình thái
và cách nói biểu thị cảm xúc của học viên
học tiếng việt nh- một ngoại ngữ
(học viên ở trình độ c và trên c)
LUậN VĂN THạC Sĩ ngôn ngữ học
Hà Nội, 2008
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
l-ơng hoàng nga
khảo sát năng lực sử dụng từ tình thái
và cách nói biểu thị cảm xúc của học viên
học tiếng việt nh- một ngoại ngữ
(học viên ở trình độ c và trên c)
CHUYấN NGÀNH NGễN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGễN NGỮ HỌC
Hà Nội, 2008
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT 7
1.1 Lý thuyết về nghĩa tình thái của câu 7
1.1.1 Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học 7
1.1.2 Vấn đề phân loại các ý nghĩa thuộc phạm trù tình thái 10
1.1.3 Phương tiện biểu thị nghĩa tình thái 17
1.2 Giao tiếp và cảm xúc trong giao tiếp 20
1.2.1 Giao tiếp và cảm xúc trong giao tiếp 20
1.2.2 Phương tiện biểu thị cảm xúc 21
CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT NĂNG LỰC SỬ DỤNG TỪ TÌNH THÁI VÀ CÁCH NÓI BIỂU THỊ CẢM XÚC CỦA HỌC VIÊN HỌC TIẾNG VIỆT NHƯ MỘT NGOẠI NGỮ (TRÌNH ĐỘ C VÀ TRÊN C) 25
2.1 Kết quả định lượng 25
2.1.1 Kết quả định lượng qua bài thi trình độ C 25
2.1.2 Kết quả định lượng qua băng ghi âm 28
2.1.3 Kết quả định lượng qua bài tập kiểm tra trình độ 33
* Tiểu kết 38
2.2 Kết quả định tính 39
2.2.1 Từ tình thái và cách nói biểu thị cảm xúc được học viên nắm bắt khá tốt khi làm bài tập kiểm tra trình độ 39
2.2.2 Từ tình thái và các cách nói biểu thị cảm xúc được học viên ưa sử dụng 44
2.2.3 Những tình huống giao tiếp thể hiện năng lực sử dụng từ tình thái và cách nói biểu thị cảm xúc của học viên 48
2.2.4 Một số hiện tượng biểu hiện hạn chế trong năng lực sử dụng từ tình thái và các cách nói biểu thị cảm xúc của học viên trình độ C và trên C 55
* Tiểu kết 67
Trang 4CHƯƠNG 3 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI NĂNG LỰC SỬ DỤNG TỪ TÌNH THÁI VÀ CÁCH NÓI BIỂU THỊ CẢM XÚC CỦA HỌC VIÊN NƯỚC
NGOÀI MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CỦA NGƯỜI NGHIÊN CỨU 69
3.1 Những nhân tố ảnh hưởng 69
3.1.1 Tiếng mẹ đẻ của học viên 69
3.1.2 Vị trí của từ tình thái và cách nói biểu thị cảm xúc trong một số giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài hiện nay 71
3.1.3 Ứng xử của học viên và giáo viên với từ tình thái và cách nói biểu thị cảm xúc trong quá trình dạy và học 79
3.1.4 Cá tính của học viên và môi trường sống của học viên trong quá trình học tập tiếng Việt tại Việt Nam 84
3.2 Một số đề xuất 86
3.2.1 Đề xuất phương pháp học tập 86
3.2.2 Đề xuất phương pháp giảng dạy 87
3.2.3 Đề xuất về công tác biên soạn sách và giáo trình 95
* Tiểu kết 99
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 101 PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay việc học tiếng Việt đã trở thành nhu cầu thiết yếu của nhiều người nước ngoài Công tác nghiên cứu về hoạt động dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ cũng có những chuyển biến mới Hàng năm các cuộc hội thảo, các hội nghị khoa học về “Tiếng Việt cho người nước ngoài” đã được tổ chức cả trong và ngoài nước Ngày càng có nhiều người viết về những vấn đề xung quanh việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, từ những bài viết nhỏ nhằm trao đổi kinh nghiệm cho đến cả những công trình nghiên cứu khá sâu sắc Tất cả những nghiên cứu đó đã cung cấp những kinh nghiệm quí báu
về phương pháp dạy tiếng ở nhiều phương diện khác nhau Nhằm góp một phần nhỏ bé của mình vào công cuộc nghiên cứu này, chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát năng lực sử dụng từ tình thái và cách nói biểu thị cảm xúc của học viên học tiếng Việt như một ngoại ngữ (trình độ C và trên C)” Chúng tôi lựa chọn đề tài này là xuất phát từ những lý do sau:
- Từ tình thái và cách nói biểu thị cảm xúc là những phương tiện chuyển tải nhanh nhất những nhận định, đánh giá, thái độ, tình cảm, cảm xúc của người nói tới người nghe
- Bên cạnh việc học các kiến thức ngữ pháp cơ bản như cách sử dụng các động từ, tính từ, danh từ; vấn đề về chủ ngữ, vị ngữ, vấn đề về cách viết câu, viết đoạn văn, học viên nước ngoài học tiếng Việt cần học cả những phương tiện để thể hiện những thái độ, cảm xúc
- Học viên nước ngoài học tiếng Việt, nếu biết sử dụng từ tình thái và cách nói biểu thị cảm xúc trong tiếng Việt đúng nơi, đúng lúc sẽ tạo được sự hấp dẫn cho câu chuyện, tạo sự ngạc nhiên cho người bản ngữ
2 Mục đích của đề tài
Chúng tôi đặt ra mục đích cụ thể trong quá trình làm việc là:
Trang 6- Tìm hiểu những mặt mạnh và những điểm yếu trong năng lực sử dụng
từ tình thái và cách nói biểu thị cảm xúc của học viên
- Nêu đề xuất cho việc học của học viên, cho công tác giảng dạy của giáo viên, cho công tác biên soạn sách và giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài trên cơ sở khắc phục những điểm yếu và phát huy những mặt mạnh trong năng lực sử dụng từ tình thái và cách nói biểu thị cảm xúc của học viên
3 Nhiệm vụ của đề tài
Muốn đạt được mục đích trên chúng tôi xác định rõ nhiệm vụ phải làm là:
1 Khảo sát năng lực sử dụng từ tình thái và các cách nói biểu thị cảm xúc của nhiều đối tượng học viên học tiếng Việt như một ngoại ngữ và khái quát lên tình hình chung
2 Lí giải nguyên nhân có tình hình như trên
4 Đối tƣợng khảo sát
Nói chung đối tượng được khảo sát là các học viên học tiếng Việt như một ngoại ngữ ở trình độ C và trên C (trình độ của người học được đánh giá bằng số lượng, chất lượng các giáo trình họ đã học Tuy nhiên có những học viên học tiếng Việt không theo trình tự các giáo trình vì thế cũng có thể đánh giá trình độ của họ theo thời gian đã học tiếng Việt.)
Tuy nhiên cũng cần nói thêm rằng đối tượng học như thế nào là vấn đề rất quan trọng đối với hoạt động giảng dạy cũng như việc nghiên cứu hoạt động này nên đối tượng nghiên cứu của đề tài cũng được chọn lọc và phân loại kỹ lưỡng
Đối tượng cụ thể như sau:
Chủ yếu là học viên đã và đang học tiếng Việt ở khoa Việt Nam học và Tiếng Việt - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội
Đối tượng khảo sát ở những lứa tuổi khác nhau, có sở thích, thói quen khác nhau, đến từ những nước khác nhau và có mục đích học tập khác nhau
Trang 7Vì thế khi làm việc chúng tôi chú ý tới đối tượng nghiên cứu theo các tiêu chí sau:
1 Quốc tịch, lứa tuổi, cá tính
2 Mục đích học tiếng Việt
3 Thời gian đã học tiếng Việt
4 Thời gian tự học tiếng Việt
5 Thời gian tiếp xúc với người bản ngữ
5 Đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ cho thấy rõ những mặt mạnh và mặt yếu trong sử dụng từ tình thái và cách nói biểu thị cảm xúc của học viên,
từ đó người ta có thể ứng dụng để giải quyết vấn đề về phương pháp học, phương pháp dạy Luận văn cũng cho thấy những thiếu sót trong một số cuốn giáo trình hiện hành, từ đó giải quyết những vấn đề về biên soạn giáo trình dạy tiếng
6 Phương pháp làm việc
6.1 Phương pháp lấy tư liệu
* Soạn bài tập kiểm tra trình độ cho học viên làm
* Ghi âm các cuộc nói chuyện của học viên với người bản ngữ
* Dự một số giờ học của học viên
* Thu thập một số bài thi (môn viết) lấy chứng chỉ tiếng Việt trình độ C của học viên
6.2 Phương pháp xử lý tư liệu
Áp dụng hệ các phương pháp: thống kê, miêu tả, đối chiếu, phân tích và quy nạp
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Trang 8Chương 1 Một số vấn đề lý thuyết
Chương này nêu khái quát những vấn đề lý thuyết về nghĩa tình thái của câu Lí thuyết về giao tiếp và cảm xúc trong giao tiếp Làm rõ nội hàm các
thuật ngữ được dùng trong luận văn: từ tình thái và cách nói biểu thị cảm xúc
Chương 2 Kết quả khảo sát năng lực sử dụng từ tình thái và các cách nói biểu thị cảm xúc của học viên học tiếng Việt như một ngoại ngữ (trình độ
C và trên C)
Chương này đưa ra những con số thống kê cụ thể trong thực tế sử dụng ngôn ngữ của các đối tượng học viên đã tiến hành khảo sát Theo đó đưa ra những nhận định, đánh giá ban đầu về năng lực sử dụng từ tình thái và cách nói biểu thị cảm xúc của học viên
Tiếp đó luận văn tiến hành nghiên cứu định tính để tìm hiểu sâu hơn về những ưu điểm và những tồn tại trong năng lực của học viên về từ tình thái và cách nói biểu thị cảm xúc
Chương 3 Những nhân tố ảnh hưởng tới năng lực sử dụng từ tình thái
và cách nói biểu thị cảm xúc của học viên nước ngoài.Một số đề xuất của người nghiên cứu
Chương này phân tích rõ những yếu tố ảnh hưởng quyết định tới tình hình sử dụng ngôn ngữ của học viên như chương 2 đã trình bày Cuối cùng trên cơ sở những phân tích, tổng hợp và những nhận định người viết có được trong quá trình nghiên cứu, cũng như qua thực nghiệm, luận văn xin đưa một
số đề xuất về cách học hiệu quả cho học viên, một cách dạy tích cực đối với giáo viên và một số đề xuất cho công tác biên soạn giáo trình
Trang 9CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT 1.1 Lý thuyết về nghĩa tình thái của câu
1.1.1 Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học
Khái niệm tình thái vốn xuất phát từ trong logic học Trong logic học,
nội dung mệnh đề thường được chia ra làm hai phần: ngôn liệu và tình thái
Ngôn liệu là cái tập hợp gồm vị ngữ logic và các thành tố của nó, được xem xét như mối liên hệ tiềm năng Còn tình thái là cách hiện thực mối liên hệ
tiềm năng ấy là hiện thực hay phi hiện thực; tất yếu hay không tất yếu, có khả
năng hay không có khả năng Do chỗ chỉ quan tâm đến giá trị chân nguỵ của
nội dung mệnh đề, gạt bỏ đi vai trò chủ quan của người nói cùng nhiều nhân
tố khác nên “cái âm giai tình thái logic chỉ giới hạn trong tính hiện thực, tính tất yếu và tính khả năng với những mức độ khác nhau của tính chất ấy và sự phối hợp giữa các tính chất ấy” (16, tr50) Vậy là tình thái trong logic học chỉ liên quan đến phạm trù tình thái khách quan Cái tình thái miêu tả chỉ duy nhất xoay quanh mối quan hệ giữa nội dung của điều được nói ra với thực tế
T Givon viết “… trong ngôn ngữ học tình thái đã được nhìn nhận và lý giải từ góc độ dụng học với những sở chỉ rõ ràng về người nói, người nghe, với sự quan tâm đến ý đồ, mục đích giao tiếp của họ.” (dẫn theo 14, tr13) Vì thế tình thái trong ngôn ngữ học làm thành một phổ đa dạng về màu sắc, phong phú về cách thức biểu hiện hơn nhiều so với tình thái khách quan trong lôgic học
Tuy nhiên không phải ngay từ đầu các nhà ngôn ngữ học đã ý thức được như vậy Trong một thời gian dài do ảnh hưởng sâu sắc về sự phân giới dứt khoát giữa ngôn ngữ và lời nói mà F.D Saussurre đã xác lập, tính tình thái trong ngôn ngữ học bị đẩy về phía lời nói và bị coi là thứ yếu Mấy chục năm trở lại đây, tình thái của ngôn ngữ được nhìn nhận lại và đã trở thành một
Trang 10trong những vấn đề trung tâm của ngôn ngữ Nhiều nhà ngữ học trên thế giới
đã bàn luận về vấn đề này như Ch Phillmore, J Lyons, V.V Vinogradov…
Quan điểm đáng chú ý nhất và có tầm ảnh hưởng mạnh nhất phải kể đến đó là quan điểm của Ch Bally, nhà ngôn ngữ học người Pháp Theo ông nội dung ngữ nghĩa của câu cần được phân biệt thành hai yếu tố khác nhau đó
là Dictum và Modus Dictum được hiểu là nội dung biểu hiện làm thành cốt
lõi ngữ nghĩa của câu, miêu tả một sự tình nào đó của thế giới Còn Modus là những thái độ, những cách đánh giá khác nhau của người nói đối với nội dung được biểu hiện cũng như mối quan hệ giữa nội dung ấy với hiện thực trong cách nhìn nhận của chủ thể phát ngôn Hai thành phần nghĩa vừa kể trên luôn luôn gắn kết với nhau trong mọi phát ngôn nhưng chính Modus mới là “linh hồn của câu” Quan điểm của Ch Bally được coi là quan điểm mở đường cho công cuộc nghiên cứu nghĩa tình thái của câu Về sau có nhiều nhà ngôn ngữ học khác tiếp bước ông và cũng nghiên cứu tình thái theo hướng đó Cặp
thuật ngữ Dictum và Modus ông dùng được gọi theo nhiều tên khác, khi là
mệnh đề / tình thái, khi là ngôn liệu / tình thái, tình thái/ mệnh đề hay cơ sở mệnh đề / tình thái … tuỳ theo cách tiếp cận của từng nhà ngôn ngữ
Ở Việt Nam, Hoàng Phê, Đỗ Hữu Châu, Hoàng Tuệ, Diệp Quang Ban,
Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp, Cao Xuân Hạo, và nhiều nhà nghiên cứu khác đã nghiên cứu nghĩa tình thái của câu Tuy cách đặt vấn đề, hướng nghiên cứu có nhiều điểm khác nhau nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất với
nhau ở một điểm là coi tình thái là một phạm trù ngữ nghĩa - chức năng, phản
ánh mối quan hệ khác nhau của nội dung thông tin miêu tả trong phát ngôn với thực tế, phản ánh thái độ, cách đánh giá của người nói đối với nội dung miêu
tả trong câu, xét trong quan hệ với người nghe, với hoàn cảnh giao tiếp
Cao Xuân Hạo, người đã nêu nhiều vấn đề đáng chú ý trong nghiên cứu
về tình thái, viết rằng “trong ngôn ngữ, các tình thái của phát ngôn làm thành
Trang 11một bảng màu cực kỳ đa dạng, trong đó phần lớn có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến tính hiện thực, tính tất yếu và tính khả năng, nhưng dưới nhiều sắc thái khác nhau và có nhiều cách biểu hiện khác nhau.” (16, tr50) Chính
do “bảng màu cực kỳ đa dạng này” mà tình thái trở thành vấn đề hết sức phức tạp trong ngôn ngữ Các cuộc bàn luận về nội hàm của khái niệm tình thái cho đến nay vẫn còn có nhiều quan điểm chưa được thống nhất
Với tính chất của luận văn, chúng tôi không có ý định bàn luận thêm về tính hợp lý hay phi lý của các quan điểm hiện có về khái niệm tình thái
Chúng tôi chấp nhận một quan điểm phổ biến nhất về tình thái để thuận tiện cho quá trình khảo sát Chúng tôi đồng ý với quan điểm của hai tác giả Lê
Đông và Nguyễn Văn Hiệp cho rằng: để chỉ sự đối lập Modus và Dictum thì dùng cặp thuật ngữ tình thái/ nội dung mệnh đề là hợp lý hơn cả Vì như các
tác giả cũng đã chỉ ra, cặp thuật ngữ này tỏ ra bao quát và quen thuộc nhất
Hơn nữa dùng thuật ngữ nội dung mệnh đề một mặt cho phép ta chỉ ra tính tiềm năng của sự tình được biểu hiện, mặt khác nó không hoàn toàn trùng với cách hiểu của lôgích học Thêm vào đó cặp thuật ngữ này tạo điều kiện cho
việc cấu tạo các thuật ngữ khác như khung tình thái, nội dung mệnh đề của
hành vi ngôn ngữ…Khái niệm tình thái, theo đó, nên được hiểu theo nghĩa
rộng nhất như Bybee đã nói Đó là “tất cả những gì mà người nói thực hiện cùng với toàn bộ nội dung mệnh đề” (dẫn theo 8, tr23) Nếu hiểu theo nghĩa rộng như thế thì khái niệm tình thái trong ngôn ngữ sẽ bao gồm nhiều kiểu ý nghĩa rất khác nhau Có thể phân thành những nhóm cơ bản sau:
1 Các ý nghĩa thể hiện mục đích phát ngôn của người nói, hay nói theo
lý thuyết hành vi ngôn ngữ, kiểu mục đích tại lời mà người nói thực hiện (hỏi,
ra lệnh, yêu cầu, bác bỏ, khuyên, mời …) gắn trực tiếp với chiều tương tác liên nhân của giao tiếp, với kiểu tác động của người nói đến người đối thoại
2 Các ý nghĩa khác nhau thể hiện sự đánh giá, thái độ, lập trường hay xúc cảm của người nói đối với nội dung thông báo về mức độ quan trọng, về
Trang 12độ tin cậy, xem nó là điều tích cực (mong muốn) hay tiêu cực, bất ngờ, ngoài chờ đợi hay bình thường, về khả năng, tính hiện thực…
3 Ý nghĩa thuộc đối lập giữa khẳng định và phủ định đối với sự tồn tại của sự tình
4 Những đặc trưng liên quan đến sự diễn tiến của sự tình, liên quan đến khung vị từ và mối quan hệ giữa chủ thể được nói đến trong câu và vị từ (thời, thể hay các ý nghĩa được thể hiện bằng vị từ tình thái…)
5 Các ý nghĩa phản ánh các đặc trưng khác của phát ngôn với ngữ cảnh, theo quan điểm, đánh giá của người nói Chẳng hạn như đặc tính siêu ngôn ngữ, hỏi lại, sự đánh giá của người nói về mức độ hiểu biết của người nghe, thái độ, tình cảm của người nói đối với người nghe, sự đánh giá của người nói đối với các quan điểm, ý kiến khác…
1.1.2 Vấn đề phân loại các ý nghĩa thuộc phạm trù tình thái
Hầu hết các công trình nghiên cứu về tình thái (những luận văn, luận án
và một số bài viết trên tạp chí ngôn ngữ) đều nói tới nội hàm của phạm trù tình thái và vấn đề phân loại các ý nghĩa đó Có thể các tác giả gọi tên theo
nhiều cách khác nhau: vấn đề phân loại tình thái, ý nghĩa bộ phận của khái
niệm tình thái hay một số thế đối lập chủ yếu của tình thái trong ngôn ngữ,
nhưng tựu chung lại vẫn cùng một mục đích là làm sáng rõ bức tranh nội hàm
của khái niệm tình thái và phạm trù hoá chúng thành một số loại cơ bản Bản
thân khái niệm tình thái là một khái niệm rộng lớn Mỗi phát ngôn đều mang trong mình một nghĩa tình thái nhất định nếu không muốn nói là còn có thể có nhiều nghĩa tình thái chồng chéo lên nhau, đan bện vào nhau trong chỉ một phát ngôn Vì vậy việc làm rõ nội hàm của khái niệm tình thái đã là một vấn đề khó khăn thì việc phạm trù hoá các ý nghĩa đó lại càng khó khăn hơn Công việc này đòi hỏi phải có quá trình phân tích tỉ mỉ và óc bao quát để sao cho kết quả các phạm trù phải vừa rõ nghĩa lại vừa không bỏ sót các ý nghĩa bộ phận
Trang 13Th.s Đoàn Thị Thu Hà, trong luận văn tốt nghiệp của mình, nêu ý kiến
về vấn đề tình thái “là một phạm trù ngữ nghĩa – chức năng phản ánh mối quan hệ, thái độ, cách đánh giá của người nói đối với nội dung của phần còn
lại trong câu” Có hai loại tình thái: tình thái chủ quan và tình thái khách
quan Trong đó tình thái chủ quan là kiểu tình thái mà ngôn ngữ học đặc biệt
quan tâm Đúng như nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định “Các ý nghĩa tình thái nhiều khi đan bện vào nhau làm thành một phổ liên tục không dễ gì quy hoạch thành những kiểu loại những bình diện rõ ràng: “Nhiều khi một ý nghĩa lại có thể đồng thời tham gia vào nhiều đối lập, thuộc nhiều bình diện khác nhau.” “lại cũng có tình trạng là cùng dùng chung một thuật ngữ mà các tác giả khác nhau có thể hiểu theo những cách khác nhau, hay cùng một hiện tượng, cùng chấp nhận một cách phân loại mà tác giả này xếp vào kiểu loại tình thái này, tác giả khác lại xếp vào kiểu loại tình thái khác …” (19, tr15)
Theo đó, chúng ta đều biết rằng thế đối lập tình thái khách quan và tình thái
chủ quan là thế đối lập vẫn thường được nhắc tới Thế nhưng cách hiểu thế
nào là tình thái khách quan và thế nào là tình thái chủ quan lại khác xa nhau
Chẳng hạn: A.V.Bondarko khẳng định chỉ có hai nhóm ý nghĩa được các nhà nghiên cứu công nhận là các ý nghĩa tình thái là:
- Tính khả năng, tính tất yếu, tính cần yếu Nhóm này làm cơ sở cho
tình thái khách quan
- Sự nghi ngờ, tính không chắc chắn, giả định khả năng và tính dứt
khoát Nhóm này làm sơ sở cho tình thái chủ quan
J Lyons cũng phân chia tình thái khách quan và tình thái chủ quan
Khi chú ý hơn tới tình thái chủ quan, ông cho rằng tình thái chủ quan có một phạm vi rộng lớn hơn rất nhiều so với quan điểm về tình thái chủ quan của A.V Bondarko Theo ông tình thái chủ quan có thể được chia làm hai tiểu loại: tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa Tình thái nhận thức có thể
Trang 14được hiểu là sự cam kết ở một mức độ nào đó của người nói đối với tính chân
thực của điều được nói ra; tình thái đạo nghĩa biểu thị thái độ của ngưòi nói
đối với hành động mà mệnh đề biểu thị chúng được xem xét theo các nội dung về tính nghĩa vụ, sự cấm đoán và sự miễn trừ
Đoàn Thị Thu Hà và Nguyễn Thị Phương Trà trong luận văn của mình
đều công nhận rằng tình thái khách quan là loại tình thái của lôgích học, nó
chỉ nhằm vào một số kiểu quan hệ chung nhất của phán đoán với hiện thực, mang tính chất khách quan, bản thể và xem đó như một đặc trưng nội tại của
bản thân cấu trúc chủ từ - vị từ lôgích Tình thái khách quan tách khỏi những
nhân tố thuộc về thái độ tình cảm, đánh giá, mục đích, nhu cầu, ý chí của con
người nói chung và của từng chủ thể phát ngôn nói riêng, còn tình thái chủ
quan là tình thái trong ngôn ngữ học vì ngôn ngữ luôn gắn liền với con người,
với chủ thể phát ngôn Đó là những thái độ về tình cảm, cách đánh giá, mong muốn, nguyện vọng, cam kết, sự tin tưởng, nghi ngờ… của người nói trong mối quan hệ với nội dung được thông báo trong câu và với thực tế
Bùi Trọng Ngoãn trong luận án Tiến sĩ cũng đồng quan điểm với hai tác giả nói trên Theo Bùi Trọng Ngoãn khi nói tới tình thái trong ngôn ngữ là nói
tới tình thái chủ quan Bởi vì trong ngôn ngữ vai trò của người nói được đặc
biệt coi trọng Người nói không trình bày hiện thực như nó vốn có mà trình bày theo lăng kính chủ quan của mình và theo những ý định riêng của mình
Những người nghiên cứu vừa nêu trên có khuynh hướng phân chia dứt khoát tình thái chủ quan và tình thái khách quan, dựa trên tiêu chí vai trò vị trí của người nói vào lúc nói Theo đó họ thường nhấn mạnh tính chất chủ quan
của ngôn ngữ và nhận định chỉ có tình thái chủ quan mới là tình thái trong
ngôn ngữ học Vì thế, nghiên cứu về tình thái trong ngôn ngữ tức là nghiên
cứu về tình thái chủ quan
Một số nhà nghiên cứu khác cũng công nhận có một sự đối lập giữa
Trang 15khác nên quan điểm về tình thái chủ quan và tình thái khách quan có phần
khác biệt Chẳng hạn, các nhà ngôn ngữ học thuộc nhóm ngữ pháp chức năng
Hà Lan đã cho rằng:
- Tình thái khách quan thể hiện sự đánh giá dựa trên hiểu biết của
người nói về thực cách của sự tình và gồm hai tiểu loại: nhận thức và đạo nghĩa, mỗi loại đều được biểu hiện trên một thang độ, từ chắc chắn đến không thể, từ bắt buộc đến cấm đoán
- Tình thái chủ quan lại biểu thị sự cam kết có tính cá nhân của người
nói về tính chân thực của sự tình, thể hiện qua những bằng chứng (suy luận, trải nghiệm, trích dẫn, nghe tường thuật …)
Quan niệm như thế rõ ràng cả tình thái chủ quan và tình thái khách
quan đều có mối liên hệ tới yếu tố người nói, điều khác nhau là ở chỗ cách
thức và phạm vi, thái độ, tình cảm mà người nói biểu thị qua câu nói Rõ ràng
cả hai loại tình thái đều thuộc vào phạm vi nghiên cứu của ngôn ngữ học
Ở Việt Nam Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp, cũng đề nghị một thế đối lập khá bao quát là tình thái chủ quan và tình thái khách quan Theo hai tác giả thì:
- Bộ phận nghĩa trực tiếp gắn phát ngôn với cái tôi chủ thể, chủ quan của người nói, gắn với ngữ cảnh giao tiếp, với sự tương tác liên chủ thể và do
đó là những kiểu nghĩa ngữ dụng, đều thuộc phạm vi nghiên cứu của ngữ
dụng, được gọi chung là tình thái chủ quan Tình thái chủ quan sẽ bao gồm a)
Những kiểu mục đích phát ngôn được ngữ pháp hoá, được thể hiện bằng các phương tiện ngữ pháp cũng như những kiểu câu ngôn hành b) Tất cả các ý nghĩa tình thái liên quan đến thái độ, cách đánh giá của người nói đối với điều anh ta nói ra Nói theo cách nói của Hare, đó là những ý nghĩa thể hiện những
sự cam kết của người nói đối với hành vi tại lời
- Bộ phận nghĩa tình thái phản ánh đặc trưng mang tính bản thể của hành động, trạng thái, tính chất (bắt đầu/ kết thúc, kéo dài/ không kéo dài) hay
Trang 16mối quan hệ của chủ thể đối với hành động, tính chất, trạng thái do vị ngữ hạt nhân biểu thị (ví dụ: chủ thể muốn, có ý định, có khả năng …thực hiện hành động, mức độ của tính chất, trạng thái mà chủ thể mang trong bản thân) Đây
là bộ phận tình thái mà người nói chỉ đơn thuần truyền đạt lại nên gọi là tình
thái khách quan, hay gọi là tình thái của sự tình được truyền đạt Về cơ bản
tình thái này nằm ở bình diện nghĩa học
Như vậy, cũng tạo lập thế đối lập giữa tình thái khách quan và tình thái
chủ quan nhưng theo một hướng khác Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp không
sử dụng thuật ngữ tình thái khách quan theo nghĩa là khách quan lôgích như
đã trình bày ở hướng quan niệm thứ nhất (nhóm tác giả phân lập ranh giới
tình thái khách quan và tình thái chủ quan, trong đó chỉ có tình thái chủ quan
mới là đối tượng quan tâm của ngôn ngữ học) Các ông đã đi theo hướng phân loại các kiểu tình thái theo lý thuyết hành vi ngôn từ, tiến tới sự phân lập
thành tình thái khách quan và tình thái chủ quan Cả hai loại tình thái này đều
thuộc phạm vi nghiên cứu của ngôn ngữ học Chỉ khác nhau ở bình diện
nghiên cứu, tình thái khách quan thuộc bình diện nghĩa học còn tình thái chủ
quan thuộc bình diện dụng học
Nói như vậy không có nghĩa rằng tất cả các nhà ngôn ngữ học đều phân
ra thế đối lập tình thái khách quan và tình thái chủ quan Vì theo nhiều nhà
nghiên cứu khách quan hay chủ quan là những khái niệm rất mơ hồ, thật khó
để xác định khi nào là tình thái khách quan khi nào là tình thái chủ quan
Chẳng hạn như: khi câu nói nghe hoàn toàn là khách quan (chỉ thông báo một
sự tình như nó vốn có) như nó nghỉ học Người nói không thể hiện một thái
độ hay sự cam kết nào trong câu nói Thế nhưng sự không cam kết nào lại chính là một sự cam kết Ở đây người nói chắc chắn về việc nó nghỉ học Hay
câu nói nó nói nó nghỉ học Thoạt tiên nghe câu nói cũng như là hoàn toàn
khách quan nhưng xét kỹ lại mang tính chất chủ quan Người nói thông báo cả
Trang 17nguồn chứng cứ là “ nó nói” giống như thể hiện của một sự chưa chắc chắn
Chúng ta có thể diễn đạt câu nói theo một cách khác như Nó nói nó nghỉ học
nhưng tôi không biết có thật không
C Kerbrat Orecchioni, khi đề cập tới tính chủ quan trong lời nói đã chỉ
rõ tính mơ hồ của thuật ngữ này Theo bà thuật ngữ chủ quan mơ hồ bởi tác
động của các yếu tố liên quan đến ngữ nghĩa của lời nói trong giao tiếp là:
- Tình huống hoặc ngữ cảnh của phát ngôn
- Lối sử dụng ngôn từ còn tuỳ thuộc vào nền văn hoá, tư tưởng, niềm tin, hy vọng của người nói
Thứ nữa là tính chủ quan của lời nói có thể được thể hiện bằng hiển ngôn hoặc được thể hiện một cách hàm ẩn ở trong câu Vì thế bà không đề
cập tới cặp đối lập tình thái khách quan và tình thái chủ quan trong ngôn ngữ
Với những phân tích trên, chúng tôi nhận thấy cách phân chia tình thái
khách quan và tình thái chủ quan như Lê Đông và Nguyễn Văn HIệp đã đề
xuất là hợp lý Khung lý thuyết đó sẽ giúp ích rất nhiều cho những người đi sau khi nghiên cứu về tình thái
Đã có nhiều thế đối lập về phạm trù tình thái được nêu ra nhằm làm cho
bức tranh tình thái được sáng rõ hơn Chẳng hạn như tình thái nhận thức và
tình thái đạo nghĩa; tình thái căn bản và tình thái nhận thức (tình thái căn bản
bao gồm tình thái đạo nghĩa và tình thái trạng huống); tình thái hướng tác thể
và tình thái hướng người nói; tình thái mục đích phát ngôn và tinh thái của
lời phát ngôn Trong những thế đối lập này, thế đối lập tình thái của mục đích phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn là thế đối lập nhiều hứa hẹn hơn cả
Cách tiếp cận này là cách tiếp cận theo hướng ngữ dụng học, “cho phép người nghiên cứu có thể miêu tả toàn diện tình thái với các phương tiện tình thái hoạt động như những siêu tác tử tác động vào nội dung mệnh đề, hình thành nên khung tình thái rộng lớn của câu”(19, tr24) Cao Xuân Hạo, có lẽ là người
Trang 18đầu tiên trong giới Việt Ngữ học chủ trương phân loại tình thái theo tinh thần
phân biệt tình thái của mục đích phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn, nhưng ông gọi là tình thái của hành động phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn
- Tình thái của hành động phát ngôn phân biệt lời nói về phương diện
mục đích và tác dụng trong giao tế: đó là sự phân biệt quen thuộc giữa các loại câu trần thuật, câu hỏi, câu cầu khiến, vốn là những sự phân biệt được ngữ pháp hoá (được thể hiện bằng những sự phân biệt về hình thức đã được
mã hoá trong ngữ pháp) cho nên được ngữ pháp cổ truyền miêu tả từ lâu
Ngoài ra tình thái của hành động phát ngôn còn phải kể thêm sự phân biệt giữa hai loại câu trần thuật (hay miêu tả), tức mang tính chất thông báo thuần tuý và những câu có giá trị ngôn trung được đánh dấu: câu xác nhận, câu phản bác (đặc biệt là câu phản bác phủ định) và nhất là câu ngôn hành Tình thái của hành động phát ngôn thuộc lĩnh vực dụng pháp
- Tình thái của lời phát ngôn thuộc cái nội dung được truyền đạt (trong
câu trần thuật hay câu hỏi), nó có liên quan đến thái độ của người nói đối với điều mình nói ra, hoặc đến quan hệ sở đề và sở thuyết của mệnh đề Đó là một phần quan trọng của bình diện nghĩa học
Tình thái của lời phát ngôn còn có thể chia thành hai loại tình thái của câu và tình thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân
- Tình thái của câu phản ánh thái độ của người nói đối với điều mình nói
ra, cách người nói đánh giá tính hiện thực hay không hiện thực, giới hạn của tính hiện thực (trong thời gian chẳng hạn – phạm trù thì), mức độ của tính xác thực, của tính tất yếu (khách quan hay đạo lý), tính khả năng (vật chất hay tinh thần), tính chất đáng mong muốn hay đáng tiếc v.v của điều được thông báo
- Tình thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân phản ánh những dạng thức thể
hiện của hành động, quá trình, trạng thái, hay tính chất do phần thuyết (hay vị ngữ diễn đạt Dạng thức ở đây gồm những đặc trưng như “kéo dài/ không kéo
Trang 19dài, bắt đầu / kết thúc”) v.v thường gọi là những đặc trưng về thể Nếu hạt nhân vị ngữ của câu có chủ thể thì tình thái phản ánh mối quan hệ của chủ thể (tham tố thứ nhất) đối với tính hiện thực, tính tất yếu, tính khả năng của hành động, quá trình, trạng thái hay tính chất do vị ngữ hạt nhân của phần thuyết biểu đạt (chẳng hạn như có ý muốn, có ý định làm, có đủ cam đảm hay đủ tàn nhẫn để làm, mức độ của trạng thái, tính chất được chủ thể mang trong bản thân v.v.)
1.1.3 Phương tiện biểu thị nghĩa tình thái
Chấp nhận một quan niệm rộng về tình thái như đã nêu ở phần trên, cũng đồng nghĩa với việc chúng tôi công nhận rằng bất kỳ một lời phát ngôn nào cũng chứa đựng ít nhất một tình thái Tình thái có thể được coi như trung hoà (không đánh dấu) là tình thái “hiện thực” hay “trần thuật khẳng định”
được thể hiện bằng thái trần thuật trong các ngôn ngữ biến hình và thể hiện bằng sự vắng mặt của mọi yếu tố chỉ tình thái trong cấu trúc câu đã thành hình (nghĩa là đã tuyến tính hoá theo các quy tắc câu) trong các ngôn ngữ không biến hình Tình thái có thể được thể hiện bằng các phương tiện tình thái, nghĩa là có hình thức đánh dấu ở trong câu
Các ý nghĩa tình thái rất rộng và phong phú vì thế để thể hiện được hết các ý nghĩa đó trong ngôn ngữ, các phương tiện biểu đạt nghĩa tình thái cũng rất phong phú và có phần phức tạp Trong các ngôn ngữ biến hình thì các phương tiện biểu thị nghĩa tình thái đã được nghiên cứu có hệ thống và thường được phân biệt là các phương tịên ngữ pháp và các phương tiện từ vựng Đối với các ngôn ngữ biến hình nói chung thì các phương tiện ngữ
pháp được chú trọng hơn và thường được các tác giả nêu ra đó là thức của
động từ, động từ tình thái, tiểu từ tình thái…Trong tiếng Việt, các phương
tiện biểu thị tình thái trước đây chưa được miêu tả một cách có hệ thống Các tác giả thường gọi tên các phương tiện tình thái theo những đặc trưng của
Trang 20cách biểu đạt Chẳng hạn như, khởi ngữ, phó từ phủ định, động từ tình thái, ngữ khí từ, phạm trù thì, phạm trù thể, phó từ, phó động từ v.v Và thực tế là các phương tiện biểu thị tình thái không được xem là những thành phần quan trọng cần quan tâm nhiều Chúng thường được xem là những hư từ không mang nghĩa từ vựng Với sự quan tâm ngày càng nhiều tới phạm trù tình thái, trong nghiên cứu Việt ngữ học ngày càng có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa và ngữ dụng của các phương tiện biểu thị nghĩa tình thái Chẳng hạn như Nguyễn Văn Hiệp, Lê Đông, Lê Thị Hoài Dương nghiên cứu về hệ thống tiểu từ tình thái cuối câu; Bùi Trọng Ngoãn khảo sát các động từ tình thái trong tiếng Việt; Đoàn Thi Thu Hà khảo sát nghĩa và cách dùng các quán ngữ tình thái trong tiếng Việt; Trần Thị Mỹ So sánh các yếu tố biểu thị tình thái nhận thức trong câu tiếng Việt và những hình thức biểu đạt tương ứng trong câu tiếng Anh v.v Hệ thống các phương tiện biểu thị tình thái trong tiếng Việt ngày càng được làm sáng rõ Xét một cách chung nhất có thể thấy các phương tiện dùng để biểu đạt nghĩa tình thái
có thể xếp thành ba nhóm phương tiện lớn là :
- Phương tiện ngữ âm: trong hầu hết các ngôn ngữ người nói sử dụng ngữ điệu và trọng âm để thể hiện thái độ, tình cảm, cách đánh giá và những thông tin mà người nói cần nhấn mạnh.Thực tế sử dụng ngôn ngữ cho thấy phương tiện ngữ âm được ưa dùng để thể hiện ý nghĩa tình thái bởi có lẽ cách thể hiện tình thái bằng ngữ âm dễ gây ấn tượng và có nhiều điều khá thú vị
- Phương tiện ngữ pháp: các phương tiện ngữ pháp thường được nhắc tới
là thời và thức của động từ trong các ngôn ngữ biến hình và phương thức đảo trật tự từ hay thay đổi cấu trúc của câu trong các ngôn ngữ không biến hình
- Phương tiện từ vựng: Bộ phận từ vựng biểu thị nghĩa tình thái khá phong phú trong các ngôn ngữ, đặc biệt là các ngôn ngữ đơn lập Có những
bộ phận từ vựng biểu thị ý nghĩa tình thái chuyên dụng trong các ngôn ngữ
Trang 21mà trước đây có thể được coi là những hư từ và thường được coi là những đơn vị thuộc về ngữ pháp vì theo ngữ pháp truyền thống chúng chỉ có ý nghĩa ngữ pháp chứ không có ý nghĩa từ vựng Về loại phương tiện từ vựng biểu thị nghĩa tình thái có thể kể đến các nhóm từ chính như sau:
1) Các động từ tình thái: muốn, toan, định, dám, bèn…
2) Các trợ từ, tiểu từ tình thái: à, ư, nhỉ, nhé, cả, những, mỗi, ôi, chao
ôi, chết, ôi trời…
3) Các động từ ngữ vi: hỏi, mời, khuyên, yêu cầu, đề nghị…
4) Các quán ngữ tình thái: tội gì, có khác, thì có, tất nhiên là, ắt là…
5) Các động từ chỉ thái độ mệnh đề gắn với cấu trúc câu phức, với chủ ngữ ở ngôi thứ nhất và động từ không đi kèm với những phó từ chỉ thời thể:
Tôi lo rằng, tôi sợ là, tôi tiếc là …
Như vậy là người nói có thể thể hiện những thái độ, đánh giá và cam kết của mình bằng những phương tiện rất khác nhau Mức độ nhiều hay ít của từng phương tiện được sử dụng trong các ngôn ngữ rất khác nhau Điều này phụ thuộc nhiều vào đặc điểm loại hình ngôn ngữ Chẳng hạn, trong ngôn ngữ biến hình thì các phương tiện ngữ pháp như thời, thức của động từ được sử dụng rất triệt để để thể hiện nghĩa tình thái của câu Trong các ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt chẳng hạn, các phương tiện từ vựng được sử dụng linh hoạt hơn rất nhiều so với các phương tiện ngữ pháp Và thực tế sử dụng ngôn ngữ cho thấy các ngôn ngữ đều rất ưa chuộng cách biểu thị nghĩa tình thái bằng phương tiện ngữ âm Như đã nói, có lẽ do cách thể hiện bằng ngữ âm dễ gây
ấn tượng
Vậy nói tóm lại, dù là ngôn ngữ nào chúng ta cũng thấy ý nghĩa tình
thái được biểu thị bằng các phương tiện là: ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng
Điều khác nhau là tuỳ thuộc vào đặc điểm loại hình ngôn ngữ và thói quen của người bản ngữ mà ngôn ngữ nào ưa chuộng cách thức nào hơn Những
Trang 22đặc điểm không giống nhau như thế giữa các ngôn ngữ là điều rất thú vị để nghiên cứu Với mục đích khảo sát năng lực từ tình thái của học viên nước
ngoài chúng tôi chọn bộ phận phương tiện từ tình thái là các trợ từ, tiểu từ
tình thái làm đối tượng nghiên cứu Cụ thể, khái niệm từ tình thái ở đây sẽ
bao gồm ba bộ phận từ: thán từ (ôi, a, ôi trời ơi …), trợ từ hàm ý nhấn mạnh
(những, đến, chính …), tiểu từ bổ sung nghĩa về thái độ, đánh giá của người nói (chứ, mà, mất …)
Để dễ dàng cho công tác thu thập và xử lí tài liệu chúng tôi đã khảo sát cuốn từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên để thành lập danh sách các từ tình thái (theo cách chú giải của từ điển là trợ từ, kí hiệu là “tr”) Tuy nhiên khi khảo sát chúng tôi thấy từ điển đã bỏ qua một số từ tình thái và có một số
từ, từ điển không công nhận là trợ từ nhưng một số công trình nghiên cứu về
từ tình thái đã công nhận đó là từ tình thái, chúng tôi cũng có liệt các từ đó vào danh sách từ tình thái
1.2 Giao tiếp và cảm xúc trong giao tiếp
1.2.1 Giao tiếp và cảm xúc trong giao tiếp
Một cách thông thường nhất chúng ta hiểu “Giao tiếp là trao đổi, tiếp xúc với nhau” (37, tr393) Do giao tiếp là hoạt động thường thấy và rất quan trọng trong đời sống xã hội nên giao tiếp trở thành đề tài nghiên cứu được nhiều người quan tâm Tuỳ theo từng phạm trù nghiên cứu mà người nghiên cứu nhấn mạnh các khía cạnh khác nhau của giao tiếp
Những nghiên cứu về nguồn gốc của ngôn ngữ cho thấy rằng, nhờ có lao động, nhu cầu giao tiếp của con người ngày càng phong phú, thúc đẩy việc hình thành ngôn ngữ loài người Đến lượt nó ngôn ngữ quay trở lại thực hiện chức năng làm phương tiện giao tiếp vạn năng của con người Khi con người giao tiếp với nhau họ có nhu cầu rất lớn, từ việc trao đổi kinh nghiệm, tri thức về tự nhiên và xã hội cho tới những khuyến lệnh với người nghe, cho
Trang 23tới việc bộc lộ cảm xúc, tình cảm, thái độ của bản thân Ngôn ngữ có thể đảm nhiệm rất tốt vai trò làm người chuyên trở những thông điệp đó cho con người
Trong khi giao tiếp, nhu cầu bộc lộ cảm xúc của con người khá nổi trội
Nó nổi trội đến mức có những lúc người ta đã lầm tưởng rằng chính do nhu
cầu bộc lộ cảm xúc mà ngôn ngữ được ra đời Đó là thuyết cảm thán về nguồn
gốc của ngôn ngữ Thuyết cảm thán phát triển mạnh vào thế kỉ XVIII–XIX
Những người chủ trương thuyết này Russo, Humboldt đều cho rằng ngôn ngữ loài người bắt nguồn từ những âm thanh của mừng, giận, buồn, vui, đau đớn v.v phát ra lúc tình cảm bị xúc động Trong một số trường hợp, đó là những từ – những tín hiệu của cảm xúc và ý chí của chúng ta Trong các trường hợp khác thì có thể xem xét mối liên hệ gián tiếp giữa âm hưởng của
từ và trạng thái cảm xúc của con người: những kết hợp âm tố nào đó gây ra trong tâm hồn chúng ta những ấn tượng giống như những ấn tượng mà các sự vật đã gây cho chúng ta
Đến nay, nhờ những tiến bộ trong nghiên cứu về nguồn gốc của loài người và ngôn ngữ, cũng như quá trình tiến hoá của loài người, chúng ta có thể
phủ nhận được thuyết cảm thán về nguồn gốc ngôn ngữ Thế nhưng dù cho khoa
học kĩ thuật hay các khoa học xã hội có phát triển đến đâu chúng ta cũng vẫn không thể nào phủ nhận được nhu cầu bộc bạch cảm xúc của con người trong khi giao tiếp Cảm xúc là những rung động trong lòng do tiếp xúc với sự việc gì
Con người có thể bộc lộ cảm xúc về thế giới tự nhiên quanh mình, về cuộc sống
xã hội, về những người xung quanh và cả với bản thân mình nữa Nói chung bất
cứ tình huống bất ngờ nào cũng gây cho con người những cảm xúc đặc biệt Nhu cầu bộc lộ nó cũng khác nhau giữa các cá nhân Tuy nhiên phần lớn cá nhân bằng cách này hay cách khác đều bộc lộ nó ra ở một mức độ nào đó
1.2.2 Phương tiện biểu thị cảm xúc
Người ta có thể bộc lộ cảm xúc bằng ánh mắt, nét mặt hay cử chỉ
Trang 24Trong ngôn ngữ có những phương tiện đặc biệt để chuyên trở cảm xúc của con người Nhiều nhà ngôn ngữ thống nhất có sự tồn tại của một loại câu nhằm thể hiện tính đa dạng của tình cảm, cảm xúc, trạng thái tinh thần của con người đó là câu cảm thán
Mô hình tổng quát của câu cảm thán tiếng Việt là:
Trong đó: CCT là câu cảm thán NCC là nòng cốt câu (kết cấu C + V)
C là chủ ngữ
V là vị ngữ
YCT là yếu tố cảm thán (34, tr34) Yếu tố cảm thán là phần giữa vai trò quan trọng trong mô hình trên, cũng là những phương tiện để biểu thị cảm xúc mà chúng tôi muốn nói tới
Người ta có thể sử dụng các phương tiện ngôn ngữ sau để biểu thị cảm xúc:
- Từ cảm thán: a, á, ái, ấy, eo, a ha, ái chà
- Các thực từ: khốn khổ, khốn nạn, chết, tội nghiệp, gớm…
- Phó từ: quá, thật, đến …
- Kết từ: Thế mà, Vậy mà, Giá … thì …
- Từ ngữ tục: Làm cái chết gì, đồ đểu, bỏ mẹ, mẹ kiếp …
- Ngữ cảm thán: Sao mà … đến thế, … ơi là , … với chả (với chẳng) …
- Hình thức hỏi: Câu hỏi với sao (Sao lại …? Sao (…)?), câu hỏi với
biết (Biết bao giờ…?, Biết đâu… ? Biết làm sao …?)
- Hình thức phủ định: Còn đâu, Còn gì là …, … Sao được, Làm sao
mà … được…
NCC
CCT = + YCT (C + V)
Trang 25- Ngữ điệu cảm thán: Sử dụng ngữ điệu cảm thán để biểu thị cảm xúc nghĩa là sử dụng sự thay đổi của cường độ, âm sắc, trường độ của các âm cơ bản khi phát âm các câu để biểu thị cảm xúc Chẳng hạn: ngữ điệu lên cao bất thường và kéo dài ở cuối câu hoặc ở từ cần nhấn mạnh để thể hiện sự vui mừng, sung sướng Hay ngữ điệu cũng kéo dài nhưng gằn giọng thể hiện sự nóng giận, bực tức, mỉa mai Người nói cũng có thể sử dụng ngữ điệu kéo dài
nhưng thấp và trầm để thể hiện sự buồn bã, thất vọng
- Trật tự từ: Trong tiếng Việt trật tự từ là một phương thức ngữ pháp cơ bản và quan trọng để biểu thị quan hệ ngữ pháp Trật tự từ trong tiếng Việt cũng có thể được dùng để biểu thị cảm xúc của người nói Ví dụ: Đời nó khốn
khổ → Khốn khổ đời nó!
Hiện nay đã có một lượng lớn người nước ngoài sinh sống, học tập và làm việc tại Việt Nam Mặc dù khác nhau về văn hoá, ngôn ngữ, tâm sinh lý
… nhưng họ đều có nhu cầu bộc lộ cảm xúc khi giao tiếp qua ngôn ngữ cho
dù đó không phải là tiếng mẹ đẻ của họ Khi người nước ngoài sống ở Việt Nam, họ sẽ trải qua những giai đoạn “sốc” văn hoá Những sốc văn hoá đó đến tạo cho họ có nhu cầu bộc bạch với người khác Có nhiều trường hợp chúng tôi được nghe tâm sự từ chính học viên của mình rằng: “Hôm nay em gặp tình huống như thế này (…), em rất tức giận nhưng không biết phải nói như thế nào” Sau đó học viên nhờ chúng tôi dạy cách nói thể hiện sự tức giận hay vui mừng trong một số tình huống mà học viên đã gặp Chúng tôi hiểu rằng cảm xúc thì ai cũng có và trong những trường hợp nhất định người ta bộc
lộ cảm xúc của mình bằng một phương tiện nào đó
Tập hợp các phương tiện ngôn ngữ con người dùng để bộc lộ cảm xúc nêu trên là đối tượng nghiên cứu trong luận văn của chúng tôi Do khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ nên chúng tôi chỉ mới khảo sát năng lực của học viên
trong ngôn ngữ hội thoại nên tạm gọi chúng là các cách nói biểu thị cảm xúc
Trang 26Để khảo sát tốt năng lực sử dụng cách nói biểu thị cảm xúc của học viên, chúng tôi đã tiến hành quan sát và ghi chép trong thời gian khá dài khi chúng tôi giảng dạy tiếng Việt cho học viên Để tập trung hơn chúng tôi đã nghiên cứu 25 giờ ghi âm các cuộc nói chuyện giữa học viên nước ngoài với người Việt Nam trong những hoàn cảnh giao tiếp và đối tượng giao tiếp phong phú
Cũng tương tự như khi khảo sát về các từ tình thái, chúng tôi thiết kế bài tập
để kiểm tra trình độ hiểu của học viên về cảm xúc mà cách nói đặc biệt nào đó đem lại cũng như khả năng tạo lập phát ngôn, tạo lập ngữ cảnh cho phát ngôn
có cách nói biểu thị cảm xúc
Nói chính xác hơn về năng lực sử dụng mà chúng tôi nói tới không chỉ
là khả năng tạo lập phát ngôn có từ tình thái và cách nói biểu thị cảm xúc mà còn là ở khả năng hiểu rõ ý nghĩa đánh giá nhận định mà từ tình thái mang vào trong câu cũng như những cảm xúc mà người nói bộc lộ qua câu nói
Thêm vào đó còn là khả năng tạo nên những ngữ cảnh ngôn ngữ mà ở đó người ta có thể hiểu được một cách rõ ràng nhất về mặt ngữ nghĩa cũng như ngữ dụng của phát ngôn
Trang 27CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT NĂNG LỰC SỬ DỤNG TỪ TÌNH THÁI VÀ CÁCH NÓI BIỂU THỊ CẢM XÚC CỦA HỌC VIÊN HỌC TIẾNG VIỆT NHƯ MỘT NGOẠI NGỮ
(TRÌNH ĐỘ C VÀ TRÊN C)
2.1 Kết quả định lượng
2.1.1 Kết quả định lượng qua bài thi trình độ C
Chúng tôi tiến hành khảo sát bài thi môn viết lấy chứng chỉ tiếng Việt trình độ C của học viên học tại Khoa Việt Nam học và tiếng Việt (trước đây là Khoa tiếng Việt và văn hoá Việt Nam cho người nước ngoài) trong thời gian
3 năm (2006, 2007, 2008) Tổng số bài thi chúng tôi có được là 22 bài Với nhóm tư liệu này chúng tôi khai thác theo hướng: thống kê các từ tình thái được học viên dùng trong bài thi cùng với tần số sử dụng, số lần sử dụng đúng, số lần sử dụng sai Tính tỉ lệ phần trăm giữa câu có từ tình thái và tổng
số câu trong bài viết Bên cạnh đó chúng tôi cũng tìm hiểu rõ những cách sử dụng thành thạo cũng như lỗi về từ tình thái mà học viên đã mắc phải trong bài viết đề phục vụ cho khảo sát định tính ở phần sau của luận văn Kết quả khảo sát về từ tình thái được trình bày ở bảng dưới đây:
Trang 28Bảng1: Kết quả khảo sát từ tình thái trong bài thi (môn viết) trình độ C
THÁI
SỐ LẦN
SỬ DỤNG ĐÚNG
SỐ LẦN
SỬ DỤNG SAI
% CÂU CÓ
TỪ TÌNH THÁI
1
0%
2 Yuki Sagara (NB,1965)
0/32 0%
Trang 29Nghĩa là học viên không sử dụng từ tình thái nào trong bài viết Số lượng từ tình thái được sử dụng đúng nhiều hơn số lượng từ sử dụng sai chứng tỏ rằng học viên sử dụng rất ít từ tình thái nhưng nếu họ sử dụng thì họ thường sử dụng đúng các từ đó Do tính chất của bài tập là bài thi viết, tiêu chí đặt ra thường là viết thuần thục và thể hiện được tư tưởng của người viết Vì thế học viên sẽ cố gắng đơn giản hoá tiếng Việt của
họ Họ có xu hướng lựa chọn cách viết đơn giản nhưng vẫn biểu đạt được những gì họ muốn nói Vì vậy cho nên việc sử dụng ít từ tình thái
Trang 30trong bài thi là điều dễ hiểu Và càng dễ hiểu hơn nữa là những yếu tố
họ lựa chọn sử dụng trong bài viết hầu hết là các yếu tố họ đã nắm khá chắc nên ít mắc lỗi Nói như thế cũng không phải chúng tôi khẳng định rằng học viên trình độ C đã hoàn toàn hiểu rõ được từ tình thái trong tiếng Việt Vấn đề sẽ được làm sáng tỏ khi chúng tôi tiến hành phâ n
tích định tính Ở đây chúng tôi có thể khẳng định một điều rằng ở mức
độ đơn giản nhất một số học viên trình độ C đã có thể nắm bắt được từ tình thái trong tiếng Việt để vận dụng vào bài viết
Qua việc thống kê từ tình thái trong các bài thi tiếng Việt trình độ C của học viên nước ngoài, chúng tôi cũng nhận thấy rằng số lượng các từ tình thái trong các bài thi viết nhiều không đồng nghĩa với việc học viên có kỹ năng viết tốt Thậm chí các từ tình thái, đặc biệt là các tiểu từ tình thái cuối câu, các thán từ đầu câu thường mang đặc trưng của ngôn ngữ nói khi có mặt nhiều trong các bài viết thì có thể sẽ gây nên sự khó chịu cho người đọc Vì người đọc có cảm giác mình đang chứng kiến một cuộc hội thoại chứ không phải một bài viết bày tỏ quan điểm, thái độ hay những cảm nhận của người viết
Hiện tượng này cũng có thể nói là một khiếm khuyết về kỹ năng viết tiếng Việt mà chúng tôi thường gọi là hiện tượng “viết như nói” Chúng tôi xin dẫn theo hai bài viết của hai học viên, một bài có số lượng từ tình thái khá nhiều
và một bài số lượng từ tình thái chỉ ở mức trung bình để làm minh chứng cho những điều chúng tôi vừa bàn luận ở trên
2.1.2 Kết quả định lượng qua băng ghi âm
Như đã nói ở phần mô tả tư liệu, chúng tôi có ghi âm lại một số cuộc nói chuyện giữa học viên với nhau, học viên với thầy cô giáo, học viên với người Việt Nam và một số giờ giảng của giáo viên cho học viên học tiếng Việt trình độ C trong lớp học Tổng cộng là 25 giờ nhưng trong phần nghiên cứu định lượng này chúng tôi không khảo sát một thời lượng hội thoại lớn
Trang 31như vậy mà chỉ khảo sát 18 cuộc hội thoại mỗi cuộc hội thoại diễn ra trong 10 phút tổng cộng là 180 phút Con số chúng tôi quan tâm trong phần thống kê này là tỉ lệ phần trăm giữa phát ngôn có xuất hiện từ tình thái với tổng số phát ngôn mà học viên và người Việt nam đã nói trong cuộc hội thoại (người Việt
có thể là giáo viên hoặc bạn bè của học viên)
Bảng 3: Kết quả khảo sát từ tình thái qua băng ghi âm
STT HỌC VIÊN
PHÁT NGÔN
CÓ TỪ TÌNH THÁI
TỔNG SỐ PHÁT NGÔN
%PHÁT NGÔN
CÓ TỪ TÌNH THÁI
Trang 32lệ phần trăm giữa các phát ngôn có sử dụng từ tình thái với tổng số phát ngôn theo hai cực mà chúng tôi đã phân chia Khi khảo sát định lượng ở phần bài thi viết trình độ C chúng tôi đã tiến hành thao tác tương tự Chúng tôi đem so sánh hai bảng thống kê lỉ lệ phần trăm của các bài thi trình độ C và tỉ lệ phần trăm của các băng ghi âm và thấy rằng: trong các cuộc đối thoại trực tiếp, những học viên chúng tôi đã khảo sát có xu hướng sử dụng từ tình thái thường xuyên hơn Tỉ lệ phần trăm ở phần ghi âm cao hơn hẳn ở phần bài tập viết
Trang 33Nếu như ở phần bài tập viết tỉ lệ này hầu hết là dưới 10% thì ở phần băng ghi
âm hội thoại tình hình hoàn toàn ngược lại Tất cả các con số chỉ về tỉ lệ này đều cao hơn 10% Nói chính xác hơn là phần lớn tỉ lệ đạt trên 40%, chỉ có ba trường hợp từ 39% xuống đến 31%, sáu trường hợp từ 21% xuống đến 14%
Đáng chú ý là có khi tỉ lệ này cao tới 73% Với tính chất hoàn toàn tự nhiên thoải mái của ngôn ngữ nói, lời nói của học viên có phần tự do hơn Các từ tình thái cũng có điều kiện xuất hiện nhiều hơn Các từ tình thái có thể xuất hiện do dụng ý của học viên (để thể hiện một ý nghĩa nào đó thuộc về sự đánh giá) hoặc đôi khi chỉ do thói quen Nhưng điều chắc chắn là trong ngôn ngữ hội thoại của học viên từ tình thái xuất hiện nhiều
Một thế đối sánh nữa mà chúng tôi cũng muốn nêu ra ở đây đó là sự so sánh giữa phần trăm phát ngôn có từ tình thái của học viên nước ngoài với con số này ở lời nói của người Việt Nam trong cuộc hội thoại Trong tổng số
18 cuộc hội thoại thì có tới 14 cuộc hội thoại mà ở đó tỉ lệ phần trăm đang xét của người Việt Nam cao hơn tỉ lệ này ở học viên nước ngoài Ngay cả 4 trường hợp người Việt Nam sử dụng từ tình thái ít hơn học viên nước ngoài, cũng thấy rằng tỉ lệ này vẫn khá cao (51,51 % ở hội thoại 18; 23,52% ở hội thoại 11; 40,38% ở hội thoại 10 và 47,5% ở hội thoại 9) Điều đó có thể làm sáng rõ nhận định: từ tình thái là một bộ phận không thể thiếu trong tiếng Việt, đặc biệt là trong ngôn ngữ nói Người Việt Nam ngay cả khi nói chuyện với người nước ngoài vẫn có thói quen sử dụng từ tình thái để đảm bảo tính tự nhiên của tiếng Việt, cũng là để truyền đạt ý kiến, tư tưởng, tình cảm của mình một cách nhanh chóng và chính xác nhất Tất nhiên là trong một số trường hợp nếu người nước ngoài không hiểu một câu nói nào đó thì người Việt Nam thường chọn một cách diễn đạt đơn giản hơn Người ta sẽ bỏ đi các
từ tình thái và thay bằng cách diễn đạt rõ nghĩa từ tình thái đó Chẳng hạn như tình huống sau:
Trang 34So sánh như vậy để thấy rằng học viên học tiếng Việt khi đã đạt tới một trình độ khá cao nên chú ý học tập cách sử dụng từ tình thái cho tiếng Việt của mình thêm đúng nghĩa, đủ nghĩa, rõ nghĩa và trong sáng dễ hiểu hơn do lựa chọn được cách diễn đạt tối ưu nhất
Bảng 4 Kết quả khảo sát cách nói biểu thị cảm xúc qua băng ghi âm
STT HỌC VIÊN
PHÁT NGÔN
CÓ CÁCH NÓI BIỂU THỊ CẢM XÚC
TỔNG SỐ PHÁT NGÔN
%PHÁT NGÔN
CÓ CÁCH NÓI BIỂU THỊ CẢM XÚC
Trang 35% phát ngôn có cách nói biểu thị cảm xúc lại ở mức rất thấp, hầu hết là dưới 10%, chỉ có duy nhất một cuộc hội thoại có % này cao hơn 10 (học viên số 2:
13,88%) Điều này cho thấy trong ngôn ngữ hội thoại cách nói biểu thị cảm xúc không thể thường xuyên xuất hiện Chúng xuất hiện hay không tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như: nội dung hội thoại, hoàn cảnh giao tiếp, cá tính của người tham gia giao tiếp
2.1.3 Kết quả định lượng qua bài tập kiểm tra trình độ
Trong bài tập chúng tôi đã thiết kế và đưa sinh viên trình độ C làm có
ba bài tập có thể đánh giá định lượng theo tiêu chí đúng sai Bảng thống kê dưới đây là kết quả định lượng chúng tôi thu được sau khi khảo sát
Trang 36Bảng3: Kết quả định lượng qua khảo sát bài tập kiểm tra trình độ (Bài 1)
2 Yoon Jung Yean (HQ, 1985) 8 6 6
3 Sung Min Gun (HQ, 1981) 14 4 21
4 Park Min Guen (HQ, 1981) 10 8 2
5 Nam Kyung Hee (HQ, 1967) 10 6 2
6 Lee Gon (HQ, 1981) 12 6 2
7 Jin Dae Shin (HQ, 1987) 20 0 0
8 Lee Seung Hyun (HQ, 1983) 10 8 2
Trang 37Trước hết ở bài tập số một (Đề bài: Các phần đƣợc gạch chân trong
các câu hoặc các tình huống sau đúng hay sai Nếu sai thì sửa lại), chúng
tôi đánh giá theo tiêu chí đúng, sai và không phát hiện lỗi sai Bảng thống kê trên cho thấy kết quả như sau: số học viên làm đúng từ 12 câu trở xuống là 20 học viên (62,5%) trong đó có 10 học viên đạt kết quả 12 câu đúng (31,25%),
5 học viên đạt 10 câu đúng (15,62%), 5 học viên đạt kết quả dưới 10 câu đúng (15,62%); số học viên đạt kết quả từ 14 câu đúng trở lên là 12 học viên (37,5%) trong đó có 2 học viên đạt kết quả tuyệt đối là 20 câu đúng (6,25%)
Qua những con số trên chúng ta có thể nhận xét rằng khả năng nhận biết lỗi sai về các từ tình thái và các cách nói biểu thị cảm xúc của học viên chưa cao
Số lượng học viên chữa được từ 14 câu trở lên chỉ chiếm 37,5% trong tổng số học viên tham gia làm bài tập kiểm tra trình độ Có thể kết luận rằng một bộ phận học viên nắm bắt được các từ tình thái và cách nói biểu thị cảm xúc nhưng còn một bộ phận khá lớn học viên vẫn còn lúng túng với việc khảo sát
và tìm ra lỗi sai về từ tình thái và cách biểu thị cảm xúc Vì vậy, chúng tôi
thấy rằng còn nhiều khoảng trống mà giáo viên cần bổ sung cho học viên để hoàn thiện hơn kỹ năng về một bộ phận từ khá khó nắm bắt nhưng cũng khá thú vị của tiếng Việt, cũng như cần bổ sung để hoàn thiện năng lực biểu thị
cảm xúc – một nhu cầu cần yếu trong đời sống thường nhật
Trang 38Bảng 4: Kết quả định lượng qua khảo sát bài tập kiểm tra trình độ (Bài 2, 3)
Trang 39Bài tập 2 và 3 (Đề bài: Bài 2: Đặt câu có các từ hoặc ngữ sau; Bài 3:
Tạo ra ngữ cảnh làm rõ nghĩa cho các câu sau), chúng tôi đánh giá theo tiêu
chí câu đúng, câu sai và câu bỏ qua không làm
Trang 40Trong bảng thống kê số lượng câu đúng, câu sai ở bài tập 2 và 3 cho thấy: số câu đúng ở bài tập 2 khá cao thường trên mức 6/9 câu Còn số lượng câu đúng ở bài tập 3 rất thấp, thường là 2/6 câu Con số trên cho thấy học viên
có khả năng tốt trong việc đặt câu với từ ngữ cho sẵn Vì với bài tập kiểu này học viên có thể chủ động làm câu khó hay dễ tuỳ theo khả năng của mình
Còn với bài tập 3, học viên phải làm rõ nghĩa câu có từ tình thái và làm rõ cảm xúc được biểu thị qua câu nói đã được chúng tôi thiết kế theo dụng ý của mình Dạng bài tập này đặt học viên vào tình thế bị động Kết quả cho thấy học viên thường chỉ làm đúng được nhiều nhất là 3 câu, còn lại là làm sai hoặc bỏ qua không làm Ở bài tập 2, 3 này hiện tượng sinh viên bỏ qua không làm khá cao thường xuyên ở mức 3, 4; cũng nhiều trường hợp bỏ 5, 6, 7 câu không làm Có khi con số này lên tới 9 câu (học viên số 8,9,16) Trường hợp
bỏ qua ở hai bài tập này cao hơn nhiều so với trường hợp không phát hiện lỗi
ở bài tập một Điều khác biệt này cũng một phần là vì tính chất của các bài tập khác nhau Bài 1 yêu cầu chọn đúng sai, học viên đã có sẵn các phát ngôn và
có thể xử lý chúng theo kiến thức sẵn có, cũng có thể đoán định nếu họ không
rõ nghĩa lắm Nhưng ở bài tập 2, và 3 với yêu cầu đặt câu với các từ ngữ cho
sẵn và tạo lập ngữ cảnh để làm rõ nghĩa của câu, học viên trở nên lúng túng
Một số học viên chưa hề được tiếp xúc với loại hình bài tập này, một số học viên thường cảm thấy ngại làm các bài tập dạng viết, một số học viên không hiểu rõ được các nét nghĩa của những từ tình thái cũng như không phát hiện được cảm xúc nào được truyền tải qua câu nói trong bài nên khá nhiều học viên bỏ qua các câu trong hai bài tập này