1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tại sao hoa kỳ nhanh chóng trở thành đối tác thương mại hàng đầu của việt nam chỉ sau một thời gian không dài từ khi hai nước tuyên bố bình thường hóa quan hệ tới nay

13 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tại sao Hoa Kỳ nhanh chóng trở thành đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam chỉ sau một thời gian không dài từ khi hai nước tuyên bố bình thường hóa quan hệ tới nay
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hà
Người hướng dẫn Trần Văn Kết, GV
Trường học Trường Đại học Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 285,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoa Kỳ nhanh chóng trở thành đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam chỉ sau một thời gian không dài từ khi hai nước tuyên bố bình thường hóa quan hệ tới nay Kể từ khi quan hệ Việt -

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI

TIỂU LUẬN

Đề tài: Tại sao Hoa Kỳ nhanh chóng trở thành đối tác thương mại hàng đầu

của Việt Nam chỉ sau một thời gian không dài từ khi hai nước tuyên bố bình thường hóa quan hệ tới nay? Hãy cho biết những thuận lợi và khó khăn để Việt Nam tiếp tục duy trì và phát triển mối quan hệ thương mại với Hoa Kỳ một cách bền vững?

SV: Nguyễn Thị Thu Hà

MSV: 2621150753

GV: Trần Văn Kết

1

Trang 2

HÀ NỘI - 11/2022

2

Trang 3

MỤC LỤC

I. Hoa Kỳ nhanh chóng trở thành đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam chỉ sau

một thời gian không dài từ khi hai nước tuyên bố bình thường hóa quan hệ tới

nay 3

II. Những thuận lợi và khó khăn để Việt Nam tiếp tục duy trì và phát triển mối quan hệ

thương mại với Hoa Kỳ 6

Trang 4

I Hoa Kỳ nhanh chóng trở thành đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam

chỉ sau một thời gian không dài từ khi hai nước tuyên bố bình thường hóa quan hệ tới nay

Kể từ khi quan hệ Việt - Mỹ được bình thường hoá, quan hệ hợp tác giữa hai nước ngày càng phát triển, đã có những bước tiến dài và khá nhanh, nhưng tiến triển nhanh nhất là những năm đầu thế kỷ XXI

Trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao, những năm đầu sau khi hai bên trao đổi đại sứ (5/1997), chưa có các cuộc thăm viếng chính trị cấp cao nhất giữa Việt Nam và Mỹ Chính vì vậy, chuyến thăm chính thức Việt Nam vào tháng 11/2000 của Tổng thống Mỹ B Clinton là sự kiện chính trị - ngoại giao có ý nghĩa lớn và nhiều mặt, mở ra một giai đoạn phát triển mới cho quan hệ Mỹ - Việt Đáng chú ý là trong những năm gần đây, hai bên đã trao đổi khá thường xuyên các chuyến thăm viếng chính thức cấp cao nhất Về phía Việt Nam, đó là các chuyến thăm Mỹ của Thủ tướng chính phủ Phan Văn Khải (6/2005), của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (6/2007), của Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng (6/2008) Về phía

Mỹ, sau chuyến thăm của Tổng thống B.Clinton tháng 11/2000 là chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống G Bush tháng 11/2006 (nhân dịp dự Hội nghị cấp cao APEC lần thứ 14 tại Hà Nội) Cùng với các chuyến thăm và làm việc cấp nguyên thủ là các chuyến thăm của các Phó thủ tướng, các Bộ trưởng các Bộ khác nhau của Việt Nam và các Bộ trưởng hay các phái viên của Mỹ, các quan chức quốc hội, chính quyền, đoàn thể, các tổ chức phi chính phủ, Những chuyến thăm và làm việc các cấp này nhìn chung đều đã góp phần vào mục đích đưa quan hệ Việt - Mỹ trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao cũng như các lĩnh vực quan hệ song phương khác lên tầm cao hơn, giúp khép lại những trang sử chiến tranh đầy bi thương đối với nhân dân cả hai nước Trong bản “Tuyên bố chung giữa Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” được ký gần đây nhất nhân chuyến thăm Mỹ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tháng 6/2008, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng và Tổng thống Mỹ G Bush nhất trí đánh giá: “Quan hệ Việt Nam – Hoa

Kỳ được xây dựng trên cơ sở mối quan hệ hữu nghị tích cực và đang phát triển, tôn trọng lẫn nhau và cùng cam kết hợp tác nhiều mặt mang tính xây dựng trên nhiều vấn đề để góp phần làm sâu rộng quan hệ vì lợi ích lâu dài của hai nước Hai nhà lãnh đạo cũng chia sẻ

Trang 5

tầm nhìn và mục tiêu hướng tới một khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ổn định, an ninh, dân chủ, hoà bình”

Tiếp nối kết quả hợp tác đã đạt được từ sau khi bình thường hoá quan hệ, trong chuyến thăm và làm việc mới nhất này của Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng, lãnh đạo hai nước Việt -

Mỹ nhất trí mở rộng hợp tác kinh tế - thương mại, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ; mở rộng, tăng cường, nâng cấp cơ chế đối thoại của các quan chức cấp cao của hai bên về các vấn đề chính trị, quốc phòng, an ninh và các lĩnh vực khác Tóm lại, cũng như những khẳng định đã được đưa ra trong các chuyến thăm cấp cao nhất gần đây, hai nhà lãnh đạo hai nước nhất trí đưa “quan hệ đối tác xây dựng, hữu nghị, hợp tác nhiều mặt trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi” Việt - Mỹ phát triển lên một bước mới trên nền tảng sâu rộng, ổn định vững chắc và hiệu quả hơn vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hoà bình, an ninh, ổn định và hợp tác phát triển ở Đông Nam Á và Châu Á

Lĩnh vực thành công nhất trong quan hệ Việt - Mỹ là kinh tế - thương mại Điều này nằm trong chủ trương, chính sách của Việt Nam khi bắt đầu xúc tiến các quan hệ với Mỹ là lấy nội dung hợp tác kinh tế thương mại làm trọng điểm, trọng tâm của các mối quan hệ Việt

-Mỹ Trên thực tế từ sau khi bình thường hoá quan hệ, các quan hệ kinh tế - thương mại, đầu

tư giữa Việt Nam và Mỹ bắt đầu phát triển khá nhanh Đặc biệt, sau nhiều vòng đàm phán, thương thảo, ngày 13/7/2000, hai nước Việt - Mỹ đã chính thức ký Hiệp định thương mại song phương (BTA) BTA được ký là sự kiện rất đáng chú ý và rất quan trọng trong quan

hệ kinh tế - thương mại Việt - Mỹ, bởi đây là khung pháp lý cần thiết và rõ ràng, tạo cơ sở nền tảng để xúc tiến quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại Việt - Mỹ đi vào chiều sâu và đảm bảo hài hoà lợi ích của hai bên Những sự kiện quan trọng tiếp sau là việc Việt Nam gia nhập WTO (tháng 11/2006) và việc Mỹ công bố cấp cho Việt Nam Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR – 11/2006) Trên thực tế từ sau khi BTA có hiệu lực, quan hệ Việt - Mỹ trên lĩnh vực này tiến rất nhanh và nhanh hơn so với các quan hệ kinh tế song phương với các nước khác của Việt Nam Điều rất đáng chú ý nữa là từ hơn 10 năm nay (1997 - 2008), Việt Nam luôn xuất siêu sang Mỹ với kim ngạch ngày càng tăng, nhất là từ sau khi BTA có hiệu lực (10/12/2001) Tốc độ và quy mô tăng trưởng thương mại Việt -

Mỹ những năm qua vượt quá dự đoán của nhiều chuyên gia kinh tế: Nếu như năm 1995 (năm bình thường hoá quan hệ), kim ngạch ngoại thương hai chiều mới đạt 451,3 triệu USD (trong đó Việt Nam nhập khẩu 252,5 triệu, xuất khẩu 198,8 triệu USD), thì đến năm

2002 (năm đầu tiên sau BTA) đã là 2,975 tỷ USD (trong đó Việt Nam xuất khẩu 2,395 tỷ, nhập khẩu 580,2 triệu USD); năm 2007 lên tới 12,20 tỷ USD (trong đó Việt Nam xuất khẩu

Trang 6

10,30 tỷ, nhập khẩu 1,90 tỷ USD)8 ; 6 tháng đầu năm 2008 xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ

đã đạt giá trị bằng xuất khẩu vào Mỹ cả năm 2006 (gần 8,5 tỷ USD).9 Kể từ khi BTA được

ký kết đến nay, quan hệ thương mại hai nước đã tăng 8 lần, và Mỹ hiện là một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam Về đầu tư, những sự kiện mới nhất là trong chuyến thăm chính thức tới Mỹ tháng 6/2007 của Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Việt Nam và Mỹ đã ký Hiệp định khung về thương mại và đầu tư (TIFA) Hiệp định này là sự

mở rộng của BTA, được đánh giá là ghi một cột mốc hợp tác song phương mới, tạo thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư Mỹ ở Việt Nam và cho việc tăng cường thương mại Việt - Mỹ Còn trong chuyến thăm Mỹ tháng 6/2008 của Thủ tướng chính phủ Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Việt Nam và Tổng thống Mỹ đã nhất trí rằng “quan hệ kinh tế là quan trọng đối với quan hệ song phương Việt - Mỹ”; “Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ khởi động đàm phán Hiệp định Đầu tư song phương” (BIT), thể hiện sự cam kết của hai bên về đối xử công bằng, không phân biệt và minh bạch đối với đầu tư nước ngoài”.10 Tổng thống Mỹ cũng khẳng định Mỹ đang tích cực xem xét đề nghị của Việt Nam được tham gia Chương trình Ưu đãi Thuế quan Phổ cập (GSP) và về việc công nhận Quy chế thị trường cho Việt Nam Mỹ hiện là nhà đầu tư thứ 6 trong tổng số hơn 80 nước và vùng lãnh thổ đang đầu tư vào Việt Nam, với 396 dự án tổng trị giá 6,7 tỷ USD từ năm 2002 đến nay.11 Có thể nói, trong bức tranh tổng thể quan hệ song phương Việt - Mỹ, lĩnh vực kinh tế - thương mại và đầu tư là mảng màu sáng nhất, đạt được những thành quả hợp tác lớn nhất và thiết thực nhất

Sau 25 năm bình thường hóa và thiết lập quan hệ ngoại giao (12/7/1995-12/7/2020), hoạt động, thương mại Việt Nam - Mỹ tăng trưởng vượt bậc và là điểm sáng trong quan hệ hai nước Hiện, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, trong khi Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ 16 của Mỹ Thương mại - điểm sáng trong quan hệ hai nước Kể từ năm 1995 đến nay, sau 25 năm hai nước Việt Nam - Mỹ bình thường hóa và thiết lập quan

hệ ngoại giao, kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam sang Mỹ có tốc độ tăng trưởng chóng mặt Nếu năm 1995, kim ngạch xuất khẩu Việt Nam sang Mỹ mới đạt 169,7 triệu USD; kim ngạch nhập khẩu đạt 130,4 triệu USD thì sang năm 2019, con số này đã tăng hàng trăm lần (xuất khẩu đạt 60,7 tỷ USD; nhập khẩu đạt 14,3 tỷ USD) Cán cân thương mại năm 2019 giữa Việt Nam và Mỹ luôn duy trì mức thượng dư với hàng hóa xuất siêu sang thị trường Mỹ đạt 46,4 tỷ USD 25 năm quan hệ thương mại Việt - Mỹ Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump (Nguồn: Interrnet) Tiếp đà tăng trưởng, 7 tháng đầu năm 2020, mặc dù chịu tác động lớn của dịch Covid-19

Trang 7

nhưng hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai nước vẫn có sự tăng trưởng lạc quan Theo Tổng cục Thống kê, 7 tháng đầu năm 2020, thương mại hai chiều đạt 46,2 tỷ USD, tăng 12,5% (5,1 tỷ USD) so với cùng kỳ 2019 Trong đó, xuất khẩu đạt 37,9 tỷ USD, tăng 15% (4,9 tỷ USD), nhập khẩu 8,3 tỷ USD, tăng 2,5% (200 triệu USD) Xuất siêu sang thị trường Mỹ đạt giá trị cao nhất với 29,6 tỷ USD Hiện, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đã thay đổi theo hướng tăng dần nhóm hàng chế biến, chế tạo, từng bước nâng cao giá trị gia tăng và tạo đà tăng trưởng bền vững Theo Thương vụ Việt Nam tại Mỹ, kể từ khi Hiệp định thương mại Việt Nam - Mỹ được ký kết vào năm 2000, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã thay đổi đáng kể Nếu trước đây, Việt Nam xuất khẩu chủ yếu vào Mỹ là các nhóm hàng như: Dệt may, da giày… thì nay đã có thêm nhóm hàng nông - thủy - hải sản tham gia vào danh mục các nhóm hàng xuất khẩu quan trọng Theo Tổng cục Thống kê, trong 7 tháng đầu năm 2020,

có một số mặt hàng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ đạt giá trị tăng cao như: Máy vi tính và linh kiện 82,2% (2,4 tỷ USD); Máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng 87,1% (2,2 tỷ USD) Đặc biệt, dệt may là mặt hàng tiếp cận thị trường Mỹ từ rất sớm và hiện đang là mặt hàng

có kim ngạch xuất khẩu cao nhất sang Mỹ Năm 2019, dệt may xuất khẩu vào Mỹ tăng xấp

xỉ 8,9% so với năm 2018 và chiếm tỷ trọng 38,9% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành này Về thị trường hàng hóa nhập khẩu, hiện chưa có sự thay đổi nhiều, Việt Nam vẫn có nhu cầu nhập khẩu những mặt hàng mà Mỹ có nguồn cung dồi dào như: Các loại máy móc, thiết bị công nghệ cao, thiết bị hàng không, viễn thông và nông sản nguyên liệu…

II Những thuận lợi và khó khăn để Việt Nam tiếp tục duy trì và phát triển mối

quan hệ thương mại với Hoa Kỳ

- Ngày 13/7/2000, tại Washington, Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đã được chính thức ký kết giữa Bộ trưởng Thương mại Việt Nam Vũ Khoan và Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Charlene Bashefsky, kết thúc 4 năm đàm phán liên tục

1 Thuận lợi :

- Mở ra triển vọng xuất khẩu hàng hóa sản xuất tại Việt Nam sang Mỹ

- Tăng tính cạnh trạnh của sản phẩm Việt Nam

- Tăng hoạt động đầu tư của Mỹ vào Việt Nam

- Tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần giải quyết vấn đề thất nghiệp

Trang 8

- Việt Nam có cơ hội tiếp xúc với nền kỹ thuật tiên tiến hiện đại

- Tạo điều kiện đổi mới chính sách hệ thống pháp luật

- Tạo đà cho Việt Nam tham gia vào tổ chức thương mại thế giới ( WTO)

+) Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đối với phát triển thương mại Việt Nam

Cơ hội mới cho phát triển xuất khẩu của Việt Nam Việt Nam là một nước đang phát triển có tốc độ phát triển nhanh, đang trong quá trình chuyển đổi kinh tế và đang tiến hành các bước hội nhập và kinh tế khu vực và thế giới, trong đó có việc tham gia Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA),

và Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC) và đang tiến hành tới trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đã tạo cơ hội tiếp cận thị trường rất lớn cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, đặc biệt là những sản phẩm chế tạo sử dụng nhiều lao động, trước đây chịu mức thuế quan cao tới 40%, nay Việt Nam được hưởng Quy chế tối huệ quốc (MFN), Quy chế thương mại bình thường (NTR) nên mức thuế suất nhập khẩu chỉ còn 3 – 4% Điều này đã mở đường cho sự tăng trưởng của ngoại thương giữa hai nước trong năm

2002 và tiếp tục từ đó tới nay Năm 2002, xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ tăng 128%, tiếp tục tăng 64,5% và đạt 3,9 tỉ USD Hoa Kỳ đã củng cố vị trí là thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn nhất của Việt Nam hiện nay Sự bùng nổ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã đóng góp tới 90% trong tổng mức tăng trưởng xuất khẩu (10%) năm 2002 và 77% trong tổng mức tăng trưởng xuất khẩu (19%) năm 2003 của Việt Nam Điều đáng nói ở đây là sự tăng trưởng xuất khẩu các sản phẩm chế tạo của Việt Nam sang Hoa Kỳ Xuất khẩu hàng công nghiệp chế tạo của Việt Nam sang Hoa Kỳ tăng 502% năm 2002, trong đó những mặt hàng có kim ngạch lớn và mức tăng trưởng xuất khẩu cao phải kể tới: hàng dệt may tăng gần 18 lần (đạt 900 triệu USD), hàng giày dép tăng 70% (đạt 224,8 triệu USD), đồ gỗ tăng 499% (đạt trên 80 triệu USD), hàng phục vụ du lịch tăng 54 lần (đạt 49,5 triệu USD), hàng điện tử tăng 270% (đạt gần 5 triệu USD)… Năm 2003, xuất khẩu các sản phẩm này vẫn tiếp tục tăng trưởng cao: hàng dệt may tăng 119,3% (đạt 1,97 tỉ usd), hàng giày dép tăng 25,7% (đạt 282 triệu USD), hàng điện tử và vi tính tăng 865,3% (đạt 47 triệu USD), đồ gỗ tăng 44,9% (đạt 116,5 triệu USD)… Rõ ràng với mức thu nhập từ xuất khẩu các sản phẩm chế tạo tăng sẽ cho phép Việt Nam đầu tư trở lại để phát triển các sản phẩm này, góp phần chuyển dịch cơ

Trang 9

cấu kinh tế Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa tốt hơn Với quy mô của một thị trường nhập khẩu lớn nhất thế giới, hàng năm nhập khẩu vào thị trường Hoa

Kỳ lên tới khoảng 1 200 tỉ USD, thì kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ hiện cũng chỉ chiếm khoảng 3% kim ngạch nhập khẩu của thị trường này Có thể nói, nhu cầu của thị trường Mỹ lớn đến mức mà nhiều doanh nghiệp Việt Nam khi được phỏng vấn đã trả lời rằng, nỗi lo lắng của họ không phải là ở nhu cầu của thị trường, hay cạnh tranh về giá cả mà chính là ở khả năng cung cấp chỉ có hạn, chưa đáp ứng được các đơn đặt hàng với số lượng lớn của đối tác

Cơ hội tốt cho nhập khẩu các sản phẩm công nghệ nguồn và các nguyên vật liệu chất lượng cao phục vụ nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Đối với nhập khẩu, năm 2002, nhập khẩu từ Hoa Kỳ vào Việt Nam còn rất khiêm tốn (chỉ bằng khoảng 21% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ) và tăng trưởng nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường Hoa Kỳ cũng thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng xuất khẩu (tăng 26% năm 2002) Nhưng tình hình năm 2003 đã có thay đổi lớn: lần đầu tiên, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu từ Hoa Kỳ đã lớn hơn tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này (nhập khẩu của Việt Nam từ Hoa Kỳ tăng 97%, trong khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ chỉ tăng 64,5%) Cùng với mức tăng trưởng cao hơn của nhập khẩu so với xuất khẩu thì xuất siêu của Việt Nam sang Hoa Kỳ năm 2003

đã giảm nhiều và kim ngạch nhập khẩu đã tăng lên bằng 29% kim ngạch xuất khẩu Giảm xuất siêu của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ theo chúng tôi là một sự bảo đảm lành mạnh cho cán cân thương mại giữa hai nước Hơn nữa, đây cũng là một tín hiệu tốt bởi Hoa Kỳ là thị trường công nghệ nguồn hàng đầu thế giới, nhập khẩu máy móc thiết

bị từ Hoa Kỳ sẽ giúp chúng ta có được các trang thiết bị hiện đại phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ngoài ra, chúng ta còn có thể nhập khẩu các nguyên liệu cần thiết mà trong nước chưa làm được để sản xuất các sản phẩm xuất khẩu trở lại Hoa Kỳ như nguyên phụ liệu của ngành dệt may, giày dép, linh kiện điện tử và vi tính, chất dẻo nguyên liệu, hay các vật tư cần thiết phục vụ sản xuất và đời sống như phân bón, sắt thép, tân dược… Điều này được phản ánh trong cơ cấu hàng nhập khẩu từ thị trường Hoa Kỳ: năm 2002, các sản phẩm công nghiệp chế tạo chiếm tới 75% tổng trị giá nhập khẩu từ Hoa Kỳ, trong đó chủ yếu là các sản phẩm máy móc và thiết bị giao thông, nguyên liệu và vật tư phục vụ cho sản xuất trong nước và cho xuất khẩu Nhập khẩu hàng tiêu dùng chỉ chiếm khoảng 10% tổng kim ngạch nhập khẩu Năm 2003, tỷ trọng nhập khẩu các sản phẩm chế tạo tăng lên 77% tổng kim ngạch nhập khẩu trong đó nhập

Trang 10

khẩu máy móc, thiết bị đạt 709,4 triệu USD, chiếm 62% tổng kim ngạch nhập khẩu và tăng 61,5% so với 2002, nhập khẩu các nguyên liệu và vật tư cần thiết khác đạt 173,7 triệu USD bằng 15% tổng kim ngạch nhập khẩu…

+) Cơ hội thu hút đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ cho việc phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam

Trong khi đầu tư trực tiếp (FDI) của Hoa Kỳ vào Việt Nam từ 1988 đến 1993 (khi lệnh cấm vận chưa bị dỡ bỏ), chỉ đạt 3,3 triệu USD, thì chỉ sau năm đầu tiên (1994) bỏ lệnh cấm vận, con số này đạt trên 266 triệu USD (tức trên 80 lần của toàn bộ 6 năm trước) Như vậy, sau hơn một năm bỏ cấm vận, Hoa Kỳ đã chuyển từ vị trí thứ 11 (năm 1994) lên vị trí thứ 8 trong tổng số trên 50 nước có vốn đầu tư vào Việt Nam và nếu chỉ tính riêng năm 1995 thì Hoa Kỳ đã chuyển lên vị trí thứ 6, chỉ sau Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Xin-ga-po và Thụy Điển Điều đáng quan tâm là những công ty tầm cỡ thế giới của Hoa Kỳ đã tham gia chính với những dự án, quy mô lớn và có tầm quan trọng đối với tương lai phát triển của nền kinh tế Việt Nam Chẳng hạn như Mobil Oil với dự án khí (Mỏ Thanh Long) 55 triệu USD; dự án khu du lịch Non Nước của tập đoàn BBI China Beach Ltd 243 triệu USD… Có thể nói tốc độ đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam tăng nhanh hơn so với Nhật Bản kể từ khi lệnh cấm vận được bãi bỏ Nhưng thị phần của Việt Nam trong FDI của Hoa Kỳ thì còn rất nhỏ bé Các nước và các khu vực khác

có lợi thế cạnh tranh hơn so với Việt Nam, thì đó là lợi thế cạnh tranh cấp cao (lợi thế động: vốn lớn, công nghệ hiện đại, người lao động có chuyên môn cao…) còn lợi thế cạnh tranh của Việt Nam lại thuộc cấp thấp (lợi thế tĩnh: tài nguyên tự nhiên không có khả năng tái sinh, tiền lương thấp, tỷ lệ lao động có trình độ tay nghề cao còn hạn chế) Mặt khác, do Nhật Bản và Hoa Kỳ có tiềm lực kinh tế mạnh và có nhiều lợi thế cạnh tranh cấp cao nên thị trường đầu tư của các nước này là trên phạm vi toàn cầu, phù hợp với phạm vi hoạt động rộng lớn của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) và để thực hiện liên kết sản xuất theo chiều ngang – trong một ngành sản xuất, như thế hiệu quả kinh tế

sẽ lớn hơn Điều đó khác với các đối tác khác như Đài Loan, Xin-ga-po, Hồng Kông còn kém Hoa Kỳ và Nhật Bản ở nhiều mặt vì thế các tập đoàn lớn của Nhật Bản mới chỉ đầu

tư vào Việt Nam với tính chất thăm dò; còn các tập đoàn lớn của Hoa Kỳ mới chỉ là bước đầu đến thị trường Việt Nam… Trước Diễn đàn thương mại tại Oa-sinh-tơn, các doanh nghiệp Hoa Kỳ đã tuyên bố tăng nhanh tốc độ khai thác đầu tư ở Việt Nam và hy vọng Hoa Kỳ sẽ là một trong những đối tác có vốn đầu tư lớn nhất ở thị trường này Cùng với những dự án đầu tư mới, hiện nay đã xuất hiện một số tập đoàn lớn của Hoa

Ngày đăng: 07/12/2022, 10:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm