1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ USSH nghiên cứu du lịch lễ hội chùa hương ở huyện mỹ đức, hà nội

117 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Du Lịch Lễ Hội Chùa Hương Ở Huyện Mỹ Đức, Hà Nội
Tác giả Vũ Thị Hoài Châu
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Phạm Hùng
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Du lịch
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 3,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy để đánh giá đúng thực trạng du lịch lễ hội chùa Hương từ đó vạch ra chiến lược đúng đắn phù hợp nhằm cải thiện và phát triển môi trường du lịch lễ hội, đáp ứng được nhu cầu của du

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN PHẠM HÙNG

Hà Nội, 2014

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH LỄ HỘI 10

1.1 Văn hóa và du lịch văn hóa 10

1.2 Lễ hội và du lịch lễ hội 12

1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến du lịch lễ hội 14

1.4 Những nguyên tắc phát triển du lịch lễ hội 22

1.5 Những bài học kinh nghiệm về phát triển du lịch lễ hội 24

1.6 Những nhiệm vụ đặt ra trong việc nghiên cứu du lịch lễ hội chùa Hương 28

1.7 Điều kiện phát triển du lịch lễ hội chùa Hương Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH LỄ HỘI CHÙA HƯƠNG 30

2.1 Tổng quan về lễ hội chùa Hương 30

2.2 Thực trạng hoạt động du lịch lễ hội chùa Hương 50

2.2.1 Thị trường khách du lịch lễ hội chùa Hương 50

2.2.2 Các sản phẩm du lịch lễ hội chùa Hương 53

2.2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch lễ hội chùa Hương 59

2.2.4 Nhân lực du lịch lễ hội chùa Hương 66

2.2.5 Tổ chức, quản lý du lịch lễ hội chùa Hương 68

2.2.6 Tuyên truyền quảng bá du lịch lễ hội chùa Hương 71

2.2.7 Bảo tồn di sản văn hóa truyền thống lễ hội chùa Hương 72

CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN DU LỊCH LỄ HỘI CHÙA HƯƠNG 74

3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 74

3.2 Các nhóm giải pháp 84

3.3 Một số kiến nghị 100

KẾT LUẬN 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Bảng tổng hợp lượng khách đến chùa Hương 68

Bảng 2.2 Bảng tổng hợp số liệu điều tra về mục đích của khách đến Lễ hội chùa Hương 69

Bảng 2.3 Trình độ học vấn của du khách 69

Bảng 2.4 Đánh giá mức quan tâm tâm của du khách đến các tuyến 70

Bảng 2.5 Bảng số liệu đánh giá dịch vụ vui chơi giải trí tại Chùa Hương 58

Bảng 2.6 Bảng đánh giá chất lượng dịch vụ phương tiện tiếp cận lễ hội 76

Bảng 2.7 Bảng đánh giá chất lượng dịch vụ ăn uống tại chùa Hương 78

Bảng 2.8 Thống kê CSLT tại ĐĐDL Hương Sơn tính đến T12/2010 79

Bảng 2.9 Đánh giá của du khách về dịch vụ lưu trú 79

Bảng 2.10 Đánh giá của du khách về môi trường 80

Bảng 2.11 Mô hình quản lý lễ hội chùa Hương 85

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ICOMOS International scientific Committee on Cultural Tourism

Hiệp hội khoa học quốc tế về du lịch văn hóa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Danh thắng chùa Hương từ xa xưa đã nức tiếng thiên hạ, nơi đây được mệnh danh là “kỳ sơn tú thủy” của Việt Nam Những ai đã đến thăm chùa Hương cũng đều bị cuốn hút bởi vẻ đẹp diễm lệ của phong cảnh và đắm chìm trong không gian thanh tịnh, thoát tục của bầu không khí Phật Giáo Bà Huyện Thanh Quan trong một lần đến thăm chùa, trước cảnh sắc nơi đây đã viết bài thơ vịnh cảnh Hương Sơn:

Đệ nhất Nam thiên ấy cảnh này Hai bên quả núi lồng gương suối Cửa Phật lần theo tầng đá dãi Nam – mô tiếng dậy thưa trần tục

Thuyền lan đón khách mái chèo lay Bốn mặt hoa ngàn rủ bóng mây Chùa tiên bát ngát khói hương bay Non nước bồng lai mới thấy đây

(Bà Huyện Thanh Quan) Như những gì Bà Huyện Thanh Quan miêu tả, chùa Hương là một quần thể hài hòa bao gồm các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử đền chùa, miếu mạo và các hang động tuyệt đẹp, đan xen ẩn mình trong núi non, cỏ cây hoa lá Đặc biệt nhắc đến chùa Hương là người ta nhắc đến lễ hội truyền thống mang đậm màu sắc tín ngưỡng dân gian – đạo Phật với nền văn hoá nông nghiệp Hàng năm cứ mỗi độ xuân về, khi những nụ mai Hương Sơn nở rộ là lúc lễ hội chùa Hương bắt đầu Đây cũng là thời điểm các phật tử và du khách thập phương lại nô nức tụ họp về trảy hội,

đi lễ, dâng nén hương thành tâm lên Đức Phật, vãn cảnh chùa và phong cảnh thiên nhiên

Hội chùa Hương được mở từ ngày mùng sáu tháng giêng đến hết tháng ba

âm lịch trên địa bàn xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội Đây là lễ hội cấp quốc gia và được coi là một trong những lễ hội lớn nhất nước Theo sử sách của khu quần thể di tích chùa Hương ghi lại thì Chúa Trịnh Sâm là người đầu tiên đặt nền móng cho lễ hội chùa Hương, tục từ đó hàng năm cứ vào dịp xuân, du khách thập phương lại về đây trảy hội và ngày một đông vui

Trong những năm qua, chùa Hương đã được nhận sự quan tâm, hỗ trợ từ các ban ngành từ Trung Ương đến địa phương, góp phần làm cho thắng cảnh Hương

Trang 7

Sơn càng thêm hấp dẫn Theo thống kê, số lượng khách du lịch đến hành hương tham gia lễ hội chùa Hương ngày một tăng, doanh thu từ du lịch đã đóng góp một phần đáng kể vào việc phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách địa phương

Điều đáng ghi nhận là du lịch lễ hội chùa Hương ngày càng có nhiều tiến bộ, công tác tổ chức, điều hành lễ hội và các hoạt động của lễ hội cũng được thực hiện bài bản hơn, quy củ hơn Du khách đến với lễ hội rất đông và số lượng này tăng theo từng năm, đa phần là khách nội địa, khách quốc tế chưa nhiều Tuy nhiên, dù

đã có nhiều đổi mới, song lễ hội chùa Hương và du lịch lễ hội chùa Hương vẫn còn nhiều bất cập, cả về thị trường du khách, cơ sở vật chất kỹ thuật, các dịch vụ du lịch, công tác tổ chức, quản lý, tuyên truyền, quảng bá, và đặc biệt là vấn đề bảo tồn

di sản văn hóa Bên cạnh đó thì môi trường cảnh quan chưa được gìn giữ đúng mức, tình trạng chặt chém khách hàng chưa được giải quyết dứt điểm, việc kinh doanh ăn uống động vật hoang dã hay tệ cờ bạc, bói toán, trật tự trị an… có nhiều hạn chế Vì vậy để đánh giá đúng thực trạng du lịch lễ hội chùa Hương từ đó vạch ra chiến lược đúng đắn phù hợp nhằm cải thiện và phát triển môi trường du lịch lễ hội, đáp ứng được nhu cầu của du khách đồng thời vẫn bảo tồn và gìn giữ được cảnh quan thiên nhiên và giá trị bản sắc văn hóa đặc trưng của Hương Sơn cần có một công trình nghiên cứu nghiêm túc

Xuất phát từ mong ước trên, tác giả xin chọn vấn đề “Nghiên cứu du lịch lễ

hội chùa Hương ở Huyện Mỹ Đức, Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu luận văn

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Theo chính sách phát triển của Nhà nước, việc tập trung phát triển du lịch thành một ngành công nghiệp mũi nhọn, trong đó có du lịch lễ hội là một trong những vấn đề được đặc biệt quan tâm, bởi lễ hội mang nhiều nét văn hóa, bản sắc của từng vùng miền cũng như tâm hồn của người dân bản địa Do đó, những năm gần đây, nghiên cứu lễ hội phát triển du lịch là đề tài rất được các nhà khoa học quan tâm, trăn trở

Ở đồng bằng châu thổ Sông Hồng, Lễ hội chùa Hương được coi là một trong những lễ hội lớn nhất vùng, thu hút sự quan tâm của nhiều du khách cũng như các nhà nghiên cứu, hoạch định kinh tế Số lượng sách báo viết về lễ hội chùa Hương

Trang 8

vô cùng phong phú, đa dạng từ những sách du ký, sách lịch sử, sách giới thiệu du lịch cho đến những công trình nghiên cứu khoa học

Những sách viết về lịch sử và thắng cảnh chùa Hương như:

Di tích lịch sử chùa Hương của Thành Nhân: đây là cuốn sách giới thiệu

những nét đặc sắc về non nước, suối rừng, hang động và hệ thống đền chùa trong khu Di tích lịch sử văn hoá Hương Sơn qua các thời kỳ xây dựng và phát triển

Chùa Hương Tích của Dương Thư Pháp: chủ yếu là hình ảnh được thực hiện

từ những năm 30 của thế kỷ trước Chùa Hương Tích là tài liệu khảo cứu về thuyền phả của chùa Hương, có các chỉ dẫn về phong cảnh, đường xá, các điển tích về các động và chùa trong quần thể di tích chùa Hương

Chùa Hương cổ tích của Nguyễn Đức Bảng: là tập hợp các câu chuyện,

truyền thuyết về khu Phật tích chùa Hương đồng thời giới thiệu thắng cảnh chùa cùng các động Trong sách còn có một số bài thơ về chùa Hương

Thắng cảnh Hương sơn (Hương Sơn bầu trời cảnh bụt) của Trần Huyền

Thương: nội dung chủ yếu vẫn là giới thiệu về di tích Hương Sơn, đạo Phật ở Chùa Hương và lễ hội chùa Hương

Thắng cảnh Hương Sơn của Trần Lê Văn: tập trung giới thiệu cảnh đẹp, con

người vùng Hương Sơn đồng thời đưa ra một số tư liệu lịch sử về các bài thơ bình

về thắng cảnh chùa Hương

Chùa Hương Tích cảnh quan và tín ngưỡng của Phạm Đức Hiếu: đây là cuốn

sách giới thiệu về Hà Tây và chùa Hương, về các nghi lễ trong lễ hội chùa Hương cùng các đặc sản

Chùa Hương ngày nay của Thích Viên Thành, tác phẩm ngoài giới thiệu đôi

nét về hội chùa Hương, về khu di tích còn nêu đặc điểm Phật giáo ở Hương sơn và vấn đề trùng tu di tích chùa Hương

Lịch sử chùa Hương Tích của Nguyễn Đình Bảng là tác phẩm được viết bằng

hai thứ tiếng Anh – Việt, có rất nhiều hình ảnh về chùa Hương Tác phẩm nói về lịch sử chùa Hương Tích, giới thiệu đầy đủ các động, các đền chùa trong khu thắng cảnh và giải thích những gốc tích liên quan đến đạo Phật nơi đây

Trang 9

Đặc biệt Thung Mơ Hương Tích của tác giả Trần Lê Văn được coi là

một trong những tài liệu hướng dẫn du lịch về chùa Hương Đây là tập bút ký được tác giả thực hiện vào năm 1974, năm 2003 mới được nhà xuất bản Thanh niên tái bản lần thứ hai Trong bút ký này, dựa vào các nguồn nghiên cứu như chuyện kể của người địa phương, các văn bia, thiền phả và các nguồn sách vở

tư liệu khác, tác giả đã giới thiệu cặn kẽ về địa lý, lịch sử hình thành Hương Tích và các di tích nơi đây

Ngoài ra còn có những tác phẩm viết lễ hội chùa Hương như Những cái nhất của lễ hội chùa Hương của Bùi Thiết, Trảy hội chùa Hương, tuyển chọn và trích dẫn của Trần Đăng Hùng, Nguyễn Quang Đại và Nguyễn Hồng Hạnh, Nội dung

chính của những tài liệu này chủ yếu tập trung giới thiệu truyền thuyết khu Phật tích, giới thiệu các thắng cảnh, lễ hội và các nghi lễ trong lễ hội chùa Hương

Bên cạnh những tài liệu viết về khu thắng cảnh chùa Hương nói trên còn có những công trình khoa học nghiên cứu về du lịch chùa Hương Đầu tiên phải kể đến

đề tài khoa học cấp ngành do ỹ sư Nguyễn Thăng Long chủ nhiệm mang tên

Nghiên cứu ảnh hưởng của tính mùa vụ du lịch đến hoạt động du lịch ở Việt Nam

Đề tài phân tích những ảnh hưởng tiêu cực của tính mùa vụ đến phát triển du lịch, trong đó có phân tích những ảnh hưởng của mùa vụ đến việc phát triển du lịch ở chùa Hương Ngoài đề tài nói trên, đáng chú ý hơn cả là công trình khoa học cấp bộ

do PGS.TS Võ Quế chủ nhiệm mang tên Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển

du lịch dựa vào cộng đồng tại chùa Hương- Hà Tây Công trình nghiên cứu lý luận

về du lịch cộng đồng, tập trung phân tích hiện trạng du lịch chùa Hương, đánh giá phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại chùa Hương để từ đó xây dựng mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng phù hợp Bên cạnh đó là nhiều khóa luận tốt nghiệp đại học ngành du lịch văn hóa cũng bước đầu đề cập đến vấn đề này

Tóm lại các sách viết về chùa Hương đa phần là nghiên cứu, giới thiệu về thắng cảnh, lịch sử khu di tích Hương Sơn, còn những sách viết riêng về lễ hội chùa Hương lại chủ yếu tập trung ở phần giá trị văn hóa của lễ hội, miêu tả, giới thiệu lễ hội Còn các công trình nghiên cứu về du lịch chủ yếu tập trung đến vấn đề phát triển du lịch cả quần thể chùa Hương, chứ không nghiên cứu riêng về du lịch lễ hội

Trang 10

Do đó cần có một công trình nghiên cứu chuyên sâu, đầy đủ về lễ hội chùa Hương, phân tích vai trò của lễ hội đối với phát triển du lịch đồng thời xây dựng chiến lược phát triển du lịch lễ hội chùa Hương, nâng du lịch lễ hội chùa Hương lên một tầm cao mới đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch đồng thời vẫn lưu giữ bảo tồn được những nét văn hóa đặc thù của riêng lễ hội nơi đây

3 Mục đích nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra những luận cứ khoa học cho việc phát triển du lịch lễ hội ở chùa Hương nói riêng, phát triển du lịch lễ hội nói chung, cũng như góp phần bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong hoạt động du lịch lễ hội

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích trên, đề tài có các nhiệm vụ cụ thể sau:

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về du lịch lễ hội, chỉ ra những nhiệm vụ cần thực hiện trong việc nghiên cứu lễ hội chùa Hương

- Phân tích thực trạng hoạt động du lịch lễ hội ở chùa Hương; phân tích, đánh giá những điểm mạnh, yếu của du lịch lễ hội chùa Hương

- Đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch lễ hội chùa Hương

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng:

- Các hoạt động văn hóa, xã hội tại lễ hội chùa Hương

- Các hoạt động du lịch của lễ hội chùa Hương

- Các chính sách, cơ chế, giải pháp nhằm phát triển du lịch lễ hội chùa Hương

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Đánh giá tiềm năng, hiện trạng phát triển du lịch

lễ hội chùa Hương và nêu lên định hướng, giải pháp phát triển du lịch lễ hội chùa Hương

- Phạm vi không gian: trên địa bàn khu di tích Hương Sơn, huyện Mỹ Đức

Trang 11

- Thời gian: Tham khảo các tài liệu, số liệu, thực tế trong phạm vi 5 năm từ năm 2009 đến năm 2013

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thu thập tài liệu cho đề tài, nghiên cứu sẽ sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp sưu tầm, phân tích tài liệu tại các cơ sở lưu trữ

- Phương pháp điều tra thực địa, quan sát, phỏng vấn, chụp ảnh lễ hội và phong cảnh Chùa Hương

- Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn các chuyên gia về du lịch chùa Hương

- Phương pháp bản đồ Sau khi thu thập và phân loại các loại tài liệu, các nguồn thông tin, người nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để hoàn thiện công trình nghiên cứu

7 Đóng góp của luận văn

- Tổng quan một số vấn đề lý luận về du lịch lễ hội

- Đánh giá thực trạng hoạt động du lịch lễ hội chùa Hương

- Đề ra một số giải pháp nhằm phát triển du lịch lễ hội chùa Hương

Trang 12

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH LỄ HỘI

1.1 Văn hóa và du lịch văn hóa

1.1.1 Khái niệm văn hóa

Trước khi bàn về du lịch văn hóa ta cần định nghĩa văn hóa Bởi hiểu được văn hóa sẽ giúp ta hiểu về du lịch văn hóa

Văn hóa là gì? Văn hóa là khái niệm phức tạp, đa nghĩa được nhiều nhà khoa

học nghiên cứu và giải thích

Theo các nhà nhân chủng học, văn hóa là các kiểu hành vi, suy nghĩ mà con người sống trong các nhóm xã hội tạo ra, học tập và chia sẻ với nhau Văn hóa giúp

phân biệt nhóm người này với nhóm người khác và nó cũng là điểm khác biệt giữa

con người và động vật Văn hóa bao gồm niềm tin, các quy tắc ứng xử, ngôn ngữ,

nghi lễ, nghệ thuật, kỹ thuật, trang phục, phương thức sản xuất, nấu ăn, tôn giáo, hệ thống chính trị kinh tế [ 41, 2008 ]

Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa

nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”

Tóm lại ta có thể hiểu Văn hóa là một tổng thể bao gồm tất cả các giá trị vật

chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, là một phần của cách sống mà một nhóm người cùng chia sẻ Các giá trị vật chất và tinh thần đó được kế tục và lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác Văn hóa là chìa khóa của sự phát triển

Trang 13

tinh thần cũng đặc biệt được chú ‎trọng Đi du lịch là một trong những phương thức đáp ứng nhu cầu tinh thần đó

Du lịch trong tiếng Việt bắt nguồn từ tiếng Hán, trong đó du có nghĩa là đi và lịch có nghĩa là trải việc Vì vậy du lịch hiểu đơn giản là chuyến đi chơi xa cho biết

xứ lạ [Từ điển Hán – Nôm – Việt trực tuyến] Trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt,

du lịch được giải thích là “Đi đến những nơi xa lạ để hiểu thêm về đất nước, con

người, cuộc sống”.[40, tr 551]

Tổ chức Liên Hiệp Quốc định nghĩa: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ,

hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của

cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ” [31, tr.17]

Theo Luật du lịch của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố

năm 2005, du lịch được hiểu là “các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con

người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [18, tr.8]

Ngày nay, bên cạnh các loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh, du lịch giải trí, thì du lịch văn hóa đang trở thành xu hướng phát triển mới không chỉ Việt Nam mà còn của nhiều quốc gia trên thế giới

Vậy du lịch văn hóa là gì? Một trong những định nghĩa chuyên ngành nhất là định nghĩa của ICOMOS Theo hiến chương của ICOMOS về du lịch năm 1976 cho rằng: “Du lịch văn hóa có thể được định nghĩa như một loại hình hoạt động giúp con người trải nghiệm cách sống của người khác, nhờ đó được tiếp cận trực tiếp và thấu đáo những công trình ‎kiến trúc, lịch sử, khảo cổ, những phong tục tập quán, truyền thống, môi trường tự nhiên, tri thức, và những giá trị văn hóa khác mà còn được lưu giữ” [49]

Ở Việt Nam “Du lịch văn hóa được hiểu là hình thức du lịch dựa vào bản sắc dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống” [18, tr.4]

Trang 14

Như vậy dù tiếp cận dưới bất cứ góc độ nào thì du lịch văn hóa vẫn là sản phẩm do con người tạo ra Nó là một tập hợp con của du lịch, mục đích của du lịch văn hóa là dùng việc khai thác tài nguyên nhân văn để tạo ra các sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn và đáp ứng nhu cầu thưởng thức giá trị văn hóa của khách du lịch

1.2 Lễ hội và du lịch lễ hội

1.2.1 Lễ hội

Cư dân Việt xưa vốn là những nông dân làm nghề nuôi trồng lúa nước, hàng năm cứ mỗi khi được việc đồng áng hoàn tất, công việc nhà nông cũng bớt vất vả, bận rộn người dân lại tổ chức những nghi lễ để cảm ơn thần linh phù hộ trong cho một mùa màng tươi tốt vừa qua, đồng thời cầu xin các ngài phù hộ cho một vụ mùa bội thu sắp tới Dần dần những nghi thức đơn sơ ban đầu này trở thành một sinh hoạt cộng đồng chung, được xây dựng và tổ chức định kỳ hàng năm, gọi chung là lễ hội [39a, tr.102]

Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa “lễ hội là một hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện” [15, tr.674]

Về căn bản, lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hoá đặc sắc phản ánh đời sống tinh thần của mỗi dân tộc Đây là một hình thức sinh hoạt tập thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả Lễ hội là dịp để con người trở về với cội nguồn, là

sự kiện thể hiện truyền thống quý báu của cộng đồng, tôn vinh những hình tượng thiêng liêng, hướng về những sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước hay liên quan đến những sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân, hoặc chỉ đơn thuần là những hoạt động có tính chất vui chơi giải trí

Căn cứ vào tính chất của lễ hội Giáo sư Trần Ngọc Thêm chia lễ hội truyền thống ở Việt Nam thành ba nhóm như sau:

- Nhóm lễ hội liên quan đến cuộc sống trong mối quan hệ với môi trường

tự nhiên, được coi là các lễ hội nghề nghiệp Trong nhóm này lễ hội nông nghiệp là quan trọng nhất;

Trang 15

- Nhóm lễ hội liên quan đến cuộc sống trong mối quan hệ với môi trường

xã hội Đây thường là những lễ hội kỷ niệm các anh hùng dựng nước giữ nước;

- Nhóm lễ hội liên quan đến đời sống cộng đồng, là những lễ hội tôn giáo, văn hóa [33b, tr.273]

Tuy nhiên có thể thấy cách phân loại lễ hội của Giáo sư Trần Ngọc Thêm mới chỉ tập trung vào lễ hội truyền thống trong khi hiện tại đã có rất nhiều những lễ hội mới được du nhập vào Việt Nam trong quá trình giao lưu văn hóa mà Giáo sư chưa đề cập tới Vì vậy để phản ánh đúng tình hình thực tế trong văn bản ban hành chính thức của Bộ Văn hóa Thể Thao và Du lịch, thì tất cả 7.966 lễ hội của Việt Nam được chia làm 5 loại chính:

- Lễ hội dân gian chiếm 88,36%

- Lễ hội tôn giáo chiếm 6,82%

Đối với các lễ hội dân gian, phần hội mang nhiều nét văn hóa truyền thống

Trò chơi dân gian là một phần không thể thiếu trong những lễ hội này Nguồn gốc những trò chơi đều xuất phát từ ước vọng thiêng liêng của người làm nông nghiệp như trò chơi ném pháo, đánh pháo đất đều là những trò chơi bày tỏ ước vọng cầu mưa của người nông dân [33b, tr275]

Du khách khi đến tham quan lễ hội cũng có thể cùng tham gia vào các trò chơi ở lễ hội Do đó phần hội rất sôi động và hấp dẫn

1.2.2 Du lịch lễ hội

Các nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam như Giáo sư Trần Quốc Vượng, Giáo

sư Trần Ngọc Thêm, khi nhắc đến văn hóa Việt Nam đều nhắc đến làng quê Việt

Trang 16

Đó là những xã hội thu nhỏ của người Việt, là nơi sinh trưởng, phát triển, lưu giữ và trao truyền những nét văn hóa đặc trưng của dân tộc đến từng cá thể trong cộng đồng và tới thế hệ tương lai Trong các xã hội làng xã Việt Nam ấy, lễ hội luôn có một vai trò vô cùng quan trọng Bởi trong các lễ hội, lịch sử, nguồn gốc, khát vọng, ước mơ – những nét tinh túy hồn Việt, của nền văn hóa lúa nước được phác họa một cách chân thực nhất, cô đọng nhất Việt Nam có rất nhiều lễ hội, quy mô các lễ hội tùy thuộc vào từng vùng và của từng tính chất lễ hội

Du khách khi tham gia lễ hội có thể hiểu về văn hóa con người của nơi tổ chức lễ hội, hiểu về đời sống tinh thần phong phú của họ Như vậy lễ hội là một dạng tài nguyên du lịch nhân văn độc đáo Và theo một cuộc điều tra được tiến hành vào năm 2005 trên internet đã chỉ ra 88% khách du lịch bằng lòng đến thăm quan một nơi nào đó do ở đó có lễ hội đang diễn ra Vì vậy các lễ hội đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố vị thế của du lịch văn hóa trong ngành công nghiệp không khói [42, tr.44]

Dựa vào các lý luận về văn hóa, du lịch văn hóa và lễ hội, ta có thể khẳng định du lịch lễ hội thuộc về du lịch văn hóa Du lịch lễ hội được hiểu là hoạt động của con người đến với nơi tổ chức lễ hội để được tiếp xúc trực tiếp, được tham quan, tìm hiểu, trải nghiệm và vui chơi giải trí ở lễ hội trong một khoảng thời gian xác định

Hiện nay lễ hội là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn được ngành Du lịch đánh giá là sản phẩm văn hóa đặc biệt cần phát triển Bởi lễ hội phản ánh tâm hồn dân tộc, phản ánh những nét văn hóa tinh túy nhất con người và địa phương nơi dân tộc đó cư trú Với lý do trên đưa khách đến với lễ hội là giới thiệu với du khách niềm tự hào của người Việt Nam thế hệ trước và thế hệ hôm nay

1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến du lịch lễ hội

1.3.1 Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch được nhắc đến đầu tiên bởi nó là bước căn bản, là cơ sở

để hình thành nên du lịch lễ hội của một địa phương, một quốc gia Bởi nếu không

có tài nguyên du lịch thì sẽ không thể phát triển du lịch

Trang 17

Tài nguyên được hiểu là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần được khai thác và phục vụ cho mục đích phát triển nào đó của con người Theo Điều 4, Luật

Du lịch của Việt Nam thì “tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử-văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” Xét dưới góc độ cơ cấu tài nguyên du lịch, ta có thể phân tài nguyên du lịch thành hai

loại: tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch chính là một trong những yếu tố nội tại quan trọng đối với ngành du lịch lễ hội bởi nó được coi là một nhân tố tạo nên sức hấp dẫn của lễ hội và du lịch lễ hội

1.3.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm địa hình, khí hậu, nguồn nước và hệ động thực vật

Địa hình của bề mặt trái đất là sản phẩm của một quá trình hoạt động địa chất kéo dài Trong một giới hạn nhất định mọi hoạt động của con người đều phụ thuộc vào địa hình Ví dụ địa hình sinh sống của một cộng đồng là sông nước thì phương tiện đi lại chủ yếu của họ là thuyền, bè, các sản phẩm của họ phần lớn cũng liên quan nhiều đến địa hình sông nước

Tương tự như vậy, đối với du lịch lễ hội, địa hình cũng có những ảnh hưởng nhất định giúp định hình và phát triển các hoạt động của ngành du lịch này Ta có thể lấy lễ hội chùa Hương làm ví dụ cho sự ảnh hưởng của địa hình tới hoạt động du lịch Địa hình chùa Hương có rừng, có sông suối, có núi hi tham gia lễ hội du khách sẽ được trải nghiệm đầy đủ các kiểu địa hình ở đây Để vào được động Hương Tích, khách sẽ phải lội suối, sau đó sẽ đi bộ leo núi, băng rừng để đến Hương Tích nơi bà Chúa Ba tu hành đắc đạo Như vậy đối với địa hình sông nước ở đây, một trong những dịch vụ phát triển để đáp ứng nhu cầu đi lại của du khách chính là dịch vụ chèo thuyền, đò đưa khách

Ngoài yếu tố địa hình, các yếu tố như khí hậu, tài nguyên nước và hệ động thực vật cũng có những ảnh hưởng nhất định đến du lịch lễ hội Những yếu tố này

Trang 18

giống như những tiểu cảnh tô điểm thêm lễ hội, góp phần tạo nên nét hấp dẫn, đặc sắc của lễ hội cũng như những dịch vụ của lễ hội Vì vậy tài nguyên du lịch tự nhiên chính là một trong những yếu tố bổ trợ cho du lịch lễ hội

1.3.1.2 Tài nguyên du lịch văn hóa

Tài nguyên du lịch nhân văn được hiểu là những truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch

Bản thân lễ hội với những nghi lễ đặc trưng ở phần lễ và các hoạt động văn hóa trong phần hội cũng chính là một nguồn tài nguyên nhân văn quý giá, là món ăn tinh thần đặc trưng của mỗi địa phương, mỗi dân tộc Đây là hoạt động sinh hoạt văn hóa cộng đồng, diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian, không gian nhất định Lễ hội chính là văn kiện lịch sử, văn hóa sống của một dân tộc

Thực tế đã chứng minh, lễ hội nào càng có bề dày lịch sử, còn giữ được những nét văn hóa nguyên sơ, lễ hội đó càng hấp dẫn du khách Đối với những lễ hội nổi tiếng, khả năng “hút khách” càng lớn, dễ dàng trở thành một trong những yếu tố làm cơ sở cho việc hình thành và phát triển du lịch lễ hội

1.3.2 An ninh chính trị và an toàn xã hội

Không khí hòa bình, nền chính trị ổn định ảnh hưởng không nhỏ đến du lịch

lễ hội Nơi nào có nền chính trị và an toàn xã hội cao nơi đó du lịch lễ hội càng có

cơ hội phát triển Sự bảo đảm vững chắc về quốc phòng, an ninh tạo môi trường ổn định cho đất nước và khách tới tham quan

Du lịch lễ hội là dịp để du khách thẩm nhận những giá trị vật chất, tinh thần độc đáo, khác lạ của quê hương, cũng là dịp để du khách giao lưu với người dân địa phương Bầu chính trị hòa bình, hữu nghị sẽ kích thích sự phát triển của ngành du lịch nói chung và du lịch lễ hội nói riêng Một quốc gia bất ổn về chính trị, thường xuyên xảy xung đột về sắc tộc, tôn giáo sẽ làm ảnh hưởng tới rất nhiều mặt của đời sống kinh tế, xã hội; làm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến an toàn du khách, reo rắc nỗi hoài nghi, tâm lý sợ hãi cho du khách Bên cạnh đó, những cuộc nội chiến, những cuộc chiến tranh xâm lược với nhiều loại vũ khí hủy diệt sẽ phá hủy

Trang 19

các cơ sở vật chất, hạ tầng, tài nguyên du lịch, các công trình nghệ thuật kiến trúc

do loài người sáng tạo nên, làm ảnh hưởng thậm chí cắt đứt các hoạt động du lịch

Và tất nhiên với một nền chính trị an ninh như vậy, lễ hội cũng rất khó để tổ chức được Không có lễ hội thì không thể có du lịch lễ hội Và giả sử nếu lễ hội vẫn được tiến hành thì sự có mặt của du khách cũng vô cùng hạn chế Như vậy du lịch lễ hội không thể tồn tại và phát triển

Thiên tai, dịch bệnh cũng được coi là một yếu tố tác động đến mức độ an toàn xã hội và có tác động không nhỏ đến du lịch lễ hội Khi thiên tai xảy ra, việc tổ chức lễ hội sẽ gặp nhiều khó khăn thậm chí là phải hủy bỏ bởi khả năng cung ứng dịch vụ du lịch bị hạn chế, ngoài ra thiên tai còn gây ra những hệ lụy không khó lường như các bệnh dịch Điều này không chỉ làm du khách sợ đến các vùng có dịch bệnh mà bản thân các cơ quan chức năng địa phương đó cũng dựng lên các rào cản

Theo thống kê của Tổ chức lao động quốc tế, đại dịch SARS đã cắt giảm tám triệu việc làm ở Châu Á Còn theo báo cáo của Tổ chức du lịch quốc tế, hành khách đến Châu Á qua đường hàng không giảm 70%, trong đó Hong Kong giảm 60%, Singapore 40%, Bangkok 37% và Kuala Lumpur 36%

Theo thống kê của Phòng Du Lịch Đài Loan vào tháng 7 năm 2003, lượng khách du lịch đến Đài Loan chỉ còn 110.000 khách giảm một nửa so với cùng kỳ năm 2002

Ngành Du lịch Thái Lan năm 2003 cũng bị thiệt hại lớn khi lượng khách quốc tế đến Thái Lan giảm mạnh, trong khoảng thời gian từ ngày mùng 1 đến 21 tháng 4 năm 2003, khách từ Trung Quốc giảm 58%, từ Singapore giảm 72%, từ Nhật Bản giảm 36%, từ Hồng Kông giảm 58% Lễ hội té nước Songkran nổi tiếng của Thái Lan cũng bị ảnh hưởng vì dịch bệnh này khi nhiều thiết bị an ninh y tế

Trang 20

được dựng lên và hàng nghìn khách du lịch và người dân Thái về nước trong dịp này bị yêu cầu kiểm tra

Ở Việt Nam tháng 4 năm 2003, Bộ trưởng Bộ Y Tế, Trưởng Ban chỉ đạo phòng chống Dịch cũng có công văn gửi Thành phố Quảng Ninh và Hải Phòng đề nghị tăng cường phòng chống dịch bệnh và yêu cầu giảm đông vui ở các lễ hội vùng ven biển phía Bắc để tránh sự lây lan của bệnh SARS

Từ những ví dụ trên ta có thể thấy được tầm quan trọng, sự tác động của ổn định chính trị, an toàn xã hội đối với ngành du lịch nói chung và du lịch lễ hội nói riêng

1.3.3 Kinh tế, giao thông vận tải, khoa học kỹ thuật

Đối với du lịch lễ hội thì điều kiện kinh tế cũng là một trong những nhân tố quan trọng Một quốc gia có nền kinh tế phát triển sẽ giúp cho ngành du lịch phát triển trong đó có du lịch lễ hội

Theo ý kiến của các chuyên gia kinh tế thuộc Hội đồng Kinh tế và Xã hội của Liên Hợp Quốc, một đất nước có thể phát triển du lịch một cách vững chắc nếu nước đó tự sản xuất được phần lớn số của cải vật chất cần thiết cho du lịch [29, tr.91]

Điều kiện kinh tế phát triển sẽ giúp tạo ra các thiết bị, của cải vật chất có chất lượng cao phục vụ cho chính lễ hội của mình, giúp các nhà hoạch định, tổ chức, quản lý lễ hội dễ dàng thực hiện công tác điều hành, kiểm soát lễ hội một cách hiệu quả nhất, đảm bảo an ninh cho người tham gia lễ hội đồng thời vẫn giữ được sức hấp dẫn cho lễ hội

Kinh tế cũng đóng góp một phần không nhỏ cho việc xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ du khách đến tham dự lễ hội Các cở hạ tầng được xây sửa đẹp, tiện nghi đáp ứng nhu cầu của khách là một trong những yếu tố tạo dựng nên thành công, tạo một dịch vụ hoàn hảo cho lễ hội

Ta có thể dẫn chứng một vài ví dụ để hiểu hơn về tác động của kinh tế đến

du lịch lễ hội Khi lễ hội diễn ra, sẽ thu hút một lượng người tham gia đông đảo, vì vậy nhà vệ sinh công cộng là rất cần thiết Do đó nếu vùng tổ chức lễ hội có nền kinh tế vững mạnh có thể dễ dàng quy hoạch và cho xây dựng những nhà vệ sinh, sạch đẹp đáp ứng được du khách

Trang 21

hi nói đến kinh tế của một quốc gia, một vùng lãnh thổ không thể không nhắc đến giao thông vận tải Giao thông vận tải được khẳng định là một trong những nhân tố trọng yếu ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch lễ hội Sự phát triển của mạng lưới giao thông vận tải cả về lượng và chất giúp kết nối các vùng với nhau, giúp khách du lịch dễ dàng lựa chọn phương tiện để tiếp cận nơi diễn ra lễ hội Ngoài ra nó còn cải thiện dịch vụ lễ hội và nâng cao mức an toàn cho người tham gia lễ hội

Trong suốt quá trình phát triển của xã hội loài người hiện đại, sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự phát triển kinh tế thường đi liền với nhau và có mối quan hệ hai chiều mật thiết Khoa học kỹ thuật cũng góp phần tạo những bước đột phá trong sản xuất, giúp nâng cao, cải thiện kinh tế Khi nền kinh tế đạt mức thặng

dư, nhu cầu của con người sẽ không chỉ dừng lại ở vấn đề ăn, ở, mặc Lúc này nhu cầu nghỉ ngơi, thư giãn, giao lưu, tìm hiểu văn hóa sẽ xuất hiện Từ đó du lịch lễ hội

sẽ được hưởng lợi từ nhu cầu này

Đối với ngành du lịch nói chung và du lịch lễ hội nói riêng, khách hàng là nhân tố quan trọng Sự phát triển du lịch lễ hội một phần phụ thuộc vào khách tham

dự lễ hội hách chính là người chi trả cho các dịch vụ, hoạt động của lễ hội Điều kiện để du khách tham gia lễ hội bao gồm thời gian rảnh rỗi, nhu cầu đi du lịch, tìm hiểu văn hóa và khả năng tài chính Trong những nhân tố trên, khả năng tài chính quyết định mức chi trả các dịch vụ của du khách khi tham gia lễ hội như dịch vụ cư trú, ăn uống, … Khả năng tài chính càng lớn thì nhu cầu càng lớn, mức chi trả càng cao Như vậy điều kiện kinh tế phát triển là cơ sở để du lịch lễ hội khai thác kinh doanh các nguồn khách khác nhau, đáp ứng được nhu cầu của du khách

Ngoài ra, kinh tế còn tạo tiền đề cho việc mở rộng và quảng bá lễ hội ra khỏi một vùng lãnh thổ, đất nước khiến nhiều người biết đến và tham gia lễ hội, giúp lễ hội được tổ chức ngày một chuyên nghiệp hơn, quy củ hơn và “hoành tráng hơn”

1.3.4 Trình độ dân trí, đặc điểm văn hóa

Trình độ dân trí, văn hoá cao tạo điều kiện cho việc phát triển du lịch lễ hội

Nó ảnh hưởng đến hai nhóm người tham gia lễ hội: du khách và người phục vụ lễ hội

Đối với du khách, trình độ dân trí, văn hóa ảnh hưởng đến nhu cầu đi du lịch

Ở đất nước có trình độ dân trí cao, nhu cầu tìm hiểu các giá trị bản sắc văn hóa, lịch

Trang 22

sử dân tộc trở thành một thói quen, sở thích Để đáp ứng nhu cầu của mình, du lịch

là một trong những hình thức được nhiều người lựa chọn Trong đó, tham gia các lễ hội để tìm hiểu về văn hóa, thỏa mãn tính hiếu kỳ cũng là một trong những hình thức lựa chọn Ngoài ra, du khách có văn hóa cao luôn biết cách cư xử và có những hành động phù hợp với văn hóa nơi diễn ra lễ hội Họ sẽ không có thái độ coi thường, miệt thị và hành động thiếu tôn trọng với nơi tổ chức lễ hội mà sẽ biết cách dung hòa, tôn trọng nó Thực tế đã chứng minh, du khách đến tham dự các lễ hội, đặc biệt là các lễ hội truyền thống thường là những người có trình độ học vấn, văn hóa nhất định mới hiểu hết các giá trị văn hóa mà các lễ hội truyền tải

Đối với người phục vụ lễ hội: thái độ phục vụ, văn hóa ứng xử, đón tiếp của người tổ chức, phục vụ lễ hội, của nhân dân vùng, miền - nơi tổ chức lễ hội đối với khách tham quan lễ hội cũng rất quan trọng Trình độ dân trí, văn hóa thấp sẽ gây ảnh hưởng xấu đến lễ hội như nạn ăn xin, chèo kéo, trộm cắp, chèn ép khách

Ngược lại, trình độ dân trí, văn hóa cao sẽ làm cho lễ hội và các dịch vụ của du lịch

lễ hội được thực hiện một cách chuyên nghiệp, chu đáo, hoàn hảo; phát huy được hết những giá trị tài nguyên nhân văn, vừa thu hút được lượng khách lớn đến với lễ hội, vừa vẫn giữ gìn, bảo tồn được những giá trị đặc trưng của lễ hội, làm cho ngành

du lịch lễ hội ngày càng phát triển bền vững

1.3.5 Chính sách và đường lối phát triển du lịch của chính quyền

Chính sách và đường lối phát triển du lịch lễ hội của chính quyền địa phương được coi là một trong những yếu tố quyết định hoặc kìm hãm hoặc phát triển du lịch

lễ hội

Một đất nước có nhiều lễ hội hấp dẫn, mang đậm bản sắc dân tộc nhưng nếu chính quyền sở tại không hỗ trợ, không có những chính sách phát triển, bảo tồn phù hợp và không yểm trợ cho những hoạt động du lịch thì du lịch lễ hội sẽ bị hạn chế

Ngược lại, nếu du lịch lễ hội được chính quyền “đỡ đầu”, quan tâm, du lịch lễ hội sẽ

có cơ hội mở rộng, phát triển

1.3.6 Thời gian tổ chức và quy mô lễ hội

Ngoài các yếu tố trên, yếu tố thời gian và quy mô cũng ảnh hưởng đến du lịch lễ hội Ở Việt Nam, những lễ hội được tổ chức vào mùa xuân thường thu hút

Trang 23

lượng khách lớn hơn những mùa khác do mùa xuân là thời điểm bắt đầu năm mới, dịp tết cổ truyền của dân tộc cũng diễn ra trong mùa này do đó mọi người cũng có nhiều thời gian rảnh rỗi để tham gia vào các lễ hội Đặc biệt mùa xuân là mùa cây cối đâm chồi nảy lộc, là mùa của sự sống Thời gian này người dân thường đi cầu tài cầu lộc, mong một năm bình an, sức khỏe dồi dào, tài lộc như ý Chính lượng khách du xuân này quyết định sự phát triển của các ngành dịch vụ phục vụ lễ hội

Thực tế chứng minh, những lễ hội được tổ chức vào thời gian nghỉ của du khách sẽ thu hút lượng lớn khách đến địa phương có lễ hội

1.3.7 Nguồn lực bên ngoài

Nguồn lực bên ngoài mà ta nhắc đến ở đây chính là nguồn vốn, công nghệ và năng lực tổ chức, quản lý, bảo tồn và phát huy lễ hội Đối với du lịch lễ hội, nó góp phần hình thành, thúc đẩy và phát triển du lịch lễ hội

Du lịch lễ hội địa phương muốn phát triển vững mạnh, đáp ứng được nhu cầu

du khách thì cơ sở hạ tầng, kỹ thuật cần được đầu tư bài bản, đồng bộ Để làm được điều đó cần có nguồn vốn dồi dào, công nghệ tiên tiến và đội ngũ quản l ý có năng lực, kinh nghiệm hông có nguồn vốn đầu tư thì không thể xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ lễ hội, không có đội ngũ lãnh đạo có năng lực, kinh nghiệm thì việc hoạch định, xây dựng sản phẩm, quản lý và vận hành hệ thống du lịch lễ hội sẽ không hoàn hảo, dễ rơi vào tình trạng bị động, không thuận tiện cho du khách khi đến lễ hội Như vậy khả năng thỏa mãn nhu cầu khách hàng sẽ thấp, khiến du khách không sẵn sàng chi trả cho các dịch vụ, hoặc có thể dẫn đến tình trạng dù khách hàng muốn chi trả cũng không biết chi trả cho cái gì và ở đâu

Do đó để du lịch lễ hội phát triển, những yếu tố về vốn đầu tư, kinh nghiệm

tổ chức, quản lý là những yếu tố không thể bỏ qua mà cần phải xem xét kỹ lưỡng, cẩn trọng

1.3.8 Tính thời vụ

Bên cạnh những yếu tố có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của du lịch lễ hội thì tính thời vụ có thể coi là yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến du lịch lễ hội “Tính thời vụ trong du lịch là những biến động lặp đi lặp lại hàng năm của cung và cầu du lịch xảy ra dưới tác động của một số nhân tố xác định.”[29, tr.121]

Trang 24

Đối với du lịch lễ hội, tính thời vụ được thể hiện rõ nét Trong thời điểm diễn

ra lễ hội, các hoạt động của lễ hội diễn ra rất sôi nổi thu hút một lượng lớn du khách đến tham gia, trong khi ở những thời điểm khác trong năm, các hoạt động hầu như không có hoặc diễn ra rất cầm chừng Tính thời vụ gây ra rất nhiều khó khăn cho sự phát triển các dịch vụ du lịch, chính sách nhân sự của các công ty, địa phương có lễ hội Chẳng hạn như sự thu hút một lượng lớn khách du lịch đến nơi diễn ra lễ hội trong một thời gian ngắn sẽ gây ra sự quá tải, làm ảnh hưởng đến chất lượng phục

vụ, môi trường nhân sinh quan của lễ hội Điều này sẽ làm ảnh hưởng lớn đến việc đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ khách du lịch, cũng như việc tổ chức lễ hội Và kéo theo đó là các hệ lụy về nơi cư trú của khách du lịch, các vấn đề về an ninh, giao thông, môi trường, nhân sự

Tóm lại, tính thời vụ gây ảnh hưởng bất lợi đến tất cả các thành phần của du lịch lễ hội bao gồm các tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật, nhân sự phục vụ, khách du lịch

1.4 Những nguyên tắc phát triển du lịch lễ hội

Yêu cầu chủ đạo và xuyên suốt quá trình phát triển sản phẩm du lịch là phát triển bền vững Phát triển bền vững nghĩa là thỏa mãn các nhu cầu du lịch của thị trường, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội lớn cho điểm du lịch mà không làm suy giảm quá nhiều chất lượng của tài nguyên môi trường trong tương lai

Đối với việc phát triển du lịch lễ hội, phát triển bền vững cũng là một yếu tố mang tính quyết định, giúp cân bằng lợi ích kinh tế và lợi ích văn hóa

Vậy để phát triển bền vững du lịch lễ hội, ta cần tuân thủ những nguyên tắc sau:

1.4.1 Nguyên tắc bảo tồn, phát triển có hệ thống

Lễ hội là tài nguyên du lịch nhân văn Do đó để lễ hội luôn là nguồn tài nguyên dồi dào mang lại lợi ích cho các bên tham gia, ngoài việc khai thác đúng cách chúng ta còn phải biết bảo tồn, gìn giữ bản sắc văn hóa đặc trưng của lễ hội và phát triển có hệ thống những sản phẩm đặc thù của lễ hội, tránh tình trạng “đụng đâu làm đó”, làm bừa bãi tràn lan Để hiện thực hóa điều đó, chính quyền và ngành

du lịch cần có những chính sách, chiến lược, định hướng, quy hoạch rõ ràng, “dài

Trang 25

hơi”, bài bản Ngoài ra sự cân bằng lợi ích văn hóa, lợi ích cộng đồng với lợi ích kinh tế phải được chú trọng, có sự chia sẻ quyền lợi, trách nhiệm giữa nhà đầu tư với người dân, chính quyền địa phương – nơi tổ chức lễ hội và với tất cả những bên tham gia Tất cả phải có bổn phận giữ gìn và xây dựng di sản văn hóa phi vật thể này nhằm duy trì mức ổn định kinh tế và lưu truyền đến thế hệ tương lai

1.4.2 Nguyên tắc thị trường

Nguyên tắc thị trường trong phát triển du lịch lễ hội nghĩa là tuân theo quy luật cung – cầu, phải xuất phát từ nhu cầu của khách hàng, thỏa mãn giá trị thưởng thức, lịch sử, khoa học và thực dụng đồng thời thoải mãn các điều kiện:

- Có tài nguyên nội tại (môi trường, nhân văn, )

- Điều kiện giao thông, vận tải thuận tiện

- Có nguồn vốn đầu tư

- Có tính khả thi (điều kiện đầu tư)

- Có nguồn khách - nguồn khách là yếu tố sống còn để duy trì hay hủy diệt

du lịch lễ hội của một địa phương hay của một đất nước Không có khách, không thể duy trì du lịch lễ hội

Đảm bảo các yếu tố:

- Hiệu quả kinh tế: đảm bảo phát huy được các nguồn lực, sử dụng các nguồn lực một cách tiết kiệm, bền vững mang lại lợi tức cho các bên tham gia kinh doanh, phát triển được kinh tế của địa phương và quốc gia

- Hiệu quả xã hội: các hoạt động của du lịch lễ hội góp phần nâng cao dân trí, nhận thức của người dân tham gia Góp phần đem lại công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao chất lượng môi trường sống; phù hợp với truyền thống văn hóa của địa phương

- Hiệu quả môi trường: giữ gìn và nâng cao môi trường tự nhiên và văn hóa, không phát triển những loại hình sản phẩm đi ngược lại truyền thống, phong tục, tập quán và văn hóa của địa phương Bảo vệ sự đa dạng văn hóa và đa dạng tự nhiên

- Đảm bảo giá trị thưởng thức, lịch sử, khoa học và thực dụng

Trang 26

Do đó ta cần tiến hành nghiên cứu thị trường bao gồm các nghiên cứu, đánh giá tài nguyên của lễ hội, các giá trị văn hóa của lễ hội; nguồn khách; mức độ quan tâm của du khách đối với lễ hội; xác định, đánh giá thị trường mục tiêu, thị trường tiềm năng, hệ thống mạng lưới giao thông vận tải, các nguồn vốn đầu tư, … để từ

đó định hướng, xây dựng các giải pháp, chính sách, kế hoạch thích hợp

1.4.3 Nguyên tắc giáo dục và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa

phương

Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển du lịch cần chú trọng đến công tác giáo dục, đào tạo nhân lực Đây được coi là một sự đầu tư tối quan trọng trong suốt quá trình phát triển du lịch lễ hội Nếu nhân lực không được đào tạo bài bản sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường ảnh hưởng đến toàn bộ đường lối chính sách đề

ra Vì vậy để luôn có nguồn nhân lực tốt công tác đào tạo và tái đào tạo là cần thiết

Sự tham gia của cộng đồng đối với ngành du lịch lễ hội của địa phương được đánh giá là yếu tố cần và đủ để phát triển du lịch lễ hội Nó không chỉ mang lại lợi nhuận cho cộng đồng mà còn tăng tính trách nhiệm của cộng đồng trong việc bảo tồn, phát triển lễ hội, du lịch lễ hội, góp phần bảo vệ mội trường sinh thái và nhân văn nơi tổ chức lễ hội

1.5 Những bài học kinh nghiệm về phát triển du lịch lễ hội

Lễ hội Yên Tử là một trong những lễ hội hành hương lớn ở nước ta sau lễ hội Chùa Hương, được tổ chức bắt đầu từ ngày mùng 9 tháng Giêng đến hết tháng ba hàng năm hu di tích Yên Tử là một trong những danh lam thắng cảnh bậc nhất của cả nước Nơi đây gắn liền với tên tuổi vua Trần Nhân Tông khi ông đến đây tu hành, lập ra trường phái Phật Giáo riêng, đó là Thiền Trúc Lâm Yên Tử

Trong quần thể di tích Yên Tử rộng lớn hiện có 11 chùa và hàng trăm am tháp Chùa Ðồng ở trên đỉnh cao nhất 1.068 m (so với mặt nước biển) Lên chùa Ðồng du khách cảm tưởng như đi trong mây “nói cười ở giữa mây xanh” (Nguyễn Trãi) Ở Yên Tử có ngọn tháp cao 3 tầng bằng đá Ngọn tháp có niên đại “Cảnh Hưng thập cửu niên – 1758” là cổ nhất Cũng không đâu có rừng tháp như khu

Trang 27

Tháp Tổ ở Yên Tử gắn liền với những sự tích huyền thoại về ông vua nhà Trần và phái Thiền Trúc Lâm

Du khách đến hội chùa Yên Tử để được tách mình khỏi thế giới trần tục, thực hiện cuộc hành hương tôn giáo giữa thiên nhiên hùng vĩ Thú vui “như hội” là leo núi, lên đỉnh cao nơi có chùa Ðồng Trên đường đi đôi lúc lại gặp ngôi chùa, ngọn tháp, con suối, rừng cây mỗi nơi là một truyện cổ tích sâu lắng tình người Lên đến đỉnh núi tựa như cổng trời, sau khi thắp nén nhang ai nấy như thấy trong lòng nhẹ nhàng hi trời quang mây tạnh, từ nơi đây có thể phóng tầm mắt dõi nhìn khắp vùng biển miền Ðông Bắc

Ca dao có câu:

“Trăm năm tích đức, tu hành Chưa đi Yên Tử, chưa thành quả tu”

inh nghiệm tổ chức lễ hội Yên Tử là một trong những bài học quý giá mà ban quản lý lễ hội các nơi có thể tham khảo, học hỏi kinh nghiệm

Theo báo cáo của Ban Quản lý khu di tích danh thắng Yên Tử, riêng trong 3 ngày (mùng 1 - mùng 3 Tết) năm 2013, lượng du khách hành hương về Yên Tử đã đạt trên dưới 2 vạn lượt, tăng 20% so với cùng kỳ Những ngày tiếp theo, lượng du khách luôn đạt xấp xỉ 5.000 đến 6.000 lượt/ngày

Để tiếp đón một lượng khách lớn như vậy, công tác tổ chức đã được Ban Quản lý thực hiện khá sớm và quy củ Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn, nhịp nhàng, chặt chẽ, đồng bộ giữa Thành phố Uông Bí, Ban quản lý khu di tích danh thắng Yên

Tử, Công ty Cổ phần Phát triển Tùng Lâm và các đơn vị liên quan Đến với lễ hội năm 2013, cảm nhận chung của du khách là Hội Yên Tử không có những cảnh phản cảm như ăn xin, chèo kéo du khách, giao thông thuận tiện, đường xá được nâng cấp rộng rộng rãi, khang trang, sạch sẽ Toàn bộ khu di tích được quy hoạch bài bản, có kế hoạch: bãi đỗ xe rộng rãi, vệ sinh chung được giữ gìn sạch sẽ

Tình hình an ninh: Ban tổ chức đặc biệt chú trọng đến công tác trật tự, đảm bảo an toàn cho du khách không có nạn ăn trộm, móc túi Công an Thành phố đã đề nghị Công ty Tùng Lâm cho lắp đặt một số camera có khả năng chống ẩm, chống sương mù, tự động ghi những hình ảnh tại các chùa chính khu vực Yên Tử Camera

Trang 28

sẽ là “mắt thần” để lực lượng công an dễ dàng tìm ra những “đạo chích” trà trộn nơi đông người để móc túi du khách Bên cạnh đó, Công an Thành phố Uông Bí còn bố trí cảnh sát hình sự, cảnh sát kinh tế, hoá trang, mật phục tại những khu vực như Chùa Trình, suối Giải Oan, chùa Hoa Yên, Chùa Đồng, ga cáp treo để kịp thời phát hiện ngăn chặn, bắt giữ các đối tượng đánh bạc, cò mồi, bán thuốc đông y giả

Giao thông: bố trí lực lượng cảnh sát giao thông của tỉnh và thành phố phân luồng, hướng dẫn giao thông từ đoạn Quốc lộ 10 nối với Quốc lộ 18 Gần cổng chùa Trình nơi diễn ra lễ hội, nằm cạnh Quốc lộ 18, Công an thành phố luôn bố trí kíp trực 5 người hướng dẫn giao thông và làm trật tự khu vực Việc kết nối giữa các lực lượng sẽ được đảm bảo thông suốt qua bộ đàm và điện thoại di động Tại các bãi đỗ

xe đều bố trí lực lượng sắp xếp các xe đỗ theo hàng lối Các công việc trên được duy trì liên tục trong khoảng ba tháng đầu năm Lãnh đạo Công an thành phố luôn quán triệt cán bộ, chiến sĩ không được lơ là chủ quan, mục tiêu cao nhất là an vui cho mọi người đến với đất Phật

Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, y tế, chỗ lưu trú cho du khách đến với Yên Tử đều được các đoàn từ thành phố đến tỉnh liên tục kiểm tra, nhắc nhở yêu cầu các hộ kinh doanh chấp hành tốt

Ban tổ chức yêu cầu các hộ kinh doanh ký cam kết đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, cam kết không lôi kéo, mời chào, ép khách; không bày bán thịt động vật tươi sống trước cửa hàng quán;

Công tác vệ sinh môi trường: Công ty Phát triển Tùng Lâm góp phần quan trọng làm vệ sinh môi trường tại hu Di tích sạch đẹp Công ty đã xây dựng kế hoạch triển khai công tác bảo đảm vệ môi trường thu gom xử lý rác trên toàn tuyến Yên Tử; đầu tư mua mới 30 xe gom rác, 500 sọt đựng rác, 200 thùng nhựa, thuốc khử trùng tiêu độc để phun khu vực các nhà hàng, các khu vực tập trung đông người Hệ thống nhà vệ sinh công cộng cũng được thường xuyên dọn dẹp

Để tránh tình trạng du khách bị “chặt chém” vào mùa lễ hội đến, UBND Thành phố Uông Bí đã ủy quyền cho Phòng Tài chính Uông Bí kết hợp cùng Ban quản lí họp các hộ kinh doanh và niêm yết giá, đặc biệt là các cửa hàng ăn uống lớn nên không có hiện tượng „chặt chém” Ngoài ra Ban quản lý còn thông báo rộng rãi

Trang 29

đến du khách nếu như du khách nào mà bị mua đắt ở đây và phản ánh lại với Ban quản lí, lập tức sẽ bị rút giấy phép kinh doanh và chấm dứt hợp đồng của hộ kinh doanh đó

Một điều rất hiếm có ở Lễ hội Yên Tử là không có nạn ăn xin Đây được coi

là vấn nạn, điều làm đau đầu Ban tổ chức lễ hội ở nhiều nơi Để làm được điểu đó, Ban tổ chức Yên Tử đã xây dựng chính sách hỗ trợ cho người ăn xin bằng cách tạo công ăn việc làm chính đáng cho họ Đó là bố trí, giúp đỡ vốn ban đầu cho họ để họ

có chỗ bán hàng, có thu nhập Đồng thời yêu cầu họ ký cam kết không tái phạm

Công ty Cổ phần Phát triển Tùng Lâm đã làm rất tốt công tác quản lý, đào tạo các hộ kinh doanh cá thể bằng cách tập hợp họ lại thành Hiệp hội kinh doanh Yên Tử, tổ chức các khóa đào tạo, thi tuyển, cấp chứng chỉ cho các hộ dân tham gia Hiệp hội Qua các khóa đào tạo đó, người dân học được cách của người làm dịch vụ

là vui vẻ, hòa nhã, cư xử văn minh với khách hàng Ngoài ra để tạo điều kiện học hỏi kinh nghiệm ở các nơi, Công ty còn đưa họ đến Huế, Hội An để tham quan, học tập

Công tác chuẩn bị tổ chức được thực hiện bài bản, có kế hoạch, có sự phối hợp nhuẫn nhuyễn giữa các thành viên Ban tổ chức chính là yếu tố tạo nên thành công của Du lịch lễ hội Yên Tử Đây chính là bài học kinh nghiệm quý báu cho Ban quản lý lễ hội ở các địa phương khác trong công tác tổ chức và quản lý lễ hội

Nhận xét

Từ việc phân tích phát triển du lịch lễ hội Yên Tử ta có thể rút ra những bài học kinh nghiệm như sau:

Thứ nhất, cần hệ thống hóa những sản phẩm du lịch lễ hội của một địa

phương, phát triển có chọn lọc những sản phẩm đó Có chính sách đào tạo để gìn giữ và lưu truyền các giá trị văn hóa của người dân bản địa đến thế hệ tương lai

Thứ hai, cần có sự phối hợp chặt chẽ, rõ ràng giữa chính quyền, các nhà đầu

tư và người dân cần có đường lối phát triển rõ ràng, không thể để du lịch lễ hội tự phát mà không có sự quản lý hay điều hành thống nhất từ chính quyền địa phương

Sự chia sẻ quyền lợi, nhiệm vụ, nghĩa vụ, lợi ích của các bên tham gia là cần thiết

để cùng giải quyết dứt điểm những khó khăn, vướng mắc, nhằm phát triển du lịch lễ hội

Trang 30

Thứ ba, khi tổ chức lễ hội, phải xem trọng yếu tố đóng vai trò chủ thể là cư

dân địa phương, cân bằng được lợi ích của các bên tham gia Bên cạnh đó, cần chú trọng đến đào tạo để bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể Tập huấn cho người bản địa một số kỹ năng cần thiết về phục dựng lễ hội và kỹ năng giao tiếp với du khách Nên dựa vào cộng đồng dân địa phương để phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch, giúp họ nhận thức được quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong việc phát triển du lịch lễ hội Bởi vì có như vậy họ mới bảo vệ được những di sản văn hóa đặc sắc của mình, bỏ qua những lợi ích trước mắt, nghĩ đến những lợi ích lâu dài, phục vụ khách hàng ngày một chu đáo Chính vì thế, khi phát triển du lịch lễ hội, cộng đồng cư dân địa phương phải là chủ thể của lễ hội Điều này sẽ tránh được việc biến chủ thể của lễ hội là cư dân địa phương thành những khán giả đơn thuần, chỉ đứng bên ngoài để xem hội

Thứ năm, cần có sự quản lý khung của nhà nước để kiểm tra, giám sát, đôn

đốc công tác quản lý, tổ chức, bảo tồn lễ hội nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của du lịch lễ hội Đồng thời ban tổ chức lễ hội nên xây dựng chính sách đầu tư, thu hút đầu tư, chủ động tìm kiếm các nguồn tài trợ, để có kinh phí tổ chức, phục vụ lễ hội mà không cần dựa vào ngân sách nhà nước

Thứ sáu, cần làm tốt công tác thông tin, truyền thông để người dân bản địa

và du khách luôn được cập nhập những thông tin mới nhất về kế hoạch, cách thức

tổ chức, quản lý, của ban tổ chức

Thứ bảy, quy hoạch đồng bộ và có hệ thống cở sở hạ tầng để phát triển du

lịch lễ hội, đối với việc tôn tạo, trùng tu, bảo tồn các di tích, những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể để phát triển du lịch lễ hội cần nghiêm túc nghiên cứu lịch sử một cách chi tiết và cẩn thận để có thể trùng tu, tôn tạo mà không làm “lai căng”, biến dạng văn hóa

1.6 Những nhiệm vụ đặt ra trong việc nghiên cứu du lịch lễ hội chùa Hương

Dựa trên những nghiên cứu về du lịch lễ hội, những yếu tố ảnh hưởng đến du lịch lễ hội, những nguyên tắc phát triển lễ hội và những bài học kinh nghiệm trong

Trang 31

vào ngoài nước về việc tổ chức, quản lý và phát triển du lịch lễ hội, khi nghiên cứu

du lịch lễ hội chùa Hương ta cần quan tâm đến những vấn đề sau:

- Lịch sử hình thành, phát triển chùa Hương

- Hệ thống các di tích, thắng cảnh tại chùa Hương

- Những giá trị đặc sắc, hấp dẫn của lễ hội chùa Hương

- Thực trạng hoạt động du lịch của lễ hội chùa Hương bao gồm thị trường khách, cơ sở vật chất kỹ thuật, nhân lực phục vụ lễ hội, tổ

chức, quản lý lễ hội và công tác quản lý du lịch lễ hội

- Những giải pháp phát triển du lịch lễ hội chùa Hương TIỂU KẾT

Việc nghiên cứu những khái niệm về văn hóa, du lịch văn hóa, lễ hội, du lịch

lễ hội và các bài học kinh nghiệm được đúc rút từ những lễ hội nổi tiếng trong và ngoài nước trong chương này đã tạo cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu du lịch lễ hội

ở nước ta nói chung và Chùa Hương nói riêng Tuy nhiên việc khai thác du lịch mà không làm ảnh hưởng nhiều đến tài nguyên tự nhiên và nhân văn cũng như việc phát triển hiệu quả du lịch lễ hội đang là vấn đề trăn trở của của các cấp lãnh đạo ngành Du lịch Do đó việc nghiên cứu du lịch lễ hội Chùa Hương sẽ mở ra một hướng đi, một giải pháp cụ thể đối với việc phát triển du lịch lễ hội

Trang 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH LỄ HỘI CHÙA HƯƠNG 2.1 Tổng quan về lễ hội chùa Hương

Lễ hội chùa Hương là một trong những lễ hội lớn nhất Việt Nam kéo dài từ ngày mùng 6 tháng giêng âm lịch cho đến cuối tháng ba âm lịch tại địa bàn xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội Lễ hội không những thu hút du khách trong nước mà còn hấp dẫn du khách nước ngoài đến thăm quan, tìm hiểu văn hóa, tập tục, tín ngưỡng của người Việt

Về lịch sử lễ hội, truyện kể rằng tháng 3 năm Canh Dần (1770), Chúa Tĩnh

Đô Vương Trịnh Sâm cùng quan quân trong triều tuần du Trấn Sơn Nam hi đến thăm động Hương Tích, say đắm trước vẻ đẹp mỹ lệ của tạo hóa, Nhà Chúa đã đề lên vách đá cử động năm chữ “Nam thiên đệ nhất động”

Chúa Trịnh Sâm là người đầu tiên đặt nền móng cho lễ hội chùa Hương, và cũng từ đó hàng năm khi mùa xuân đến, du khách thập phương lại đến với lễ hội và ngày một đông vui hơn Nhưng phải mãi đến năm 1896 niên hiệu Thành Thái năm thứ 8 mới chính thức mở hội lớn

Hàng năm lễ hội thu thu hút hàng vạn khách hành hương đến vãn cảnh chùa

và dâng nén hương thành kính

Lễ hội chùa Hương có đầy đủ điều kiện để phát triển du lịch lễ hội:

Về vị trí địa lý, giao thông vận tải: chùa Hương có vị trí địa lý tuyệt vời khi

cách trung tâm Hà Nội có 62 km về phía Tây, thuộc địa bàn xã Hương Sơn, huyện

Mỹ Đức, thành phố Hà Nội Do đó, du khách khi đến với lễ hội chùa Hương rất thuận tiện về giao thông vận tải

Tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hóa: Lễ hội chùa Hương đã là thương

hiệu, đặc sản có một không hai của địa bàn xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức Từ xa xưa lễ hội chùa Hương đã được coi là lễ hội tâm linh lớn nhất nước ta, hàng năm thu hút hàng nghìn các phật tử về dự hội Đây là một lợi thế rất lớn trên con đường phát triển du lịch bởi có rất nhiều lễ hội còn đang khó khăn để tạo nên thương hiệu của chính mình Ngoài ra, lễ hội chùa Hương còn được thiên nhiên ban tặng một khung cảnh núi non sông nước diễm lệ, cuốn hút lòng người kết hợp cùng với hệ

Trang 33

thống công trình kiến trúc, đền chùa miếu mạo tuyệt đẹp tạo nên sức hút đặc biệt của lễ hội nơi đây

Chính sách phát triển du lịch của Thành phố và của huyện Mỹ Đức: một

điều may mắn của lễ hội chùa Hương là lễ hội rất được các cấp ban ngành từ trung ương đến địa phương Trong quy hoạch phát triển du lịch Thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 đã nhận định du lịch lễ hội chùa Hương là một trong những điểm du lịch lễ hội nổi tiếng nhất của Hà Nội, khu du lịch văn hóa

lễ hội và cảnh quan Hương Sơn được công nhận là điểm du lịch quốc gia và được coi là một cụm du lịch trọng điểm và là một trong các dự án trọng điểm cần đầu tư giai đoạn đến năm 2020

Thời gian tổ chức lễ hội: Lễ hội được tổ chức vào mùa xuân, thời gian diễn

ra lễ hội kéo dài nên du khách có thể thoải mái lựa chọn, lên kế hoạch đến với lễ hội

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Trong những năm qua, được sự quan tâm của nhà

nước và chính quyền địa phương Điều kiện cơ sở vật chất ở chùa Hương được cải thiện rõ rệt: hệ thống điện lưới, thông tin điện tử, vận chuyển được đầu tư mới sẵn sang phục vụ khách du lịch

Nguồn khách: Lễ hội chùa Hương từ xa xưa đã trở thành lễ hội được người

dân Việt quan tâm Mỗi dịp xuân về, người Việt Nam luôn mong muốn được trảy hội chùa Hương Những giá trị tâm linh không thể phủ nhận chính là điểm hấp dẫn

du khách khiến lượng khách đến chùa Hương mùa lễ hội không hề nhỏ

Như vậy với những tiềm năng và danh tiếng sẵn có, lễ hội chùa Hương hoàn

toàn có các điều kiện cần thiết để phát triển du lịch lễ hội

2.1.1 Lịch sử hình thành, phát triển chùa Hương

Theo Phật thoại thì chùa Hương là nơi tu hành đắc đạo của Đức Quan Thế

Âm Bồ Tát Bồ Tát đã ứng thân làm Công chúa Diệu Thiện, thường gọi là Bà Chúa

Ba, con vua Diệu Trang Vương ở nước Hưng Lâm Bà được vua cha vô cùng yêu quý, cưng chiều nhưng bà không vâng lời cha lấy chồng mà quyết chí tu hành khiến Đức vua vô cùng tức giận sai người giết Tuy nhiên, Ngọc Hoàng Thượng Đế sớm biết chuyện nên sai thần linh hóa thành mãnh hổ đến cứu bà đưa bà đến núi rừng Hương Sơn Hang Thánh Mẫu hay còn gọi là Am Phật Tích chính là nơi đầu tiên bà

Trang 34

đặt chân khi đến vùng đất này, tương truyền dấu chân của bà vẫn còn in trên đá cho đến ngày nay Nơi bà tắm rửa, tẩy sạch bụi trần chính là chùa Giải Oan với giếng Thiên nhiên Thanh trì và dòng suối Giải Oan lượn quanh trước cửa động

Sau chín năm tu hành, Bà Chúa Ba đã đắc đạo, trở thành Quan Thế Âm Bồ Tát Khi đạt được chính quả, Bà Chúa Ba không về trời mà ở lại để phù hộ độ trì, cứu khổ, cứu nạn dân lành Khi nghe tin phụ hoàng bị ốm nặng, bà trở về quê nhà chữa bệnh cho cha, trừ nghịch cho đất nước, phổ độ chúng sinh Sau lại cứu cha mẹ

và hai chị thoát khỏi tai ương yêu quái hãm hại, thuyết phục cả gia đình bỏ tà tâm ác nghiệp, bỏ lòng tham quyền lực, tâm hoàn lương thiện

Câu chuyện về bà nhanh chóng lan truyền khắp mọi nơi đến tai các thiền sư

và các nhà tu hành, rất nhiều người đã tới đây tìm chỗ thanh tịnh để tu hành Đến đời vua Lê Thánh Tông (1442-1497) có ba vị hòa thượng đến đây, nương nhờ cửa Phật mong được đắc đạo Ban ngày ba ngài lễ tụng, tọa thiền tại động Hương Tích, tối lại ra khu vực Thiên Trù ngủ, nghỉ Để tránh mưa nắng ba vị hòa thượng đã dựng một thảo am Sau một thời gian tu hành thì các ngài lần lượt viên tịch Đến nay không ai còn biết được tên tuổi và dòng tu của các ngài nữa, các ngài chỉ được gọi bằng một cái tên chung là “ ị Tổ Bồ Tát” Dấu tích còn sót lại là hai ngôi mộ

cổ bằng đá xanh, đục đẽo thô sơ nằm trong vườn tháp

Từ đó động Hương Tích được gọi là chùa Trong, Thiên Trù được gọi là chùa Ngoài, rồi người ta lấy tên chung cho cả hai chùa là chùa Hương, hay “Hương Thiên Bảo Sái” Hương Tích có nghĩa là dấu vết thơm tho, ý nói đây từng là nơi tu hành của Bồ Tát Quan Thế Âm, còn Thiên Trù đọc theo âm Hán Việt nghĩa là Bếp Trời Do đó nói đi trẩy hội chùa Hương tức là đi chiêm bái cả khu vực Hương – Thiên của vùng núi Hương Sơn

Năm 1687, hòa thượng Trần Đạo Viên Quang ở Ty Tăng Lục (thời Lê lập ra

Ty Tăng Lục để coi sóc và quản lý các vị tu hành) đã đến Hương Sơn lập ra cảnh Phật khiến vùng đất này trở thành nơi linh sơn phúc địa

Tính đến năm 1947, đã có chín đời sư tổ nối tiếp đã trụ trì ở đây Cũng năm

đó, giặc Pháp đã tàn phá Thiên Trù và Tiên Sơn, khiến nơi này chỉ còn là đống đổ nát, hoang tàn Sau khi hòa bình được lập lại, dưới sự lãnh đạo của các cấp chính quyền và sự đồng tâm hiệp lực của nhân dân, chùa Hương được xây dựng và tôn tạo lại để phát triển và mở rộng như ngày hôm nay

Trang 35

2.1.2 Hệ thống các di tích, danh thắng tại chùa Hương

Hệ thống các di tích, danh lam thắng cảnh của chùa Hương được chia làm hai mảng lớn Đó là các di tích văn hóa và các di tích khảo cổ

2.1.2.1 Di tích văn hóa và danh thắng

Khoảng hơn hai nghìn năm trước đây, toàn bộ vùng đất này là rừng tự nhiên, nơi đây là nơi luyện tập võ công của những anh hùng hào kiệt xưa chống giặc ngoại xâm, và cũng từng là con đường tiến quân của Hai Bà Trưng, Đinh Tiên Hoàng, vua Quang Trung mà hiện nay vẫn còn nhiều dấu tích [Thích Viên Thành, 1996: 30]

Đặc biệt khi nhắc đến khu di tích Hương Sơn, người ta thường nhắc đến giai thoại về Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát, người đã chọn núi rừng Hương Sơn làm nơi

tu thành chính quả Truyền thuyết này có một ý nghĩa tôn giáo lớn đối với nơi đây

Bên cạnh đó, các công trình kiến trúc, miếu mạo, đền chùa cũng những di tích lịch

Hình 1 Sơ đồ chùa Hương

Trang 36

Suối Yến

Trong Hương Sơn, nổi bật lên giữa những núi non trùng điệp là dòng suối Yến hiền hòa tựa như dải khăn người thiếu nữ, len lỏi qua những dãy núi tạo nên bức tranh thủy mặc như thực như mơ giữa chốn hồng trần

Suối Yến dài gần 4 km bắt nguồn từ một hang nước ở Cánh Đồng Lỗ Rừng Vài, chảy quanh co uốn lượn qua một vùng đồng lầy, đi qua làng Yến Vỹ, thôn Hội Xá, làng Đục khê rồi đổ ra sông Đáy Hai bên suối Yến là trùng điệp núi non với muôn vàn hình dạng kỳ thú Người xưa dựa vào hình dáng ấy mà khéo đặt tên cho chúng: núi Ngũ Nhạc có hình năm cái chuông, núi Đụn, trông như một cái đụn gạo khổng lồ đặt giữa thiên nhiên xanh biếc, núi Dẹo - một chàng say rượu nghiêng ngả vẹo cả sang một bên, núi Soi có hình dáng một chú

kỳ lân, núi Ái (hay còn gọi là núi con Rùa), cạnh núi Ái là núi Cánh Phượng với đôi cánh dang rộng vút lên trời cao Đối diện núi Cánh Phượng là núi Ly, trên đỉnh núi có đặt tượng đài chiến thắng ca ngợi nhân dân Hương Sơn trong hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ Đi quá lên núi Cánh Phượng một chút là núi Đổi Chèo có hình dáng một con trăn khổng lồ trườn trên mặt nước Ngoài ra còn có núi Phòng Sư với những khoang được bàn tay tạo hóa dùng đá sắp xếp, trông giống như trai phòng của các vị sư Trên đỉnh núi là hai tảng đá lớn có hình dáng ông sư, bà vãi Đi ngược một chút nữa ta bắt gặp một cây cầu bắc ngang qua dòng suối Yến đó là cầu Hội, cầu Hội do dân làng Hội Xá bắc năm 1860 bằng gỗ lim, dùng để đi vào rừng làm nương rẫy, qua nhiều lần tu sửa, cầu được xây lại bằng bê tông như ngày nay Bên cạnh Cầu Hội là một hang nhỏ còn lưu lại bút tích khen tặng của Chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm, gồm bốn chữ “sơn thuỷ hữu tình” khi Ngài đến trẩy hội chùa Hương năm Canh Dần 1770 Đi qua hang này tới núi Thong Dâu

Đi tiếp ta sẽ bắt gặp cánh đồng Hang Bà, đối diện Hang Bà là cánh đồng Ông Có một truyền thuyết gắn với Hang Bà còn được truyền đến ngày nay như sau:

“Ngày xưa có một người đàn bà xinh đẹp goá chồng từ sớm Giữ trọn đạo làm dâu

bà ở vậy chăm sóc mẹ chồng già yếu Ngày ngày bà chèo thuyền kiếm củi, củ mài, rau sắng đem bán lấy tiền mua gạo về nuôi mẹ Một ngày mưa lớn, nước lũ tràn về,

Trang 37

người đàn bà bị sóng làm đắm đò, chết đuối Thương tiếc cho một người con dâu hiếu thảo, người đời sau đặt tên cho hang ấy là hang Bà để tưởng nhớ một trang tất liệt

Ngồi trên thuyền tiếp tục xuôi theo dòng suối ta sẽ đi qua núi Ba Đài Rượu, núi con Voi – ngọn núi gắn với câu chuyện kỳ lạ, lý thú “Người xưa kể rằng Hương Sơn có một trăm ngọn núi hình con voi, chín mươi chín con đều quay đầu về động Hương Tích tỏ lòng thành kính, chỉ riêng một con lại quay đầu

ra hướng ngược lại và quay mông vào Giận dữ trước sự bất kính của núi Voi này, Hộ Pháp lấy gươm phạt vào một mảng mông voi nên núi Voi bị sạt mất một mảng Qua núi Voi là núi Mâm Xôi và đây cũng là điểm dừng chân của khách hành hương để tiếp tục cuộc hành trình đến động Hương Tích” [10, tr.61-63]

Đền Trình

Đền Trình, tên chữ là Ngũ Nhạc Linh Từ tên dân gian thường gọi là Đền Trình, một di tích lịch sử văn hoá trong khu thắng cảnh Hương Sơn Theo thuyết phong thuỷ, dãy núi Ngũ Nhạc có hình thế một con rồng lớn, dáng núi uy nghiêm, minh đường tụ thuỷ, sinh khí trường tồn, từ xa xưa dân thôn đã dựng ở đầu dãy núi một ngôi đền nhỏ để thờ một vị thần Tướng đã góp công đánh giặc Ân phò Vua Hùng Huy Vương thứ VI Ngôi đền này thờ Sơn Thần, và mùng 6 tháng Giêng lễ

mở cờ rừng được cử hành trọng thể tại đây để người dân xin phép thần rừng được vào rừng bái lễ và làm ăn sinh sống

Dân gian vẫn lưu truyền câu truyện rằng, vào đời Vua Hùng Huy Vương thứ VI, ở Bộ Vũ Linh Quận Siêu Loại – Hương Vĩnh Thế có gia đình Lạc Tướng dòng dõi Vua Hùng Hùng công kết duyên cùng bà Nguyễn Thị Liễu, người ở vùng núi Hương Tích Vợ chồng ăn ở đức độ, hiền lành nhưng hiềm nỗi tuổi cao

mà vẫn chưa có con nối dõi Một hôm bà Liễu nói xin chồng cho về quê Hương tích cầu quý tử Trong những ngày nghỉ tại Yến Vỹ bà Liễu một mình đi vào núi Ngũ Nhạc, tại đây được thần núi báo mộng cho biết sẽ có vị thần trên trời sớm xuống đầu thai làm con trai bà nhưng đồng thời cũng thông báo cho bà biết là bà cũng sắp phải xa rời trần thế về với tổ tiên Mười bốn tháng sau, bà Liễu sinh hạ một người con trai khôi ngô tuấn tú, đặt tên là Hùng Lang Để tạ ơn trời đất, Hùng

Trang 38

Công sắm sửa lễ nghi cùng gia nhân về núi Ngũ Nhạc Trong thời gian ông ở đây thì bà Liễu vợ ông qua đời Đến năm Hùng Lang được mười ba tuổi thì đến lượt Hùng Công cũng từ giã cõi trần Mười tám tuổi Hùng Lang đã tinh thông võ nghệ hơn người, sau này ngài được Trời ban cho kiếm thánh, phò trợ vua đánh giặc Ân

Sau khi đánh đuổi kẻ thù ra khỏi bờ cõi, Hùng Lang bay về trời Để tưởng nhớ công ơn của Người, nhà vua hạ chiếu ban kim ngân lập đền thờ Ngài ở núi Ngũ Nhạc cho dân ấp Yến Vỹ ngàn năm thờ phụng

Trong cuộc chiến chống thực dân Pháp, đền hai lần là mục tiêu đốt phá của giặc: Lần thứ nhất là tháng 2 năm 1947, lần thứ hai là những năm 1951 -

1953 Khi hòa bình được lập lại với đóng góp của dân làng và du khách thập phương hành hương đến nơi đây, đền từng bước được phục hồi, tu sửa Năm

1962, đền được Bộ Văn hóa thông tin xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia

Chùa Thanh Sơn - Động Hương Đài

Chùa Thanh Sơn được coi là một trong những ngôi chùa cổ xưa của Việt Nam Chùa nằm trên suối nước bắt nguồn từ Thung Luộn, trong khu vực này còn có hai động nhỏ là động Hương Đài và động Tiểu Nhi

Động Hương Đài nằm trên núi Phụng Dực, hay còn gọi là Hang Luộn do sư

cụ Đàm Thuyết cùng nhân dân thôn Hội Xá khai phá Động tuy nhỏ nhưng có nhiều thạch nhũ đẹp

Lùi ra phía bờ suối là hang Tiểu Nhi, trong hang có rất nhiều nhũ đá hình trẻ thơ đang đùa nghịch, đặc biệt hang còn có những cây đàn đá mà khi gõ vào sẽ tạo nên những bản nhạc thiên nhiên kỳ diệu

Chùa Thanh Sơn được xây dựng năm Canh Thân (tức năm 1860 Dương Lịch) tạo lạc trên một mảnh đất rộng hàng nghìn mét vuông, lưng tựa vào núi nhìn

ra một vùng gò đất, sông nước Thế đất của Chùa được gọi là thế đất “Phượng Hoàng ẩm thủy” (chim Phượng Hoàng uống nước), còn vùng gò đất trước mặt lại

có thế “tam đăng chiếu nhất thư” (ba ngọn đèn chiếu vào một cuốn sách), là một thế đất đẹp Chính vì vậy dân làng Hội Xá đã mời sư trụ trì Chùa Thiên Trù ra yên vị lô hương và đặt nền tam bảo ở đây Chùa Thanh Sơn ban đầu cũng ít người qua lại, chỉ

có các vị hòa thượng ở Chùa Thiên Trù đến vui cảnh tham thiền Năm 1930, chùa

Trang 39

mới chính thức có người trụ trì là sư thầy Đàm Thuyết Và cũng năm này sư thầy đã cùng dân làng Hội xá mở động Hương Đài làm nơi thờ Phật

Tuy nhiên sau khi Sư trụ trì Đàm Thuyết viên tịch, chùa lại vắng vẻ, tiêu điều không có người thường xuyên chăm nom, quét dọn Đến năm Bính Ngọ - 1966 đến nay mới lại có sư thầy Đàm Trâm về trụ trì Các sư thầy ở đây cùng với dân thôn Hội Xá và khách thập phương đã chung tay xây dựng chùa Thanh Sơn – Động Hương Đài thành một thắng cảnh đẹp trong khu danh thắng chùa Hương

Những ai hiếm muộn thường đến chùa Thanh Sơn để cầu mong gia đình sớm

có tiếng cười con trẻ

Chùa Thiên Trù

Thiên Trù có nghĩa là bếp nhà trời, Chùa còn có tên gọi là Chùa Trò hay

Chùa Ngoài Chùa tọa lạc toạ lạc trên thềm núi Lão, bắt đầu chỉ là một thảo am nhỏ được hình thành dưới thời Vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497) Truyện kể rằng Vua

Lê Thánh Tông trong một chuyến tuần thú phương nam lần thứ hai đã cùng tướng

sĩ, quân lính nghỉ tại thung lũng núi Lão Trong dịp này Nhà Vua đã đặt tên thung lũng này là “Thiên Trù” Sau lần đó, có ba vị hòa thượng đã tới đây tu hành, lập am thờ Phật Tuy nhiên phải đến năm 1687, Hòa Thượng Trần Đạo Viên Quang Chân Nhân đến đây tu hành và cho dựng Chùa, đặt tên là Thiên Trù Tự

Trải qua nhiều đời trụ trì, chùa Thiên Trù được xây dựng, trùng tu, hoàn thiện để trở thành một công trình tuyệt mỹ giữa chốn núi rừng Hương Sơn

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chùa ba lần bị bom đạn phá hủy vào các năm 1947, 1948 và 1950 Di tích ngày xưa nay chỉ còn lại tháp Thiên Thủy, tháp Viên Công – một công trình nghệ thuật đất nung thế kỷ 17 và bia đá

Chùa Thiên Trù là một công trình kiến trúc văn hóa nghệ thuật Lê - Nguyễn

Bố cục rất hài hòa: tam bảo, tiền đường, nhà thờ tổ, nhà thờ mẫu, nhà khách, các nhà kho…có đủ phương tiện sinh hoạt cho hàng trăm người nghỉ lại lễ Phật qua đêm Đây là một ngôi chùa nổi tiếng thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20

Sau khi bị giặc Pháp phá hủy, sang năm Tân Mão (1951), Hòa thượng Thanh Chân đã cho dựng lên từ đống đổ nát sáu gian nhà tranh để làm nơi tu hành, hương khói

Trang 40

Chỉ đến khi hòa bình được lập lại, cùng với sự đóng góp của du khách thập phương và sự quan tâm của chính quyền, Chùa Thiên Trù từng bước được xây dựng, trùng tu và tô điểm lại bằng những công trình kiến trúc đặc sắc, trở thành trung tâm của khu thắng cảnh chùa Hương

Động Hinh Bồng

Về Động Hinh Bồng trong Sách Dư địa chí, Phan Huy Chú viết: “Núi Hinh

Bồng ở ngoài núi Hương Tích, dưới chân núi có sông dài quanh co Hai bên có những núi đá thẳng như vách đứng từng hàng, có một con đường tắt đi xuyên vào coi như cửa Long Môn quỷ thần tạc ra Ở trên vách đá có hàng vạn nhũ đá rủ xuống như hạt châu chiếu xuống dòng nước, cảnh sắc như vẽ” [8, tr.101]

Năm 1770, Chúa Trịnh Sâm khi trẩy hội chùa Hương cũng đã đề thơ ở đây:

“Chân núi đường xuyên một nẻo dài, Hóa công mài chuốt đã bao đời

Non xanh, nhường thấy non không đất, Suối biếc, nhìn qua suối gặp trời

Đá nhuốm ráng chiều - nền gấm điểm, Sóng rung dải nhũ - hạt châu rơi Chim trời cá nước vui chung cảnh, Ngọn bút khôn đem tả hết lời.”

(Bản dịch của Quách Vinh) Tuy nhiên, động Hinh Bồng gốc vì một lý do nào đó đã bị vùi lấp và hiện vẫn chưa tìm ra được

Năm 1932, hội thiện làng Yến Vĩ đã xin quan tỉnh mở một động nhỏ trên núi Thung Gạo mượn tên là động Hinh Đồng Sang năm 1933, một tín đồ Phật tử tên là Hải hoát, quê Hải Phòng đã giúp đỡ tài trợ xây dựng thành chùa Năm 1943, một chuông đồng lớn được đúc và treo ở đây Đến năm 1992, do một chấn động lớn, cửa động đã bị lấp Sau đó những tảng đá lấp động đã được nhà chùa thuê dọn Hiện nay chùa đã xây dựng thêm ngôi tam bảo và điện mẫu để thờ Phật

Ngày đăng: 07/12/2022, 10:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh, Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1992 2. Toan Ánh, Nếp cũ – tín ngưỡng Việt Nam, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1991 3. Nguyễn Đức Bảng, Lịch sử chùa Hương Tích, Nxb Văn Hóa Dân Tộc, HàNội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Văn Hóa Sử Cương", Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1992 2. Toan Ánh, "Nếp cũ – tín ngưỡng Việt Nam", Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1991 3. Nguyễn Đức Bảng, "Lịch sử chùa Hương Tích
Nhà XB: Nxb TP. Hồ Chí Minh
4. Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Nhà XB: Nxb TP. Hồ Chí Minh
5. Trương Quốc Bình (2010), Việt Nam công tác quản lý di sản văn hóa, Du lịch Việt Nam, Số 7, Tr58-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam công tác quản lý di sản văn hóa, Du lịch Việt Nam
Tác giả: Trương Quốc Bình
Năm: 2010
6. Nguyễn Văn Bốn (2012), Đa dạng văn hóa Việt Nam từ góc nhìn du lịch, Tạp chí Du lịch, Số 5, Tr 28-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng văn hóa Việt Nam từ góc nhìn du lịch, Tạp chí Du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Bốn
Năm: 2012
8. Phan Huy Chú, Lịch chiều hiến chương loại chí, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch chiều hiến chương loại chí
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
9. Nguyễn Đăng Duy, Các hình thái tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình thái tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn Hóa Thông Tin
10. Ngọc Hà, Hội xuân của người Việt – Những lễ hội xuân đặc sắc, Nxb Thời Đại, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội xuân của người Việt
Nhà XB: Nxb Thời Đại
11. Mai Thanh Hải, Tôn giáo thế giới và Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo thế giới và Việt Nam
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
12. Hồ Hoàng Hoa, Lễ hội một nét đẹp trong văn hóa cộng đồng, Nxb Khoa Học Xã Hội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội một nét đẹp trong văn hóa cộng đồng
Nhà XB: Nxb Khoa Học Xã Hội
13. Phạm Đức Hiếu, Chùa Hương Tích, Cảnh quan và Tín ngưỡng, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Hương Tích, Cảnh quan và Tín ngưỡng
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
14. Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu, Du lịch bền vững, Nxb Đại học Quốc Gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch bền vững
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia
15. Hội đồng quốc gia (nhiều tác giả), Từ điển bách khoa Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
17. Đinh Gia hánh, Lê Hữu Tầng (chủ biên), Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
19. Nguyễn Thăng Long, Nghiên cứu ảnh hưởng của tính thời vụ đến hoạt động du lịch ở Việt Nam, Viện nghiên cứu và phát triển du lịch, Hà Nội, 2000 20. Trần Văn Mậu, Lữ hành du lịch, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của tính thời vụ đến hoạt động du lịch ở Việt Nam", Viện nghiên cứu và phát triển du lịch, Hà Nội, 2000 20. Trần Văn Mậu, "Lữ hành du lịch
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
21. Hữu Ngọc (chủ biên), Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam, Nxb Thế Giới, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thế Giới
22. Nguyễn Quân, Phan Cẩm Phƣợng, Mỹ thuật của người Việt, Nxb Mỹ thuật Hà Nội, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thuật của người Việt
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật Hà Nội
23. Võ Quế, Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại Chùa Hương – Hà Tây, Viện nghiên cứu phát triển du lịch, Hà nội, 2003 24a. Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam, Luật di sản, 200124b. Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam, Luật du lịch, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại Chùa Hương – Hà Tây", Viện nghiên cứu phát triển du lịch, Hà nội, 2003 24a. Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam, "Luật di sản, 2001" 24b. Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam
26. Nguyễn Minh San, Tiếp cận tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận tín ngưỡng dân gian Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
47. Trang web lịch sử Việt Nam: http://www.lichsuvietnam.vn/home.php?option=com_content&task=view&id=933&Itemid=65Tài liệu tham khảo bằng tiếng Anh từ các website Link
49. ICOMOS (International Scientific Committee on Tourism Culture): http://www.besteducationnetwork.org/modules_festivals.php http://www.icomos.org/tourism/ Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Sơ đồ chùa Hương - Luận văn thạc sĩ USSH nghiên cứu du lịch lễ hội chùa hương ở huyện mỹ đức, hà nội
Hình 1. Sơ đồ chùa Hương (Trang 35)
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp lượng khách đến chùa Hương - Luận văn thạc sĩ USSH nghiên cứu du lịch lễ hội chùa hương ở huyện mỹ đức, hà nội
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp lượng khách đến chùa Hương (Trang 52)
Bảng 2.4 Đánh giá mức quan tâm tâm của du khách đến các tuyến - Luận văn thạc sĩ USSH nghiên cứu du lịch lễ hội chùa hương ở huyện mỹ đức, hà nội
Bảng 2.4 Đánh giá mức quan tâm tâm của du khách đến các tuyến (Trang 54)
Bảng 2.3 Trình độ học vấn của du khách - Luận văn thạc sĩ USSH nghiên cứu du lịch lễ hội chùa hương ở huyện mỹ đức, hà nội
Bảng 2.3 Trình độ học vấn của du khách (Trang 54)
Bảng 2.5 Bảng số liệu đánh giá dịch vụ vui chơi giải trí tại Chùa Hương - Luận văn thạc sĩ USSH nghiên cứu du lịch lễ hội chùa hương ở huyện mỹ đức, hà nội
Bảng 2.5 Bảng số liệu đánh giá dịch vụ vui chơi giải trí tại Chùa Hương (Trang 60)
Bảng 2.7 Bảng đánh giá chất lượng dịch vụ ăn uống tại chùa Hương - Luận văn thạc sĩ USSH nghiên cứu du lịch lễ hội chùa hương ở huyện mỹ đức, hà nội
Bảng 2.7 Bảng đánh giá chất lượng dịch vụ ăn uống tại chùa Hương (Trang 63)
Bảng 2.8: Thống kê CSLT tại ĐĐDL Hương Sơn tính đến T12/2010. - Luận văn thạc sĩ USSH nghiên cứu du lịch lễ hội chùa hương ở huyện mỹ đức, hà nội
Bảng 2.8 Thống kê CSLT tại ĐĐDL Hương Sơn tính đến T12/2010 (Trang 64)
Bảng 2.9 Đánh giá của du khách về dịch vụ lưu trú - Luận văn thạc sĩ USSH nghiên cứu du lịch lễ hội chùa hương ở huyện mỹ đức, hà nội
Bảng 2.9 Đánh giá của du khách về dịch vụ lưu trú (Trang 65)
Bảng 2.10 Đánh giá của du khách về môi trường - Luận văn thạc sĩ USSH nghiên cứu du lịch lễ hội chùa hương ở huyện mỹ đức, hà nội
Bảng 2.10 Đánh giá của du khách về môi trường (Trang 66)
Bảng 2.11 Mô hình quản lý lễ hội chùa Hương - Luận văn thạc sĩ USSH nghiên cứu du lịch lễ hội chùa hương ở huyện mỹ đức, hà nội
Bảng 2.11 Mô hình quản lý lễ hội chùa Hương (Trang 71)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w