Phương pháp luận triết học góp phần nghiên cứu và củng cố mối quan hệ biện chứng giữa pháp luật với đạo đức, dân chủ và tự do...4 c.. Triết học tìm ra những quy luật chung nhất chi phối
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM MÔN: TRIẾT HỌC
ĐỀ BÀI CHUYÊN ĐỀ 1
“Hãy lấy ví dụ chứng minh vai trò phương pháp luận
triết học đối với nghiên cứu khoa học pháp lý”
HÀ NỘI - 2022
Trang 3MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU 1
II NỘI DUNG 1
1.Khái niệm : 1
a.Triết học là gì ? 1
b.Phương pháp luận là gì ? 2
c.Khoa học pháp lý là gì ? 2
2.Vai trò của phương pháp luận triết học với nghiên cứu khoa học pháp lý 2
a Phương pháp luận triết học là cơ sở hình thành các học thuyết pháp lý 3
b Phương pháp luận triết học góp phần nghiên cứu và củng cố mối quan hệ biện chứng giữa pháp luật với đạo đức, dân chủ và tự do 4
c Nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa Nhà nước và pháp luật 7
d Nghiên cứu mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền và quyền con người 9
e Phương pháp luận triết học giúp việc nghiên cứu khoa học pháp lý được thực hiện chính xác, có cơ sở khoa học và tránh những ảnh hưởng chủ quan bởi thế giới duy tâm, tôn giáo, phản khoa học khác 10
III KẾT LUẬN 10
IV DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 4I MỞ ĐẦU
Triết học là một hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới
và vị trí của con người trong thế giới đó , có tính khái quát và tính trừu tượng cao
Mà mục đích của mọi nghiên cứu khoa học đều là tìm ra được bản chất, quy luật vận động của sự vật, hiện tượng Với ý nghĩa đó, triết học đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu khoa học pháp lý
nói riêng Để cụ thể hóa vai trò đó, nhóm 2 xin phép lựa chọn nội dung:“Hãy lấy
ví dụ chứng minh vai trò phương pháp luận triết học đối với nghiên cứu khoa học pháp lý” làm đề tài cho bài tiểu luận chuyên đề 1 của mình.
II NỘI DUNG 1.Khái niệm :
a.Triết học là gì ?
Có nhiều cách quan niệm khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau Triết học tìm ra những quy luật chung nhất chi phối
sự vận động của thế giới nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng các
lý luận, học thuyết, lý thuyết Cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội và với tư cách là một khoa học
“ Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới,
về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó” ( Trích Giáo trình
Triết học, xuất bản năm 2007, trang 8)
b.Phương pháp luận là gì ?
Phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là hệ thống các quan điểm chỉ
đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp
Phương pháp luận triết học là những quan điểm, nguyên tắc chung nhất, là
xuất phát điểm cho việc xác định các phương pháp luận bộ môn, các phương pháp luận chung và các phương pháp hoạt động cụ thể của hoạt động nhận thức và thực tiễn Các hình thức phương pháp luận trên hợp thành một hệ thống , khoa học về phương pháp chỉ đạo nhằm xác định, lựa chọn và xây dựng các phương pháp cụ thể đúng đắn và khoa học
Trang 5c.Khoa học pháp lý là gì ?
Khoa học pháp lý là tổng thể tri thức được tích lũy có hệ thống về nội dung,
bản chất, phương pháp luận nghiên cứu bộ máy, khái niệm pháp lý, các nguyên lí, tính quy luật của các hiện tượng pháp luật, đời sống pháp luật của xã hội có giai cấp
Ở Việt Nam, khoa học pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần đảm bảo tính đúng đắn của hệ thống pháp luật, tạo phương pháp luận cho việc xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh cũng như cho việc áp dụng thống nhất pháp luật theo đúng nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; góp phần tích cực đối với việc xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
2.Vai trò của phương pháp luận triết học với nghiên cứu khoa học pháp lý
Triết học với tư cách là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thế giới
và vai trò của con người trong thế giới đó, là khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy Triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất cùng với chức năng thế giới quan Mỗi quan điểm lý luận của triết học đồng thời là một nguyên tắc trong việc xác định phương pháp Phương pháp luận triết học là phương pháp luận chung nhất (phổ biến) , được dùng làm điểm xuất phát cho việc xác định các phương pháp luận chung, các phương
pháp luận ngành và các phương pháp hoạt động khác của con người Phương pháp luận triết học có vai trò chỉ đạo phương pháp nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có ngành khoa học pháp lý.
Phương pháp luận của khoa học pháp lý là gì?
Phương pháp luận của khoa học pháp lý là hệ thống các quan điểm, nguyên tắc xuất phát chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp cũng như xác định phạm vi, khả năng áp dụng phương pháp hợp lý, có hiệu quả tối đa khi nghiên cứu nội dung, bản chất của các chế định pháp luật, các khái niệm, các quy luật và thuộc tính quy luật của những hiện tượng pháp luật trong đời sống xã hội
Phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý là gì?
Phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý có thể hiểu đó là những phương pháp nghiên cứu khoa học được vận dụng vào hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý Nói cách khác, đó chính là cách thức tiến hành các công việc nghiên cứu
Trang 6mà người làm công tác nghiên cứu cần phải thực hiện để thu thập được những bằng chứng, dữ liệu
Phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý thường được chia thành hai nhóm phương pháp: phương pháp định tính và phương pháp định lượng rồi từ đó mới
phân chia thành các phương pháp nhỏ lẻ, cụ thể hơn Mà bản chất phương pháp
định tính và phương pháp định lượng lại xuất phát từ phương pháp luận của triết học.
a Phương pháp luận triết học là cơ sở hình thành các học thuyết pháp lý
Trên cơ sở học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng đường lối chính trị của Đảng cộng sản Việt Nam, các học thuyết pháp lí ở nước ta cũng được hình thành Học thuyết pháp lý có ảnh hưởng rất lớn đến thực tiễn nhà nước và pháp luật Giới cầm quyền chịu ảnh hưởng của những học thuyết pháp lí nhất định
và từ đó hình thành trước những ý niệm về một nhà nước và hệ thống pháp luật cần phải có Học thuyết pháp lí không chỉ ảnh hưởng đến việc hình thành một hệ thống pháp luật cụ thể về cơ cấu, về mục đích, nguyên tắc, phương thức điều chỉnh mà còn đem lại những hiểu biết chung, những quan niệm về các giá trị của công bằng, dân chủ từ đó mà ảnh hưởng đến các quyết định lập pháp, những phán quyết của
cơ quan nhà nước trong quá trình áp dụng pháp luật Xu hướng hiện nay của khoa học pháp lí Việt Nam là vận dụng học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, tiếp thu các giá trị chung của nền văn minh nhân loại đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam
Học thuyết pháp lí không phải là sản phẩm chỉ có ý nghĩa kinh viện, nó có ảnh hưởng rất lớn đến thực tiễn nhà nước và pháp luật Giới quyền lực bao giờ cũng chịu ảnh hưởng của những quan niệm học thuyết pháp lí nhất định và từ đó hình thành trước những ý niệm về một nhà nước và hệ thống pháp luật cần phải có Thực tế cũng đã chứng minh rằng không có hệ thống pháp luật nước nào có thể đầy đủ hoàn toàn để điều chỉnh mọi quan hệ xã hội cần được điều chỉnh Học thuyết pháp lí không chỉ ảnh hưởng đến việc hình thành một hệ thống pháp luật cụ thể về cơ cấu, về mục đích, nguyên tắc, phương thức điều chỉnh mà còn đem lại những hiểu biết chung, những quan niệm về các giá trị của công bằng, dân chủ, tiến bộ từ đó mà ảnh hưởng đến các quyết định lập pháp, những phán quyết của
cơ quan nhà nước trong quá trình áp dụng pháp luật
Trang 7Trong lĩnh vực luật hiến pháp, tư duy triết học là cơ sở khoa học cho các nguyên tắc và quy tắc hiến pháp Nguyên tắc phân chia quyền lực trong tổ chức quyền lực nhà nước cũng vậy, tiếp cận triết học sẽ cho phép nhận thức đúng bản chất và từ đó mới có sự áp dụng đúng đắn trên thực tiễn nguyên tắc phân chia quyền lực Phải nhận thức vấn đề phân chia quyền lực - sự thống nhất của các mặt đối lập, thống nhất là tuyệt đối, độc lập, phân chia là tương đối trong thể thống nhất về quyền lực nhà nước, quyền lực nhà nước về bản chất là thống nhất Những
sự kiện trên thế giới trong hơn nửa thế kỷ qua như: một quốc gia hai chế độ, sự thành lập và củng cố các liên minh nhà nước, quốc hội, hiến pháp chung của các thiết chế này v.v đã làm tăng thêm tính đa dạng trong đời sống chính trị - pháp lý toàn cầu Nhưng điều này cần phải được giải thích dưới góc nhìn của phương pháp luận triết học
b Phương pháp luận triết học góp phần nghiên cứu và củng cố mối quan
hệ biện chứng giữa pháp luật với đạo đức, dân chủ và tự do.
Trong khoa học pháp lý, khi nghiên cứu để đạt được hiệu quả tốt nhất thì bên cạnh việc áp dụng phương pháp luận chuyên ngành còn phải sử dụng đồng thời các phương pháp luận của triết học, như phương pháp biện chứng, phương pháp siêu hình,…để có thể đánh giá, nhận định một cách chính xác nhất về bản chất của các chế định pháp luật trong sự tương quan đối với các lĩnh vực khác như đạo đức, tôn giáo,dân chủ và tự do
Trong điều kiện Nhà nước pháp quyền dân chủ, các vấn đề chi phối sự quan tâm của mỗi cá nhân, cộng đồng, quốc gia là tương quan giữa đạo đức, pháp luật, dân chủ và tự do Những vấn đề này cũng đã được thể chế hoá trong pháp luật Ví
dụ như, trong triết học, tự do là khái niệm để mô tả tình trạng khi cá nhân không chịu sự ép buộc, có cơ hội để lựa chọn và hành động theo đúng với ý chí nguyện vọng của chính mình Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tự do là mục đích tiếp theo, mục đích chính của độc lập Độc lập là để có tự do Độc lập, bản thân nó là sự tự
do cho một dân tộc; đồng thời phải đem lại tự do cho nhân dân, cho từng người
Hồ Chí Minh đã từng nói, nếu nước độc lập mà dân không được tự do, hạnh phúc thì độc lập cũng chưa có ý nghĩa gì Khi lập nước, Người đã đưa các thành tố “dân chủ” và “tự do” vào tên gọi của nước Việt Nam mới Ở Việt Nam, từ khi thành lập cho đến nay, Nhà nước luôn luôn tôn trọng các quyền tự do cơ bản của công dân
và coi đó là một trong những nguyên tắc xây dựng pháp luật của Nhà nước Nhà nước ta đã ghi nhận các quyền tự do cơ bản của công dân trong Hiến pháp và pháp
Trang 8luật Các quyền con người, quyền tự do của công dân Việt Nam do pháp luật quy định gồm có: Quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền có nơi ở hợp pháp, quyền ,tự do cư trú, tự do kinh doanh, tự do đi lại, tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận và báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình,tự do nghiên cứu, sáng tác, tự do lựa chọn nghề nghiệp mưu sinh, tự do hôn nhân…
Tuy nhiên , tự do có tính tương đối Trên thực tế không bao giờ có quyền tự
do tuyệt đối cả, mà nó còn bị giới hạn bởi các yếu tố như luật pháp, phong tục tập quán, đạo đức xã hội Ví dụ như : Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được quy
định trong Hiến pháp năm 2013 “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo
chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” và nhiều đạo luật quan trọng như Luật Báo chí, Luật An ninh
mạng
Tuy nhiên, cũng như các quyền khác của công dân, việc thực hiện quyền tự
do ngôn luận, tự do báo chí phải trong khuôn khổ pháp luật quy định Theo đó, khi thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, công dân phải tuân thủ các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ chế độ xã hội, bảo vệ nhà nước và không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người khác
Như vậy ,quyền phải đi liền với trách nhiệm, con người muốn tự do phải hiểu
rõ nghĩa vụ, bổn phận của mình trước pháp luật, trước xã hội, mình được làm gì, và không được làm gì, quyền tự do ngôn luận cũng phải nằm trong khuôn khổ như vậy
Và cũng phải khẳng định rằng , pháp luật là công cụ cơ bản quyết định việc giữ gìn và mở rộng tự do cá nhân, đồng thời bảo đảm cho cá nhân tránh khỏi sự tuỳ tiện và ý chí độc đoán của những người cầm quyền Các nhà tư tưởng lỗi lạc của nhân loại đã lý giải và xây dựng những đề án về tự do: "Tự do được thừa nhận về mặt pháp lý tồn tại trong nhà nước dưới hình thức pháp luật Luật pháp là những tiêu chuẩn khẳng định tích cực, rõ ràng, phổ biến trong đó tự do có được sự tồn tại không phụ thuộc vào sự tuỳ tiện của cá nhân riêng lẻ Bộ luật là kinh thánh tự do của nhân dân" Từ J.Lôcke đến Montesquieu với tác phẩm bất hủ vượt thời gian
"Tinh thần pháp luật", đã xây dựng lí thuyết phân chia quyền lực và khẳng định, ở đâu không có pháp luật thì cũng không có tự do
Giống như pháp luật với tự do , dân chủ , đạo đức và pháp luật không thay thế nhau và loại trừ nhau mà luôn tồn tại trong một thể thống nhất Pháp luật hay đạo đức cũng đều phải giải quyết vấn đề lợi ích, vấn đề tương quan giữa quyền và nghĩa vụ, sự tôn trọng và bảo đảm, bảo vệ, tôn vinh các giá trị, các quyền con
Trang 9người Đây là những điều kiện thiết yếu để thực hành đạo đức, dân chủ, tự do và pháp luật Có thể thấy đạo đức là nền tảng tinh thần để thực hiện các quy định của pháp luật Các cá nhân trong xã hội thực hiện một hành vi pháp luật hợp pháp không phải vì họ hiểu các quy định của pháp luật mà có thể do xuất phát từ các quy tắc của đạo đức Nhiều quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi các chuẩn mực đạo đức được nhà nước sử dụng và nâng lên thành quy phạm pháp luật Đồng thời, pháp luật không chỉ là sự ghi nhận các chuẩn mực đạo đức, mà còn là công cụ phương tiện bảo vệ chuẩn mực đạo đức một cách hữu hiệu bằng các biện pháp, chế tài cụ thể Pháp luật có vai trò to lớn trong việc duy trì, bảo vệ và phát triển các quy tắc đạo đức phù hợp, tiến bộ trong xã hội
Pháp luật tác động đến đạo đức thể hiện rất rõ qua nhiều khía cạnh Ví dụ theo
quy định tại điểm c khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015: “Mục đích và nội
dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội” Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho
phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội được mọi người thừa nhận và tôn trọng
Hay trong Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 theo quy định tại điều 8 thì điều kiện kết hôn như sau:
“Điều 8 Điều kiện kết hôn
1 Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: a) Nam từ
đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết
định; c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này”.
Pháp luật đã bỏ các chuẩn mực đạo đức lỗi thời, loại bỏ tư tưởng cha mẹ đặt đâu con ngồi đó, tảo hôn, kết hôn sớm…
Như vậy , từ mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức cho thấy đạo đức và
pháp luật có mối quan hệ biện chứng với nhau Một xã hội có nền tảng đạo đức tốt
sẽ là cơ sở để pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và tự giác Mặt khác, pháp luật nghiêm sẽ hỗ trợ đắc lực cho việc giữ gìn, phát triển nền đạo đức xã hội tốt đẹp.Đây cũng là 1 khái niệm rút ra từ phương pháp luận triết học
Trang 10c Nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa Nhà nước và pháp luật
Trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật không chỉ phải quan tâm đến sự thống nhất nội tại, sự cần thiết có nhau của nhà nước và pháp luật mà còn phải xem xét đến sự khác biệt, sự không tương thích, hay những mâu thuẫn tất yếu của nhà nước và pháp luật Sự thống nhất bao hàm sự khác biệt, không đồng nhất, không thay thế nhau và loại trừ nhau, nhà nước và pháp luật luôn luôn tồn tại trong một thể thống nhất Tuy nhiên, bất kỳ một sự thông nhất nào cũng không có nghĩa là đồng nhất Đó chính là biện chứng của nhà nước và pháp luật trong mối quan hệ sinh tồn của chúng
Sự tác động của nhà nước đến pháp luật thể hiện trước hết là ở việc nhà nước ban hành, thay đổi, hủy bỏ, hoàn thiện pháp luật , bảo vệ pháp luật khỏi sự vi phạm, bảo đảm pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống Pháp luật là sản phẩm trực tiếp của hoạt động nhà nước Pháp luật có vai trò điều chỉnh hoạt động nhà nước và các quan hệ xã hội Mặt khác, hoạt động của nhà nước về cơ bản là mang tính pháp lí
Pháp luật là mục đích tồn tại của nhà nước Pháp luật là phượng tiện kiểm soát hoạt động nhà nước, xác định giới hạn cho phép hay không cho phép, đảm bảo
sự kiểm soát đối với nhà nước bằng pháp luật mà quy định cơ cấu tổ chức bên trong và hoạt động của nhà nước, của các cơ quan nhà nước Nhờ có pháp luật mà nhà nước thực hiện được các nhiệm vụ, chức năng, chính sách đối nội và đối ngoại của mình, xác định chế đội chính trị, kinh tế, xã hội, quy chế pháp lý đối với các cá nhân Toàn bộ hoạt động nhà nước đều xuất phát từ chế độ pháp luật, trong các hình thức pháp luật và các trình tự thủ tục pháp luật
Pháp luật có vai trò cũng cố hoàn thiện nhà nước để thích ứng sự phát triển khách quan của xã hội Không có chế độ nhà nước nào có thể thiếu pháp luật hay ngoài pháp luật Sự hoàn thiện tiến bộ hay lạc hậu, trì trệ của pháp luật sẽ kéo theo
sự hoàn thiện hay trì trệ, lạc hậu của nhà nước và ngược lại Việc đổi mới, hoàn thiện nhà nước và pháp luật chỉ thực sự có ý nghĩa và hiệu quả khi được tiến hành song song, đồng bộ trên cơ sở giám sát và tham gia,đánh giá khách quan của toàn
xã hội Hiệu lực, hiệu quả của nhà nước và pháp luật tác động phụ thuộc lẫn nhau Nhà nước và pháp luật Việt Nam cùng ra đời và thống nhất với nhau Nhà nước bảo vệ pháp luật thực thi hiệu quả nhất Nhà nước có một bộ máy cưỡng chế đặc biệt đảm bảo cho việc thực thi pháp luật được diễn ra như nhà tù,cảnh sát,tòa án,…