1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TRUNG TÂM THÔNG TIN - ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN PHỤC VỤ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ BẢN TIN CHỌN LỌC SỐ 25 (06/8 – 10/8/2017)

26 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trung tâm Thông tin - Ứng dụng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ Thông tin Phục vụ Quản lý Nhà nước về Khoa học và Công nghệ Bản Tin Chọn lọc Số 25 (06/8 – 10/8/2017)
Trường học Trung tâm Thông tin - Ứng dụng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ Thông tin phục vụ Quản lý Nhà nước
Chuyên ngành Khoa học và Công nghệ Thông tin
Thể loại Bản tin chọn lọc
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRUNG TÂM THÔNG TIN - ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN PHỤC VỤ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Những điểm mới trong dự thảo Nghị định thay thế Nghị định về doan

Trang 1

TRUNG TÂM THÔNG TIN - ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN PHỤC VỤ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Những điểm mới trong dự thảo Nghị định thay thế Nghị

định về doanh nghiệp KH&CN

Diễn đàn: “Sáng tạo trong kỷ nguyên Cách mạng 4.0”

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THẾ GIỚI

Xu hướng công nghệ tương lai: Công nghệ tích trữ năng

lượng tiên tiến

Ứng dụng của Internet kết nối vạn vật trong lĩnh vực nhà ở

thông minh, các tòa nhà và cơ sở hạ tầng thông minh

Robot lươn chứa cảm biến phát hiện nguồn ô nhiễm trong

nước

Chế độ ăn nhiều chất béo của bà mẹ trong thai kỳ có thể

gây ra những rối loạn về sức khoẻ tâm thần ở thế hệ con

cái

Ăn nhiều đường có thể gây hại sức khỏe tinh thần của đàn

ông

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG NƯỚC

Nghiên cứu chuyển gen nâng cao tính chịu hạn vào một số

dòng ngô bố mẹ đang được áp dụng trong sản xuất

Nghiên cứu xây dựng hệ thống nhân giống cây cà phê chè

(Arabica L.) bằng công nghệ Bioreactor

Trang 2

TIN TỨC - SỰ KIỆN

Tìm ra điểm yếu để cải thiện chỉ số đổi mới sáng tạo ở địa phương

(Khoa học và Phát triển) Đánh giá thực trạng các chỉ số đổi mới sáng tạo để đưa ra

giải pháp cải thiện là yêu cầu quan trọng nhất mà các địa phương trong cả nước cần tập trung thực hiện trong thời gian tới

Đó là ý kiến của Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Trần Quốc Khánh tại hội thảo hướng dẫn triển khai thực hiện cải thiện Chỉ số đổi mới sáng tạo tại địa phương theo Nghị quyết 19-2017/NQ-CP, do Bộ KH&CN tổ chức tại TPHCM ngày 3/8, với sự tham dự của đại diện 32 tỉnh, thành phố khu vực phía Nam

Theo Thứ trưởng Trần Quốc Khánh, chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index-GII) với 82 chỉ số thành phần là một bộ công cụ đánh giá xếp hạng năng lực đổi mới sáng tạo của các quốc gia và nền kinh tế Chỉ số này được Tổ chức

Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) phối hợp với Trường kinh doanh INSEAD (Pháp) và Đại học Cornell (Mỹ) xây dựng lần đầu vào năm 2007

Thứ trưởng Trần Quốc Khánh phát biểu tại hội thảo

Trang 3

Phương pháp đánh giá được liên tục hoàn thiện qua các năm, và là hệ quy chiếu toàn diện nhất để đánh giá năng lực đổi mới sáng tạo của các quốc gia, các nền kinh tế Chỉ

số đổi mới sáng tạo toàn cầu bên cạnh việc phản ánh hiện trạng phát triển của nền kinh

tế còn phản ánh tiềm lực phát triển của quốc gia trong dài hạn, với rất nhiều những thông số tham chiếu có tính hệ thống, toàn diện và khách quan

Thứ trưởng cho biết, ngày 6/2/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết

19-2017/NQ-CP về việc tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm

2020 Nghị quyết 19-2017/NQ-CP lần đầu tiên đưa nội dung cải thiện bộ chỉ số đổi mới sáng tạo với 82 chỉ số thành phần Chính phủ đã phân công từng bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm cải thiện 250 chỉ số cụ thể liên quan đến môi trường kinh doanh, đổi mới sáng tạo, năng lực cạnh tranh và chính phủ điện tử

Bộ KH&CN được phân công làm đầu mối theo dõi tình hình thực hiện cải thiện các chỉ số về đổi mới sáng tạo Nghị quyết cũng nêu rõ, các bộ, ngành, địa phương cần phân công đơn vị chịu trách nhiệm chủ trì thực hiện cải thiện chỉ số được phân công, xây dựng giải pháp và kế hoạch thực hiện cụ thể; có cán bộ đầu mối phụ trách theo dõi việc thực hiện, phối hợp và báo cáo kết quả thực hiện hàng quý cho Bộ KH&CN để tổng hợp báo cáo Chính phủ

Ông Hoàng Minh - Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN

Tháng 6/2017, WIPO đã công bố báo cáo xếp hạng Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2017 Trong đó Việt Nam xếp hạng 47 trên 127 quốc gia và nền kinh tế, cải thiện

12 bậc so với xếp hạng năm 2016 Trong nhóm các nước thu nhập trung bình thấp, Việt Nam đã vươn lên xếp hạng thứ nhất (thứ ba năm 2016) Trong khu vực Đông Nam Á - Đông Á - châu Đại Dương, Việt Nam vươn lên xếp thứ 9 Riêng trong ASEAN, Việt Nam vươn lên xếp thứ 3 và đứng trên Thái Lan

Tuy nhiên, theo ông Hoàng Minh - Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, xếp hạng chỉ là phần nhỏ, quan trọng là Việt Nam cần nhận ra những điểm yếu của mình thông qua từng chỉ số, qua đó nỗ lực cải thiện chỉ số này

Ông Minh đưa ra thực tế, Việt Nam xếp hạng tốt ở chỉ số xuất khẩu công nghệ, sản phẩm sáng tạo, nhưng chỉ số về các công ty nghiên cứu và phát triển toàn cầu còn yếu

Trang 4

Việt Nam chưa có được một công ty nghiên cứu và phát triển toàn cầu nào Ngoài ra,

số đơn đăng ký quốc tế sáng chế và xuất khẩu dịch vụ công nghệ thông tin, truyền thông cũng là điểm yếu của Việt Nam

Ông Minh cho rằng, Việt Nam cần xác định tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tăng trưởng đổi mới sáng tạo, đây là động lực cho gia tăng giá trị của xuất khẩu và FDI; tận dụng đòn bẩy của giáo dục cho tăng cường đổi mới sáng tạo Đổi mới sáng tạo cơ bản liên quan đến cá nhân, nên cần tạo động lực cho từng sinh viên, nghiên cứu sinh và kể

cả doanh nghiệp khởi nghiệp để chứng minh cho họ về khả năng phá bỏ cái cũ, tạo ra cái mới, khuyến khích đổi mới sáng tạo

Tại hội thảo, nhiều đại biểu mong muốn Bộ KH&CN cần truyền thông mạnh về chỉ số đổi mới sáng tạo để lan tỏa ra cộng đồng; tổ chức những buổi tập huấn, hướng dẫn chi tiết, cụ thể việc triển khai 19-2017/NQ-CPvà nên đưa ra một phương pháp đánh giá chung để các địa phương áp dụng

Thứ trưởng Trần Quốc Khánh cho rằng, tiếp cận, nghiên cứu, tìm hiểu phương pháp, cách tính toán và đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện chỉ số đổi mới sáng tạo là công việc mới và khó đối với các bộ, ngành và địa phương; thậm chí khó ngay cả đối với Bộ KH&CN

Sau khi Nghị quyết 19-2017/NQ-CP được ban hành, Bộ KH&CN đã tích cực, khẩn trương thực hiện các hoạt động hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương như: Phối hợp với WIPO tổ chức hội thảo hướng dẫn thực hiện Nghị quyết 19; xây dựng và gửi các

bộ, ngành, địa phương tài liệu hướng dẫn về định nghĩa, cách tính toán, nguồn dữ liệu của các chỉ số đổi mới sáng tạo, gửi kết quả chỉ số đổi mới sáng tạo năm 2017 và nhiệm vụ đặt ra đối với từng chỉ số

Thứ trưởng Trần Quốc Khánh đề nghị các địa phương chủ động nghiên cứu các chỉ số, phương pháp tính toán, đề xuất các giải pháp cải thiện các chỉ số đổi mới sáng tạo Đồng thời, UBND các tỉnh, thành phố cần giao cho mỗi đơn vị làm đầu mối theo dõi từng chỉ số cụ thể

Trang 5

Những điểm mới trong dự thảo Nghị định thay thế Nghị định về doanh nghiệp

KH&CN

(Cục Phát triển Thị trường và Doanh nghiệp KH&CN) - Để tháo gỡ những khó

khăn, vướng mắc trong việc triển khai thực hiện các chính sách về doanh nghiệp KH&CN, Cục Phát triển Thị trường và Doanh nghiệp KH&CN đang thực hiện những bước cuối cùng để hoàn thiện dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 80/2007/NĐ-CP và Nghị định số 96/2010/NĐ-CP về doanh nghiệp KH&CN (sau đây gọi tắt là Dự thảo) Bài viết khái quát về thực tiễn doanh nghiệp KH&CN và giới thiệu những nội dung thay đổi chính của Dự thảo

Thực trạng doanh nghiệp KH&CN của Việt Nam

Phát triển doanh nghiệp KH&CN đã được khẳng định là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của phát triển KH&CN Chính vì vậy, trong những năm qua, để tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở pháp lý cho phát triển doanh nghiệp KH&CN, một số văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành như: Nghị định số 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp KH&CN, Nghị định số 96/2010/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 115/2005/NĐ-CP và Nghị định số 80/2007/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT-BKHCN-BTC-BNV và Thông tư liên tịch số 17/2012/TTLT-BKHCN-BTC-BNV hướng dẫn thực hiện Nghị định số 80/2007/NĐ-CP

Sau 9 năm triển khai (2007-2016), các chính sách về doanh nghiệp KH&CN đã góp phần hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp KH&CN, cũng như kích thích doanh nghiệp thực hiện hoạt động nghiên cứu và phát triển, tạo ra kết quả KH&CN để thành lập doanh nghiệp KH&CN Tính đến tháng12/2016, cả nước có 250 doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN và nhiều hồ sơ đăng ký chứng nhận đang trong quá trình thẩm định 46 Sở KH&CN trên cả nước đã tiến hành cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN Những tỉnh, thành phố có số lượng doanh nghiệp KH&CN được cấp nhiều là: Hà Nội: 34; TP Hồ Chí Minh: 26; Thanh Hóa: 14

Doanh nghiệp KH&CN được cấp Giấy chứng nhận tập trung ở 7 lĩnh vực công nghệ theo quy định tại Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT-BKHCN-BTC-BNV hướng dẫn thực hiện Nghị định số 80/2007/NĐ-CP của Chính phủ về doanh nghiệp KH&CN, trong đó chủ yếu là: Công nghệ sinh học: 47%, công nghệ tự động hóa: 16,7%, công nghệ vật liệu mới: 14,05% Đa phần các doanh nghiệp đều sử dụng những kết quả

Trang 6

KH&CN không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước (do doanh nghiệp tự nghiên cứu hoặc nhận chuyển giao) để đăng ký chứng nhận doanh nghiệp KH&CN

Trong số 250 doanh nghiệp KH&CN đã được cấp Giấy chứng nhận chỉ có có 1 doanh nghiệp giải thể, 7 doanh nghiệp ngừng hoạt động, 3 doanh nghiệp đã thu hồi giấy chứng nhận (do chuyển hoạt động sản xuất, kinh doanh sang địa bàn khác và không hoạt động trong lĩnh vực đăng ký), còn hầu hết đều đang phát triển tốt

Bên cạnh một số thành công nhất định, trong thực tiễn triển khai và áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật về doanh nghiệp KH&CN cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, nhiều nội dung cũng không còn phù hợp với Luật KH&CN năm 2013, cụ thể:

- Quy định về điều kiện và hồ sơ đăng ký chứng nhận doanh nghiệp KH&CN còn phức tạp và gây khó khăn cho doanh nghiệp, nhất là trong việc chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp kết quả nghiên cứu KH&CN, cũng như doanh nghiệp phải giải trình quá trình ươm tạo và làm chủ công nghệ

- Điều kiện hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp KH&CN chưa hợp lý và bất cập so với điều kiện thực tiễn của doanh nghiệp: Doanh nghiệp rất khó có thể đạt được điều kiện doanh thu của các sản phẩm, hàng hoá hình thành từ kết quả KH&CN trong năm thứ nhất từ 30% tổng doanh thu trở lên, năm thứ hai từ 50% tổng doanh thu trở lên và năm thứ ba trở đi từ 70% tổng doanh thu trở lên để được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp

- Chính sách ưu đãi về tín dụng và một số chính sách ưu đãi, hỗ trợ khác (chính sách

hỗ trợ thương mại hóa, ưu đãi sử dụng thiết bị phòng thí nghiệm ) đối với doanh nghiệp KH&CN còn chung chung, chưa có tiêu chí và mức hỗ trợ rõ ràng nên chưa được triển khai, áp dụng trong thực tiễn

- Một số chính sách ưu đãi vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể như chính sách miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước đối với doanh nghiệp KH&CN; chính sách ưu đãi về tín dụng đầu tư của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, dẫn tới doanh nghiệp vẫn chưa tiếp cận được với các chính sách ưu đãi đó hoặc tiếp cận rất khó khăn, doanh nghiệp không mặn mà với việc trở thành doanh nghiệp KH&CN nữa

Đề xuất các nội dung cần thay thế

Những hạn chế trong các văn bản quy phạm pháp luật trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển doanh nghiệp KH&CN Số lượng doanh nghiệp được chứng nhận sau 9 năm triển khai Nghị định số 80/2007/NĐ-CP còn khá khiêm tốn Con số này còn thấp hơn rất nhiều so với mục tiêu 5.000 doanh nghiệp KH&CN đến năm 2020 trong Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 Để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, Cục Phát triển Thị trường và Doanh nghiệp KH&CN đang xây dựng Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 80/2007/NĐ-CP và Nghị định số 96/2010/NĐ-CP về doanh nghiệp KH&CN, với những điểm mới chính như sau:

Về điều kiện và thủ tục, hồ sơ đề nghị chứng nhận doanh nghiệp KH&CN

Điều kiện về các yếu tố xác định kết quả KH&CN:

- Cụ thể hơn các yếu tố xác định kết quả KH&CN và mở rộng thêm một số yếu tố như: Giống cây trồng, giống vật nuôi đã được khảo nghiệm và công nhận chính thức; kết quả thực hiện nhiệm vụ đã đạt được các giải thưởng trong nước và quốc tế về

Trang 7

KH&CN; kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN không sử dụng ngân sách nhà nước đã được đánh giá

- Mở rộng các lĩnh vực được chứng nhận doanh nghiệp KH&CN: Quy định tất cả các lĩnh vực đều có thể được chứng nhận là doanh nghiệp KH&CN

Điều kiện để được chứng nhận là doanh nghiệp KH&CN:

- Về điều kiện quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp kết quả KH&CN: Ngoài các văn bằng bảo hộ sở hữu trí tuệ, quyết định giao quyền…, doanh nghiệp có thể tự cam kết về quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với kết quả KH&CN, đồng thời thông tin về quyền

sở hữu, quyền sử dụng kết quả KH&CN sẽ được đăng tải công khai trên cổng thông tin doanh KH&CN và các phương tiện thông tin đại chúng khác Nếu như bị xác định

có vi phạm về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản trí tuệ, doanh nghiệp sẽ bị hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN và bị truy thu toàn bộ các ưu đãi mà doanh nghiệp đã được hưởng

Ngoài ra, trường hợp kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tạo ra

do Nhà nước cấp một phần kinh phí để nghiên cứu hoặc nhận chuyển giao, doanh nghiệp được quyền sử dụng hợp pháp kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đó để đăng ký chứng nhận doanh nghiệp KH&CN mà không phải thực hiện thủ tục giao quyền

- Điều kiện về năng lực thực hiện nhiệm vụ KH&CN của doanh nghiệp được thể hiện qua kết quả KH&CN đã được đánh giá, công nhận và thực hiện chuyển giao công nghệ hoặc trực tiếp ứng dụng công nghệ vào sản xuất, kinh doanh trên cơ sở kết quả KH&CN đó

- Điều kiện về khả năng tạo ra doanh thu từ sản phẩm hình thành từ kết quả KH&CN của doanh nghiệp được thể hiện trong thực tế hoặc thông qua phương án sản xuất, kinh doanh Sau 5 năm, nếu doanh nghiệp không đáp ứng được tỷ lệ doanh thu tối thiểu sẽ

bị thu hồi Giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN

Hồ sơ đề nghị chứng nhận doanh nghiệp KH&CN:

- Đơn giản hóa việc giải trình quá trình ươm tạo và làm chủ công nghệ theo quy định

cũ thành:

+ Trường hợp công nghệ do doanh nghiệp tự nghiên cứu: Doanh nghiệp chỉ cần đính kèm bản sao văn bản đánh giá, công nhận kết quả KH&CN do cơ quan có thẩm quyền cấp

+ Trường hợp công nghệ do doanh nghiệp nhận chuyển giao: Doanh nghiệp cần trình bày thêm phương án tiếp nhận, vận hành, ứng dụng và phương án làm chủ công nghệ hoặc phát triển, cải tiến công nghệ đã nhận chuyển giao qua tính mới, tính cải tiến của sản phẩm hình thành từ công nghệ đã nhận chuyển giao

- Chi nhánh hạch toán độc lập của doanh nghiệp hoạt động với mô hình và pháp lý gần tương đương với một doanh nghiệp Do vậy, nếu đáp ứng đủ điều kiện chứng nhận doanh nghiệp KH&CN cũng được phép làm hồ sơ đề nghị chứng nhận doanh nghiệp KH&CN

Về nội dung liên quan đến việc chứng nhận doanh nghiệp KH&CN

Trang 8

Về thẩm quyền cấp, cấp thay đổi nội dung, cấp lại, thu hồi, hủy bỏ hiệu lực Giấy

chứng nhận doanh nghiệp KH&CN: Để tạo điều kiện thuận lợi và rút ngắn thời gian chứng nhận doanh nghiệp KH&CN, Dự thảo đã bổ sung thêm thẩm quyền của Bộ KH&CN trong một số trường hợp đặc biệt như: Kết quả KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước do Bộ KH&CN có thẩm quyền giao quyền sở hữu, quyền sử dụng; Tổ chức KH&CN công lập đã đăng ký hoạt động KH&CN tại Bộ KH&CN; Sở KH&CN không

đủ điều kiện cần thiết để thẩm định hồ sơ; Doanh nghiệp có chi nhánh, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn của nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Về thẩm định hồ sơ đề nghị chứng nhận doanh nghiệp KH&CN: Quy định trường hợp

hồ sơ có nội dung phức tạp mới thuê chuyên gia tư vấn độc lập hoặc thành lập hội đồng tư vấn KH&CN để giúp thẩm định hồ sơ đề nghị chứng nhận doanh nghiệp KH&CN Các trường hợp đơn giản khác không lập hội đồng để đơn giản hóa và rút ngắn thời gian cho doanh nghiệp Rút ngắn thời gian cấp giấy chứng nhận từ 30 ngày xuống còn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ của doanh nghiệp

Quy định lồng ghép hai thủ tục hành chính: Thủ tục đánh giá, xác nhận kết quả thực

hiện nhiệm vụ KH&CN không sử dụng ngân sách nhà nước và thủ tục giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước đồng thời với đăng

ký chứng nhận doanh nghiệp KH&CN được quy định lồng ghép, doanh nghiệp có thể đồng thời thực hiện 1 hồ sơ cho 2 thủ tục Qua đó đơn giản hóa và rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục hành chính của doanh nghiệp Ví dụ, nếu doanh nghiệp thực hiện thủ tục đánh giá, xác nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN không sử dụng ngân sách nhà nước và chứng nhận doanh nghiệp KH&CN tách rời thì sẽ mất tối đa 75 ngày (45 ngày cho việc đánh giá, xác nhận kết quả KH&CN và 30 ngày cho việc chứng nhận doanh nghiệp KH&CN trong trường hợp phức tạp) Nếu gộp 2 thủ tục này thì doanh nghiệp mất tối đa là 45 ngày

Nội dung ưu đãi, hỗ trợ đối với doanh nghiệp KH&CN

Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp: Đề xuất quy định hai trường hợp:

- Trường hợp doanh thu từ các sản phẩm hình thành từ kết quả KH&CN đạt tỷ lệ theo quy định, doanh nghiệp được miễn thuế, giảm thuế, áp dụng thuế suất ưu đãi đối với tổng thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp

- Trường hợp doanh thu từ các sản phẩm hình thành từ kết quả KH&CN không đạt tỷ

lệ quy định, doanh nghiệp được miễn thuế, giảm thuế, áp dụng thuế suất ưu đãi đối với thu nhập chịu thuế từ các sản phẩm hình thành từ kết quả KH&CN

Ưu đãi tiền thuê đất, thuê mặt nước: Đề xuất bổ sung quy định về thẩm quyền, thủ tục

xác nhận diện tích đất sử dụng cho hoạt động KH&CN: Giao Sở KH&CN chủ trì, phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường và cơ quan thuế

Đề xuất bổ sung quy định về miễn tiền thuê đất đối với diện tích đất sử dụng cho mục đích ứng dụng kết quả KH&CN của doanh nghiệp KH&CN Đề xuất này đảm bảo sự phù hợp với quy định của Luật Đất đai 2013 và bổ sung thêm quy định của Nghị định 46/2014/NĐ-CP về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước

Ưu đãi tín dụng: Đề xuất quy định cụ thể về dự án của doanh nghiệp KH&CN được

vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước (đề xuất bổ sung đồng thời vào dự thảo Nghị định mới về tín dụng đầu tư và dự thảo Nghị định về doanh nghiệp KH&CN)

Trang 9

Đề xuất quy định cụ thể các hình thức hỗ trợ của các Quỹ phát triển KH&CN của Nhà nước đối với doanh nghiệp KH&CN:

- Đối với các doanh nghiệp KH&CN có tài sản bảo đảm, Quỹ cho vay ưu đãi hoặc hỗ trợ lãi suất vay tối thiểu 50% lãi suất vay vốn tại ngân hàng thương mại thực hiện cho vay

- Đối với các doanh nghiệp KH&CN không có tài sản bảo đảm, Quỹ thực hiện cho vay

ưu đãi hoặc bảo lãnh để vay vốn tại các ngân hàng thương mại Trường hợp không có tài sản bảo đảm nhưng doanh nghiệp KH&CN chứng minh được năng lực thực hiện nhiệm vụ KH&CN và đề xuất của doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí về tính khả thi,

sự cần thiết thì vẫn được các Quỹ KH&CN hỗ trợ

Ưu đãi sử dụng kết quả KH&CN hình thành từ nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước: Doanh nghiệp KH&CN được quyền sở hữu kết quả KH&CN hình thành từ

nhiệm vụ KH&CN do Nhà nước hỗ trợ/hoặc đầu tư 100% kinh phí thực hiện trong trường hợp doanh nghiệp là tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ Đối với hai trường hợp này, doanh nghiệp KH&CN không phải thực hiện thủ tục giao quyền và được hưởng toàn bộ khoản lợi nhuận sau thuế (sau khi đã trả cho tác giả) để đầu tư cho hoạt động KH&CN

Hỗ trợ thương mại hóa kết quả KH&CN: Đề xuất bổ sung thêm quy định về trách

nhiệm đưa vào kế hoạch hàng năm xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia của các bộ/ngành (đối với những sản phẩm của doanh nghiệp KH&CN mà yêu cầu bắt buộc phải có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia quy định) nhằm tạo điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp KH&CN nhanh chóng đưa được sản phẩm KH&CN mới ra thị trường

Tóm lại, với tinh thần xuyên suốt trong quá trình xây dựng Dự thảo được xác định là: Thiết kế nên các chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho doanh nghiệp KH&CN có tính khả

thi cao; không chồng chéo; giảm tối đa thời gian và chi phí thực hiện các thủ tục hành chính nhằm hỗ trợ tối đa việc hình thành và phát triển hệ thống doanh nghiệp KH&CN Chúng ta tin tưởng rằng, nếu các chính sách này được thực hiện sẽ có tác động tích cực, lan tỏa tới cộng đồng doanh nghiệp trong việc đăng ký chứng nhận doanh nghiệp KH&CN, từ đó góp phần phát triển hệ thống doanh nghiệp KH&CN của Việt Nam cả về số lượng và chất lượng

Trang 10

Diễn đàn: “Sáng tạo trong kỷ nguyên Cách mạng 4.0”

(NASATI) Ngày 9/8/2017, tại Hà Nội diễn ra Diễn đàn sáng tạo trong kỷ nguyên

Cách mạng 4.0 với sự tham gia của doanh nhân trẻ, sinh viên Việt Nam trong và ngoài nước cùng 50 startup công nghệ hàng đầu Việt Nam và khu vực

Diễn đàn sáng tạo trong kỷ nguyên Cách mạng 4.0 nằm trong chuỗi sự kiện của chương trình Connecting Viet Youth 2017 với sự tham gia của 1000 doanh nhân trẻ và sinh viên Việt Nam trong và ngoài nước với 50 startups công nghệ hàng đầu Việt Nam

và khu vực, giúp trang bị cho giới trẻ một góc nhìn có chiều sâu về cuộc Cách mạng 4.0 đang diễn ra trên toàn thế giới

Chương trình được tổ chức bởi Cộng đồng Kiến tạo địa cầu (Global Shapers Community - Hanoi Hub) thuộc diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), Hội Sinh viên Việt Nam TP Hà Nội, Hội sinh viên Việt Nam tại Vương Quốc Anh (SVUK), Tổ chức tình nguyện vì giáo dục (V.E.O), và các hội sinh viên Việt Nam tại các nước (Mỹ, Ôxtrâylia, Pháp, Hàn Quốc, Hungary, Singapo)

Tại Diễn đàn sáng tạo trong kỷ nguyên Cách mạng 4.0, các đại biểu có cơ hội lắng nghe và trao đổi ý kiến với các diễn giả đến từ Tổ hợp giáo dục trực tuyến (TOPICA), Công ty Cổ phần Dịch vụ Di Động Trực tuyến (MOMO), Lumi Việt Nam và 50 startups hàng đầu Việt Nam và khu vực về 3 chuyên đề chính: Trí tuệ nhân tạo (Artificial intelligence) và dữ liệu lớn (Big data); IoT (Internet vạn vật): từ nhà thông minh đến thành phố thông minh; Công nghệ blockchain…

Ông Trần Quang Hưng - đồng sáng lập Up Co-working Space - cho biết, sự kiện này nằm trong chuỗi hoạt động Kết nối tuổi trẻ Việt (Connecting Viet Youth - CVY) được bắt đầu từ ngày 6/8 tại sân vận động Hàng Đẫy với giải chạy vượt 5 chướng ngại vật Hiện đã có hơn 1.000 trí thức trẻ Việt Nam đang học tập và làm việc trên khắp thế giới

đăng ký tham dự diễn đàn “Các bạn trẻ được đào tạo bài bản ở các nước, đã được tiếp cận công nghệ mới cũng như những thị trường tiên tiến nên khi về Việt Nam sẽ có cách tiếp cận mới Đây sẽ là cơ hội phát triển, tìm những điểm phù hợp để áp dụng những công nghệ tiên tiến mang lại giá trị cao cũng như những sản phẩm, dịch vụ mới cho người Việt, hoặc nghiên cứu tiềm năng để áp dụng cho cả nước ngoài” - ông Trần

Quang Hưng nói Theo ông, đây cũng là cơ hội cho các bạn trẻ Việt trau dồi kiến thức

và tiếp xúc trực tiếp với các sản phẩm của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Trong khuôn khổ diễn đàn còn có các hoạt động ra mắt cổng thông tin Sáng tạo trẻ

Việt Nam www.vietyouth.vn và công bố cuộc thi Thử thách khởi nghiệp Việt toàn cầu

Trang 11

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THẾ GIỚI

Xu hướng công nghệ tương lai: Công nghệ tích trữ năng lượng tiên tiến

Công nghệ tích trữ năng lượng được định nghĩa là một hệ thống hấp thu và lưu giữ năng lượng trong một khoảng thời gian trước khi giải phóng năng lượng theo nhu cầu cung cấp năng lượng hoặc dịch vụ điện Cần có những đột phá trong lĩnh vực công nghệ này để tối ưu hóa hiệu suất của các hệ thống năng lượng và tạo điều kiện cho việc tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo

Công nghệ tích trữ năng lượng rất cần thiết để thu hẹp khoảng cách về thời gian và địa lý giữa cung và cầu năng lượng

Tính sẵn dùng của năng lượng tái tạo như ánh sáng mặt trời, gió và thủy triều là không liên tục và không phải lúc nào cũng có thể dự đoán trước được Tỷ trọng điện năng lượng tái tạo đang tăng lên trong lưới điện, nên việc đầu tư vào các công nghệ tích trữ

để cho phép điều chỉnh nguồn cung phù hợp với nhu cầu năng lượng ngày càng trở nên quan trọng Công nghệ tích trữ năng lượng có thể được phân loại thành điện, (điện) hóa, nhiệt và cơ Chúng có thể được thực hiện ở quy mô nhỏ và lớn theo cả hai cách tập trung hoặc phân tán trong hệ thống năng lượng Các thiết bị tích trữ năng lượng lưới điện quy mô lớn được sử dụng để cân bằng những biến động điện năng, trong khi

đó các hệ thống pin phù hợp hơn cho việc cân bằng không tập trung, với dung lượng lưu trữ hạn chế, thời gian sạc và tự xả kéo dài

Công nghệ tích trữ năng lượng có tiềm năng kinh tế to lớn với các cơ hội kinh doanh sâu rộng

Việc triển khai các loại pin kích cỡ lớn và tích trữ năng lượng nhiệt đã gia tăng mạnh

mẽ trong thập kỷ qua Đặc biệt, lĩnh vực pin đã đạt được sự gia tăng công nghệ lớn, được phản ánh qua sự tăng vọt số bằng sáng chế trong lĩnh vực này Một loạt các công nghệ tích trữ năng lượng khác nhau vẫn đang trong giai đoạn phát triển ban đầu, bao gồm pin đa trị, bánh đà tốc độ cao, pin liti-sulphua và các hệ thống tích trữ năng lượng

từ siêu dẫn Khả năng phát triển kinh tế của công nghệ tích trữ năng lượng phụ thuộc vào sự phát triển hơn nữa của các công nghệ pin kích cỡ nhỏ và vừa, cũng như các công nghệ lưới điện qui mô lớn tập trung và phân tán Đặc biệt các loại pin tiên tiến có tiềm năng thay thế động cơ đốt trong ở các loại xe chở khách và hỗ trợ cho việc chuyển đổi sang các ngôi nhà, văn phòng thông minh Nhìn chung, công nghệ tích trữ

Trang 12

năng lượng mới có thể làm thay đổi việc năng lượng được sử dụng ở đâu, khi nào và như thế nào

Các ứng dụng quy mô nhỏ - trong thiết bị điện tử tiêu dùng và điện cơ động là những yếu tố tác động nhu cầu quan trọng

Tích trữ năng lượng điện hóa vẫn chiếm ưu thế trong các công nghệ pin, bao gồm pin axit chì, các hệ thống dựa trên niken, lưu lượng ôxi hóa khử (redox flow) nhiệt độ cao

và pin ion lithium (khoảng 250 watt-giờ/kg) Pin có thể sử dụng cho cả các ứng dụng ngắn hạn và trung hạn, chúng có lợi cho việc mở rộng quy mô và hiệu suất Đa số các thiết bị điện tử tiêu dùng di động, xe chạy điện và hybrid chở khách đều được trang bị pin ion liti, loại pin này đang ngày càng có giá thành giảm và hiệu suất tăng trong những năm gần đây Thực tế, các loại pin đặc biệt lớn đang dẫn đầu: ví dụ, giá bộ pin ion lithium dùng cho xe chạy điện (EV) đã giảm 40% trong giai đoạn từ năm 2009-

2013, trong khi doanh số bán xe EV tăng lên 665.000 chiếc vào năm 2014 trong khi vào năm 2009 hầu như không có loại xe này chạy trên đường Pin ion lithium trạng thái rắn là sự phát triển cao hơn của pin ion lithium truyền thống: chúng thay thế điện cực lỏng bằng một vật liệu rắn, có hiệu suất cao hơn và ít nguy hiểm hơn và được dự đoán sẽ khả thi về mặt thương mại trong vài năm nữa Để làm cho các công nghệ này linh hoạt và có sức hấp dẫn hơn, các nhà sản xuất ô tô đã bắt đầu bán các hệ thống xe kết nối với nhà (vehicle-to-home), cho phép khách hàng dùng xe để cung cấp điện cho ngôi nhà và ngược lại Trong tương lai, các siêu tụ điện (các tụ điện hóa công suất cao) lưu trữ động năng trong chuyển động của con lắc và nạp điện gần như không có thời gian trễ và còn cho phép xe ô tô có thể nạp điện trong thời gian dừng bình thường trong giao thông, ví dụ: Tại nút đèn giao thông Các hệ thống pin mới khác có thể kể đến như bộ pin kim loại-không khí hiện đang ở cấp độ nghiên cứu ban đầu Pin kim loại-không khí sử dụng lithium hoặc kẽm (pin kẽm-không khí hoặc pin nhiên liệu) làm cực anode và oxy được lấy từ môi trường để làm catốt Điều này làm cho pin có trọng lượng nhẹ với cực catốt có thể tái tạo dùng được lâu Trong thập kỷ tới, mật độ năng lượng có thể tăng lên đến mức mà các loại xe chạy bằng pin sẽ trở nên có khả năng cạnh tranh về chi phí với xe chạy bằng động cơ đốt trong Để cải tiến mật độ năng lượng có hai định hướng đang được chú ý: phát triển các vật liệu điện cực có điện dung cao hơn và phát triển các lại pin sử dụng hóa học điện áp cao hơn Có thể đến năm 2020 các sản phẩm có thể có mặt trên thị trường

Các ứng dụng quy mô lớn trong tích trữ năng lượng lưới sẽ tác động đến cầu

Sự cố mất điện gây thiệt hại hàng tỷ đô la mỗi năm trên toàn thế giới Phát điện quá mức tiếp tục là một vấn đề chính Các hệ thống tích trữ năng lượng quy mô lớn tạo ra khả năng làm cân bằng những biến động điện năng và phân tán chúng Trong khi các

hệ thống pin đặc biệt phù hợp với các ứng dụng phân phối năng lượng quy mô nhỏ, ngắn và trung hạn, dung tích lưu trữ hạn chế và sự tự phóng điện khiến chúng không thích hợp cho việc cân bằng tải Các hệ thống thay thế được sử dụng để tích trữ năng lượng lưới và cả tích trữ năng lượng thuỷ điện, như tích trữ thủy điện bằng bơm (PSH), tích trữ năng lượng không khí nén (CAES) và các hệ thống hydro Các hệ thống PSH được sử dụng rộng rãi và chiếm tới 97% tích trữ năng lượng lưới trên toàn thế giới Chúng sử dụng những thay đổi về độ cao để tích trữ điện ngoài giờ cao điểm

để sử dụng sau này, giống như các nhà máy thủy điện thông thường Các hệ thống PSH rất phức tạp và là công nghệ lưu trữ duy nhất được áp dụng quy mô lớn tại nhiều nước Các hệ thống hydrogen và CAES có thể được sử dụng cho các ứng dụng năng

Trang 13

lượng dài hạn và đã được Hoa Kỳ và Đức khai thác trong nhiều thập kỷ Tuy nhiên, các công nghệ này đều có chi phí cao, hiệu suất tổng thấp và làm nảy sinh mối lo ngại

về an toàn Tích trữ năng lượng từ siêu dẫn (SMES) và các siêu tụ điện phục vụ các ứng dụng lưu trữ ngắn hạn - trong khoảng vài giây hoặc vài phút - bằng cách sử dụng tĩnh điện hoặc từ trường Bánh đà tích trữ năng lượng quay bằng cách áp dụng một SMES mô-men quay Các siêu tụ điện và bánh đà thường có đặc trưng mật độ công suất cao nhưng mật độ năng lượng thấp, làm cho chúng thích hợp để cân bằng các biến động điện năng ngắn

Công nghệ tích trữ năng lượng tiên tiến dự báo sẽ làm giảm phát thải khí nhà kính

Công nghệ tích trữ năng lượng được hy vọng sẽ đóng góp cho việc đạt được mục tiêu kịch bản 2°C bằng cách tạo ra khả năng linh hoạt cho hệ thống điện và giảm lượng nhiệt thất thoát Sẽ có thêm nhiều năng lượng được khai thác từ các nguồn tái tạo nếu

có thể kiểm soát sản lượng năng lượng thông qua các giải pháp lưu trữ Đồng thời, vì khai thác năng lượng tái tạo đang ngày càng tăng, nhu cầu về công nghệ tích trữ năng lượng cũng sẽ tăng lên Các hệ thống lưu trữ thông minh và lưới điện thông minh cũng

có thể khuyến khích sản xuất năng lượng tái tạo bằng các cơ cấu hợp tác địa phương; Các công nghệ năng lượng mặt trời, gió và pin có chi phí hiệu quả là những đơn nguyên quan trọng cho các hệ thống năng lượng phi tập trung Ở các nền kinh tế đang phát triển, các hệ thống lưu trữ có tiềm năng mang đến nguồn điện chắc chắn, đáng tin cậy cho các vùng xa xôi mà trước đây không thể tiếp cận

Đẩy mạnh NC&PT để nâng cao hiệu quả chi phí tích trữ năng lượng

Cần có những đột phá về công nghệ trong các hệ thống tích lũy nhiệt nhiệt độ cao và các công nghệ pin có thể mở rộng quy mô, cũng như trong các hệ thống lưu trữ làm tối

ưu hóa hiệu suất của các hệ thống năng lượng và tạo điều kiện tích hợp năng lượng tái tạo NC&PT về các giải pháp lưu trữ cũng đang được tiến hành nhằm mục đích giảm chi phí trong công nghệ Chi phí vốn cao cho công nghệ tích trữ vẫn là một rào cản đối với việc triển khai rộng Khi các nguyên liệu, công nghệ và các ứng dụng triển khai để tích trữ năng lượng được tạo ra, các kỹ thuật và các giao thức mới cũng cần phát triển

để xác nhận tính an toàn của chúng và đảm bảo giảm thiểu nguy cơ thất bại và tổn thất

Ví dụ, lợi ích của pin lithium cần được đánh giá về khía cạnh tác động sức khoẻ và môi trường toàn cầu từ việc khai thác và vận chuyển lithi

NASATI (Theo OECD Science, Technology and Innovation Outlook)

Ngày đăng: 07/12/2022, 08:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm