Luận Văn: Một số vấn đề về phát triển thị trường lao động Việt Nam những năm gần đây
Trang 12.1 Hàng hóa trao đổi trên thị trường lao động là sức lao động 62.2 Thị trường lao động rất đa dạng và linh hoạt, hoạt động trên
cơ sở pháp luật
7
2.3 Giá cả sức lao động và vị thế đàm phán phụ thuộc vào điều
kiện kinh tế và những yếu tố khác
8
3 Các yếu tố cấu thành thị trường lao động 8
II Thực trạng thị trường lao động Việt Nam 20
1 Những thành tựu đạt được của thị trường lao động Việt Nam
sau 20 năm đổi mới
20
1.1 Thị trường lao động tuy còn “non nớt” xong đã giải quyết một
lượng lớn công ăn việc làm cho người lao động
20
1.2 Thu nhập của người lao động tăng lên đáng kể, đời sống
người lao động được cải thiện
24
1.4 Quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động đã
rõ ràng trên cơ sở pháp luật
Trang 22.1.2 Giá cả sức lao động trên thị trường lao động chưa phản
2.1.5 Thông tin về thị trường lao động chưa đầy đủ và chính xác
do hệ thống thông tin về thị trường lao động hoạt động chưa hiệu quả
3.1.5 Hệ thống bảo hiểm xã hội còn chậm đổi mới 38
3.2.1 Việc tuyển dụng lao động gặp nhiều khó khăn 393.2.2 Quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động
chưa gắn bó và còn nảy sinh nhiều mâu thuẫn khó giải quyết
39
3.2.3 Bộ phận tuyển dụng và quản lý lao động còn yếu kém 42
3.3.2 Tâm lý không muốn làm thợ còn khá nặng nề 45 III Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường lao động Việt
2.1.1 Nhà nước cần ban hành các chính sách phù hợp và tăng
cường việc chỉ đạo và thưcj hiện các chính sách đó nhằm cân đối cung
cầu lao động
49
2.1.2 Phát triển hệ thống thông tin quản lý thị trường lao động 522.1.3 Hoàn thiện hệ thống thể chế tạo môi trường cho phát triển thị 54
Trang 3trường lao động
Trang 4ảnh hưởng đến việc phân bổ lao động Do đó trong suốt một thời gian dài việc sửdụng lao động của chúng ta không phản ánh đúng sự thật về cân bằng cung cầu laođộng.
Thêm vào đó, không chỉ có bộ phận nhân dân mà thậm chí cả những ngườilãnh đạo vẫn tồn tại quan điểm là chỉ làm việc trong các cơ quan Nhà Nước và các
cơ quan thuộc thành phần kinh tế tập thể thì mới coi là có việc làm Do đó trongsuốt một thời gian dài thị trường lao động trong khu vực phi Nhà nước bị đóngbăng, những người làm việc trong các khu vực trên phải chịu nhiều thành kiến từphía xã hội và ít được luật pháp bảo vệ nên thường bị chủ thuê lao động bóc lột vàđối xử tàn tệ Đã có thời gian việc lao động làm thuê cho các chủ nước ngoài ngườiĐài Loan, Hồng Kông bị bóc lột sức lao động và bị đánh đập là một vấn đề nhứcnhối và nan giải
Tuy nhiên trong một vài năm gần đây, trước tình hình kinh tế - chính trị trong
và ngoài nước có nhiều thay đổi, việc phát triển thị trường lao động đã và đang làmối quan tâm của các nhà lãnh đạo và của cả những người dân lao động Thịtrường lao động bây giờ không còn chỉ tồn tại trên giấy tờ nữa mà đã được tất cảmọi người công nhận.Sức lao động đã dần được coi là hàng hóa, điều đó thể hiệnqua việc công nhận quyền tự do tìm việc làm của người lao động và quyền tự dothuê mướn lao động của người sử dụng lao động
Trên thực tế những năm gần đây, do thị trường lao động ở Việt Nam còn đangtrong giai đoạn hình thành nên còn nhiều yếu kém Ngoài ra áp lực của việc tăngnhanh dân số, và hậu quả của việc giáo dục và định hướng việc làm cho con emtrong nhân dân còn nhiều sai lầm đã làm cho thị trường lao động Việt Nam gặp rấtnhiều khó khăn trong quá trình phát triển và hoàn thiện Vì vậy thất nghiệp và việclàm luôn là mối quan tâm của các nhà hoạch định chính sách và của cả nhân dânlao động Sau một thời gian dài tăng nhanh dân số, hiện nay chúng ta đang phải đốimặt với vần đề dư thừa lao động Tuy nhiên lại có hiện tượng thiếu hụt lao động ở
Trang 5một số ngành nghề Không chỉ có vậy mà chất lượng lao động cũng là một vấn đềđáng quan tâm.
Do sự cấp thiết của việc giải quyết lao động cho lực lượng thanh niên đã vàđang bước vào thị trường lao động, chúng tôi nhóm sinh viên lớp Kinh tế lao động45B_Khoa Kinh tế lao động và dân số gồm
đã quyết định chọn đề tài “Một số vấn đề về phát triển thị trường lao động Việt
Nam những năm gần đây” làm đề tài nghiên cứu khoa học dưới sự hướng dẫn của
TS Nguyễn Vĩnh Giang Trong phạm vi một bài nghiên cứu khoa học, với trình độcủa những sinh viên năm thứ ba chắc chắn còn nhiều thiếu sót song nó là kết quảcủa quá trình tìm hiểu và nghiên cứu nghiêm túc của chúng tôi trong quá trình họctập Do vậy trong phạm vi của đề án nghiên cứu khoa học này chúng tôi chỉ xintrình bày một số vấn đề sau
I Cơ sở lý luận của đề tài
II Thực trạng thị trường lao động Việt Nam
III Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường lao động Việt Nam trongthời gian tới
Sau đây là nội dung chi tiết:
Trang 6Dựa trên quan điểm của Các Mác về hàng hoá sức lao động, Đại từ điển kinh
tế thị trường cho rằng: Thị trường lao động là nơi mua bán sức lao động của ngườilao động
Theo Adam Smith, thị trường lao động là không gian trao đổi dịch vụ laođộng giữa một bên là người mua dịch vụ lao động với một bên là người bán dịch vụlao động Như vậy theo định nghĩa này thì đối tượng để trao đổi trên thị trường
Trang 7chính là dịch vụ lao động Cùng quan điểm của Adam Smith, tổ chức lao độngquốc tế ILO cho rằng: Thị trường lao động là thị trường trong đó có các dịch vụ laođộng được mua bán thông qua quá trình xác mức độ việc làm và tiền công laođộng.
Theo quan điểm của Đảng đề ra trong đại hội Đảng IX thì: Thị trường laođộng là nơi mua bán các dịch vụ của người lao động, về thực chất là mua bán sứclao động trong một phạm vi nhất định
Mặc dù còn nhiều điểm khác biệt nhưng các định nghĩa về thị trường laođộng hiện hành vẫn thống nhất với nhau ở những nội dung cơ bản Do đó ta có thểnêu lên một định nghĩa khái quát về thị trường lao động như sau: Thị trường laođộng là tập hợp các hoạt động nhằm thực hiện quan hệ trao đổi mua bán dịch vụ laođộng giữa người cần sử dụng lao động với người lao động, trên cơ sở đó giá cả,điều kiện và các quan hệ hợp đồng được xác định
Thị trường lao động chỉ có thể hoạt động có hiệu quả chỉ khi các quyền tự domua bán sức lao động được đảm bảo bằng luật pháp và hệ thống các chính sách đikèm liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ các bên tham gia thị trường Thị trườnglao động chỉ có thể hình thành khi hội tụ đủ các yếu tố như:
- Có nền kinh tế hàng hoá phát triển theo cơ chế thị trường
- Có định chế pháp luật cho phép tồn tại thị trường lao động : trong đó ngườichủ sử dụng lao động có quyền tự do mua sức lao động; còn người lao động cóquyền tự do bán sức lao động của mình
- Người lao động không sở hữu tư liệu sản xuất đủ đảm bảo các nhu cầu tốithiểu của bản thân và của gia đình
Chúng ta đã nghe, thậm chí nói rất nhiều về Phát triển thị trường lao động.Vậy: Thế nào là phát triển thị trường lao động?
Trang 8Phát triển là việc tăng về quy mô và số lượng, nhưng đối với thị trường laođộng thì phát triên không đơn thuần mang ý nghĩa là làm tăng cung hay cầu laođộng mà nó còn bao hàm việc nâng cao chất lượng nguồn lao động, làm tăng hiệuquả hoạt động của thị trường.
Phát triển thị trường lao động có thể được hiểu là việc hoàn thiện các yếu tốcấu thành và hệ thống điều hành nhằm đẩy mạnh hoạt động của thị trường lao độngtheo hướng có hiệu quả hơn, lành mạnh hơn Hiện nay phát triển thị trường laođộng đang là vấn đề được Đảng, Nhà nước và các tầng lớp nhân dân quan tâm đếnbởi nó là vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của các tầng lớp nhân dân laođộng
Sau đây chúng tôi xin trình bày về các đặc điểm cơ bản của thị trường laođộng
2 Các đặc điểm của thị trường lao động
2.1 Hàng hoá trao đổi trên thị trường lao động là sức lao động:
Trên thị trường lao động, hàng hoá được đem ra trao đổi là sức lao động, làtoàn bộ hoặc một phần nguồn lực thể chất hoặc tinh thần được huy động để sảnxuất ra một sản phẩm có giá trị sử dụng nhất định Đây là loại hàng hoá đặc biệt,tính đặc biệt của nó thể hiện qua những điểm sau
Thứ nhất: Sức lao động không thể tách rời khỏi chủ thể của nó Sức lao động
chính là khả năng về thể lực và trí lực của con người, nó là yếu tố tiềm ẩn trong conngười và chỉ được bộc lộ bằng kết quả của lao động tạo ra những sản phẩm có ích.Trên thị trường lao động, cái được đem ra trao đổi ở đây không phải là người laođộng mà là giá trị sử dụng sức lao động của họ Do đó hàng hoá sức lao động đượcnói đến ở đây rất khác biệt với hàng hoá thông thường vì khi mua hàng hoá thôngthường thì người mua có cả quyền sở hữu và quyền sử dụng nhưng đối với hàng
Trang 9hoá sức lao động thì khi mua người mua (người sử dụng lao động) chỉ có quyền sửdụng sức lao động trong phạm vi và điều kiện đã thoả thuận.
Thứ hai: Sức lao động luôn đòi hỏi người chủ của nó phải cung cấp những
điều kiện cơ bản để tồn tại và phát triển Đây là một điều hiển nhiên vì con người
phải tìm mọi cách để duy trì sự sống của mình đồng thời cũng là duy trì sức laođộng Tuỳ vào điều kiện hoàn cảnh mà con người sẽ quyết định sử dụng sức laođộng của mình như thế nào, quyết định đầu tư để nâng cao phát triển giá trị sức laođộng của mình ra sao
Thứ ba: Giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động không giống vớihàng hoá thông thường Đối với hàng hoá thông thường, giá trị của nó được xácđịnh bằng thời gian lao động xã hội cần thiết kết tinh trong hàng hoá nhưng đối vớihàng hoá sức lao động thì khó có thể xác định được thời gian lao động xã hội cầnthiết để sản sinh và duy trì nó Nó chỉ có thể được tính toán gián tiếp thông qua cácchỉ tiêu chi phí tư liệu sinh hoạt và chi tiêu cần thiết để tái sản xuất mở rộng sức laođộng của người lao động Đối với hàng hoá thông thường, giá trị của nó được biểuhiện trong khi tiêu dùng nhưng đối với hàng hóa sức lao động, khi tiêu dùng loạihàng hóa đó thì nó lại trở thành một yếu tố của quá trình sản xuất.Hơn nữa giá trịcủa hàng hoá thông thường giảm đi theo thời gian nhưng hàng hoá sức lao động lạithay đổi tuỳ thuộc không chỉ vào thời gian mà còn phụ thuộc vào hoàn cảnh và điềukiện làm việc
Ngoài tính đặc biệt ra thì hàng hoá sức lao động còn thể hiện tính khác biệtcủa nó Đó là do mỗi người lao động có một trình độ và tay nghề khác nhau, thêm
và đó là điều kiện xã hội(gia đình, giáo dục, phẩm chất làm việc ) và thể chất(tìnhtrạng sức khoẻ, giới tính, ) của mỗi người lại một khác, nó khác với sự chuẩn hoácủa hàng hoá thông thường Do vậy mỗi người lao động lại có một khả năng làmviệc khác nhau, nó là điểm rõ nhất thể hiện tính khác biệt của hàng hoá sức laođộng
Trang 102.2.Thị trường lao động là một thị trường rất đa dạng và linh hoạt, hoạt độngtrên cơ sở của pháp luật.
Như đã nói ở lời mở đầu, thị trường lao động là thị trường được luật phápcông nhận và hoạt động theo pháp luật Nếu không có sự điều tiết của luật pháp thìchắc chắn thị trường này sẽ hoạt động rất lộn xộn và không có hiệu quả Với cácthể chế pháp luật, các quy định về tiền lương, giờ làm việc, chế độ trợ cấp, chế độbảo hiểm, các quy định về thôi việc, ,hành vi của người lao động và người sửdụng lao động sẽ phải tuân theo luật pháp chứ không thể làm theo ý mình nhằmmưu lợi cá nhân từ người khác, từ đó sự vận động của thị trường mới có hiệu quả
và đảm bảo được công bằng xã hội Trên thực tế tồn tại rất nhiều kiểu thị trườnglao động do tác động của nhiều yếu tố, có thị trường tự do nhưng cũng có thịtrường có tổ chức; có thị trường hợp pháp nhưng cũng có thị trường tồn tại bất hợppháp; thị trường lao động phổ thông, thị trường lao động trình độ cao,
Như đã nêu trên, thị trường lao động rất linh hoạt, sự linh hoạt được thể hiện
ở khả năng thay đổi cung_cầu lao động nhờ sự di chuyển lao động từ nơi này đếnnơi khác, từ địa phương này đến địa phương khác, từ vùng này đến vùng khác, từquốc gia này sang quốc gia khác Tuy nhiên sự đa dạng và linh hoạt của thị trườnglao động vẫn phải chịu sự tác động của nhiều yếu tố Nhà Nước, luật pháp, doanhnghiệp, người lao động, người sử dụng lao động,
2.3 Giá cả sức lao động và vị thế đàm phán phụ thuộc vào điều kiện kinh tế
và nhiều yếu tố khác
Trang 11Đây là một điều hiển nhiên và khi cung lao động tăng cao hơn so với cầu laođộng thì giá cả sức lao động sẽ giảm xuống, người lao động sẽ yếu thế hơn so vớingười sử dụng lao động Ngược lại khi cung lao động thấp hơn cầu thì giá cả sứclao động sẽ tăng và người lao động có thể sẽ có vị thế cao hơn trên thị trường Tuynhiên trên thực tế, thông thường các quan hệ giao dịch hay đàm phán trên thịtrường lao động , cán cân thường nghiêng về phía người có nhu cầu sử dụng sứclao động Xuất phát điểm của thực tiễn này là do cho đến nay ssó người tìm việcvẫn nhiều hơn so với số lượng các cơ hội việc làm sẵn có.Thêm vào đó, người laođộng đi tìm việc bao giờ cũng có nguồn lực hạn chế, trong khi đó thì người sử dụngsức lao động lại là người nắm giữ những các nguồn lực nên họ có thể chủ độngchọn lựa và chờ đợi Do vậy trên thực tế thì người lao động thường có vị thế yếuhơn trong đàm phán và thường phải chấp nhận điều kiện và mức lương do người sửdụng lao động đưa ra.
3 Các yếu tố cấu thành thị trường lao động.
Các yếu tố cấu thành thị trường lao động bao gồm: cung lao đông, cầu laođộng, giá cả sức lao động, cân bằng và cạnh tranh trên thị trường lao động Trong
đó cung và cầu lao động là hai yếu tố quan trọng nhất có tác động trực tiếp đến giá
cả sức lao động, cân bằng và cạnh tranh trên thị trường lao động Do vậy trong mụcnày chúng tôi xin trình bày về hai yếu tố quan trọng nhất là cung_cầu lao động vàcác yếu tố ảnh hưởng
3.1 Cung lao động và các yếu tố ảnh hưởng
Trong cuộc đời của mình, mỗi cá nhân đều phải đứng trước quyết định sẽlàm việc hay không làm việc, làm việc cho ai, bao nhiêu thời gian Đó chính làbiểu hiện của cung lao động cá nhân Xét trên quy mô của toàn xã hội thì tổng hợp
Trang 12của các quyết định cá nhân đó chính làcung lao động xã hội Như vậy ta có thể địnhnghĩa cung lao động xã hội như sau
Cung lao động xã hội là khả năng cung cấp sức lao động của nguồn nhân lực
xã hội Nó được thể hiện ở số lượng và thời gian của tất cả những người mong
muốn và tham gia lực lượng lao động trên thị trường lao động
Cung lao động chịu tác động của nhiều yếu tố ảnh hưởng đến số lượng, chấtlượng cung lao động, và thời gian lao động Sau đây chúng tôi xin trình bày một vàiyếu tố cơ bản
a Những yếu tố cơ bản tác động đến số lượng cung lao động
Yếu tố đầu tiên xin đề cập đến là dân số Đây là yếu tố quyết định có ảnhhưởng rất lớn đến cung lao động Xét trên phương diện từng quốc gia thì quy môlực lượng lao động phụ thuộc vào quy mô dân số của quốc gia đó Quy mô dân sốcàng lớn thì sẽ tạo ra một nguồn nhân lực lớn sẵn sàng cung cấp sức lao động cho
xã hội
Tuy nhiên dân số cũng chịu tác động của nhiều yếu tố mà quan trọng nhất làtốc độ tăng dân số Tốc độ tăng dân số lại phụ thuộc vào tỷ lệ sinh, chết, didân, Do vậy có thể nói đây chính là nguyên nhân sâu xa có tác động đến số lượngcung lao động ngoài ra, việc nâng cao hay hạ thấp giới hạn độ tuổi lao động, quy
mô dân số trẻ hay già cũng có tác động trực tiếp đến cung lao động Giảm giới hạn
độ tuổi lao động và dân số có quy mô trẻ sẽ có tác động làm tăng lực lượng laođộng hiện tại và trong tương lai Ngược lại việc tăng giới hạn độ tuổi lao động vàdân số có quy mô già sẽ làm giảm lực lượng lao động trong hiện tại và trong tươnglai
Yếu tố thứ hai là tỷ lệ tham gia lực lượng lao động trong dân số (Tlf) Nhữngngười đủ tuổi lao động trở lên có khả năng lao động có thể thuộc một trong banhóm sau: nhóm có việc làm, nhóm thất nghiệp, và nhóm ngoài lực lượng lao động
Trang 13Nếu gọi E là số có việc làm, U là số thất nghiệp, LF là quy mô của lực lượng laođộng thì
LF = E + UGọi P là dân số đủ tuổi lao động trở lên hay chính là lực lượng lao động tiềmnăng thì ta có
Tlf = Lf/P Như vậy tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chính là tỷ số giữa Lực lượng laođộng thực tế với Lực lượng lao động tiềm năng
Các khảo sát thực tế cho thấy một xu hướng là tỷ lệ tham gia lực lượng laođộng của nam giới có xu hướng ngày càng giảm, trong khi đó thì tỷ lệ ấy ở nữ giớilại ngày càng tăng Nguyên nhân của hiện tượng trên là do nhận thức về bình đẳnggiới hiện nay ngày càng tiến bộ, phụ nữ có quyền đi làm như nam giới, thứ hai là
do khoa học ngày càng phát triển nên phụ nữ được giải phóng khỏi việc nhà vìđược hỗ trợ bởi máy rửa bát, máy hút bụi,
Làm tăng được tỷ lệ lao động trong dân số là việc rất quan trọng bởi vì nógiúp làm tăng nguồn lực xã hội.Các yếu tố ảnh hưởng tăng tỷ lệ tham gia vào lựclượng lao động bao gồm: tăng lương và thu nhập thực tế trên thị trường; sự thay đổitrong hành vi và nhận thức của con người về bình đẳng giới; do các tiến bộ về khoahọc kĩ thuật trong lĩnh vực sản xuất đồ gia dụng khiến con người làm việc nhà nhẹnhàng hơn và tốn ít thời gian hơn; sự xuất hiện của những ngành nghề mới trong xãhội
Tuy nhiên cũng có rất nhiều yếu tố làm giảm tỷ lệ tham gia vào lực lượng laođộng Đó là: Thu nhập thực tế tăng sẽ khiến người lao động muốn nghỉ làm việcsớm vì đã kiếm đủ tiền cho tương lai; thu nhập không lao động (trúng xổ số, lãi cổphiếu, )tăng thì con người cũng không muốn làm việc nữa vì đã có đủ tiền đểsống; các hình thức trợ cấp của xã hội như trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp thươngtật, giúp đảm bảo cuộc sống nên người lao động không muốn làm việc nữa, đặc
Trang 14biệt là khi nếu đi làm thì tiền lương nhận được thấp hơn hay không hơn mức trợcấp nhiều.
b Những yếu tố ảnh hưởng đến cung thời gian làm việc
Trước bất kì quyết định làm việc nào thì việc người lao động quan tâm đếnđầu tiên chính là lợi ích mà họ nhận được Các nhà kinh tế học thường tiếp phântích hành vi đánh đổi giữa làm việc và nghỉ ngơi bằng mô hình “lựa chọn làmviệc_nghỉ ngơi tân cổ điển” Theo như mô hình này thì mọi cá nhân sẽ tìm cách tối
đa hoá lợi ích bằng cách tiêu dùng hàng hoá và nghỉ ngơi Muốn mua được hànghoá thì ta phải làm việc để kiếm tiền, đó chính là sự đánh đổi thời gian nghỉ ngơi đểđược hàng hóa mong muốn hay đó chính là sự đánh đổi giữa làm việc và nghỉ ngơi.Theo các nhà kinh tế thì sử dụng mô hình này sẽ giúp ta có thể dự đoán được cácquyết định lựa chọn giữa làm việc và nghỉ ngơi của người lao động trước nhữngđiều kiện hay chính sách của Nhà nước
Gọi C là tiêu dùng hàng hoá, L là thời gian nghỉ ngơi, U là lợi ích thu được
từ sự đánh đổi giữa tiêu dùng và nghỉ ngơi thì U chính là hàm của L và C
U = f(C,L)Hàm này được đo bằng chỉ số Util(U) là chỉ số đo lường mức độ thoả mãn của
cá nhân Chỉ số U càng cao thì cá nhân càng hạnh phúc Như vậy việc mua thêmhàng hoá hay dành thêm giờ cho nghỉ ngơi đều với mục đích làm tăng lợi ích cánhân Có rất nhiều sự kết hợp khác nhau giữa tiêu dùng và nghỉ ngơi đều cho tacùng một mức lợi ích cụ thể Tập hợp những điểm kết hợp này gọi là đường bàngquan
Trang 15- Đường bàng quan cao hơn hay xa hơn gốc tọa độ biểu thị mức lợi ích caohơn vì những điểm càng xa gốc toạ độ biểu thị việc tiêu dùng hàng hoá và nghỉngơi nhiều hơn các điểm ở gần gốc toạ độ
- Các đường bàng quan không cắt nhau vì giả sử nếu có hai đường bàng quancắt nhau thì các điểm trên chúng sẽ biểu thị cùng một mức lợi ích nhận được Nhưvậy theo định nghĩa đường bàng quan thì chúng trùng nhau
- Đường bàng quan là các đường cong lồi về phía gốc toạ độ vì nếu chúng lõm
so với gốc toạ độ thì sẽ xảy ra trường hợp tiêu dùng và nghỉ ngơi nhiều hơn vẫn thuđược lợi ích bằng với tiêu dùng và nghỉ ngơi ít hơn
Trang 16Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến cung thời gian làm việc là do sở thích của ngườilao động Mỗi người có một sở thích riêng nên việc chọn lựa giữa nghỉ ngơi và laođộng của họ cũng khác nhau.Tuy nhiên việc xác định được sở thích của người laođộng để phân tích là việc rất khó và hầu như không thực hiện được vì không thểqua quan sát có thể đánh giá người này thích làm việc hơn hay người kia thích nghỉngơi hơn hay không.
Yếu tố thứ ba là do hoàn cảnh gia đình, nếu người lao động có hoàn cảnh giađình khó khăn thì chắc chắn anh ta phải lựa chọn làm việc nhiều hơn nghỉ ngơi vàngược lại một người lao động có hoàn cảnh khá hơn chắc chắn sẽ lựa chọn nghỉngơi nhiều hơn
Thứ tư là do nghề nghiệp Nếu nghề nghiệp của bạn kiếm được rất nhiều tiền,chế độ đãi ngộ tốt, có nhiều thuận lợi và gây được hứng thú cho bạn thì chắc chắnbạn sẽ muốn làm việc nhiều hơn, nhưng nếu công việc của bạn kiếm được ít tiềnhơn và không gây hứng thú cho bạn chì chắc chắn bạn không muốn làm với thờigian dài, thậm chí không muốn làm công việc đó nữa
Yếu tố thứ năm ảnh hưởng tới cung thời gian làm việc là mức tiền công, tiềnlương, thu nhập không lao động Thực tế một người có thể không lao động nhưngvẫn có thu nhập nhờ được thừa kế hay hưởng lãi cổ phần, cổ phiếu, nhưng đểkhông mất tính tổng quát ta có thể giả sử một người có số giờ làm việc một ngày là
h với mức tiền công 1 giờ là w, thu nhập không lao động của người đó là V Nhưvậy ngân sách mà anh ta kiếm được là
C = w.h + VLượng ngân sách kiếm được của anh ta cho phép anh ta mua được một lượnghàng hoá nhất định và từ đó có thể nói việc tiêu dùng hàng hoá chịu ảnh hưởng củangân sách kiếm được
Trang 17Gọi t là số giờ của một tuần, L là thời gian nghỉ ngơi trong tuần thìphương trình đường ngân sách tuần là
C = w(T-L) + V Hay C = (wT + V) – wL
H2 Đường ngân sách
Điểm E là điểm đóng góp Nó thể hiện lượng hàng hoá người lao động có thể
tiêu dùng nếu không tham gia vào thị trường lao động.
Những điểm nằm phía trên đường ngân sách là những tổ hợp giữa tiêu dùng vànghỉ ngơi không đạt được đối với người lao động Những điểm nằm trên đườngngân sách hoặc nằm phía dưới đường ngân sách là những tổ hợp thoả mãn
Giả sử một cá nhân muốn thoả mãn một cách tối đa tiêu dùng và nghỉ ngơi thìanh ta phải có một sự lựa chọn hợp lý để tối đa hoá lợi ích Việc xác định đượcmức tiêu dùng và nghỉ ngơi hợp lý phụ thuộc vào nhu cầu tiêu dùng_nghỉ ngơi vàđường ngân sách của mỗi người
Trang 18H3.Tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng
Người lao động sẽ tối đa hoá lợi ích của mình bằng cách chọn tổ hợp tiêu dùng
và nghỉ ngơi tại điểm nơi đường bàng quan tiếp xúc với đường ngân sách
Khi tiền lương trên thị trường thay đổi nó sẽ ảnh hưởng đến ngân sách màngười lao động kiếm được Chính vì vậy mà mức tiền lương sẽ ảnh hưởng rất lớnđến xu hướng làm việc của người lao động Khi tiền lương tăng thì nghỉ ngơi sẽ trởnên đắt đỏ hơn và xu hướng của người lao động sẽ là tăng thời gian lao động Tuynhiên khi tiền lương tăng tới một mức nào đó, người lao động chỉ cần làm việc mộtthời gian nhất định là đã đủ chi tiêu cho cuộc sống thì họ lại chọn nghỉ ngơi nhiềuhơn Ngược lại khi tiền lương giảm thì người lao động sẽ tăng thời gian nghỉ ngơi
vì theo đó thì giá của nghỉ ngơi cũng giảm Do vậy ta có thể vẽ được đường cungthời gian lao động như sau:
Trang 19H4 Đường cung lao động
Đường cung lao động cho biết mối quan hệ giữa tỷ lệ tiền lương và số giờ làm việc
Ngoài ra khi thu nhập không lao động tăng thì nhu cầu làm việc cũng giảm vànhu cầu nghỉ ngơi cũng tăng lên
Yếu tố thứ sáu ảnh hưởng đến cung thời gian lao động là những chính sách củaNhà nước như chính sách trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm xã hội, chế dộ tiền lương,thuế thu nhập, có thể gây tăng giảm nhu cầu làm việc của người lao động theomức tăng hay giảm tuỳ vào nhu cầu mỗi người
c Những yếu tố ảnh h ư ởng đ ến chất l ư ợng cung lao đ ộng
Nhân tố đầu tiên xin đề cập đến là các quan điểm, chiến lược,các chế độchính sách phát triển nguồn nhân lực của Nhà nước Đây là yếu tố rất quan trọng có
ý nghĩa quyết định ảnh hưởng đến chất lượng cung lao động Nhà nước bằng hệthống pháp luật và các chính sách của mình tác động đến hệ thống giáo dục các cấp
để cho việc giáo dục ý thức lao động và tay nghề có hiệu quả Không chỉ có vậy,pháp luật còn có các chế tài bảo vệ quyền lợi cho người lao động, giúp người laođộng yên tâm trong lao động và học tập Thêm vào đó chính sách tìm và bồi dưỡng
Trang 20nhân tài sẽ giúp cho những người giỏi phát huy được khả năng của mình trong côngviệc
Thứ hai là việc hoàn thiện hệ thống giáo dục Đây là việc đang được rất quantâm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng lao động Vấn đề là phải tích cựchoàn thiện hệ thống giáo dục cho có hệ thống và hợp lý với phương pháp gíáo dụchiện đại, khoa học và chất lượng cao
Thứ ba là việc chăm lo đến sức khoẻ và dinh dưỡng cho con người Đây làyếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe cho người lao động, ảnh hưởng đến khả năng làmviệc của con người Do vậy cần phải có kế hoạch chăm lo đến sức khoẻ người laođộng, đồng thời phát triển các phong trào rèn luyện văn hoá thể thao để nâng caothể chất và tinh thần của con người
Thứ tư là vấn đề hội nhập quốc tế Quá trình hội nhập đòi hỏi nguồn nhân lựcphải nâng cao tri thức, sự hiểu biết Không chỉ vậy, quá trình này cũng có tác độngtích cực giúp cho nguồn nhân lực có thể học tập thêm được kinh nghiệm trong sảnxuất, trong quản lý và trong kinh doanh
3.2 Cầu lao động và các yếu tố ảnh hưởng
Các doanh nghiệp, các xưởng sản xuất sẽ quyết định thuê bao nhiêu lao độngtuỳ thuộc vào nhu cầu của việc sản xuất và nhu cầu của người tiêu dùng đối vớiloại hàng hoá đó Cũng như các các yếu tố đầu vào khác của quá trình sản xuất thìcầu lao động là cầu phát sinh xuất phát từ mong muốn của khách hàng Do vậyngười thuê lao động có thể căn cứ vào cầu sản phẩm, điều kiện nội lực của mình vàđiều kiện của nền kinh tế để thuê bao nhiêu lao động làm việc cho mình
Vậy: Cầu lao động là lượng lao động mà người cần thuê có thể chấp nhận ở
các mức giá nhất định Tổng cầu lao động của nền kinh tế (hay một doanh nghiệp, một ngành, ) là toàn bộ nhu cầu về sức lao động của nền kinh tế (doanh nghiệp, ngành, )ở một thời kì nhất định, trong nhữn điều kiện nhất định.
Trang 21Khi quyết định làm việc cho ai thì người lao động sẽ quan tâm đến tiềnlương, điều kiện làm việc, mặt hàng sản xuất, chế độ đãi ngộ, Còn đối với ngườithuê lao động họ quan tâm trước hết đến chất lượng lao động, giá cả laođộng, Như vậy cầu lao động không chỉ phụ thuộc vào bản thân doanh nghiệp mà
nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác Sau đây là một vâi yếu tố ảnh hưởng đếncầu lao động
a.
Cầu sản phẩm :
Đây là yếu tố đã được đề cập ở trên, là một trong những yếu tố có ảnh hưởngrất lớn đến cầu lao động Khi cầu về một sản phẩm đang sản xuất tăng lên, nó đồngthời sẽ kích cầu lao động sản xuất sản phẩm đó cũng tăng theo Đây là một điềuhiển nhiên vì khi nhu cầu về một sản phẩm tăng nó sẽ làm cho giá sản phẩm có xuhướng tăng, dẫn đến giá trị sản phẩm biên tăng, do đó sẽ làm tăng cầu lao động.Ngược lại khi cầu sản phẩm cho một loại sản phẩm giảm thì nó sẽ tương ứnglàm giảm cầu lao động
b.
N ă ng suất lao đ ộng:
Khi năng suất lao động thay đổi nó sẽ làm thay đổi sản phẩm biên và giá trị củasản phẩm biên Do đó nó có ảnh hưởng đến nhu cầu lao động của doanh nghiệp.Khi năng suất lao động tăng (do đổi mới công nghệ, do nâng cao trình độ ngườilao động, do cải thiện điều kiện làm việc, )nó sẽ làm cho sản phẩm biên và giá trịcủa sản phẩm biên Trong trường hợp doanh nghiệp không mở rộng quy mô, kếhoạch sản xuất thì nhu cầu lao động có thể sẽ giảm Tuy nhiên việc này sẽ làm chodoanh nghiệp không tận dụng được tối đa hoá lợi nhuận Trên thực tế thì doanhnghiệp luôn tìm cách để tối đa hoá lợi nhuận, do vậy nên khi năng suất lao độngtăng thì doanh nghiệp sẽ mở rộng quy mô sản xuất và do đó sẽ có nhu cầu thuêthêm lao động
Trang 22c Tình hình phát triển kinh tế:
Đây là yếu tố trực tiếp tác động đến cầu lao động vì :
- Khi nền kinh tế phát triển thì nhu cầu tiêu dùng sẽ tăng lên, các doanh nghiệp
sẽ có kế hoạch mở rộng sản xuất nên sẽ có nhu cầu tuyển thêm lao động Thêm vào
đó sẽ có nhiều doanh nghiệp mới ra đời do các nhà đầu tư thấy có thể kiếm lờiđược nếu đầu tư vào nền kinh tế, điều đó sẽ làm nhu cầu lao động tăng lên
- Khi nền kinh tế suy sụp, các doanh nghiệp trong nước sẽ phải cắt giảm sảnxuất do nhu cầu tiêu dùng giảm xuống Sẽ có những doanh nghiệp không trụ nổitrong nền kinh tế phá sản, các nhà đầu tư rút vốn về nên sẽ làm cho bức tranh kinh
tế thêm thê thảm vì số lượng lao động mất việc làm Cầu lao động lúc này giảm,cung lao động tăng làm thất nghiệp tăng nhanh
d Tiền công, tiền l ươ ng:
Khi tiền công, tiền lương giảm, chi phí biên để sản xuất một sản phẩm giảm,đường chi phí biên sẽ dịch chuyển từ MCo sang MC1 như hình Do giá cả hànghóa vẫn giữ ở mức P nên nó kích thích doanh nghiệp từ chỗ sản xuất 100 đơn vịsản phẩm lên 200 đơn vị sản phẩm
Trang 23
H5 Đường chi phí biên.
Do vậy ta có đường đồng lượng của doanh nghiệp sẽ dịch chuyển từ 100 sảnphẩm lên đường 200 sản phẩm Tất nhiên tổng chi phí sản xuất để sản xuất 100 và
200 sản phẩm là khác nhau và khi tiền công tiền lương giảm doanh nghiệp vẫn cóthể giữ nguyên sản lượng Song doanh nghiệp luôn tối đa hoá lợi nhuận nên sẽ phốihợp các đầu vào một cách tối ưu để sản xuất ở đường đồng lượng 200 sản phẩm.Điểm kết hợp tối ưu nhất giữa vốn và lao động của doanh nghiệp là điểm R trênH6
H6 Tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp
Khi tối đa hoá lợi nhuận doanh nghiệp sẽ thuê thêm lao động từ 25 lao động lên
50 lao động Đường cầu dài hạn của doanh nghiệp sẽ như sau:
Trang 24H7 Đường cầu dài hạn của doanh nghiệp
Ảnh hưởng quy mô và ảnh hưởng thay thế:
Trang 25H8 Ảnh hưởng quy mô và ảnh hưởng thay thế
Tiền công giảm khuyến khích doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động hơn so vớivốn để tranh thủ lợi thế nhân công rẻ, đồng thời kích thích doanh nghiệp mở rộngsản xuất, và vì thế lại thêm một lần nữa doanh nghiệp cần thêm lao động Điều đóđược thể hiện qua hình vẽ trên chính là sự di chuyển từ điểm P sang điểm R Việcdoanh nghiệp chuyển đổi đường đồng lượng chịu ảnh hưởng quy mô và ảnh hưởngthay thế Ảnh hưởng quy mô cho biết sự thay thế cơ cấu các đầu vào của doanhnghiệp khi mở rộng sản xuất Ảnh hưởng thay thế cho biết sự thay đổi về số laođộng sử dụng của doanh nghiệp khi tiền công thay đổi mà sản lượng không đổi Cảảnh hưởng quy mô và ảnh hưởng thay thế đều dẫn đến việc doanh nghiệp thuê thêmlao động khi tiền công, tiền lương giảm Tuy nhiên việc doanh nghiệp sử dụngnhiều hay ít vốn hơn tuỳ thuộc vào ảnh hưởng quy mô trội hơn hay kém trội hơnảnh hưởng thay thế
Ngược lại khi tiền công tiền lương tăng thì chi phí biên để sản xuất sản phẩmtăng Khi đó doanh nghiệp sẽ phải chọn lựa một sự kết hợp giữa vốn và lao động ở
Trang 26một đường đồng lượng thấp hơn Vì thế mà nhu cầu lao động của doanh nghiệpcũng sẽ giảm xuống.
Một vấn đề nữa là những quy định của Nhà nước về tiền lương tối thiểu cũngảnh hưởng đến cầu lao động Khi Nhà nước quy điịnh tiền lương tối thiểu cao hơnmức cân bằng của thị trường thì cầu lao động sẽ giảm hơn và khi tiền lương tốithiểu thấp hơn mức tiền lương cân bằng trênt hị trường thì cầu lao động sẽ tăng lên
e Giá cả các nguồn lực khác
Các nguồn lực khác được kể ở đây là vốn, đất đai, nguyên liệu, những nhân
tố này được gọi chung là vốn Trong nhiều trường hợp thì vốn và lao động là hainhân tố thay thế nhưng mặt khác chúng cũng là hai nhân tố bổ sung
Vốn và lao động được gọi là hai nhân tố thay thế khi giá của vốn giảm dẫn đếncầu lao động giảm Ví dụ khi giá cả của các thiết bị máy móc chuyển hàng giảm thìdoanh nghiệp sẽ sử dụng các máy móc đó thay vì thuê nhân công bốc vác, cầu laođộng giảm Ngược lại khi giá của vốn giảm dẫn đến cầu lao động tăng Đó làtrường hợp khi giá nguyên vật liệu đầu vào giảm làm chi phí biên của sản xuấtgiảm, doanh nghiệp sẽ có xu hướng mở rộng sản xuất và thuê thêm lao động Cầulao động tăng
g Các chi phí đ iều chỉnh lực l ư ợng lao đ ộng
Điều chỉnh lực lượng lao động là việc doanh nghiệp phải làm khi sa thải haythuê thêm nhân công Khi sa thải nhân công thì chi phí điều chỉnh chính là kinhnghiệm, kiến thức của nhân công bị sa thải trên dây chuyền sản xuất Khi mở rộngsản xuất cần thuê thêm nhân công thì chi phí điều chỉnh chính là chi phí cho việctuyển mới nhân công và việc đào tạo nhân công mới vào làm
Trước mỗi quyết định điều chỉnh thì doanh nghiệp phải xét đến việc điềuchỉnh này có mang lại lợi nhuận cao hơn so với việc giữ nguyên quy mô lao động
Trang 27hay không Thêm vào đó doanh nghiệp cũng phải xem xét đến chi phí điều chỉnhnày có hợp lý hay không Nếu chi phí điều chỉnh quá cao so với lợi ích đạt đượccủa việc điều chỉnh thì doanh nghiệp sẽ không điều chỉnh lao động trên quy mô lớn
mà có thể chỉ điều chỉnh trên từng bộ phận cần thiết
h Các chế đ ộ, chính sách của Nhà n ư ớc
Một là các quy định của Nhà nước về đảm bảo việc làm cho người lao động
Đó là việc đặt ra các quy định khắt khe về sa thải lao động hoặc đặt ra một mức phícho doanh nghiệp khi sa thái lao động Tất cả những hành động này nhằm làm giảmbớt việc doanh nghiệp sa thải lao động hàng loạt song nó lại làm cho cầu lao độngcủa doanh nghiệp giảm khi kinh tế tăng trưởng vì những khó khăn mà doanhnghiệp thấy được trước nếu nền kinh tế suy thoái là khó sa thải lao động
Thứ hai là các chính sách xã hội của Nhà nước: Chính sách bảo hiểm xã hội,chính sách bảo hiểm y tế, chế độ ngày giờ làm việc Các chính sách này có ảnhhưởng trực tiếp đến cầu lao động của doanh nghiệp Theo quy định của Nhà nướcthì doanh nghiệp sử dụng càng nhiều lao động thì càng phải đóng bảo hiểm y tế vàbảo hiểm xã hội càng nhiều tương ứng với số nhân công doanh nghiệp đó thuê Vìvậy doanh nghiệp phải tuỳ theo nội lực của mình mà thuê lao động cho phù hợp.Chế độ ngày giờ làm việc cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến cầu lao động KhiNhà nước quy định từ làm việc 6 ngày một tuần xuống còn 5 ngày một tuần thìdoanh nghiệp muốn đảm bảo sản lượng trong khi các điều kiện khác không đổiphải thuê thêm nhân công
Thực tiễn và chính sách tạo việc làm là yếu tố cuối cùng được đề cập đếntrong phần này Thực tiễn phát triển của nền kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến cầunhân công vì khi nền kinh tế đang tăng trưởng thì nhu cầu lao động tăng và khi nềnkinh tế suy sụp thì cầu lao động giảm Các chính sách tạo việc làm của Nhà nướcđược thực thi có hiệu quả thì sẽ tạo được nhiều việc làm, làm tăng cầu lao động
Trang 28Như vậy chúng tôi đã trình bày xong cơ sở lý luận của đề tài Tiếp theochúng tôi xin trình bày thực trạng nền kinh tế thị trường Việt Nam sau 20 năm đổimới.
II THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM :
1 Những thành tựu đạt được của thị trường lao động Việt Nam sau 20 năm đổi mới:
Thị trường lao động Việt Nam mới hình thành lại gặp nhiều khó khăn từ phíangười lao động, phía doanh nghiệp, phía nhà nước cũng như về mặt cung cầu trênthị trường lao động, xong thị trường lao động đã bắt đầu hoạt động có hiệu quả vàđạt được những thành công nhất định
1.1 Thị trường lao động tuy còn “non nớt” xong đã giúp giải quyết công ănviÖc làm cho số lưîng lớn nguời lao động
Lao động có việc làm tăng nhanh
Lao động có việc làm tăng nhanh hơn tốc độ tăng lực lượng lao động Năm
2005 có 43.456,6 ngàn người đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các nghànhkinh tế quốc dân, tăng 1.127,5 ngàn người, với tốc độ tăng 2,7% so với năm 2004.Trong đó, số người trong độ tuổi lao động có việc làm là 40.898,4 ngàn người, tăng1.021,5 ngàn người với tốc độ tăng 2,56% so với 2004
Giai đoạn 2000-2005, hàng năm số lao động có việc làm tăng 1.017,9 ngànngười, với tốc độ tăng bình quân hàng năm là 2,52%
Do ảnh hưởng của việc đô thị hóa nên lao động có việc làm ở khu vực thành thị
có tốc độ tăng nhanh hơn khu vực nông thôn ( tăng nhanh hơn 2,7 lần) Tốc độ tăng
Trang 29lao động có việc làm khu vực thành thị là 5,17% trong khi đó tỷ lệ này ở khu vựcnông thôn là 1,925%.
Xem xét trên tổng thể các vùng kinh tế, vùng Đông Nam bộ là vùng có tốc độtăng việc làm cao nhất trong cả nước, năm 2005 so với 2004, tốc độ tăng việc làm
là 3,97%; thấp nhất về tốc độ tăng việc làm là Bắc Trung Bộ với 2,29%
Tỷ lệ thất nghiệp giảm mạnh
-Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng ở khu vực thành thị giảm liên tục và tỷ lệ thời
gian lao động được sử dụng ở nông thôn ngày càng tăng
Theo kết quả điều tra 1/7/2005
Bảng 1.1.1 :Tỷ lệ thất nghiệp của LLLĐ trong độ tuổi lao động ở khu vực thành thị
cả nước và các vùng lãnh thổ giai đoạn 2000-2005 (%):
Trang 30Nguồn kết quả điều tra lao động- việc làm hàng năm (1/7/2000-1/7/2005)
Trong 8 vùng lãnh thổ, vùng đang có tỷ lệ thất nghiệp của LLLĐ trong độ tuổilao động ở khu vực thành thị cao nhất là Đông Nam Bộ và đồng bằng sôngHồng(5,6%), kế đến là Đông Bắc và Duyên Hải Nam Trung Bộ (5,1%-5.5%), cácvùng khác tỷ lệ này ở mức dưới 5% Tỷ lệ thất nghiệp của LLLĐ trong độ tuổi laođộng ở khu vực thnàh thị qua các năm đều giảm đáng kể trên tất cả các vùng lãnhthổ, vùng Bắc Trung Bộ là giảm nhiều nhất, giảm 1,89% so với năm 2000, kế đến
là Đồng bằng sông Hồng và Đông Bắc, thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ Xét trêntoàn bộ cả nước thì tỷ lê thất nghiệp của LLLĐ trong độ tuổi lao động ở khu vựcthành thị đã giảm 1,11% so với năm 2000
Tính cho khu vực thành thị thì tỷ lệ thất nghiệp của LLLĐ từ đủ 15 tuổi trở lên
là 5,13% ( giảm1,12% so cới năm 2000,bình quân cả giai đoạn 2000-2005 là0,24%) Tỷ lệ thất nghiệp của LLLĐ trong độ tuổi lao động là 5,31%(giảm 1,11%
so với năm 2000, bình quân năm giai đoạn 2000-2005 giảm được 1,13% Tỷ lệ thấtnghiệp của LLLĐ trẻ (15-24 tuổi) là 13,4%( giảm 3,4% so với năm2000 và bìnhquân năm trong giai đoạn 2000-2005 là 1,13%)
Cơ cấu lao động việc làm trong các nghành kinh tế có sự chuyển dịch theochiều hướng tích cực
Bảng 1.1.2 : Cơ cấu việc làm trong các ngành kinh tế.
Sốlượng(1000ng)
Tỷ lệ(%)
Số lượng(1000ng)
Tỷ lệ(%)
Trang 31Giai đoạn 2000-2005 tỷ lệ lao động bình quân khu vực I giảm 1,2%; khu vực IItăng 1% và khu vực III tăng 0,2% Nếu phân ra các vùng kinh tế để đánh giá thìvùng Đông Nam Bộ có cơ cấu tiến bộ nhất (vùng có tỷ lệ lao động làm việc ở khuvực I là 27,8%; khu vực II là 30,9%; khu vực III là 41,3%) tiếp đến là duyên hảiNam Trung Bộ (50,8%;21,8% và 27,4%) và Đồng bằng sông Hồng (52,8%;22,2%
và 25%); vùng có cơ cấu lạc hậu nhất là Tây Bắc (84,9%;5,2% và 9,9%) và TâyNguyên (72,9%;8,1%và19%)
Lao động làm việc theo loại hình kinh tế, lao động làm việc trong cả 3 khuvực: nhà nước,ngoài nhà nước và có vốn đầu tư nước ngoài đều đặn với quy mô vàtốc độ khác nhau
- Tỷ lệ lao động làm công ăn lương trong tổng lực lượng lao động tính đến hết
năm 2004 ở nước ta khoảng 11 triệu người:
Trang 32Tổng lao động đang làm việc trong các loại hình doanh nghiệp là 4.657.000người, tăng gấp 3 lần so với năm1995 và 1,3 lần so với năm 2000, tăng bình quân14,4%/năm.
Doanh nghiệp nhà nước có 2.200.000 người, chiếm 48%, tăng bình quân14,4%/năm Trong các doanh nghiệp này tồn tại một bộ phận già hóa, không theokịp công nghệ mới nên phải thuê thêm lao động trẻ
- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh thu hút 1.700.000 lao động, chiếm 36,6%tăng bình quân 28%/năm, khu vực này có khả năng thu hút được nhiều lao độngnhất, dặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã tạo ra rất nhiều việc làm, giảiquyết một phần vấn đề thất nghiệp đang bức bách Khả năng thu hút lao động làmthuê cho hộ kinh doanh cá thể, tiểu thương, tiểu chủ, dịch vụ đang có xu hướngtăng Cả nước có khoảng 2 triệu hộ kinh doanh cá thể, tiểu thương , tiểu chủ, dịch
vụ tập trung ở khu vực thành thị Lao động được sử dụng chủ yếu là của gia đình,đồng thời thuê thêm lao động, tổng lao động ở khu vực này là khoảng 1 triệu laođộng Nhu cầu lao động trong các làng nghề, kinh tế trang trại có xu hướng giatăng Hiện nay,trên cả nước có 2.017 làng nghề thủ công thuộc 11 nhóm nghànhnghề chính, thu hút 27% số hộ nông dân tham gia sản suất ngoài việc sản xuất nôngnghiệp, thu hút khoảng 3,5 triệu hộ với 8 triệu lao động, và 13% hộ chuyên sảnxuất kinh doanh nghành nghề với 1,7 triệu hộ, 3,5 triệu lao động, 35% lao động thuhút vào làng nghề theo quan hệ thuê mướn lao động với khoảng 2,5 triệu lao độnglàm công ăn lương, một bộ phận nữa là kiêm nghề và sử dụng lao động trong giađình
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thu hút 750.000 lao động chiếm14,8%, tăng bình quân 30,2%/năm, trong đó khu vực có 100% vốn nước ngoài tăngbình quân 37%/năm
Năm 2005, với quy mô nhỏ về số lượng nhưng lao động làm việc trong khuvực có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh nhất trong 3 khu vực kinh tế So với năm
Trang 332004, lao động làm việc trong khu vực nhà nước là 4.413,0 ngàn người, tăng 72,6ngàn người, với tốc độ tăng 1,67%; khu vực ngoài nhà nước là 38.355,6 ngànngười,tăng 1.022,0 ngàn người,với tốc độ tăng 2,73%; khu vực đầu tư nước ngoài
có 687,9 ngàn người, với tốc độ tăng7,14%
Trong khu vực hành chính sự nghiệp, đến năm 2003, có 1.789.400 người laođộng, tăng 39,4% so với năm1995, bình quân mỗi năm gần 5%, trong đó quản lýnhà nước la 287.300 người, tăng 5,1%, khu vực sự nghiệp là 1.502.100 nguời, tăng39,2% so với năm 1995, bình quân mỗi năm tăng gần 5%
1.2 Thu nhập của người lao động trong những năm qua đã tăng lên đáng kể,đời sống được cải thiện Đã có những cải thiện bước đầu theo hướng “thị trườnghóa” việc trả công cho lao động
- Chính sách hiện hành do Quốc hội Khóa VIII, kỳ họp thứ 9, và Quốc hội khóa
IX, kỳ họp thứ 2, thông qua đánh dấu sự chuyển biến cơ bản trong nhận thức vềtiền lương khi nền kinh tế chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập chung bao cấp sangchính sách tiền lương phân phối theo giá trị Đã đổi mới cơ chế trả lương cho ngườilao động thay hiện vật, thực hiện tiền tệ hóa tiền lương, thay thế cho tem phiếu, nhàcửa, lương thực, thực phẩm, đồ dùng sinh hoạt…bằng tiền lương tối thiểu Do vậy
mà phân phối thu nhập cho người lao động trở nên công bằng hơn, tạo động lựctăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất Ngoài ra nhà nước còn ban hành nhữngquy định về hệ thống thang bảng lương cho bốn lĩnh vực thuộc thuộc khu vực kinh
tế nhà nước, cùng với các quy định khác mang tính hướng dẫn đối với doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức quốc tế tại Việt Nam và cácdoanh nghiệp hoạt động theo luật doanh gnhiệp, những cải cách đó đã góp phầngiảm bớt các ảnh hưởng tiêu cực có thể có của tác động thị trường
Trang 34- Thu nhập của lao động tham gia thị trường ngày càng được cải thiện và tươngquan giữa thu nhập với chất lượng lao động ngày càng chặt chẽ theo hướng laođộng có trình độ chuyên môn kỹ thuật càng cao thì thu nhập từ việc làm cũng cao Theo kết quả điều tra 1/7/2005, thu nhập bình quân tháng của 1 lao động làmcông ăn lương của cả nước là 973 nghìn VNĐ, tăng 15,14% so với năm 2004, thunhập1 tháng của 1 lao động làm công, ăn lương tốt nghiệp cao đẳng, đại học gấp 2lần lao động chưa qua đào tạo, trong những lao động đã qua đào tạo thì lao động cótrình độ càng cao thì mức thu nhập càng cao, mức chênh lệch giữa nhóm thấp nhất
và nhóm cao nhất là 5 lần chế độ tiền lương đang dần hoàn chỉnh để làm nhiệm vụđiều chỉnh quan hệ cung cầu trên thị trường lao động
1.3.Di chuyển lao động quốc tế được hình thành và đạt được một số thành tựu
Cùng với sự mở cửa đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường, thị trường laođộng xuất khẩu lao động ngày càng trở nên sôi động và là một trong những giảipháp chính giải quyết nhanh chóng tình trạng thất nghiệp, tạo công ăn việc làm chongười lao động
Hoạt động thị trường tuy còn nhiều mới mẻ, mới bắt đầu chính thức từ 1980.Ban đầu lao động Viêt Nam chủ yếu được đưa sang qua các hợp đồng kí kết giữaNhà nước với một số các nước chủ nghĩa xã hội Đông Âu ( Liên Xô, cộng hòa dânchủ Đức, Tiệp Khắc và Bungari) một bộ phận làm việc ở Iraq, Libya và một sốnước châu Phi
Trong giai đoạn 1980-1990, Việt Nam đã đưa được 244,186 lao động, 7200lượt chuyên gia đi làm việc và 23.713 thực tập sinh vừa học vừa làm ở nước ngoài,mang lại hơn 300 triệu đồng cùng số lượng tài sản lớn mang về nước
Sau năm 1991, do tình hình chính trị có nhiều biến động, các bạn hàng trướckia không còn tiếp nhận lao động của ta nữa 9 tháng 11 năm 1991, Chính Phủ ban
Trang 35hành Nghị định370/HĐBT về đưa người lao động Việt Nam đi lao động ở nướcngoài Cho đến tháng 8 năm 1998, nước ta có 55 tổ chức kinh tế là doanh nghiệpnhà nước có giấy phép kinh doanh dịch vụ xuất khẩu lao động, cho đến năm 1999con số này là 77 doanh nghiệp , trong đó có 53 doanh gnhiệp thuộc bộ và 24 doanhnghiệp địa phương Tính đến tháng 9-2004, số lượng các doanh nghiệp kinh doanhdịch vụ xuất khẩu lao động là 144 doanh nghiệp trong đó có 118 doanh nghiệp nhànước, 11 doanh nghiệp thuộc các tổ chức đoàn thể, 12 công ty cổ phần và 3 công tytrách nhiệm hữu hạn Số người lao động làm việc ở nước ngoài tăng từ 1.022 năm
1991 lên 31.500 người năm 2000 và 75.000 người năm 2003
Hiện nay Việt Nam có khoảng 400.000 lao động và chuyên gia làm việc trên 40nước và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm nghề các loại
Quy mô lao động xuất khẩu hàng năm tăng với mức bình quân tử 40.000 người/năm Năm 2004, số lượng người đi làm việc ở nước ngoài đạt trên67.000 người
30.000-Chất lượng người lao động tham gia thị trưòng xuất khẩu ngày càng đòi hỏicao, thị trường xuất khẩu không chỉ bó hẹp trong các lao dộng phổ thông mà đãphát triển trong một số nghành nghề khác đòi hỏi trình độ kĩ thuật,tay nghề
Các cơ quan nhà nước thắt chặt hơn công tác kiểm tra giám sát đối với hoạtđộng của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ xuất khẩu lao động nhờ đó mà làmlành mạnh, tạo sự tin tưởng cho các đối tác cũng như người lao động về thị trườngnày.Về phiá các nhà doanh nghiệp có những xúc tiến đáng kể, cải tiến phương thứchoạt động, ràng buộc lợi ích giữa cá nhân, gia đình với doanh nghiệp làm giảmđáng kể tình trạng lao động trốn, vi phạm pháp luật trong xuất khẩu lao động, đồngthời củng cổ thị trường cũ, phát triển, tìm kiếm thị trường mới Năm2005 tình trạnglao động Việt Nam bỏ trốn hoặc bỏ việc làm theo hợp đồng trở thành lao động bấthợp pháp giảm đáng kể, quan hệ hợp tác lao động giữa Việt Nam với các nướctrong khu vực đã được cải thiện, khả năng mở rộng thị trường sang Trung Đông có
Trang 36nhiều triển vọng Năm 2005, con số này sẽ lên tới khoảng 70.590 người, tăng 3%
so với năm 2004 Trong 5 năm (2001-2005) thị trường xuất khẩu lao động từngbước được mở rộng và phát triển:
Bảng 1.3.1: Lao động Việt Nam đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng
Đơn vị: Người
Tổng cộng 2001- 2005
Trang 37tại việt Nam góp phần tạo nên dich chuyển lao động hai chiều Nếu như năm 1996chỉ có 2.799nguời thì đến năm 2002 đã tăng lên 6.938 người ( tăng gần 2,5 lần) và
6 tháng đầu năm2004 là 6.553 người Số lao động nước ngoài chủ yếu là những laođộng có chuyên môn kĩ thuật, nghệ nhân nghành nghề truyền thống và lao độngquản lý, làm việc chủ yếu trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, liêndoanh thuộc 50 lĩnh vực ngành nghề kkhác nhau Điều này làm đa dạng phong phúthêm thị truờng lao động Việt Nam, giúp cho thị trường trở lên sôi động hơn, mangđến sự linh hoạt mềm dẻo giúp cho thị trường lao động Việt Nam hòa cùng vói sựsôi động của thị trường lao động thế giới
1.4.Quan hệ giữa người lao động - người sử dụng lao động đã rõ ràng trên cơ
sỏ pháp luật Do vậy việc giải quyêt các mâu thuẫn không còn gặp khó khăn nhưtrước
Với sự ban hành Bộ luật Lao động và các luật, các văn bản pháp quy khác cóliên quan đến lao động, một khuôn khổ pháp lý tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ vàthống nhất cho thị trường lao động được hình thành và đưa vào áp dụng Nhờ đó
mà tạo điều kiện thuận lợi cho các bên quan hệ lao động bình đẳng, thương lượng
và thỏa thuận giao kết hợp đồng, đảm bảo việc làm, tiền lương và các điều kiệnkhác Hệ thống này đã giúp bước đầu phát triển quan hệ lao động mới giữa ngườilao động và người sử dụng lao động, đặt nền móng cho một thị trường lao độnghiện đại Hiện nay khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, quan hệ giữangưưoì lao động và người sử dụng lao động ngày càng trở nên phức tạp, hình thànhnhiều mối liên quan ràng buộc mới, đị cùng với nó là sự nảy sinh nhiều mâu thuẫnkhó giải quyết.Vấn đề đình công hiện nay trở thành vấn đề khá nóng bỏng, số vụđình công trong những năm qua đã không ngừng tăng lên, tuy nhiên đều được giảquyết triệt để do có những quy định rõ ràng cử pháp luật, quan hệ giữa hai bên
Trang 38được thể chế hóa trong các văn bản, quyền hạn của các bên được xác nhận trongcác văn bản pháp quy.
1.5.Bắt đầu hình thành quan hệ mới -“quan hệ tam giác”
Khi đề cập đế quan hệ lao động chúng ta thường nghĩ ngay rằng đó la mốiquan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động nhưng điều đó không còn
la tuyệt đối nữa khi mà đã bắt đầu nhen nhóm mối quan hệ mới- mối quan hệ babên đó là người lao động, người sử dụng lao động và người sử dụng dịch vụ ( còngọi là công ty cung cấp nhân sự) Trong đó công ty cung cấp nhân sự sẽ trực tiếp kíhợp đồng với người cần lao động, và người lao đông lại kí hợp đồng với công tycung cấp nhân sự và nhận lương cũng như các trợ cấp khác từ công ty chứ khôngphải từ người muốn thuê lao động
Quan hệ việc làm tam giác thường xuất hiên trong 2 loại hình hợp đồng: hợpđồng thương mại và hợp đồng thầu phụ Trong loaị hợp đồng thứ nhất, công tycung cấp nhân sự và khách hàng là hoàn toàn độc lập, các loại hình dịch vụ sử dụngloại hình này là dich vụ vệ sĩ, bảo vệ, vệ sinh, chăm sóc người già…Trong loại hợpđồng thứ hai là hợp đồng thầu phụ giữa công ty đặt hàng và một nhà thầu phụ,thường xảy ra trong lĩnh vực công nghiệp
Ở nước ta, loại hình quan hệ việc làm tam giác đang nhen nhóm hình thành với
sự xuất hiện ngày càng nhiều các công ty cung ứng dịch vụ bảo vệ, an ninh, vệsinh, quét dọn…phát triển quan hệ việc làm tam giác này sẽ tiết kiệm thời gian,công sức đi thuê lao động cho người sử dụng dịch vụ, làm tăng tính chuyên nghiệp,chuyên môn hóa trong những dịch vụ đặc thù như: vệ sĩ, giữ trẻ, vệ sinh…,ngoài ra
là công ty sẽ có những ưu thế, có tiếng nói hơn tạo lòng tin cho cả người cần sửdụng lao động cũng như người lao động
Trang 391.6 Các hình thức, các kênh giao dịch đã trở nên phong phú và hoạt dộng cóhiệu quả hơn
Hình thức giao dịch
Các hình thưc giao dịch trên thị trường lao động nước ta gồm giao dịch giữa cánhân với cá nhân, giữa cá nhân với tổ chức ( thường thông qua hợp đồng lao độngbằng văn bản hoặc bằng miệng, giao dịch giữa tập thê người lao động với tổ chứcthường được kí kết giữa tổ chức Liên đoàn và tổ chức được rõ ràng thông qua “thỏaước lao động tập thể”, được quy đinh rõ và cụ thể trong bộ luật lao động va các vănbản quy phạm có liên quan Các giao dịch lao động còn được tiến hành dưới cáchình thức khác như thuê mướn lao động trực tiếp theo giờ, theo vụ mùa, thông quacác chợ lao động
Kênh giao dịch trên thị trường lao động chủ yêú nhất vẫn là thông qua tuyểndụng
Quá trình tuyển mộ và tuyển chọn ngày càng khoa học và chính xác hơn.Phương pháp tuyển mộ, thu hút người lao động được tiến hành một cách rộng rãi,công khai bằng các hình thức hiên đại, áp dụng khoa học kĩ thuật, tiến bộ trongcông nghệ thông tin, như việc đưa các thông tin tuyển dụng, thu hút nhân tài lêncác phương tiên đại chúng( báo chí, phát thanh truyền hình…), qua mạnginternet( thành lập các website chuyên dụng giới thiệu việc làm, đăng tải các thôngtin về các doanh nghiệp…), nhờ vậy mà người lao động có được thông tin đầy đủ,chính xác, ấo nhiều cơ hội lựa chọn việc làm phù hợp, phát triển năng lực bản thân,đồng thời các doanh nghiệp tuyển chọn đươc những người lao động có khả năng,
có năng lực, đáp ứng được yêu cầu của công việc
Quá trình tuyển chọn cũng trở nên minh bạch, rõ ràng, dựa vào năng lực, khảnăng làm việc mà lựa chon vì vậy chất lượng người lao động trong các doanhnghiệp được nâng cao
Trang 40- Hiện nay giao dịch trên thị trường lao động đang ngày càng sôi động, diễn rathông qua các trung tâm giới thiệu việc làm
Hiện nay cả nước có 180 Trung tâm giới thiệu việc làm được thành lập theoNghị định 72/NĐ-CP ngày 31/10/1985 của chính phủ, trong đó có 64 Trung tâmtrực thuộc Bộ lao động – Thương binh xã hôi, 116 Trung tâm trực thuộc bộ,nghành, tổ chức chính trị - xã hội, và ban quản lý Công nghiệp, khu chế xuất
- Trong giai đoạn 1998-2003, trung bình một năm các trung tâm giới thiệu việclàm đã tư vấn cho 575.000 lượt người, giới thiệu và cung ứng lao động 214.000người, số lần cung ứng cho người lao động và người sử dụng lao động là 94.000lần, dạy nghề 172.000 người và người có việc làm sau đào tạo nghề là 70.000người
Đạt được thành tựu trên là do có những cố gắng từ cả phía nhà nước cũngnhư của các Trung tâm Nhà nước đã có những chính sách, chủ trương tạo môitrường thuận lợi để hệ thông trung tâm dịch vụ việc làm hình thnàh và phát triển.Hoạt động giới thiệu việc làm đã được Nhà nước, các tổ chức chính trị -xã hội vàcác cấp, các ngành tạo điều kiện về mặt bằng, cơ sở vật chất, trang thiết bị, tàichính và cán bộ
Ví như chương trình Mục tiêu quốc gia về việc làm, trong giai đoạn
2001-2005, các Trung tâm giới thiệu việc làm đã đựơc nhận số tiền đầu tư là 73 tỷ đồng,trung bình mỗi Trung tâm thuộc sở Lao động-Thương binh và Xã hội nhận được từchương trình hỗ trợ này 2-3 lần, mỗi lần từ 300-500 triệu, các Trung tâm thuộc Bộ,ngành, tổ chức chính trị xã hội ít nhất một lần với mức 50-70 triệu đồng/lần
Nhờ vậy cùng với sự cố gắng của các Trung tâm, sự nỗ lực, nhiệt tình và tâmhuyết của đội ngũ cán bộ làm công tác dịch vụ việc làm thì:
- Nhiệm vụ của Trung tâm giới thiệu việc làm đã phù hợp với tính chất và nộidung của tổ chức này, và cơ bản phù hợp với các quy định quốc tế , đã hòa nhập