TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI KHOA VĂN HOÁ DÂN TỘC THIỂU SỐ --- KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN VĂN HOÁ CHUYÊN NGÀNH VĂN HOÁ DÂN TỘC THIỂU SỐ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ MƯỜNG Ở QUÝ HÒA, LẠC SƠN,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI KHOA VĂN HOÁ DÂN TỘC THIỂU SỐ
-
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN VĂN HOÁ CHUYÊN NGÀNH VĂN HOÁ DÂN TỘC THIỂU SỐ
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ MƯỜNG Ở QUÝ HÒA, LẠC SƠN, HÒA BÌNH VỚI NGHỀ LÀM Y PHỤC
TRUYỀN THỐNG
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS TRẦN BÌNH
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Vai trò của phụ nữ Mường ở Quý Hòa, Lạc Sơn, Hòa Bình với việc xản xuất và sử dụng y phục truyền thống” được hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình, của PGS.Ts Trần Bình, chính quyền xã Quý Hòa, chú Bùi Văn Dát – Chủ tịch UBND xã Quý Hòa; Bác Bùi Văn Chiến – Phó chủ tịch UBND xã Quý Hòa; Cô Bùi Thị Bư – Chủ tịch hội phụ nữ xã Quý Hòa; Chị Bùi Thị Nhương – Phó chủ tịch hội phụ nữ xã Qúy Hòa; chị Bùi Thị Diễm – Chi hội trưởng chi hội phụ
nữ xóm Cáo, xã Qúy Hòa cùng toàn thể các Phòng, Ban thuộc UBND
xã Qúy Hòa, gia đình chú Bùi Văn Thương xóm Khả 1, các cán bộ Thư viện Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, cô Bùi Thị Thủy – Phó phòng Văn hóa Huyện Lạc Sơn( Hòa Bình), nhân dân xã Quý Hòa (Lạc sơn, Hòa Bình),… Nhân đây em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả!
Do khả năng có hạn, chăc chắn khóa luận sẽ không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, em mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ Thầy cô và những người quan tâm tới Khóa luận
Em xin trân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Bùi Thị Thanh Thủy
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 2
MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG 1 10
KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI MƯỜNG 10
Ở QUÝ HÒA, LẠC SƠN, HÒA BÌNH 10
1.1 Đặc điểm địa bàn cư trú 10
1.2 Nguồn gốc, tên gọi tộc người 11
1.3 Đặc điểm mưu sinh, xã hội truyền thống 12
1.4 Đặc điểm văn hóa 14
1.4.1 Văn hóa vật chất 14
1.4.2 Văn hóa tinh thần 23
CHƯƠNG 2 33
PHỤ NỮ MƯỜNG Ở QUÝ HÒA VỚI SẢN XUẤT 33
VÀ SỬ DỤNG Y PHỤC TRONG XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG 33
2.1 Phụ nữ với việc làm sợi, nhuộm và dệt 34
2.1.1 Làm sợi 34
2.1.3 Kỹ thuật dệt vải 39
2.1.4 Kỹ thuật dệt cạp váy 40
2.1.5 Lựa chọn hoa văn dệt 40
2.2 Vai trò của phụ nữ trong nhuộm sợi, vải 42
2.3 Cắt may và thiết kế kiểu dáng y phục 43
Trang 42.4 Vai trò của phụ nữ Mường trong trang trí y phục 44
2.4.1 Các thao tác trang trí 44
CHƯƠNG 3 47
PHỤ NỮ MƯỜNG Ở QUÝ HÒA VỚI BẢO TỒN 47
Y PHỤC DÂN TỘC HIỆN NAY 47
3.1 Thực trạng y phục dân tộc Mường ở Quý Hòa hiện nay 47
3.1.1 Đặc điểm chung 47
Nghệ nhân làm y phục truyền thống 48
Kỹ thuật sản xuất y phục 48
Vai trò của phụ nữ Mường trong sử dụng y phục Mường hiện nay 51
3.2 Vai trò của phụ nữ trong truyền dạy nghề làm y phục truyền thống 54
3.2.1 Phụ nữ với việc truyền dạy 54
3.2.2 Phụ nữ với việc tiếp nhận nghề làm y phục truyền thống 55
3.3 Những yếu tố tác động đến vai trò của phụ nữ trong cắt may và sử dụng y phục truyền thống hiện nay 57
Yếu tố văn hóa 57
Chính sách của Đảng, Nhà nước 58
Nhu cầu của phát triển du lịch 59
3.4 Vấn đề đặt ra và một số giải pháp khắc phục 59
3.4.1 Vấn đề đặt ra 59
3.4.2 Một số giải pháp khắc phục 60
3.5 Câu chuyện văn hóa 61
KẾT LUẬN 66
Trang 5DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68 PHỤ LỤC ẢNH 70
Trang 6
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự biến đổi văn hóa luôn là vấn đề nóng và được nhiều nhà nghiên cứu cũng như giới truyền thông quan tâm sâu sắc bởi biến đổi văn hóa không chỉ ảnh hưởng đến cả một nền văn hóa đất nước mà còn tác động tới cả một nền kinh tế hiện đại, đặc biệt là kinh tế du lịch Quan trọng hơn, nó còn có một sự ảnh hưởng không nhỏ tới cả một hệ thống con người về mặt nhân cách, ứng xử…
Trong đó, y phục dân tộc Mường là một thành tố văn hóa vật thể quan trọng nhất Không chỉ có chức năng bảo vệ, che đậy cơ thể con người về thể chất mà y phục còn phản ánh một nền văn hóa, nếp sống tộc người, quan điểm thẩm mĩ của tộc người và trình độ phát triển thủ công nghiệp của tộc người đó Thông qua y phục chúng ta còn có thể đoán biết được môi trường sinh sống của họ ở đồng bằng hay miền núi, thậm chí có thể đoán biết được
họ sinh sống xen kẽ với những tộc người nào rồi nhận diện được tộc người này với tộc người khác Chính vì vậy, y phục hay trang phục là một trong những đối tượng nghiên cứu phổ biến của nhân học văn hóa
Bên cạnh đó, y phục Mường hiện nay ở xã Quý Hòa mặc dù vẫn còn khá phổ biến nhưng đã thay đổi nhiều về hình thức, cách thức sử dụng và tác động lớn nhất đến sự thay đổi này là sự biến đổi về vai trò của phụ nữ
Mường đối với việc làm và sử dụng y phục
Chính vì những lí do trên chúng tôi lựa chọn: Vai trò của phụ nữ
Mường ở Quý Hòa, Lạc Sơn, Hòa Bình với nghề làm y phục truyền thống
làm đề tài Khóa luận Tốt nghiệp cử nhân ngành Văn hóa Dân tộc Thiểu số
2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích: Khẳng định vai trò của phụ nữ Mường ở Quý Hòa đối với
bải tồn văn hóa Mường truyền thống
Nhiệm vụ:
Trang 7Khái quát về người Mường ở Quý Hòa, văn hóa Mường ở Quý Hòa Tìm hiểu các đặc điểm y phục Mường truyền thống, và thay đổi của
nó hiện nay
Tìm hiểu vai trò của phụ nữ Mường ở Quý Hòa đối với việc sáng tạo
và sử dụng y phục truyền thồng
Tìm kiếm một số giải pháp bước đầu, với mong muốn góp phần bảo tồn y phục truyền thống Mường ở xã Quý Hòa
3 Lịch sử nghiên cứu
Trang phục của người Mường đã được rất nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng đề cập đến trong các công trình của mình như Người Mường – Địa lí nhân văn và xã hội của Jean Cusinier (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa tộc người của Nguyễn Từ Chi (1995), Người Mường ở Hòa Bình của Trần
Từ (1996), Người Mường ở Việt Nam của Vũ Tuyết Mai và Bùi Đức Tân (1999), Tang lễ của người Mường ở Hòa Bình của Nguyễn Thị Song Hà (2009)…Tuy nhiên những tác phẩm này mới chỉ đề cập đến các khía cạnh khác nhau của trang phục Mường mà chưa nêu được rõ nhất vai trò của phụ
nữ trong làm trang phục cũng như sử dụng và bảo tồn trang phục truyền thống của dân tộc
Bên cạnh đó, tôi còn muốn thể hiên rõ hơn sự biến đổi vai trò của phụ
nữ làm ảnh hưởng đến việc bảo tồn trang phục dân tộc như thế nào để từ đó
có phương pháp giải quyết hoặc hạn chế sự mai một văn hóa trang phục Mường ở xã Quý Hòa
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu : Vai trò của phụ nữ Mường trong việc làm y phục truyền thống Trong đó, trọng tâm nghiên cứu là y phục phụ nữ
Phạm vi thời gian: Truyền thống từ năm 1990 trở về trước và hiện tại
là đầu năm 2015
Trang 8Phạm vi không gian : Xã Quý Hòa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình Trong đó tập chung nghiên cứu chủ yếu ở Xóm Khả 1, Xóm Cốc, Xóm Cáo
và xóm Thung 1, Thung 2 là những thôn điển hình về dệt thổ cẩm và có nhiều nghệ nhân giỏi dệt may trang phục truyền thống
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình hoàn thành khóa luận, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, sẽ được tuyệt đối tuân thủ
Đó là sự nhìn nhận y phục Mường ở Quý Hào và vai trò của phụ nữ Mường
ở đây đối với việc sản xuất và sử dụng y phục truyền thống, trong sự tương tác tất yếu của của các yếu tố: tộc người (phong tục tập quán); đặc điểm môi trường cư trú, giao tiếp văn hóa; cũng như các chương trình kinh tế - xã hội khác, muốn bảo tồn y phục truyền thống Mường ở Quý Hòa buộc phải thỏa mãn các mối quan hệ trên
- Nghiên cứu thực địa là phương pháp tiếp cận chủ đạo của bài khóa luận này Các kỹ thuật chủ yếu bao gồm: Tham dự, quan sát, phỏng vấn, hỏi chuyện, ghi chép,… được sử dụng trong quá trình điều tra, nghiên cứu thu thập tư liệu ở các xóm Mường Quý Hòa Để thu thập tư liệu, tác giả đã nghiên cứu thực địa ở Quý Hòa nhiều đợt Trong thời gian trên, tôi gặp gỡ các vị lãnh đạo, cán bộ các ban ngành, các cụ bà người cao tuổi, các cán bộ chi hội phụ nữ, các thợ dệt may giỏi và phụ nữ ở Quý Hòa, cũng như huyện Lạc Sơn,… Kết quả thu được từ các đợt nghiên cứu thực địa là nguồn tư liệu chính, để xem xét nghiên cứu, thực hiện khóa luận này
- Để bổ sung tư liệu, nghiên cứu tài liệu thứ cấp, trong các tài liệu đã công bố, cũng được chú trọng thực hiện Đó là những công trình nghiên cứu
về trang phục, y phục, tổ chức xã hội, ma chay, cưới xin, tín ngưỡng, thờ cúng, cách thức tổ chức sản xuất, tổ chức cộng đồng, của người Mường và Quý Hòa nói riêng và ở Lạc Sơn nói chung; Những tài liệu liên quan đến
Trang 9tình hình phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động của các chi hội phụ nữ ở địa phương;
- Để xử lý, phân tích các dữ liệu, phương pháp thống kê, so sánh,
đã được sử dụng trong quá trình thực hiện trong báo cáo này
6 Đóng góp của Khóa luận
Khóa luận sẽ góp phần bổ sung tài liệu về trang phục Mường truyền thống, và vai trò của phụ nữ Mường trong dệt may trang phục truyền thống,
ở Quý Hòa nói riêng và cuả người Mường ở Hòa Bình nói chung
Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích đối với các cơ quan, cá nhân đang thực hiện công tác bảo tồn trang phục, văn hóa truyền thống Mường ở Quý Hóa, Lạc Sơn và ở Hòa Bình
7 Nội dung và bố cục của Khóa luận
Ngoài phần Mở Đầu, Kết Luận và Phụ lục ảnh Khóa luận được trình
bày trong 3 chương chính:
Chương 1: Khái quát về người Mường ở Quý Hòa
Chương 2: Phụ nữ Mường ở Quý Hòa với việc sản xuất và sử dụng y
phục trong xã hội truyền thống
Chương 3: Phụ nữ Mường ở Quý Hòa với sản xuất và sử dụng y phục
dân tộc hiện nay ở Quý Hòa
Trang 10CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI MƯỜNG
Ở QUÝ HÒA, LẠC SƠN, HÒA BÌNH
1.1 Đặc điểm địa bàn cư trú
Xã Quý Hòa được thành lập vào năm 1956, là xã đặc biệt khó khăn (xã 135 giai đoạn II theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ) Xã Quý Hòa nằm ở phía Bắc của huyện Lạc Sơn, là xã vùng cao của Huyện, cách trung tâm huyện 20 km
Về vị trí địa lý
Phía Đông của xã tiếp giáp với xã Cuối Hạ của huyện Kim Bôi, xã
Mỹ Thành, xã Văn Nghĩa của huyện Lạc Sơn;
Phía Tây tiếp giáp xã Thượng Tiến của huyện Kim Bôi, và xã Miền Đồi của huyện Lạc Sơn;
Phía Bắc giáp xã Kim Tiến của huyện Kim Bôi;
Phía Nam giáp xã Tuân Đạo huyện Lạc Sơn
Khí hậu
Xã Quý Hòa cũng như các xã khác trong toàn huyện nằm ở đới khí hậu nhiệt đới gió mùa, chính vì vậy có phân thành mùa mưa và mùa khô rõ rệt Mùa mưa lượng mưa trung bình hàng năm là 1.900 mm, nhiệt độ bình quân tháng từ 23 - 250c, ngày nóng lên đến 36-400c, mùa đông ngày rét xuống đến dưới 100c Độ ẩm không khí trung bình 84%, cao nhất 100%, thấp nhất 24% Chế độ gió, hướng gió thịnh hành theo hai hướng Đông Nam
và Đông Bắc Số giờ nắng trung bình mùa hè 6-7giờ/ngày, mùa đông 3-4giờ/ngày
Về thổ nhưỡng
Trang 11Quý Hòa có nhiều loại đất, phù hợp với nhiều loại cây trồng, trong đó chủ yếu là đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét, loại đất này phân bố chủ yếu ở vùng đồi, phù hợp với cây ăn quả, cây công nghiệp, trồng rừng và đất trồng lúa, bao gồm đất đồng ruộng, đất ven suối, đất thung lũng, đất đồi núi
Tài nguyên nước
Xã Quý Hòa hiện nay sử dụng nguồn nước chính từ hồ trữ nước ( Hồ Khả ) thuộc địa phận của xã, hồ trữ nước này có diện tích rất lớn khoảng 30 nghìn mét vuông, điểm sâu nhất tới gần 20m Nguồn nước này chịu trách nhiệm cho toàn bộ dân số trong khu vực xã sinh hoạt và sử dụng làm nguồn tới tiêu cho các loại cây lương thực, hoa màu hay chăn nuôi
Ngoài ra do địa hình chia cắt, gồ ghề nên xã Quý Hoà còn có hệ thống suối nhỏ cũng góp phần vào nguồn cung cấp nước sinh hoạt, nước tưới cho phát triển nông nghiệp
Hạ tầng giao thông
Nhìn chung giao thông trên địa bàn xã Quý Hòa đã được quy hoạch
cụ thể và thuận tiện, đã có đường đổ bê tông từ trung tâm xã đến các thôn, làng Tuy nhiên, còn rất nhiều các con đường liên thôn hoặc đường nằm trên các thôn vùng cao hơn gần như còn rất khó khăn, nhiều đá mấp mô lởm chởm, đường lại dốc và trơn trượt vào ngày mưa nên gây nhiều nguy hiểm cho người qua lại, cũng gây khó khăn trong việc giao lưu, trao đổi buôn bán
Đặc biệt đoạn đường dẫn lên thôn Thung 1 và Thung 2 dài 8km, hay thôn Rọi 1, Rọi 2 và Xóm Thêu là đoạn đường có độ dốc lớn, nhiều đá, vô cùng khó khăn khi di chuyển Có lẽ cũng vì sự khó khăn về mặt giao thông
mà văn hóa Mường ở các thôn Thung 1 và Thung 2 còn rất đậm nét, nơi đây giống như một thế giới Mường cổ xưa độc lập vậy
1.2 Nguồn gốc, tên gọi tộc người
Tài liệu về ngôn ngữ học, nhân chủng học, dân tộc học, khảo cổ học… chứng minh rằng người Mường ở Việt Nam có nguồn gốc là người
Trang 12Việt cổ, hay nói cách khác người Mường và người Việt hiện nay có cùng nguồn gốc
Các nhà ngôn ngữ học xếp người Mường vào nhóm các dân tộc có tiếng nói thuộc ngôn ngữ Việt – Mường (Việt, Mường, Thổ và Chứt) Tộc danh Mường nay đã được sử dụng phổ biến và rộng rãi Tuy vậy, một số
nhóm địa phương còn có tên tự gọi là: Mon, Moi và Ao Tá Cùng với người
Việt (Kinh), cộng đồng người Mường thuộc khối cư dân Lạc - Việt cổ, có mặt sớm nhất ở Việt Nam Trong quá trình phát triển, do những điều kiện lịch sử nhất định, vào khoảng thế kỷ IX- X, cộng đồng Việt - Mường cổ đã tách ra thành hai tộc người riêng biệt như ngày nay Trong khi tộc người Việt cư trú tập trung ở đồng bằng châu thổ và vùng duyên hải ven biển, thì cộng đồng người Mường cư trú tập trung ở vùng núi Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ và một số khu vực miền núi, trung du khác
Người Mường tự nhận là Mol, Mual, Mon, Muan, Mó…có nghĩa là
“người” Ngày nay, Mường là tên gọi chính thức được Nhà nước công nhận,
và sử dụng trong các văn bản hành chính Hiện nay, Hòa Bình với bốn mường cổ: Bi, Vang, Thành, Động, vẫn được coi là cái nôi gìn giữ văn hóa truyền thống của dân tộc Mường
1.3 Đặc điểm mưu sinh, xã hội truyền thống
Xã Quý Hoà có 1.300 hộ với 6.015 nhân khẩu Trong đó, người Mường chiếm 99,8% Toàn xã có 17 xóm, được phân chia thành hai vùng khác nhau, có 8 xóm ở vùng cao và 9 xóm ở vùng thấp hơn Cao nhất là hai xóm Đồi Thung 1 và Đồi Thung 2, có độ cao 1.070m so với mực nước biển, cách trung tâm xã 9km về phía Bắc
Trong hoạt động kinh tế, từ bao đời nay người Mường sống dựa chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp, khai thác ruộng nương để trồng trọt và chăn nuôi Sống ở khu vực miền núi, họ đã biết khai thác tự nhiên để có đất canh
Trang 13tác, tận dụng những khu đất có bề mặt tương đối bằng phẳng trong thung lũng và ở khắp mọi nơi để làm ruộng Với kinh nghiệm làm thủy lợi được tích lũy từ thế hệ này sang thế hệ khác, dựa vào những nguồn nước ven sông
và suối, họ đã thiết lập hệ thống mương, phai, xe nước, ống dẫn nước tự tạo chạy ngang dọc trên các cánh đồng, nhằm đưa nước đến các chân ruộng cao, phục vụ cho việc trồng lúa nước
Hiện nay người Mường ở Quý Hòa trồng lúa là loại cây nông nghiệp chính, bên cạnh đó thì ngô và sắn là hai loại cây trồng chiếm vị trí thứ hai trong đời sống kinh tế người Mường Ngoài ra thì còn có các loại cây trồng như Vừng, lạc, đậu, dưa chuột và các loại cây rau ăn thường ngày…Có hai loại cây ăn quả rất phổ biến trong mỗi gia đình người Mường đó là Cau và Bưởi, có thể có thêm Na, Mít… nhưng số lượng ít, chỉ nhằm phục vụ nhu cầu của gia đình Ở một số khu vực như thôn Thung một, Thung hai … các
hộ dân còn trồng và buôn bán măng đắng, măng bương – loại hình kinh tế này dần dần trở thành nguồn thu nhập lớn nhất trong các nghề của họ
Bên cạnh trồng trọt, chăn nuôi cũng là một nguồn thu nhập đáng kể Ngoài các con vật nuôi truyền thống như trâu, bò, gà, lợn thì ngày nay nhiều
hộ gia đình người Mường đã nuôi dê, bò lai, bò sữa, ong… Họ biết tận dụng cây cỏ tự nhiên để kết hợp cả hình thức nuôi thả rông lẫn nuôi nhốt trong chuồng trại
Ngoài sản xuất nông nghiệp, người Mường hiện nay còn có hàng loạt các nghề khác cũng chiếm một vị trí kinh tế nhất định trong mỗi gia đình
Đó là các nghề thủ công như dệt thổ cẩm, đan lát, bốc thuốc Nam, hay buôn bán các loại hàng hóa như bánh kẹo, các đồ dùng sinh hoạt
Người Mường từ xưa sinh sống trong một lãnh địa riêng, ranh giới mang tính ước lệ được đánh dấu bằng các gốc cây, tảng đá, con sông, con suối… ranh giới ấy không chỉ để phân chia giữa khu vực sinh sống của