1 HỌC PHẦN NHÂN HỌC ĐÔ THỊ Đề tài Đô thị hóa và lối sống đô thị dưới thời kinh tế thị trường Trường hợp Hà Nội Từ ngày nước ta giải phóng miền Nam thông nhất đất nước năm 1975 cho đến nay, Đảng và nhà.
Trang 1HỌC PHẦN NHÂN HỌC ĐÔ THỊ
Đề tài
Đô thị hóa và lối sống đô thị dưới thời kinh tế thị trường:
Trường hợp Hà Nội
Từ ngày nước ta giải phóng miền Nam thông nhất đất nước năm 1975 cho đến nay, Đảng và nhà nước ta đã có rất nhiều chủ trương, chính sách nhằm khôi phục đất nước sau chiến tranh, cố gắng thúc đẩy phát triển toàn diện hơn nữa về mọi mặt của đất nước, đặc biệt là về kinh tế Ngay từ thập niên 1980, Đảng cộng sản Việt Nam đã khởi xướng về “Đổi mới” – một chương trình cải cách toàn diện bao gồm kinh tế và nhiều khía cạnh khác của đời sống xã hội Và chính sách Đổi mới được chính thức thực hiện
từ Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần VI, năm 1986 Thực hiện chính sách Đổi mới đã đem lại cho Việt Nam rất nhiều thành quả tốt đẹp Và một trong những kết quả lớn nhất đó là dấu hiệu về sự phát triển rất nhanh về kinh tế những năm qua Biểu hiện dễ thấy nhất đó là sự xuất hiện của “Đô thị hóa” Đây là xu hướng tất yếu xảy ra trong quá trình thực hiện chương trình đổi mới của Đảng và nhà nước
Từ ngày nước ta thực hiện công cuộc Đổi mới, quá trình đô thị hóa đã diễn ra mạnh mẽ đặc biệt khoảng từ những năm 90 cho đến nay Tốc độ và quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ mà có thể nhìn thấy rõ nhất là ở các thành phố lớn, các khu vực kinh
tế chính Đặc biệt là Hà Nội – thủ đô của đất nước, trong quá trình đô thị hóa sẽ có nhiều những sự thay đổi, tác động tới lối sống, cụ thể là lối sống đô thị dưới thời kinh tế thị trường
I Khái niệm Đô thị hóa
Có nhiều cách hiểu và khái niệm khác nhau về đô thị hóa, ngay từ kiến thức trung
học phổ thông chúng ta đã được biết tới khái niệm: “Đô thị hóa là một quá trình kinh
tế - xã hội mà biểu hiện của nó là sự tăng nhanh về số lượng và quy mô của các đặc điểm dân cư đô thị, sự tập trung dân cư trong các thành phố, nhất là các thành phố lớn
Trang 2và phổ biến rộng rãi lối sống đô thị” (sách giáo khoa Địa lý lớp 10, tr.95) Đô thị hóa
hay còn gọi là Urbanization - danh từ, trong tiếng Anh Theo Lí thuyết quy hoạch đô
thị, Trường ĐH Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh (2006, tr 34) thì “Đô thị hóa là sự
mở rộng của đô thị, là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống.” Hay theo bài
phân tích “Đô thị hóa là gì? Đặc điểm của đô thị hóa” của tác giả Nguyễn Lê Hà Phương đăng tải trên trang web Tri thức cộng đồng ngày 24/12/2021 có nêu ra hai cách tiếp cận đối với khái niệm của đô thị hóa là quan điểm một vùng và quan điểm kinh tế Sau đó
tác giả có tóm tắt lại khái niệm đô thị hóa là: “Quá trình biến đổi và phân bố các lực
lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân Bố trí dân cư; hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị Phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô dân số.”
Trên đây chỉ là một trong những khái niệm cơ bản về đô thị hóa, đến nay chưa
có định nghĩa thống nhất Các nhà nghiên cứu xem xét và có nhiều hướng, phương diện nhìn nhận về đô thị hóa khác nhau Nhưng chung quy lại, đô thị hóa có thể hiểu đơn giản là quá trình biến đổi, chuyển đổi các nguồn lực, nhân lực và vật lực của một hoặc nhiều địa phương, khu vực, lãnh thổ từ xu hướng nông thôn tới thành thị Tập trung các đặc điểm theo hướng phát triển của các đô thị
II Đô thị hóa ở Hà Nội
Đô thị hóa ngày nay không còn xa lạ với chúng ta, việc tiếp cận chúng qua sách báo, bài học, bài nghiên cứu và chính cả ngay từ cuộc sống cũng có thể thấy rõ được sự hiện hữu của Đô thị hóa Đô thị hóa ra đời ta có thể thấy được qua những đặc điểm, biểu hiện sau: Thứ nhất là số dân cư gia tăng không ngừng và sự tập trung dân cư ở thành phố lớn, dân số tăng không ngừng là một trong những đặc điểm của đô thị hóa bởi chính nó một trong những nguyên nhân lớn dẫn đến số dân cư, thậm trí nó có thể dẫn đến việc xảy ra bùng nổ dân số Theo trang thông tin điện tử Tổng cục Dân số - Kế
hoạch hóa gia đình “Phải mất hàng nghìn năm dân số thế giới mới đạt mốc 5 tỷ người,
và điều đó xảy ra vào năm 1987 Nhưng chỉ 32 năm sau, con số này đã gần đạt mốc 8
tỷ người.” Như vậy, cũng đã cho thấy được sự bùng nổ, gia tăng dân số với tốc độ rất
lớn trên thế giới hiện nay Hơn nữa dân số tăng, cũng đồng thời thúc đẩy sự xuất hiện
và quá trình phát triển các đô thị Đô thị hóa thúc đẩy những công cuộc di dân về các
Trang 3thành phố lớn để sinh sống và phát triển kinh tế Thứ hai, là lãnh thổ đô thị không ngừng được mở rộng cả về quy mô lẫn số lượng Một nét nổi bật chung nhất trong thế kỉ XX hầu hết các nước trên thế giới trong thời kì bùng nổ dân số và tập trung phát triển kinh
tế chính là tốc độ đô thị hóa đã và đang diễn ra rất nhanh chóng Các đô thị trên thế giới ngày càng xuất hiện nhiều và được mở rộng về cả quy mô với số lượng Dân số tăng, cũng kéo theo sự mở rộng các khu đô thị Đô thị hóa thúc đẩy khu vực lãnh thổ đô thị ngày càng được mở rộng sang các vùng và tỉnh thành lân cận Những điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật được thúc đẩy cải thiện với gia tăng sự liên kết giữa các khu vực Nhờ đó, khoảng cách đời sống giữa dân cư các vùng tiếp giáp được kéo gần và cũng là tiền đề hình thành những khu đô thị tiềm năng mới hay gọi cách khác là sự mở rộng lãnh thổ của đô thị hoá Thứ ba chính là lối sống đô thị ngày càng được mở rộng Mỗi khu vực, vùng miền hay lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế, chính trị - văn hóa nào cũng đều có những phong cách sống riêng Ở những thành phố, đô thị mọc lên cũng hình thành lối sống riêng Đó chính là “lối sống đô thị”, lối sống này được biểu hiện rõ rệt qua các hoạt động sinh hoạt văn hoá, kinh tế, xã hội với chất lượng ngày càng được cải thiện Hệ thống các căn nhà cao tầng, các trung tâm thương mại, hàng loạt các khu vui chơi giải trí, được đầu tư và phát triển Lối sống này ngày nay ngày càng được phổ biến rộng rãi hơn bởi sự gia tăng của các đô thị và vùng cận đô thị
Những đặc điểm trên là những đặc điểm của đô thị hóa nói chung, riêng với trường hợp đô thị hóa ở Hà Nội từ những năm 90 trở lại đây, ta có thể thấy rõ được những đặc điểm trên như sau:
1 Số dân cư gia tăng không ngừng và sự tập trung mạnh mẽ của dân cư tại
Hà Nội
Điều này ta có thể thấy rõ qua các nghiên cứu, báo cáo của các chuyên gia cũng như các cơ quan nhà nước hoặc các cơ quan báo chí Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà
ở năm 1991, địa giới Hà Nội tiếp tục thay đổi, chỉ còn 924 km², nhưng dân số vẫn ở mức hơn 2 triệu người Trong suốt thập niên 1990, với việc các khu vực ngoại ô dần được đô thị hóa, dân số Hà Nội tăng đều đặn, đạt con số 2.675.166 người vào năm 1999 Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, thành phố Hà Nội có hơn 6,23 triệu dân và nằm trong 17 thủ đô có diện tích lớn nhất thế giới Như theo kết quả
sơ bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở trên địa bàn Hà Nội thì “Đến 1/4/2019 dân số Hà
Trang 4Nội có 8,053 triệu người (2,22 triệu hộ dân cư) Trung bình mỗi năm, dân số Thủ đô tăng thêm khoảng 160.000 người, tương đương một huyện lớn Theo Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội TP Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050 do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định số 222/QĐ-TTg, đặt mục tiêu đến năm 2020 dân số Hà Nội đạt 7,9 - 8 triệu người, đến năm 2030 khoảng 9,2 triệu người Tính đến 1/4/2019, dân số Hà Nội là 8,053 triệu người Dân số của Hà Nội đã tăng thêm 1,6 triệu người so với năm 2009 Với tốc độ tăng trung bình 2,2%/năm thì đến năm 2030 dân số ước tính sẽ khoảng hơn 9,7 triệu người (gần bằng dân số dự báo đến năm 2050), vượt quá xa so với dự kiến” Theo Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân
số và nhà ở Trung ương: Báo cáo kết quả chính thức Tổng điều tra dân số và nhà ở, ngày 01/4/2009 thì Mức tăng trưởng dân số của thành phố Hà Nội rất nhanh chỉ trong
10 năm gần đây, dân số Hà Nội tính đến tháng 4/2009 là 6.451.909 người và tháng
4-2019 là 8.053.663 người, Hà Nội có mức tăng dân số khoảng 25% sau 10 năm so với năm 2009 Số lượng dân cư trên đây của thành phố chưa tính đến những người sinh hoạt
và lao động không chính thức
Theo phân tích của bài “Nhận diện vấn đề đô thị và quản lý phát triển đô thị khi đất nước dần trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại (kỳ 1)”, phân tích về điểm dân số tập trung vào các đô thị với tốc độ nhanh chóng, GS TS Nguyễn Tố Lăng (2021)
đã chỉ ra “Việt Nam là quốc gia có mật độ dân số cao so với các nước trên thế giới và
trong khu vực Năm 2019, mật độ dân số của Việt Nam là 290 người/km 2 , tăng 12% so với năm 2009 Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai địa phương có mật độ dân số cao nhất cả nước, tương ứng là 2.398 người/km 2 và 4.363 người/km 2 Năm 2009, mật độ dân số trung bình ở Hà Nội là 1.926 người/km 2 , ở Thành phố Hồ Chí Minh là 3.399 người/km 2 , cao gấp 7,4 lần và 13,1 lần so với mật độ dân số trung bình của cả nước là 259 người/km 2 Có những quận ở Hà Nội có mật độ siêu cao, như quận Đống
Đa là 38.896 người/km 2 , cao gấp 150 lần mật độ chung của cả nước”
Qua số liệu của các báo cáo, nghiên cứu và điều tra có thể thấy được số dân cư không ngừng gia tăng và sự tập trung dân cư rất đông đúc ở Hà Nội hiện nay Với tốc
độ tăng trưởng như vậy đã gây áp lực rất lớn cho Thủ đô về nhiều mặt Trong tương lai, mức độ đô thị hóa sẽ ngày càng được đẩy mạnh, chúng ta cần có những biện pháp đối phó và phát triển kinh tế song song với quá trình đô thị hóa
Trang 52 Lãnh thổ đô thị không ngừng được mở rộng
Theo ghi chép lịch sử, Thủ đô Hà Nội đã có nhiều thay đổi về địa giới hành chính
từ xưa đến nay Sau chiến tranh, Hà Nội vẫn tiếp tục giữ vai trò là Thủ đô của nước Việt Nam Ngày 21 tháng 12 năm 1978, Quốc hội Việt Nam phê chuẩn mở rộng địa giới Hà Nội, sáp nhập thêm 5 huyện Ba Vì, Thạch Thất, Phúc Thọ, Đan Phượng, Hoài Đức
và thị xã Sơn Tây của tỉnh Hà Sơn Bình cùng hai huyện của tỉnh Vĩnh Phúc là Mê Linh, Sóc Sơn Dân số Hà Nội lên tới con số 2,5 triệu người Bên cạnh lượng dân cư các tỉnh tới định cư ở thành phố, trong khoảng thời gian từ 1977 tới 1984, Hà Nội cũng đưa 12.861 hộ, 21.587 nhân khẩu tới Lâm Đồng theo chính sách xây dựng kinh tế mới Ngày 12 tháng 8 năm 1991, ranh giới Hà Nội lại được điều chỉnh, chuyển lại 5 huyện và 1 thị xã đã lấy của Hà Sơn Bình năm 1978 cho Hà Tây và Mê Linh được nhập vào tỉnh Vĩnh Phúc Hà Nội còn lại 4 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành, với diện tích đất tự nhiên 924 km² Lần thay đổi gần nhất và có hiệu lực cho đến hiện tại chính
là năm 2008 Cụ thể, ngày 29/5/2008, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 15/2008/QH12
về việc điều chỉnh địa giới hành chính Thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liên quan Theo đó, tỉnh Hà Đông, huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc) và 4 xã Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình sáp nhập vào Thủ đô Hà Nội Nghị quyết chính thức có hiệu lực từ ngày 01/8/2008 Sau khi sáp nhập, Hà Nội trở thành Thủ đô lớn thứ 17 trên thế giới với tổng diện tích hơn 3.300km2 (gấp 3,6 lần trước đó), tổng số dân tăng từ 3,4 triệu lên 6,2 triệu người Thông qua những số liệu trên cho thấy, lãnh thổ của Thủ đô Hà Nội không ngừng được mở rộng từ cuối những năm 70 cho đến hiện tại Sự thay đổi về địa giới hành chính đã mở ra cho Hà Nội rất nhiều cơ hội phát triển, vươn lên là đô thị hàng đầu quốc gia, là top của thế giới và khu vực, trở thành đầu tàu kinh tế của cả nước Hơn nữa, nhờ diện tích của Hà Nội được mở rộng mà những vùng lân cận cũng đã được tiếp xúc dần mà tự có những ảnh hưởng và chuyển đổi Ở Việt Nam ta có hai vùng đô thị lớn đó là vùng Thủ đô Hà Nội và vùng Thành phố Hồ Chí Minh Vùng Thủ đô Hà Nội bao gồm thành phố Hà Nội và 9 tỉnh lân cận: Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Phú Thọ, Thái Nguyên và Bắc Giang Tổng diện tích toàn vùng khoảng 24.314,7km2 (chiếm 7,3% diện tích tự nhiên toàn quốc), với dân số toàn vùng đến năm 2030 ước tính khoảng 21 - 23 triệu người, trong đó, dân số đô thị khoảng 11,5 - 13,8 triệu người, dân số nông thôn
Trang 6khoảng 9,2 - 9,5 triệu người; khoảng 12 - 13,2 triệu lao động; mức độ đô thị hóa đạt khoảng 55% - 60% Hà Nội phát triển, sẽ là bàn đạp, là nền tảng vững chắc giúp cho
các tỉnh, khu vực này phát triển
3 Lối sống đô thị ở Hà Nội
Lối sống đô thị là một trong những đặc điểm nổi bất nhất của đô thị hóa Có nhiều khái niệm và cách hiểu về lối sống đô thị Lối sống đô thị - danh từ, trong tiếng Anh được gọi là Urbanism Theo Giáo trình Xã hội học đô thị, tác giả Trịnh Duy Luân
(2009, tr 86) cho rằng: “Lối sống đô thị là khái niệm dùng để chỉ các khuôn mẫu hành
vi, ứng xử của các cá nhân, các nhóm xã hội trong hoàn cảnh, điều kiện sống, tình huống cụ thể diễn ra ở đô thị Các khuôn mẫu ứng xử đặc trưng cho mỗi nhóm xã hội như vậy, không phải là cái gì khác mà chính là một yếu tố của văn hóa Lối sống đô thị là một chủ đề nghiên cứu lớn trong xã hội học đô thị Nó vừa là một vấn đề lí thuyết, vừa là vấn đề nghiên cứu ứng dụng thực tiễn” Trong bài “Các nghịch lý trong lối sống
đô thị hiện nay từ góc nhìn Đà Nẵng” đăng 27/6/2011 trên Liên hiệp các hội khoa học
và kĩ thuật Việt Nam, khi bàn về khái niệm lối sống đô thị, bài viết cho rằng lối sống
đô thị là một khái niệm rộng mà thay vào đó có nhắc đến khái niệm lối sống quá độ
“Lối sống quá độ là sự pha trộn, hỗn tạp những yếu tố cũ quy định hành vi văn hóa,
ứng xử và giao tiếp với những yếu tố văn hóa mới hình thành từ nhiều nguồn gốc khác nhau chưa định hình và ổn định Do vậy, việc xác định một chuẩn mực về lối sống đô thị cho cộng đồng dân cư là rất khó khăn Lối sống này gắn với những nhóm xã hội, giai tầng, nghề nghiệp và tầng lớp cụ thể Sự hình thành lối sóng đô thị do nhiều nhân
tố ảnh hưởng như sự biển đổi cơ cấu xã hội, dân cư; sự tác động phân cực giàu nghèo;
sự chuyển đổi các định hướng giá trị của các nhóm xã hội; sự thay đổi chức năng, vai trò của các bộ phận trong guồng máy điều hành, quản lý đô thị.” Có thể nói rằng lối
sống đô thị có nhiều cách tiếp cận tuy nhiên vẫn có thể hiểu đơn giản rằng, lối sống đô thị là tất cả những đặc điểm trong mặt đời sống được hình thành và thay đổi dựa theo điều kiện và đặc thù riêng của đô thị và nền kinh tế của đô thị
Hà Nội là thành phố có bề dày lịch sử hàng nghìn năm văn hiến Từ đời các triều đại phong kiến Thăng Long (Hà Nội ngày nay) đã trải qua bao thăng trầm của lịch sử vẫn là một trung tâm kinh tế, văn hóa và chính trị lớn của nước ta Từ đời vua Lý Thái
Tổ - vị vua đầu tiên của triều Lý, Hà Nội được chọn làm kinh đô “Thăng Long” và kéo
Trang 7dài trong suốt thời kỳ Lý, Trần, Lê, Mạc Có thể nói Hà Nội xưa cũng chính là đô thị sầm uất lớn của đất nước Cho đến này, từ ngày chiến thắng Pháp, Mỹ và thống nhất đất nước năm 1975, Hà Nội vẫn được chọn làm thủ đô của nước Việt Nam đến nay Từ
xa xưa, từng thời điểm mà Hà Nội lại có những chất sống riêng của từng thời kì lịch sử Nhưng tựu chung lại chính là lối sống đô thị đã được hình thành nơi đây từ những ngày đầu lịch sử
Công cuộc đổi mới hơn 30 năm qua, cùng với sự phát triển của đất nước cũng đã thay đổi và tạo ra một Hà Nội cùng những diện mạo mới, những con người mới Đặc biệt là trong thời kì kinh tế thị trường, đô thị hóa, hiện đại hóa đất nước Vây lối sống
đô thị ở Hà Nội trong thời kinh tế thị trường có những điểm gì nổi bật?
Trước hết, ta cần nắm rõ được khái niệm kinh tế thị trường là gì? Theo cuốn “Đại
từ điển kinh tế thị trường”, kinh tế thị trường là phương thức vận hành kinh tế thị trường hình thành bởi trao đổi và lưu thông hàng hóa làm người phân bố tài nguyên chủ yếu, lấy lợi ích vật chất cung - cầu thị trường và mua bán giữa hai bên làm cơ chế khuyến khích hoạt động kinh tế và phương thức vận hành kinh tế Năm 1988 tại Đại hội lần thứ
VI Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 và các văn kiện của Đảng và Nhà nước
Hà Nội trong thời kinh tế thị trường đã có nhiều thành tựu to lớn trong việc phát triển kinh tế Tuy nhiên, song song với sự phát triển kinh tế đó là những thách thức và
sự thay đổi lớn trên nhiều phương diện Đặc biệt là trong lối sống, lối sống đô thị được hình thành từ các điều kiện tác động xung quanh là nền kinh tế và con người, ta có thể quan sát được lối sống đô thị của Hà Nội trong thời kinh tế thị trường có những đặc điểm, biểu hiện sau:
3.1 Tình trạng dân nhập cư
Dân cư sinh sống tại Hà Nội ngày càng chiếm số đông, không tính đến dân chính
cư hay nhập cư Sự phát triển của đô thị hóa gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, số dân cư ngày càng đông chứng tỏ công nghiệp phát triển, do vậy cơ sở hạ tầng được hoàn thiện, tạo nhiều việc làm, nâng cao đời sống, thu hút dân cư các nơi đến Hà Nội Báo
Trang 8cáo Phát triển Việt Nam của Ngân hàng Thế giới công bố năm 2016 cho thấy, xu hướng
di cư từ nông thôn ra thành thị ở Việt Nam ngày càng mạnh Có đến 20% số hộ cho biết
có ít nhất một thành viên di cư và 47% trong số họ đến các trung tâm lớn, như Hà Nội
và Thành phố Hồ Chí Minh Hà Nội là thành phố đông dân với mật độ dân số lớn nhất
cả nước (năm 2017, theo báo cáo của Chính phủ, dân số Hà Nội đã trên 9,6 triệu người, lớn hơn dân số dự báo đến năm 2030 Với tốc độ tăng trung bình 3%/năm, đến năm
2020 ước tính sẽ là 10,5 triệu người, gần bằng dân số dự báo đến năm 2050), vượt quá
xa so với dự kiến Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhập cư của người dân tứ
xứ đổ về Hà Nội: như tác động của quá trình đô thị hóa, phát triển kinh tế; do sự thay đổi về địa giới hành chính mở rộng của Hà Nội năm 2008 hay do nhiều xu hướng và chính sách tác động của nhà nước và thành phố Hà Nội Tình trạng dân nhập cư vào Hà Nội ngày càng có xu hướng tăng, việc này đã đóng góp thành phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của Hà Nội Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển đó là nhiều hệ lụy, mặt trái của nó
3.2 Văn hóa tiêu dùng
Văn hóa tiêu dùng của người Hà Nội có ảnh hưởng từ văn hóa đời sống, lịch sử, địa lý từ lâu đời Ví dụ như: ảnh hưởng của nền văn minh lúa nước lâu đời và thời kỳ bao cấp trong lịch sử nên đa số người Hà Nội có thói quen dự trữ tiết kiệm, phòng xa,
ăn bữa nay lo bữa mai Cũng do nét văn hóa từng nhiều thời kì lịch sử phải chiến đấu chống lại kẻ thù nên người Hà Nội rất coi trọng hòa bình và thích sự ổn định, an toàn
Ngày nay theo đà hội nhập và phát triển kinh tế, cũng như đặc điểm của nền kinh
tế thị trường mà hình thành nhiều hình thức và loại hình kinh doanh Từ đó cũng định hướng và xây dựng những xu hướng tiêu dùng của người dân Văn hóa tiêu dùng từ đó cũng bị tác động mà ảnh hưởng Xưa kia người ta hay quan niệm rằng người Hà Nội thì tằn tiện còn người Sài Gòn thì hoang phí Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Hoàng Ánh trong “Tìm hiểu hành vi tiêu dùng của người Hà Nội trong tiến trình toàn cầu hóa” thì người dân ở Hà Nội mang nét đặc trưng riêng trong văn hóa tiêu dùng Qua nhiều công
trình nghiên cứu về hành vi tiêu dùng thì có nhiều phát hiện bất ngờ, cụ thể “Theo kết
quả khảo sát của hãng Mercer Human Resource Consulting (Anh) tại 144 thành phố về mức độ chi phí sinh hoạt thì năm 2003 Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đứng thứ 14
Trang 9và 16; còn năm 2004 đứng thứ 29 và 36 Đến năm 2007, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đứng thứ 56 và 60; còn thứ hạng năm 2008 là 91 và 100 giảm nhiều bậc so với năm trước nhưng vẫn là 2 thành phố đắt đỏ nhất Đông Nam Á, chi sau Singapore Mức đắt đỏ này chủ yếu là do giá bất động sản ở Việt Nam quá cao, nhất là ở Hà Nội Nhưng điều này cũng chứng tỏ tiêu dùng ở Hà Nội đã tăng nhiều hơn Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ Đổi mới Theo Margot Cohen, nữ phóng viên của FEER , hiện giờ người dân Hà Nội ngày càng ưa chuộng những nhãn hiệu hàng hoá đắt tiền, trong khi người miền Nam lại thích hàng hoá rẻ hơn.” Đồng ý với nhận định này, ông Hiromoto Harano
- Trưởng phòng Bán hàng của Công ty Toto Việt Nam (chuyên bán đồ cao cấp Nhật
Bản dùng cho nhà vệ sinh) - nói: “Người Hà Nội tương đối giống người Nhật Họ ngại
mặc cả.”
Ngày nay, thời đại công nghệ thông tin phát triển vượt bậc, việc xuất hiện các sàn giao dịch thương mại điện tử cũng tác động nhiều đến xu hướng mua sắm của người dân Hà Nội Hiện nay xu hướng mua sắm online ngày càng ảnh hưởng mạnh mẽ tới văn hóa mua sắm và tiêu dùng của người dân
3.3 Văn hóa ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một trong những đặc điểm biểu hiện lối sống của bất kì nền văn hóa hoặc quốc gia hay giữa các vùng Trong lối sống đô thị Hà Nội dưới thời kinh tế thị trường sẽ có những thay đổi và tác động nhất định Bởi hiện nay, nguyên nhân chính là
do dân số Hà Nội ngày càng đông, số dân di cư Hà Nội có xu hướng tăng không ngừng trong tương lai vì vậy, khi những người dân các nơi đổ về Hà Nội vô tình sẽ mang những chất riêng trong ngôn ngữ địa phương quê họ đến Hà Nội Trong quá trình sinh sống và làm việc họ sẽ kết hợp tiếp nhận vốn ngôn ngữ của Hà Nội và phát huy vốn ngôn ngữ mà bản thân có từ nơi mình sinh ra Từ đó đã tạo nên trạng thái đa phương
ngữ xã hội (Theo Đô thị hóa và vấn đề sử dụng ngôn ngữ ở Việt Nam hiện nay, Nguyễn
Văn Khang, Xã hội học 4 (92), 2005; Sự kiện và nhận định) Cũng theo một số khảo sát về tiếng Hà Nội của bài nghiên cứu cũng thấy rõ điều này: Những người (nhất là sinh viên) từ các vùng khác nhau đến Hà Nội học tập, làm việc, theo thời gian, đã thay đổi ngôn ngữ ở các mức độ khác nhau để hoà vào cách giao tiếp của thủ đô Chẳng hạn, những sinh viên là người khu bốn (nhất là nữ) luôn cố gắng hướng tới sử dụng đúng
Trang 10thanh điệu của tiếng Hà Nội (như chuyển cách phát âm kiểu “chủng tôi” thành “chúng tôi”) Điều đáng chú ý là, quá trình này được bắt đầu từ sự song dụng các biến thể (phương ngữ thành thị cùng các phương ngữ khác trong giao tiếp) của những cá thể mới vào thành phố Như vậy, cũng có thể thấy được tác động hai chiều của con người với ngôn ngữ, là cả một quá trình mà mỗi cá nhân một mặt tự điều chỉnh ngôn ngữ của mình
để hoà nhập với cộng đồng Mặt khác, vẫn cố gắng giữ lối giao tiếp phương ngữ đặc trưng trong cộng đồng phương ngữ của họ Ví dụ: Người miền Trung, khi sinh sống và làm việc ở Hà Nội họ học và dùng giọng Hà Nội để giao tiếp Nhưng khi về quê, hay nói chuyện với người thân, đồng hương thì họ sẽ dùng giọng địa phương để nói Hoặc
về người quê Hưng Yên lên Hà Nội làm ăn, người Hưng Yên đa số bị ngọng “L” và
“N” Lên Hà Nội sinh sống và làm việc có người suốt thời gian đó không sửa cái sai này và cuối cùng lâu dần biến nó thành một điểm xấu trong ngôn ngữ Hà Nội Ngược lại, có những người lên Hà Nội đã cố gắng sửa làm sao cho đúng với phương ngữ của
Hà Nội
Nhìn chung, mặt ngôn ngữ trong lối sống đô thị ở Hà Nội trong thời kì này có nhiều tác động Bởi những tác động và biến đổi đó làm cho ngôn ngữ của Hà Nội phong phú nhưng cũng rất phức tạp Sự pha trộn ngôn ngữ giữa các vùng miền cũng có nguy
cơ dần đánh mất bản sắc của các dân tộc Việt Nam nói riêng và Hà Nội nói chung Vì vậy, cần nhận định một cách đúng đắn hơn về ngôn ngữ tiếng Việt trong thời kì này
3.4 Lối sống cá nhân
Từ xa xưa, ông cha ta đã luôn dạy con cháu rằng “Thương người như thể thương thân”, đề cao lối sống tình làng nghĩa xóm, gắn kết thành thị với nông thôn Tuy nhiên, dưới sự phát triển kinh tế và tư tưởng mạnh mẽ, mà cái tôi cá nhân thời nay luôn được
để cao Cái tôi được đề cao với mục đích tôn vinh cá nhân, đề cao con người và giá trị con người Tuy nhiên, trong thời kì kinh tế thị trường và công nghệ thông tin đang ngày càng lên ngôi, dường như lối sống này đang ngày càng bị tiêu cực hóa đi Con người dường như ngày càng thu hẹp suy nghĩ cá nhân chỉ vỏn vẹn suy nghĩ chỉ nghĩ cho bản thân mình Không còn nghĩ đến việc cần phải sống vì mọi người và sống vì cả cộng đồng nữa