1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn trên thị trường hàng hoá giao sau " potx

5 973 17
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hợp Đồng Kỳ Hạn Và Hợp Đồng Quyền Chọn Trên Thị Trường Hàng Hoá Giao Sau
Tác giả TS. Nguyễn Thị Dung
Người hướng dẫn Giảng Viên Khoa Pháp Luật Kinh Tế
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Pháp Luật Kinh Tế
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 134,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG HÀNG HOÁ GIAO SAU VÀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ TƯƠNG LAI Thị trường hàng hoá giao sau là thị trường giao dịch, kí kết các hợp đồng mua bán hàng hoá mà việc giao h

Trang 1

TS NguyÔn ThÞ Dung *

I KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG

HÀNG HOÁ GIAO SAU VÀ HỢP ĐỒNG

MUA BÁN HÀNG HOÁ TƯƠNG LAI

Thị trường hàng hoá giao sau là thị

trường giao dịch, kí kết các hợp đồng mua

bán hàng hoá mà việc giao hàng và nhận tiền

được diễn ra vào một thời điểm trong tương

lai Thị trường hàng hoá giao sau ra đời đáp

ứng nhu cầu của người mua và người bán,

người mua muốn đảm bảo nguồn cung cấp

hàng hoá vào một thời điểm nào đó trong

tương lai (có thể là 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng

sau…) để đảm bảo kế hoạch kinh doanh cũng

như kiểm soát được giá cả còn người bán

muốn chắc chắn khả năng tiêu thụ hàng hoá,

với giá cả dự liệu được ở một thời điểm trong

tương lai, thậm chí ngay từ khi hàng hoá của

họ còn đang trong quá trình sản xuất

Thị trường hàng hoá giao sau là nơi kí kết

các hợp đồng mua bán hàng hoá tương lai hay

còn gọi là hợp đồng giao sau (futures

contract) Việc xác định tính chất giao sau của

quan hệ mua bán chủ yếu dựa theo yếu tố thời

điểm giao hàng và giá của hợp đồng Hợp

đồng giao sau luôn có thời điểm giao hàng là

một thời điểm nào đó trong tương lai (sau

thời điểm kí kết hợp đồng) Tuy nhiên, trên

thị trường hàng hoá giao ngay, không phải lúc

nào các bên cũng thực hiện việc giao hàng

ngay sau khi hợp đồng được kí kết, do mỗi

bên đều cần khoảng thời gian phù hợp để chuẩn bị cho việc giao, nhận hàng hoá Hợp đồng mua bán hàng hoá kí kết giữa công ti A

và công ti B có thời điểm giao nhận hàng hoá

là một tháng sau khi hợp đồng được kí kết Trường hợp này, việc xác định tính chất “giao sau” hay “giao ngay” không thể chỉ dựa theo thời điểm giao hàng mà vấn đề quan trọng là

“giá cả” Nếu như giá cả được thoả thuận theo giá thị trường tại thời điểm kí hợp đồng thì đây vẫn là hợp đồng mua bán giao ngay Ngược lại, khi các bên lựa chọn mức giá có

dự liệu đến sự biến động về giá cả của hàng hoá trên thị trường tính đến thời điểm giao hàng (giá này có thể cao hơn thời điểm hiện tại) thì quan hệ mua bán này có tính chất giao sau Giá cả trong trường hợp này được gọi là

“giá giao sau” hay “giá kì hạn” (kì hạn ở đây được hiểu là kì hạn giao hàng)

Thị trường hàng hoá giao sau được chia thành hai loại: Thị trường giao sau có tổ chức (tổ chức hoạt động mua bán hàng hoá tương lai qua sở giao dịch hàng hoá) và thị trường ngoài sở giao dịch (thị trường OTC) Tương ứng với hai loại thị trường đó đã hình thành một số thuật ngữ khác nhau như: Hợp đồng mua bán hàng hoá tương lai, hợp đồng

* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

giao sau và hợp đồng mua bán hàng hoá qua

sở giao dịch

Hợp đồng mua bán hàng hoá tương lai

được hiểu tương tự như hợp đồng giao sau

Đây là hợp đồng có giá cả là giá giao sau và

việc giao hàng, thanh toán thường diễn ra

vào một thời điểm trong tương lai Hợp đồng

mua bán hàng hoá qua sở giao dịch là hợp

đồng mua bán tương lai được kí kết tại sở

giao dịch hàng hoá (phân biệt với các hợp

đồng tương lai được kí kết trên thị trường

OTC) Luật thương mại năm 2005 chỉ điều

chỉnh quan hệ mua bán hàng hoá qua sở giao

dịch, không điều chỉnh tất cả quan hệ mua

bán hàng hoá tương lai (mặc dù khi soạn thảo

Luật thương mại năm 2005, cơ quan xây

dựng pháp luật đã có tham vọng này) Ngoài

sự khác biệt về địa điểm kí kết, hợp đồng mua

bán hàng hoá qua Sở giao dịch còn có đặc

điểm là khi giao kết hợp đồng, các bên chủ

yếu chỉ thoả thuận, lựa chọn điều khoản về

giá và kì hạn (thời gian giao nhận hàng hoá)

Các điều khoản khác đều đã được sở giao

dịch tiêu chuẩn hoá - điều đó nói lên tính

chất tập trung, có tổ chức của thị trường này

Như vậy, so với hợp đồng mua bán hàng

hoá tương lai nói chung, hợp đồng mua bán

hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá có các

đặc điểm:

1 Về địa điểm và phương thức giao kết:

Mọi hợp đồng mua bán hàng hoá qua sở giao

dịch đều giao kết tại sở giao dịch hàng hoá,

thông qua người môi giới hoặc với thành

viên tự doanh

2 Nội dung hợp đồng tuân thủ những điều

khoản đã được tiêu chuẩn hoá của sở giao dịch

(những điều khoản theo mẫu) và đều liên quan

đến việc kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán

hàng hoá ở một thời điểm trong tương lai

3 Về chủ thể: Sở giao dịch hàng hoá có vai trò quan trọng trong việc kí kết, thực hiện hợp đồng, thể hiện thông qua thành viên

sở giao dịch, trung tâm thanh toán, trung tâm giao nhận (sở giao dịch hàng hóa chịu trách nhiệm cuối cùng về mọi hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa)

4 Về các loại hợp đồng bao gồm: hợp đồng kì hạn và hợp đồng quyền chọn

II HỢP ĐỒNG KÌ HẠN VÀ HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN

1 Hợp đồng kì hạn (Forward contract)

Hợp đồng kì hạn là thỏa thuận về việc mua bán hàng hoá tương lai được kí kết tại

sở giao dịch hàng hoá, theo đó bên bán cam kết giao và bên mua cam kết nhận hàng hoá tại một thời điểm trong tương lai theo kì hạn

và giá giao sau của hợp đồng Có thể nhận diện hợp đồng kì hạn qua một số đặc điểm:

Thứ nhất, đối tượng của hợp đồng là hàng hoá mà sở giao dịch được phép giao dịch Các sở giao dịch khác nhau đều lựa chọn một số mặt hàng đưa vào kinh doanh (thường

là 2, 3 hoặc 4 mặt hàng, phổ biến là ngũ cốc,

cà phê, các loại nông sản khác), được quy định rõ trong giấy phép thành lập và điều lệ hoạt động của sở Về lí thuyết, không có sự hạn chế về loại hàng hoá được giao dịch trên thị trường hàng hoá giao sau Tuy nhiên, thực tiễn giao dịch hàng hoá tương lai trên thế giới cho thấy, những hàng hoá có lượng giao dịch nhiều, có sự biến động lớn về giá cả là những hàng hoá phát sinh nhu cầu mua bán hàng hoá tương lai của người mua và người bán Nhiều

sở giao dịch hàng hoá trên thế giới lựa chọn đối tượng mua bán là hàng hoá nông sản hoặc

Trang 3

một số hàng hoá khác được coi là thế mạnh

trên thị trường quốc tế như len, vàng (Sở giao

dịch kì hạn Sydney), kim loại màu (Sở giao

dịch Luân Đôn - London Metal Exchange)

Các chuyên gia nước ngoài cho rằng, nếu

Việt Nam thành lập sở giao dịch hàng hoá thì

có thể lựa chọn một số hàng nông sản như

gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu để đưa vào giao

dịch trên thị trường

Thứ hai, thời điểm giao hàng và giá cả:

Thời điểm giao hàng trong hợp đồng kì hạn là

một thời điểm trong tương lai (thể hiện tính

chất giao sau) còn giá cả được thoả thuận tại

thời điểm kí kết hợp đồng với mức giá có dự

tính đến sự biến động tại thời điểm giao hàng

(giá giao sau, giá kì hạn) Giá kì hạn được

tính dựa trên mức giá giao ngay và một số

thông số khác phỏng đoán về mức tăng, giảm

của giá cả hàng hóa này tính cho đến thời

điểm hàng thực sự được giao, nhận Hợp

đồng kì hạn hình thành khi bên bán kì vọng

giá sản phẩm sẽ giảm trong tương lai và bên

mua kì vọng giá sẽ tăng trong tương lai Nếu

giá hàng hóa tại thời điểm xác định thấp hơn

giá đặt trước tại thời điểm mua và bán theo

hợp đồng kì hạn đã kí, bên bán hàng hóa

được coi là thu được lợi nhuận Còn nếu vào

thời điểm trong tương lai, giá thị trường cao

hơn giá đã đặt tại thời điểm mua và bán theo

hợp đồng, bên bán hàng hóa được coi là mất

lợi nhuận Cùng thời điểm kí kết, mức giá

mua hàng các kì hạn khác nhau (2 tháng, 3

tháng, 5 tháng ) sẽ khác nhau Ví dụ: Giá cà

phê Robusta tại Sở giao dịch Tokyo (TGE)

ngày 2/3/2007 (giá đóng cửa) kì hạn tháng

5/2007 là 17610 Yên/100kg, kì hạn tháng

7/2007 là 17850 Yên/100kg, kì hạn tháng

9/2007 là 18250 Yên/100kg(1)

Thứ ba, phương thức giao kết hợp đồng:

Có đặc điểm chung của hợp đồng mua bán hàng hoá qua sở giao dịch, nghĩa là giao kết tại sở giao dịch hàng hoá, thông qua môi giới hoặc kí kết với thành viên kinh doanh

Thứ tư, nội dung hợp đồng chủ yếu thoả thuận về giá cả và thời gian giao nhận (kì hạn) Những điều khoản khác đã được “tiêu chuẩn hoá” theo tiêu chuẩn của sở giao dịch như tiêu chuẩn về số lượng, phẩm cấp chất lượng hàng, chủng loại mặt hàng, điều kiện

vận chuyển và giao nhận hàng Ví dụ:

- Về chất lượng hàng hoá, hàng hoá giao dịch tại sở phải đáp ứng tiêu chuẩn quy định của sở Người mua, người bán đặt lệnh mua, lệnh bán trên cơ sở các loại hàng hoá đã được tiêu chuẩn hoá đó Các tên hàng cà phê Arabica, cà phê Robusta, cao su RSS 1, RSS

3, TSR 20 đã mặc định các điều kiện về tiêu chuẩn chất lượng

- Về điều khoản giá, phụ thuộc vào giá của từng kì hạn tại mỗi phiên giao dịch

- Ngày giao hàng: Trong hợp đồng

không thoả thuận ngày giao hàng cụ thể mà thoả thuận theo “kì hạn” 1 tuần, 1 tháng, 3

tháng Ví dụ, vào ngày 2/3/2007, Sở giao

dịch hàng hoá Tokyo đã niêm yết giá bán cà phê Robusta theo các kì hạn giao hàng vào các tháng 3/07, 5/07, 7/07, 9/07, 11/07, 1/08 Việc giao hàng kì hạn của những tháng này sẽ được thực hiện vào một hay một số ngày xác định do sở giao dịch hàng hoá công bố trong quy tắc hoạt động của sở

Thứ năm, phương thức thực hiện hợp đồng kì hạn có nhiều khác biệt so với thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá thông thường Luật pháp Việt Nam và các nước

Trang 4

đều cho phép thực hiện hợp đồng kì hạn

bằng giao nhận hàng hoá (tại trung tâm giao

nhận hàng hoá của sở giao dịch) hoặc thanh

toán bù trừ qua phòng thanh toán của sở

Việc thanh toán bù trừ được thực hiện theo

cách thức: Bên có nghĩa vụ phải giao hàng

hoặc phải nhận hàng sẽ thanh toán cho nhau

phần chênh lệch giữa giá thoả thuận theo

hợp đồng kì hạn và giá thị trường tại thời

điểm phải thực hiện nghĩa vụ giao, nhận

hàng hoá Điều kiện để thanh toán bù trừ

(không phải giao, nhận hàng hoá trên thực

tế) là các bên có thoả thuận điều đó trong

hợp đồng hoặc khi bên mua giữ quyền chọn

mua khiến bên bán có nghĩa vụ buộc giao

hàng hoặc bên bán giữ quyền chọn bán khiến

bên mua buộc phải nhận hàng và nếu không

thực tế giao, nhận hàng hoá thì có thể lựa

chọn giải pháp thanh toán bù trừ

Thứ sáu, về địa điểm và thời điểm thực

hiện hợp đồng kì hạn: Việc giao, nhận hàng

hoá theo hợp đồng kì hạn được thực hiện tại

địa điểm thống nhất là trung tâm giao nhận

hàng hoá của sở giao dịch vào một số ngày

xác định trong tháng do sở giao dịch công bố

Điều này lí giải vì sao hợp đồng kì hạn chỉ có

thoả thuận về kì hạn mà không có thoả thuận

về thời điểm (ngày) giao nhận hàng cụ thể

Trong pháp luật Việt Nam, Luật thương

mại năm 2005 là văn bản luật đầu tiên quy

định về hợp đồng kì hạn Điều 64 Luật

thương mại năm 2005 quy định: “Hợp đồng

kì hạn là thỏa thuận, theo đó bên bán cam kết

giao và bên mua cam kết nhận hàng hoá tại

một thời điểm trong tương lai theo hợp đồng”

Từ các phân tích trên, có thể nhận thấy, định

nghĩa này rõ ràng chưa nêu rõ được bản chất

của hợp đồng kì hạn với tính chất là một loại

hợp đồng mua bán trong tương lai được kí kết tại thị trường giao sau có tổ chức (sở giao dịch) Thực tiễn mua bán theo hợp đồng kì hạn

và pháp luật về vấn đề này ở một số nước cho thấy, có thể tiếp cận khái niệm về hợp đồng kì hạn một cách đầy đủ hơn, đúng bản chất của

nó hơn, đó là hợp đồng kì hạn là thỏa thuận

về việc mua bán hàng hoá tương lai được kí kết tại sở giao dịch hàng hoá, theo đó bên bán cam kết giao và bên mua cam kết nhận hàng

hoá tại một thời điểm trong tương lai theo kì

hạn và giá giao sau của hợp đồng

2 Hợp đồng quyền chọn (Options)

Hợp đồng kì hạn có ưu điểm là tạo sự ổn định về thị trường và đề phòng rủi ro do biến động về giá cả Tuy nhiên, hợp đồng kì hạn

có nhược điểm là dễ gặp rủi ro từ đối tác Khi giá sản phẩm trên thị trường tại thời điểm giao nhận hàng hoá trong tương lai thấp hơn rất nhiều giá đã thoả thuận, bên đối tác có thể từ chối hợp đồng Hợp đồng quyền chọn là công cụ giúp các bên phòng ngừa rủi

ro trong trường hợp này

Theo quy định tại Điều 66 Luật thương mại năm 2005, hợp đồng quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán là thỏa thuận, theo đó bên mua quyền có quyền được mua hoặc được bán một hàng hóa xác định với mức giá định trước (gọi là giá giao kết) và phải trả một khoản tiền nhất định để mua quyền này (gọi là tiền mua quyền) Bên mua quyền có quyền chọn thực hiện hoặc không thực hiện việc mua hoặc bán hàng hóa đó

Mặc dù cùng được kí kết tại sở giao dịch hàng hoá nhưng khác với hợp đồng kì hạn, hợp đồng quyền chọn không phải là giao dịch nhằm mua bán hàng hoá mà nhằm mua bán

“quyền thực hiện nghĩa vụ hợp đồng” được

Trang 5

quy định trong hợp đồng kì hạn đã kí Hợp

đồng quyền chọn có hai đặc điểm chính:

1 Đối tượng của hợp đồng quyền chọn

không phải là hàng hoá mà là “quyền mua,

quyền bán” đối với hàng hoá được mua bán

theo hợp đồng kì hạn Có nghĩa là khi kí hợp

đồng quyền chọn (kèm theo một hợp đồng kì

hạn), bên mua quyền có quyền thực hiện

hoặc từ chối thực hiện nghĩa vụ theo hợp

đồng kì hạn Việc thực hiện hợp đồng kì hạn

lúc này không còn là nghĩa vụ bắt buộc đối

với họ mà chỉ là quyền

2 Giá cả và thanh toán: Giá của hợp

đồng không biểu hiện giá trị của hàng hoá đã

được thoả thuận mua bán mà là thực chất là

“tiền mua quyền” Số tiền này phải được

thanh toán ngay khi giao kết hợp đồng quyền

chọn, dù sau này, người mua có sử dụng đến

quyền đó hay không

Trong pháp luật và thực tiễn kinh doanh

có nhiều cách phân loại quyền chọn Dựa

vào chủ thể, hợp đồng quyền chọn có hai

loại là hợp đồng quyền chọn mua và hợp

đồng quyền chọn bán Hợp đồng quyền chọn

mua (Call options) là thỏa thuận cho phép

người mua có quyền mua tài sản từ người

bán với mức giá định sẵn vào ngày đáo hạn

hợp đồng, hợp đồng quyền chọn bán (Put

options) là thỏa thuận cho phép người bán

bán tài sản cho người mua với giá định sẵn

vào ngày đáo hạn hợp đồng

Thực tiễn thị trường mua bán giao sau

còn biết đến hai loại quyền chọn phổ biến là

quyền chọn theo kiểu Mĩ và quyền chọn kiểu

châu Âu Cách phân chia này dựa vào thời

điểm thực hiện quyền chọn

Quyền chọn theo kiểu Mĩ (American

Options) cho phép người mua nó có quyền

thực hiện hợp đồng quyền chọn ở bất kì thời điểm nào trước khi hợp đồng hết hạn (trước ngày đáo hạn của hợp đồng)

Quyền chọn theo kiểu châu Âu (European Options) chỉ cho phép người mua

nó có quyền thực hiện hợp đồng quyền chọn khi đến hạn hợp đồng (lựa chọn thực hiện quyền vàongày đáo hạn)

Hiện nay, hầu hết các thị trường đều áp dụng phổ biến quyền chọn theo kiểu Mĩ vì

nó cho phép người mua có cơ hội chọn lựa thời điểm thực hiện quyền nhiều hơn Nhiều ngân hàng của Việt Nam (ACB, Eximbank ) hiện đã công bố cả hai loại quyền chọn này khi tổ chức mua bán giao sau vàng, ngoại tệ

để người mua lựa chọn

Trong mua bán kì hạn hàng hóa nông nghiệp, đối với Việt Nam, quyền chọn bán theo kiểu Mĩ sẽ là phù hợp trong việc phòng ngừa rủi ro hơn là quyền chọn bán kiểu châu

Âu Bởi vì, thu hoạch nông sản thường có mùa vụ và giá cả thay đổi nhanh trong giai đoạn từ khi sản xuất cho đến khi bán, biên độ dao động có thể lớn, do đó quyền chọn bán theo kiểu Mĩ có thể tạo thuận lợi cho việc thực hiện quyền chọn tại thời điểm phù hợp với quy trình sản xuất và chế biến hàng nông sản Hợp đồng quyền chọn có nội dung chủ

yếu là phạm vi, nội dung của quyền chọn

(quyền chọn mua hay quyền chọn bán? quyền chọn mua/bán hàng hoá đối với hợp đồng kì hạn nào? ) và giá của hợp đồng quyền chọn Giá của quyền chọn thường được tính toán dựa theo giá hàng hoá và sự biến động về giá

cả của hàng hoá trên thị trường

(Xem tiếp trang 39)

(1) Nguồn tin: Reuters

Ngày đăng: 22/03/2014, 18:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w