đã được Điều 23 Công ước quốc tế về quyền trẻ em CRC quy định về trách nhiệm của các quốc gia thành viên phải công nhận trẻ em khuyết tật có quyền được hưởng cuộc sống trọn vẹn và đầy đủ
Trang 1
ThS NguyÔn ThÞ B¸o *
1 Quyền của người khuyết tật trong
các công ước quốc tế về quyền con người
Mọi người sinh ra đều bình đẳng về
phẩm giá và các quyền, không có bất kì sự
phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da,
giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến
hoặc quan điểm, nguồn gốc dân tộc, các
tình trạng khác Việc thừa nhận phẩm giá
vốn có và các quyền bình đẳng bất di bất
dịch của tất cả các thành viên trong gia đình
nhân loại là nền tảng của tự do, công bằng
và hoà bình trên thế giới.(1) Đây là những
chuẩn mực, mục tiêu chung về quyền con
người đã được nêu trong Tuyên ngôn thế
giới về nhân quyền năm 1948 Mặc dù
không phải là văn kiện có tính ràng buộc
pháp lí nhưng các chuẩn mực về nhân
quyền đề cập trong Tuyên ngôn đã được
nhân loại thừa nhận và coi Tuyên ngôn
cùng với Công ước quốc tế về quyền dân
sự, chính trị năm 1966, Công ước quốc tế
về quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm
1966 là “Bộ luật nhân quyền quốc tế”
Tuy chưa đề cập cụ thể về quyền của
người khuyết tật nhưng các chuẩn mực
nhân quyền được nêu trong Tuyên ngôn là
giá trị, chuẩn mực chung cho mọi người,
trong đó có người khuyết tật Cũng như
Tuyên ngôn, hai công ước về quyền dân sự,
chính trị; quyền kinh tế, xã hội và văn hoá
cũng chưa dành các quy định riêng về quyền của người khuyết tật
Công ước về quyền dân sự, chính trị tiếp tục khẳng định chuẩn mực đã được nêu trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền là: Mọi người đều có quyền bình đẳng trong việc hưởng thụ tất cả các quyền con người, không phân biệt đối xử "dưới bất kì hình thức nào" (Điều 26) Lời nói đầu của Công ước quốc tế
về quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm
1966 cũng khẳng định: "Việc công nhận phẩm giá vốn có và những quyền bình đẳng, bất di bất dịch của mọi thành viên trong cộng đồng nhân loại là nền tảng của tự do, công lí và hoà bình trên thế giới"
Chỉ đến khi Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ ra đời, quyền của người khuyết tật mới được đề cập trên lĩnh vực bảo đảm quyền được hưởng bảo hiểm xã hội của phụ nữ khuyết tật Điều
11 Công ước quy định: "Quyền được hưởng bảo hiểm xã hội, đặc biệt trong các trường hợp hưu trí, thất nghiệp, đau ốm, khuyết tật " Theo quy định này có thể thấy phụ nữ
khuyết tật được thừa nhận là nhóm yếu thế trong xã hội cần được bảo hiểm xã hội Trẻ em khuyết tật là đối tượng được đặc biệt quan tâm Việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em
* Viện nghiên cứu quyền con người Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 2đã được Điều 23 Công ước quốc tế về quyền
trẻ em (CRC) quy định về trách nhiệm của
các quốc gia thành viên phải công nhận trẻ
em khuyết tật có quyền được hưởng cuộc
sống trọn vẹn và đầy đủ trong những điều
kiện đảm bảo phẩm giá, thúc đẩy khả năng
tự lực và tạo điều kiện dễ dàng cho trẻ em
tham gia tích cực vào cộng đồng; phải
khuyến khích và đảm bảo dành cho trẻ em
khuyết tật và cho những người có trách
nhiệm chăm sóc trẻ sự giúp đỡ mà họ yêu
cầu nhưng phải thích hợp với điều kiện của
trẻ em đó và phù hợp với hoàn cảnh của cha
mẹ hay những người khác chăm sóc trẻ em
đó; phải thúc đẩy sự hợp tác quốc tế trong
việc trao đổi thông tin thích hợp trên lĩnh
vực phòng bệnh, chữa trị về y tế, tâm lí,
chức năng cho trẻ khuyết tật, bao gồm việc
phổ biến và tiếp cận các thông tin liên quan
đến phương pháp giáo dục, phục hồi chức
năng và các dịch vụ dạy nghề nhằm tạo điều
kiện cho các quốc gia thành viên nâng cao
khả năng, kĩ năng để mở rộng kinh nghiệm
của họ trong những lĩnh vực này
Các quy định trên trong Công ước CRC
về quyền của trẻ em khuyết tật cho thấy đã
có bước phát triển mới trong pháp luật quốc
tế về chế định quyền của người khuyết tật
Quyền của trẻ em khuyết tật cũng đã
được đề cập trong một số văn bản quốc tế
trước đây nhưng CRC là văn bản quốc tế đầu
tiên đề cập khá toàn diện và pháp điển hoá
các quyền trẻ em nói chung, quyền của trẻ
em khuyết tật nói riêng Công ước CRC
đánh dấu mốc son trong lịch sử quyền con
người của nhân loại khi xác lập bằng các quy
phạm pháp luật quốc tế về quyền của trẻ em
khuyết tật theo bốn nguyên tắc cơ bản là:
- Các quốc gia phải công nhận và thực hiện tất cả các quyền ghi nhận trong Công ước cho trẻ em mà không có bất kì sự phân biệt đối xử nào (Điều 2 CRC);
- Quyền lợi tốt nhất cho trẻ là mối quan tâm hàng đầu trong mọi hành động liên quan tới trẻ em (Điều 3 CRC);
- Quyền được sống và phát triển (Điều 6 CRC);
- Quyền được tôn trọng ý kiến trong mọi vấn đề ảnh hưởng hay liên quan (Điều 12 CRC) Như vậy, Công ước CRC đã quy định trẻ
em khuyết tật có quyền được tôn trọng, không bị phân biệt đối xử, được sống đầy đủ trong những điều kiện đảm bảo phẩm giá, thúc đẩy sự tự lực và tạo điều kiện cho các
em tham gia, hoà nhập và phát triển
Sau khi CRC được kí kết, Liên hợp quốc
đã tổ chức toạ đàm chuyên đề về quyền của trẻ em khuyết tật vào ngày 06/10/1987 để
thảo luận rộng rãi về vấn đề này, tập trung vào ba nhóm quyền cơ bản nhất của trẻ em khuyết tật là: Quyền được sống, quyền tham gia và quyền phát triển
Để thúc đẩy việc tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, trong đó có quyền của người khuyết tật, năm 1993 Liên hợp quốc
đã tổ chức Hội nghị thế giới về quyền con người thông qua Tuyên bố Viên và chương trình hành động Hội nghị đã xác định: Các quyền con người và tự do cơ bản mang tính phổ cập cho tất cả mọi người và do đó, cho
cả những người khuyết tật Mọi người sinh
ra đều bình đẳng và đều có quyền sống và hưởng phúc lợi, quyền được giáo dục và có việc làm, quyền sống một cách độc lập và được tham gia tích cực vào mọi mặt của đời
Trang 3sống xã hội Bất kì sự phân biệt trực tiếp
hoặc phân biệt đối xử tiêu cực đối với người
khuyết tật đều vi phạm các quyền của người
đó Người khuyết tật có quyền có vai trò ở
mọi nơi Người khuyết tật cần được đảm bảo
có cơ hội đồng đều thông qua việc xoá bỏ tất
cả các trở ngại, định kiến của xã hội với họ
về mặt thể chất, tài chính, xã hội hoặc tâm lí
mà đã loại trừ hoặc hạn chế sự tham gia
hoàn toàn của họ vào đời sống xã hội.(2)
Có thể thấy rằng các văn kiện trên đã
khẳng định người khuyết tật có các quyền cơ
bản như mọi thành viên bình thường trong
xã hội Tuy nhiên, đó chưa phải là những
quy định trong một công ước riêng về quyền
của người khuyết tật Chỉ đến khi Công ước
quốc tế về quyền của người khuyết tật được
thông qua mới là văn kiện pháp lí quốc tế
riêng về việc tôn trọng và bảo đảm quyền
của người khuyết tật trên thế giới
Sau 5 năm soạn thảo, trải qua tám kì họp
của Uỷ ban soạn thảo, ngày 13/12/2006 Công
ước quốc tế về quyền của người khuyết tật
đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc nhất trí
thông qua và trở thành công ước quốc tế đầu
tiên về quyền của người khuyết tật.(3)
Công ước quốc tế về quyền của người
khuyết tật bao gồm: Lời nói đầu và 50 điều
với những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, tái khẳng định những nguyên
tắc cơ bản về quyền con người đã được ghi
nhận trong các văn kiện quốc tế về quyền
con người Các nguyên tắc đó thừa nhận
phẩm giá, các quyền bình đẳng, quyền
không bị phân biệt đối xử, tính phổ biến,
thống nhất và phụ thuộc lẫn nhau của các
quyền tự do cơ bản của con người trong đó
có người khuyết tật
Thứ hai, Công ước thừa nhận tầm quan
trọng của việc hợp tác quốc tế trong hỗ trợ các quốc gia cải thiện điều kiện sống của người khuyết tật cũng như tầm quan trọng của việc người khuyết tật được tham gia tích cực vào quá trình xây dựng chính sách, pháp luật liên quan trực tiếp đến họ; của việc tiếp cận và hưởng thụ các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa của người khuyết tật và trách nhiệm của nhà nước, xã hội gia đình trong việc tôn trọng, bảo vệ, hỗ trợ người khuyết tật hưởng thụ quyền
Thứ ba, Công ước khẳng định người
khuyết tật có quyền tiếp cận; quyền được sống; quyền được bảo vệ trong những tình huống rủi ro và thảm hoạ nhân đạo; quyền bình đẳng trước pháp luật; quyền tiếp cận tư pháp; quyền tự do và an ninh cá nhân; quyền không bị tra tấn, phân biệt đối xử hay trừng trị hạ nhục tàn tệ và phi nhân tính hoặc tàn bạo khác; quyền không bị bóc lột, bị bạo lực hay lạm dụng; quyền được bảo vệ sự toàn vẹn thân thể v.v
Công ước là văn kiện quốc tế mang tính ràng buộc pháp lí cao, ghi nhận các chuẩn mực quốc tế, buộc các quốc gia thành viên phải thi hành, tạo cơ sở pháp lí tôn trọng, bảo vệ, đảm bảo cho người khuyết tật tiếp cận và hưởng thụ quyền
Sự ra đời của Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật đánh dấu bước quan trọng trong lịch sử nhân quyền của nhân loại Bởi vì, nó là công ước nhân quyền đầu tiên được ra đời vào thế kỉ XXI dành riêng cho nhóm những người yếu thế nhất trong xã hội
đó là người khuyết tật
Trang 42 Quyền của người khuyết tật trong
các văn kiện quốc tế không ràng buộc
pháp lí
Ngoài các công ước quốc tế, quyền của
người khuyết tật còn được ghi nhận trong
các tuyên ngôn quốc tế không ràng buộc
pháp lí khác
Liên hợp quốc đã phê chuẩn hai bản
tuyên ngôn và hai văn kiện khác về quyền
của người khuyết tật, đó là:
- Tuyên ngôn về quyền của người khuyết
tật về tâm thần năm 1971;
- Tuyên ngôn về quyền của người khuyết
tật năm 1975;
- Nguyên tắc về bảo vệ người mắc bệnh
tâm thần và nâng cao chất lượng chăm sóc
sức khoẻ tâm thần năm 1991;
- Các quy tắc tiêu chuẩn về bình đẳng hóa
các cơ hội cho người khuyết tật năm 1993
Đây là những văn kiện được coi là "có ý
nghĩa cực kì quan trọng trong việc nâng cao
quyền của người khuyết tật nhưng lại không
đưa ra ràng buộc pháp lí cho các quốc gia
Cũng như trong các lĩnh vực khác của luật
nhân quyền quốc tế, các bản tuyên ngôn
được coi là bước đầu tiên để tiến tới phát
triển thành một điều ước có quy định ràng
buộc pháp lí".(4)
Tuyên ngôn về quyền của người khuyết
tật về tâm thần năm 1971, công bố về quyền
của người bị khuyết tật về tâm thần, kêu gọi
các quốc gia và cộng đồng quốc tế bảo đảm
rằng Tuyên ngôn sẽ được sử dụng làm cơ sở
và khuôn khổ cho việc bảo vệ những quyền
của người khuyết tật về tâm thần Tuyên
ngôn khẳng định, người khuyết tật về tâm
thần có các quyền ở mức tối đa có thể như
những người bình thường khác trên các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế xã hội và văn hoá, trừ một số quyền theo luật định đối với người bị tâm thần nặng
Mục tiêu của Tuyên ngôn là công bố sự cần thiết phải tôn trọng, giúp đỡ, bảo vệ quyền của người bị khuyết tật về tâm thần Tuyên ngôn về quyền của người khuyết tật năm 1975 nhắc lại các nguyên tắc cơ bản
về quyền con người đã được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế về quyền con người; kêu gọi các hoạt động quốc gia và quốc tế nhằm bảo đảm sử dụng Tuyên ngôn làm cơ
sở và khuôn khổ cho việc bảo vệ các quyền con người của người khuyết tật Tuyên ngôn
đã đưa ra thuật ngữ "khuyết tật" có nghĩa là những người không có khả năng tự đảm bảo cho bản thân, toàn bộ hay từng phần những cần thiết của một cá nhân bình thường hay của cuộc sống xã hội do thiếu hụt (bẩm sinh hay không bẩm sinh) khả năng về thể chất hay tâm thần của họ Theo Tuyên ngôn, người khuyết tật được hưởng các quyền một cách bình đẳng, không bị phân biệt đối xử vì bất cứ lí do nào, trong bất kì hoàn cảnh nào trên lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội
và văn hoá, ngoại trừ một số quyền đối với người bị tâm thần nặng đã được nêu trong Tuyên ngôn về quyền của người bị khuyết tật về tâm thần năm 1971
Nguyên tắc về bảo vệ người mắc bệnh tâm thần và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ tâm thần năm 1991 đưa ra 25 nguyên tắc cơ bản được áp dụng mà không
có bất cứ sự phân biệt đối xử nào nhằm bảo
vệ và chăm sóc sức khoẻ tốt nhất trong điều kiện có thể cho người bị mắc bệnh tâm thần,
Trang 5đó là nguyên tắc về những quyền tự do chủ
yếu và các quyền cơ bản; bảo vệ những
người chưa thành niên; hoà nhập đời sống
trong cộng đồng; tiêu chuẩn xác định tâm
thần; việc kiểm tra y tế để xác định tâm thần;
giữ bí mật đời tư; vai trò của cộng đồng và
môi trường văn hoá; tiêu chuẩn chăm sóc;
điều trị; thuốc men; tự nguyện điều trị; được
thông tin; tiếp cận và hưởng thụ quyền trong
cơ sở tâm thần; nguồn lực, nguyên tắc tiếp
nhận bệnh nhân của các cơ sở tâm thần; hội
đồng giám định; thủ tục bảo vệ; bảo vệ
quyền của người bệnh phạm tội hình sự;
khiếu nại; giám sát về khắc phục sai sót; các
biện pháp thi hành; phạm vi áp dụng các
nguyên tắc; bảo lưu các quyền hiện có
Các quy tắc tiêu chuẩn về bình đẳng hóa
các cơ hội cho người khuyết tật được Đại hội
đồng Liên hợp quốc thông qua ngày
20/12/1993 là văn bản được ra đời từ kết quả
của thập kỉ về người khuyết tật Văn bản đã
đưa ra các chuẩn mực pháp lí quốc tế cơ bản
đối với các chương trình, chính sách, pháp
luật về người khuyết tật trong tương lai
nhằm mục đích đạt được sự tham gia tích
cực và đầy đủ của người khuyết tật vào mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội Văn bản này
nhấn mạnh đến những khả năng của người
khuyết tật và xác định 4 tiền đề quan trọng
cho sự tham gia bình đẳng của họ, đó là nâng
cao nhận thức xã hội về người khuyết tật
cùng những quyền, nhu cầu, khả năng và sự
đóng góp của họ; chăm sóc y tế một cách có
hiệu quả; cung cấp những dịch vụ phục hồi
chức năng; các dịch vụ trợ giúp nhằm giúp đỡ
người khuyết tật tăng mức độ độc lập trong
cuộc sống hàng ngày để thực hiện quyền
Quy tắc quy định trách nhiệm của các quốc gia trong việc tạo điều kiện thực hiện
sự tham gia bình đẳng và đầy đủ của người khuyết tập
Ngoài 4 văn bản trên, còn có các văn bản của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) về quyền lao động, việc làm của người khuyết tật như Công ước số 159 về phục hồi nghề nghiệp và việc làm cho người tàn tật
Công ước số 159 của ILO tập trung quy định về quyền được phục hồi chức năng nghề nghiệp, hướng nghiệp, đào tạo nghề và việc làm cho người khuyết tật; trách nhiệm của các quốc gia thành viên trong việc tôn trọng và bảo đảm thực hiện các quyền lao động việc làm của người khuyết tật
Ngoài ra, còn có các văn kiện khác liên quan đến quyền của người khuyết tật như: Tuyên bố Salamanca và Cương lĩnh hành động về giáo dục theo nhu cầu đặc biệt năm
1994 về quyền giáo dục của người khuyết tật; Công ước chống phân biệt đối xử trong giáo dục của UNESCO; Tuyên bố Melen Kellee về quyền của những người mù, điếc năm 1977; Tuyên bố về sự tham gia đầy đủ
và bình đẳng của người khuyết tật ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương năm 1993; Chương trình hành động của thập kỉ người khuyết tật khu vực châu Á - Thái Bình Dương lần thứ nhất từ năm 1993 - 2002; thập kỉ người khuyết tật khu vực châu Á - Thái Bình Dương lần thứ hai từ năm 2003 -
2012, khuôn khổ hành động thiên niên kỉ Biwako hướng tới một xã hội hoà nhập không vật cản và vì quyền của người khuyết tật khu vực châu Á - Thái Bình Dương của
Trang 6Uỷ ban kinh tế - xã hội khu vực châu Á -
Thái Bình Dương (UN ESCAP) với 7 lĩnh
vực ưu tiên, bao gồm: Tổ chức "tự lực" của
người khuyết tật và những hiệp hội phụ
huynh và gia đình của người khuyết tật; phụ
nữ khuyết tật; phát hiện sớm, can thiệp sớm
và giáo dục trẻ khuyết tật; đào tạo và việc
làm, gồm cả việc người khuyết tật tự tạo
việc làm; tiếp cận các môi trường xây dựng
và giao thông công cộng; tiếp cận thông tin
và viễn thông, bao gồm các công nghệ
thông tin, viễn thông và trợ giúp; xoá nghèo
thông qua việc nâng cao năng lực, an sinh
xã hội và các chương trình ổn định cuộc
sống bền vững.(5)
Nội dung của khuôn khổ hành động
Biwako được thông qua vào thời gian bắt
đầu một thiên niên kỉ của Liên hợp quốc,
xây dựng để bổ sung cho các mục tiêu phát
triển một xã hội không vật cản, một xã hội
hoà nhập cho tất cả mọi người, không có bất
cứ rào cản nào về thể chất, vật chất và thái
độ, cũng như những rào cản về xã hội, kinh
tế, văn hoá khác, một xã hội vì quyền, tự do
và nhân phẩm cho mọi người, trong đó có
người khuyết tật, là những người được tôn
trọng và được đặt vào trung tâm của tất cả
các quyết định có liên quan đến họ Đối
tượng được đặc biệt chú trọng ưu tiên trong
khuôn khổ hành động Biwako là trẻ em
khuyết tật và phụ nữ khuyết tật, những người
yếu thế nhất trong những người yếu thế
trong xã hội
Qua phân tích trên có thể khẳng định các
quyền cơ bản của người khuyết tật đã được
ghi nhận trong các văn kiện quốc tế kể cả
văn kiện có tính ràng buộc và văn kiện không có tính ràng buộc pháp lí
Tuy nhiên, thực tế cho thấy mặc dù đã được ghi nhận trong các văn kiện và nhân loại đã có nhiều cố gắng kêu gọi và khuyến nghị các quốc gia phải tôn trọng và đảm bảo quyền của người khuyết tật nhưng phần đông số người khuyết tật trên thế giới vẫn còn bị vi phạm quyền Đa số họ vẫn bị sống trong nghèo đói, bị phân biệt đối xử, bị lạm dụng, bị lãng quên, bởi vì nhân loại vẫn thiếu một hệ thống các văn kiện pháp lí quốc
tế đủ mạnh để buộc các quốc gia phải tôn trọng và thực hiện các quyền con người của người khuyết tật Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật đã ra đời nhưng điều quan trọng là các quốc gia phải thừa nhận, gia nhập và thực hiện Điều này được coi là đòi hỏi tất yếu khách quan, xuất phát từ nhu cầu tôn trọng và bác ái để bảo đảm quyền của người khuyết tật, từ tiếng gọi lương tri của nhân loại./
(1).Xem: Trung tâm nghiên cứu quyền con người,
“Một số văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người” , Hà Nội, 2002, tr 22-23
(2).Xem: Sđd, tr 67
(3) Ban điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật, Hà Nội, 2006, Website: htt://www.nccdvn.org
(4).Xem: Viện nghiên cứu quyền con người, “Luật
quốc tế về quyền con người”, Nxb Lí luận chính trị,
Hà Nội, 2005, tr 240
(5).Xem: Văn phòng điều phối các hoạt động hỗ trợ
người tàn tật Việt Nam, Bản tóm tắt khuôn khổ hành
động thiên niên kỉ Biwako: Hướng tới một xã hội hoà nhập không vật cản của và vì quyền của người tàn tật khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Nxb Lao động -
xã hội, Hà Nội, 2005, tr 2