1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2006 – 2010

74 891 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2006 – 2010
Tác giả Nguyễn Quốc Toản
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn
Thể loại Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 359 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận Văn: Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2006 – 2010

Trang 1

Lời mở đầu

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, kinh tế hộ nôngdân đã phát huy tác dụng to lớn, tạo sức mạnh mới trong sự nghiệp phát triểnnông nghiệp và kinh tế nông thôn Trên nền tảng kinh tế tự chủ của hộ nôngdân đã hình thành các trang trại được đầu tư vốn, lao động với trình độ côngnghệ và quản lý cao hơn, nhằm mở rộng quy mô sản xuất hàng hoá và nângcao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường

Hiện nay, hình thức kinh tế trang trại đang tăng nhanh về số lượng vớinhiều thành phần kinh tế tham gia, nhưng chủ yếu vẫn là trang trại hộ gia đìnhnông dân và một tỷ lệ đáng kể của gia đình cán bộ, công nhân, viên chức, bộđội, công an đã nghỉ hưu Với nguồn gốc đa dạng, sử dụng lao động của giađình là chủ yếu; một số có thuê lao động thời vụ và lao động thường xuyên,tiền công lao động được thoả thuận giữa hai bên Hầu hết vốn đầu tư là vốn tự

có và vốn vay của cộng đồng; vốn vay của tổ chức tín dụng chỉ chiếm tỷ trọngthấp Phần lớn trang trại phát huy được lợi thế của từng vùng, kinh doanhtổng hợp, lấy ngắn nuôi dài

Sự phát triển của kinh tế trang trại đã góp phần khai thác thêm nguồnvốn trong dân, mở mang thêm diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá,nhất là ở các vùng trung du, miền núi và ven biển; tạo thêm việc làm cho laođộng nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo; tăng thêm nông sản hàng hoá.Một số trang trại đã góp phần sản xuất và cung ứng giống tốt, làm dịch vụ, kỹthuật tiêu thụ sản phẩm cho nông dân trong vùng

Và trong xu hướng chung đó tỉnh Thanh Hóa cũng đang trong quá trìnhphát triển nhanh chóng số lượng trang trại cả về số lượng lẫn chất lượng Quátrình phát triển trang trại ở Thanh Hóa đã phần nào thu được những kết quảkhả quan như thay đổi bộ mặt nông thôn, góp phần tăng thu nhập cho hộ nông

Trang 2

dân… Tuy nhiên do xuất phát điểm thấp và cũng mới trong giai đoạn đầu tìmhướng ra cho hộ nông dân, nên tình hình phát triển trang trại ở Thanh Hóavẫn còn nhiều mặt hạn chế cần tìm hướng giải quyết Với bản thân là 1 sinhviên khoa Kinh Tế Nông Nghiệp& Phát Triển Nông Thôn thuộc trường ĐạiHọc Kinh Tế Quốc Dân và hơn hết là con em địa phương Vì vậy em đã chọn

đề tài:

“ Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Thanh Hóagiai đoạn 2006 – 2010.”

Nhằm vận dụng 1 phần kiến thức đã học được vào thực tế tỉnh nhà

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI

I.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG KINH TẾ TRANG TRẠI

I.1.1Khái niệm

Do đặc điểm nước trong thế kỷ vừa qua xảy ra nhiều biến động lớn nhưphải trải qua 2 cuộc chiến tranh kéo dài để giành độc lập, rồi giai đoạn xâydựng đất nước sau chiến tranh và đất nước chỉ thực sự đổi mới toàn diện đấtnước từ sau đại hội Đảng VI năm 1986 Chính vì những biến động đó mà kinh

tế trang trại cũng có những thăng trầm theo biến cố của lịch sử Từ đó hìnhthành nên những cách nhìn nhận rất khác nhau của Đảng và nhà nước vềthành phần kinh tế trang trại như:

Trước năm 1986 kinh tế trang trại được xem là loại hình kinh tế tư sảnnên không được nhà nước công nhận và khuyến khích phát triển

Sau 1986 Đảng và nhà nước ta chính thức công nhận loại hình kinh tếtrang trại Từ đây hình thành nên khái niệm về kinh tế trang trại; Kinh tế trangtrại gồm nhiều nguồn gốc sở hữu khác nhau như: các doanh nghiệp tư nhân,công ty trách nhiệm hữu hạn kinh doanh nông nghiệp, hộ nông dân sản xuấtnông nghiệp

Những năm 90: đây là giai đoạn kinh tế trang trại sau 1 thời gian hoạtđộng hiệu quả được nhà nước khuyến khích phát triển bắt đầu đi vào hoànthiện Từ đó hình thành nên cách hiểu khác về trang trại như: trang trại là hìnhthức phát triển cao của kinh tế hộ là chủ yếu Ngoài ra còn thu hút 1 số thànhphần khác như công nhân viên chức nhà nước& lực lượng vũ trang đã nghỉhưu, các loại hộ thành thị và cá nhân chuyển sản xuất( bao gồm nông nghiệp,lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản) hoặc sản xuất nông nghiệp là chính, có kiêmcác hoạt động dịch vụ phi nông nghiệp ở nông thôn Tuy nhiên dù thành phầnchủ sở hữu như thế nào thì trang trại vẫn mang bản chất kinh tế hộ

Trang 4

Gần đây khái niệm kinh tế trang trại được thống nhất hiểu theo cách sau:kinh tế trang trại là 1 hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong nông nghiệpđược hình thành và phát triển trên cơ sở kinh tế hộ gia đình nông dân có mức tích

tụ và tập trung cao hơn về đất đai, vốn, lao động, kỹ thuật… Nhằm tạo ra khốilượng hàng hóa nông sản lớn hơn, với lợi nhuận cao hơn theo yêu cầu của kinh tếthị trường , có sự điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

I.1.2 Đặc trưng kinh tế trang trại

I.1.2.1 Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất nông, lâm, thủy sản hàng hóa với quy mô lớn

trưng này của kinh tế trang trại là một bước tiến so với kinh tế hộ nôngdân Nếu như kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hóa là để tự cung tự cấp; thìkinh tế trang trại phát triển với mục đích sản xuất ra hàng hóa để bán trên thịtrường Đây là bước tiến bộ không chỉ trong nhận thức, tư duy của chủ trangtrại, mà còn thể hiện khả năng hòa mình hội nhập với nền kinh tế thị trường

Đã qua rồi cái thời người nông dân tự cung tự cấp, có sản phẩm thừa thì mang

ra chợ bán hoặc trao đổi với người khác Trong nền kinh tế thị trường mangđầy tính biến động và cạnh tranh khốc liệt giữa những nhà sản xuất, không chỉ

là cạnh tranh với những doanh nghiệp trong nước mà trong thời kinh tế mởcủa hội nhập như hiện nay còn phải cạnh tranh với hàng hóa ở khắp nơi trênthế giới đổ về Việt Nam(đặc biệt là hàng hóa nông sản) Việc xác định sảnxuất ra hàng hóa để bán là sự chuẩn bị về tư tưởng, tâm lí, hàng hóa để đươngđầu với cạnh tranh trên thị trường trong việc đảm bảo nhu cầu người tiêudùng ngày càng cao, khắt khe hơn, kỹ tính hơn về hàng hóa nông sản Trongnền kinh tế thị trường không phải nhà sản xuất có tiếng nói quyết định ( sảnxuất ra bất cứ mặt hàng nào cũng dược người tiêu dùng chấp nhận) mà cáncân quyền lực giờ đây đã thuộc về người tiêu dùng ( việc mua gì, dùng sảnphẩm gì cho gia đình và gia đình đều do người tiêu dùng quyết định)

Trang 5

Chính vì vậy kinh tế trang trại ra đời là bước phát triển cao của kinh tế

hộ chính là quá trình thay đổi về nhận thức, sự chuyển mình của kinh tế hộnhằm tồn tại trong nền kinh tế thị trường hiện nay

I.1.2.2 Mức độ tập trung hóa và chuyên môn hóa các điều kiện và yếu

tố sản xuất cao hơn hẳn so với sản xuất của hộ nông dân

Thể hiện ở quy mô sản xuất như: đất đai, đầu con gia súc, lao động, giátrị nông, lâm, thủy sản hàng hóa

Đặc trưng này xuất phát từ đặc trưng mục đích của sản xuất kinh tế trangtrại là sản xuất ra hàng hóa để cung cấp trên thị trường Nói như vậy vì chỉ cótập trung hóa và chuyên môn hóa các điều kiện và yếu tố sản xuất thì kinh tếtrang trại mới sản xuất ra được hàng hóa chất lượng cao, khối lượng nhiềuđáp ứng nhu cầu trên thị trường và đủ khả năng cạnh tranh với các loại hìnhkinh tế khác và với hàng hóa các nước khác

Phải những cơ sở sản xuất kinh doanh đáp ứng các tiêu chí nhất định vềtrang trại của nhà nước mới được coi là kinh tế trang trại Đây cũng coi nhưmức chuẩn để các cơ sở sản xuất kinh doanh xét theo các tiêu chí đó để cóhướng phấn đấu, hoàn thiện các mặt còn thiếu nhằm được công nhận là kinh

tế trang trại

Đất và vốn là 2 yếu tố quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Nên phảitập trung với quy mô cần thiết theo yêu cầu phát triển sản xuất nông sản hànghóa Mặc dù phải tập trung sản xuất hàng hóa như vậy nhưng quy mô của cácyếu tố này ở mỗi trang trại là rất khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể củatừng trang trại, từng giai đoạn phát triển từng vùng miền Nếu trang trại ở miềnnúi có diện tích đất đai rộng lớn, mật độ dân cư thưa thớt, đời sống nhân dâncòn nhiều khó khăn nên các trang trại thường có diện tích lớn nhưng vốn lạinhỏ và ngược lại ở đồng bằng đất chật người đông, mật độ dân cư lớn, có ítđiều kiện để tập trung ruộng đất lớn để có trang trại diện tích lớn, song lại cóvốn lớn vì ở vùng này dân cư có tích tụ vốn và nhiều nguồn vốn khác nhau

Trang 6

I.1.2.3 Chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất, biết áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất, sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế

hộ

Người chủ trang trại đóng vai trò rất lớn trong việc hình thành và pháttriển trang trại Đó là ngững người có ý chí và nghị lực vươn lên bên cạnh đó

họ đều là những người có kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm nhất định Đó

là những tố chất rất cần thiết để hình thành nên kinh tế trang trại, đồng thời đó

là sự bảo đảm vững chắc cho kinh tế trang trại phát triển vững chắc trong giaiđoạn tiép theo Chính việc không sợ khó, dám đầu tư tiến bộ khoa học congnghệ vào trong sản xuất là ưu thế cạnh tranh của kinh tế trang trại so với cácloại hình kinh tế khác trên thị trường Việc đầu tư phát triển sản xuất hàng hóatheo chiều sâu bằng cách đầu tư khoa học công nghệ, đã giảm thiểu rất nhiều

sự phụ thuộc của con người và tự nhiên, tạo ra được nhiều loại hàng hóa chấtlượng cao, đáp ứng được nhu cầu của người tieu dùng và quan trọng hơn sảnphẩm làm ra có giá trị gia tăng cao so với sản phẩm nông nghiệp thuần túy.Mang lại thu nhập đáng kể cho chủ trang trại, dẫn đến chủ trang trại có khảnăng tích lũy vốn cần thiế để tái đầu tư vào sản xuất

Tóm lại các chủ trang trại không chỉ cạnh tranh dựa trên các yếu tố sảnxuất, hay khả năng tích tụ , tập trung đất đai, vốn, lao động… nhất định màtrong thời kinh tế thị trường hiện nay kinh tế trang trại cạnh tranh với cácthành phần kinh tế khác và hàng hóa các nước khác, còn phụ thuộc vào bảnlĩnh của các chủ trang trại trong nước Trang trại hình thành và phát triển thếnào phụ thuộc nhiều vào ý chí, khả năng nắm bắt thị trường và kiến thứcchuyên môn của các chủ trang trại

I.2 VAI TRÒ CỦA KINH TẾ TRANG TRẠI.

I.2.1.Vai trò về mặt kinh tế.

Tuy thời gian phát triển kinh tế trang trại chưa dài, nhưng những kết quả

Trang 7

đạt được đã thể hiện là nhân tố mới trong nông nghiệp và nông thôn, gópphần tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu kinh tế nôngnghiệp, nông thôn

Sau gần sáu năm thực hiện Nghị quyết số 03 của Chính phủ về kinh tếtrang trại (ngày 2-2-2000), kinh tế trang trại ở nước ta đã có bước phát triểnnhanh về số lượng, đa dạng về hình thức tổ chức sản xuất Theo tiêu chí phânloại trang trại thống nhất chung cả nước, tốc độ tăng số lượng trang trại bìnhquân từ năm 2000 đến năm 2004, khoảng 6% Hiện nay, cả nước có gần 150nghìn trang trại với hơn 900 nghìn ha (bình quân mỗi trang trại khoảng 6 ha).Lấy năm 2004 so với năm 2000, thì ở vùng Ðông Nam Bộ, số lượng trang trạităng khoảng 30,6%; đồng bằng sông Cửu Long tăng hơn 11,6% Vùng đồngbằng sông Cửu Long có số lượng trang trại nhiều nhất, chiếm tỷ trọng hơn50% tổng số trang trại của cả nước Kinh tế trang trại thời gian qua phát triểnvới nhiều loại hình: Trang trại trồng cây lâu năm; trang trại chăn nuôi (giacầm, dê, cừu, đại gia súc ); trang trại nuôi trồng thủy sản; trang trại sản xuấtkinh doanh tổng hợp Các loại hình trang trại này chuyển dịch theo hướngtăng tỷ trọng trang trại nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi, giảm tỷ trọng trangtrại trồng cây hằng năm Theo kết quả điều tra của Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn, năm 2004, các trang trại đã sử dụng gần 500 nghìn ha đất vàmặt nước Trong đó diện tích trồng cây hằng năm chiếm 37,3%, diện tíchtrồng cây lâu năm chiếm 26%, đất lâm nghiệp 18,7%, diện tích mặt nước nuôitrồng thủy sản 18% Thực hiện đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp, các địa phương ở các vùng khác nhau đã chuyển hàng chục nghìn hađất trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản Kinh tế trang trại đã hình thành cácvùng sản xuất thủy sản ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, đồng bằng sôngHồng, các vùng ven biển, đồng bằng sông Cửu Long Trang trại trồng cây lâunăm ở các tỉnh Ðông Nam Bộ, Tây Nguyên, Ðông Bắc, Tây Bắc Bộ Trangtrại chăn nuôi tập trung ở các tỉnh gần thành phố lớn, nơi có thị trường tiêu

Trang 8

thụ mạnh Ðột phá mạnh nhất trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp và nông thôn là nuôi trồng thủy sản với hiệu quả kinh tế cao hơn nhiềulần so với các loại cây trồng, vật nuôi khác Ðến nay, cả nước đã có khoảng

30 nghìn trang trại nuôi trồng thủy sản, thu hút và giải quyết việc làm ổnđịnh hàng trăm nghìn lao động Ở đồng bằng sông Cửu Long, nuôi trồngthủy sản được xác định là kinh tế mũi nhọn, chiếm khoảng 78% số trangtrại nuôi trồng thủy sản của cả nước Năm 2004, bình quân giá trị sảnlượng/ha canh tác của trang trại đạt từ 35 triệu đồng đến 50 triệu đồng,trong đó trang trại nuôi trồng thủy sản, hoặc trồng cây đặc sản đạt hơn 100triệu đồng/ha/năm Những kết quả trên đã mở ra khả năng và hướng đầu tư

để phát triển kinh tế trang trại Theo số liệu của 45 tỉnh, thành phố trong cảnước, trong năm 2004, tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ của các trang trại đạthơn 8.500 tỷ đồng nông dân tích cực hưởng ứng, hình thành đội ngũ nôngdân năng động, dám nghĩ, dám làm

Ở mỗi địa phương ngày càng nhiều điển hình đơn vị và hộ sản xuất, kinhdoanh giỏi Tinh thần hợp tác, tương trợ giữa các chủ trang trại được pháttriển Một số trang trại tự nguyện thành lập hợp tác xã Mô hình hợp tác xãCây Trường ở huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, được thành lập do tự nguyệncủa 61 chủ trang trại, quản lý hơn 412 ha cây ăn trái Hoạt động của hợp tác

xã này giúp các thành viên đưa được các loại giống cây ăn trái có năng suất

và chất lượng cao vào sản xuất, công tác bảo quản, chế biến, tiêu thụ sảnphẩm được hợp tác xã chăm lo Nhờ đó các thành viên yên tâm đầu tư sảnxuất, thu nhập cao hơn nhiều so với khi chưa vào hợp tác xã Năm 2001, hợptác xã này tiêu thụ hơn 27 tấn trái cây (có 17 tấn phục vụ xuất khẩu), năm

2002 hợp tác xã tiêu thụ hơn 500 tấn (nội địa và xuất khẩu) Năm 2003 hợptác xã Cây Trường đã cùng các trang trại thành viên đầu tư kinh phí hơn 1,2

tỷ đồng xây dựng nhà máy chế biến rau, quả Hiện nay nhà máy tiêu thụ100% sản phẩm trái cây của các trang trại thành viên và của bà con trong

Trang 9

vùng, chủ yếu để xuất khẩu.

Từ sự chuyển dịch trong cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu kinh tế nôngnghiệp nông thôn đã góp phần thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn những nămvừa qua và đóng góp vào thành tích chung của kinh tê Việt Nam những nămvừa qua: phát triển GDP trung bình 7,5% giai đoạn 2001-2005

Mô hình kinh tế trang trại đã tạo ra bước chuyển cơ bản về giá trị sảnphẩm hàng hóa và thu nhập của trang trại vượt hẳn so với kinh tế hộ Đơn cửnăm 2004, tổng giá trị hàng hóa dịch vụ của các trang trại ước tính đạt 70.047

tỷ đồng, bình quân 1 trang trại đã tạo ra giá trị sản xuất 980 triệu đồng, gấp

6-8 lần so với bình quân giá trị sản xuất của một hộ nông nghiệp

Tại vùng Tây Nguyên, giá trị sản phẩm hàng hóa của trang trại còn đạtcao hơn, bình quân gần 1,1 tỷ đồng/trang trại/năm Riêng loại hình trang trại

có giá trị hàng hóa cao nhất vẫn là trang trại nuôi trồng thủy sản, đạt bìnhquân từ 1,2 đến 1,5 tỷ đồng/trang trại/năm, cá biệt có trang trại đạt trên 10 tỷ/năm (như trang trại của Vietfram Hùng Tiến ở Bình Quới, TPHCM)… Số DNhoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông- lâm- thủy sản, mặc dù sốlượng chưa nhiều, mới chỉ có 3.376 DN, nhưng lại là những DN có đóng gópnhiều nhất trong việc phát triển các loại hình dịch vụ nông nghiệp

Có thể nói, kinh tế trang trại phát triển đã tạo ra khối lượng hàng hóalớn, tạo động lực thúc đẩy công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản pháttriển mạnh Báo cáo của các địa phương cho thấy, mặc dù giá trị sản xuất củatrang trại trên cả nước chưa cao lắm nhưng so với giá trị sản xuất bình quâncủa kinh tế nông nghiệp đã tăng gấp 2 lần

Điển hình cho mô hình trang trại và doanh nghiệp nông thôn thành đạt làcông ty TNHH Thang Nguyên ( TP Buôn Ma Thuật- tỉnh Đắc Lắc ) của ôngTrần Văn Nguyên Với ngành nghề sản xuất, kinh doanh dịch vụ trồng trọtchăn nuôi trên địa bàn tỉnh Đắc Lắc, công ty đã có thu nhập ( lãi ) hàng nămtrên 1 tỷ đồng Hay như ông Vũ Đức Bằng, giám đốc nhà máy chè Bằng An,tỉnh Lai Châu, với ngành nghề đầu tư sản xuất nguyên liệu và chế biến chè,

Trang 10

ông Bằng đã đạt doanh thu hàng năm trên 8,8 tỷ đồng…

I.2.2 Vai trò xã hội

Đó là tạo việc làm cho hàng triệu lao động nông thôn Việc phát triểnkinh tế trang trạ và doanh nghiệp nông thôn đã góp phần tích cực trong giảiquyết việc làm, nâng cao đời sống, xóa đói giam nghèo cho bà con nông dân

Đa số các chủ trang trại đều có nhu cầu sử dụng lao động rất lớn tùy theo loạihình và quy mô sản xuất Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, hiện nay, kinh tếtrang trại đã thu hút, tạo việc làm cho hơn 60.000 lao động, góp phần giảmbớt áp lực thiếu việc làm ở nông thôn, đồng thời giúp cho thu nhập của ngườilao động được đảm bảo ở mức ỏn định từ 400.000 – 600.000/tháng ( với mứcthu nhập thời vụ, tiền công cũng phổ biến ở mức 20.000/ngày )

Riêng các doanh nghiệp nông thôn đã giải quyết cho trên 1 triệu laođộng có việc làm trong các xí nghiệp, nhà máy với thu nhập bình quân từ700.000 – 1.000.000/tháng

Trên thực tế, đời sống của bà con nông thôn hiện nay tuy còn nhiều khókhăn thiếu thốn, nhưng đã có những đổi thay sâu sắc, đã cơ bản xóa đượcđói , giảm được nghèo Trong thành quả đóng góp chung đó, có vai trò tíchcực của các trang trại nông thôn

Nhiều trang trại đã ủng hộ hàng trăm triệu đồng giúp xây dựng trườnghọc, xóa nhà tạm, hỗ trợ trể mồ côi… góp phần giảm tỷ lệ đói, nghèo của cảnước xuống còn khoảng 10% Có thể nói, những thành quả trên chứng tỏ môhình kinh tế trang trại ở nông thôn đã thực hiện khá tốt đường lối chủ trương,chính sách về phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng và nhà nước

Từ những đóng góp đó mà tình hình xã hội ở nông thôn được đảm bảo,giảm thiểu tình trạng lao đông ở nông thôn đổ xô ra thành thị gây ra các tácđộng tiêu cực trong xã hội và cũng giúp giảm bớt tình trạng lao động thấtnghiệp trong nông thôn

Mô hình này đã có những kết quả vượt trội so với kinh tế hộ nông dân về

Trang 11

khai thác tiềm năng lao động, đất đai, huy động vốn đầu tư trong dân, áp dụngKHKT vào sản xuất để hình thành nên những vùng sản xuất hàng hóalớn,tậptrung…

Đây cũng chính là mô hình tạo nên nhiều nhân tố mới ở nông thôn, tạođộng lực thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nôngthôn, tiến tới xây dựng nên những vùng, miền nông thôn mới văn minh hiệnđại

I.2.3 Vai trò khác.

Một mặt "được" khác nữa đó là KTTT đã thúc đẩy việc khai thác diệntích đất trống, đồi núi trọc đất hoang hóa vào sản xuất nông, lâm nghiệp vànuôi trồng thủy sản và mô hình KTTT này đã phần nào cải thiện được môitrường sinh thái Theo số liệu thống kê, năm 2002 các trang trại đã sử dụng369.000ha đất và mặt nước trong đó đất trồng cây hàng năm chiếm tỷ lệ37,3% đất trồng cây lâu nămchiếm 26%, đất lâm nghiệp chiếm 18,7%; diệntích mặt nước nuôi trồng thủy sản chiếm 18% Như vậy, diện tích đất sử dụngbình quân của một trang trại trung bình là 6, 08ha

Cũng nhờ các mô hình kinh tế trang trại này mà nhiều đề tài khoa học kỹthuật đã được ứng dụng vào sản xuất Chính vì vậy, sản phẩm hàng hóa và thunhập của các trang trại ngày một nâng cao Năm 2003, tổng gía trị hàng hóadịch vụ của trang trại là 7.047 tỷ đồng Như vậy bình quân một trang trại đạt

98 triệu đồng Tuy nhiện mô hình trang trại thủy sản đạt bình quân cao nhấtvới doanh thu từ 120-150 triệu đồng/trang trại

Và cũng dễ nhận ra một điều rằng KTTT phát triển đã thu hút một khốilượng lớn tiền vốn trong dân khi họ đầu tư vào sản xuất nông nghiệp Môhình này đã tạo thêm việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, mở

ra xu hướng hợp tác và phát triển trong sản xuất, kinh doanh Sự phát triểncủa KTTT đã dẫn đến nhu cầu hợp tác giữa các chủ trang trại, trong đó có

Trang 12

việc hình thành các câu lạc bộ trang trại.

I.3 MỘT SỐ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN TRANG TRẠI CỦA NHÀ NƯỚC.

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và phát triển các trang trại trong thời gianqua và căn cứ vào chủ trương đối với kinh tế trang trại đã được nêu trongNghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành Trưng Ương Đảng ( tháng

12 năm 1997 ) và nghị quyết số 06 ngày 10 tháng 11 năm 1998 của Bộ ChínhTrị về phát triển nông nghiệp và nông thôn, đã đưa ra 1 số chính sách đối vớiviệc phát triển kinh tế trang trại như sau:

I.3.1 Một số chính sách lâu dài của nhà nước đối với kinh tế trang trại.

Nhà nước khuyến khích phát triển và bảo hộ kinh tế trang trại Các hộgia đình, cá nhân đầu tư phát triển kinh tế trang trại được Nhà nước giao đất,cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài theopháp luật để sản xuất kinh doanh

Nhà nước đặc biệt khuyến khích việc đầu tư khai thác và sử dụng có hiệuquả đất trống, đồi núi trọc ở trung du, miền núi, biên giới, hải đảo, tận dụngkhai thác các loại đất còn hoang hoá, ao, hồ, đầm, bãi bồi ven sông, ven biển,mặt nước eo vịnh, đầm phá để sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp theo hướngchuyên canh với tỷ suất hàng hoá cao Đối với vùng đất hẹp, người đông,khuyến khích phát triển kinh tế trang trại sử dụng ít đất, nhiều lao động, thâmcanh cao gắn với chế biến và thương mại, dịch vụ, làm ra nông sản có giá trịkinh tế lớn Ưu tiên giao đất, cho thuê đất đối với những hộ nông dân có vốn,kinh nghiệm sản xuất, quản lý, có yêu cầu mở rộng quy mô sản xuất nôngnghiệp hàng hoá và những hộ không có đất sản xuất nông nghiệp mà cónguyện vọng tạo dựng cơ nghiệp lâu dài trong nông nghiệp

Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát huy kinh tế tự chủ của hộ

Trang 13

nông dân, phát triển kinh tế trang trại đi đôi với chuyển đổi hợp tác xã cũ, mởrộng các hình thức kinh tế hợp tác, liên kết sản xuất - kinh doanh giữa các hộnông dân, các trang trại, các nông, lâm trường quốc doanh, doanh nghiệp Nhànước và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác để tạo động lực vàsức mạnh tổng hợp cho nông nghiệp, nông thôn phát triển.

Nhà nước hỗ trợ về vốn, khoa học-công nghệ, chế biến, tiêu thụ sảnphẩm, xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho các trang trại pháttriển bền vững

Tăng cường công tác quản lý Nhà nước để các trang trại phát triển lànhmạnh, có hiệu quả

11 năm 1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộgia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp

Hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷsản sống tại địa phương có nhu cầu và khả năng sử dụng đất để mở rộng sảnxuất thì ngoài phần đất đã được giao trong hạn mức của địa phương còn được

ủy ban nhân dân xã xét cho thuê đất để phát triển trang trại

Hộ gia đình phi nông nghiệp có nguyện vọng và khả năng tạo dựng cơnghiệp lâu dài từ sản xuất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản được ủyban nhân dân xã cho thuê đất để làm kinh tế trang trại

Trang 14

Hộ gia đình, cá nhân ở địa phương khác nếu có nguyện vọng lập nghiệplâu dài, có vốn đầu tư để phát triển trang trại, được ủy ban nhân dân xã sở tạicho thuê đất.

Diện tích đất được giao, được thuê phụ thuộc vào quỹ đất của địaphương và khả năng sản xuất kinh doanh của chủ trang trại

Hộ gia đình, cá nhân được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thuêhoặc thuê lại quyền sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác đểphát triển trang trại theo quy định của pháp luật Người nhận chuyển nhượnghoặc thuê quyền sử dụng đất hợp pháp có các quyền và nghĩa vụ theo quyđịnh của pháp luật về đất đai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Hộ gia đình, cá nhân đã được giao hoặc nhận chuyển nhượng, quyền sửdụng đất vượt quá hạn mức sử dụng đất trước ngày 01 tháng 01 năm 1999 đểphát triển trang trại, thì được tiếp tục sử dụng và chuyển sang thuê phần diệntích đất vượt hạn mức, theo quy định của pháp luật về đất đai và được cấpgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nhưng chưa được giao, chưa được thuê,hoặc đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng chưa được cấp giấychứng nhận trước ngày ban hành Nghị quyết này, nếu không có tranh chấp, sửdụng đất đúng mục đích, thì được xem xét để giao hoặc cho thuê đất và đượccấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có tráchnhiệm chỉ đạo cơ quan địa chính khẩn trương cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất, để các chủ trang trại yên tâm đầu tư phát triển sản xuất

b) Chính sách thuế

Để khuyến khích và tạo điều kiện hộ gia đình, cá nhân đầu tư phát triểnkinh tế trang trại, nhất là ở những vùng đất trống đồi núi trọc, bãi bồi, đầmphá ven biển, thực hiện miễn thuế thu nhập cho trang trại với thời gian tối đa

Trang 15

theo Nghị định số 51/1999/NĐ-CP, ngày 8 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ

về việc Quy định chi tiết thi hành Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửađổi) số 03/1998/QH10

Theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì hộ gia đình và cánhân nông dân sản xuất hàng hóa lớn có thu nhập cao thuộc đối tượng nộpthuế thu nhập doanh nghiệp Giao Bộ Tài chính nghiên cứu trình Chính phủsửa đổi, bổ sung Nghị định số 30/1998/NĐ-CP ngày 13 tháng 5 năm 1998 củaChính phủ về Quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp theohướng quy định đối tượng nộp thuế là những hộ làm kinh tế trang trại đã sảnxuất kinh doanh ổn định, có giá trị hàng hóa và lãi lớn, giảm thấp nhất mứcthuế suất, nhằm khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, được nhân dânđồng tình và có khả năng thực hiện

Các trang trại được miễn giảm tiền thuê đất theo quy định của pháp luật

về đất đai khi thuê đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá để trồng rừng sảnxuất, trồng cây lâu năm và khi thuê diện tích ở các vùng nước tự nhiên chưa

có đầu tư cải tạo vào mục đích sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp

trại phát triển sản xuất, kinh doanh trong những lĩnh vực thuộc đối tượngquy định tại Điều 8 mục I Chương II của Nghị định số 43/1999/NĐ-CP ngày

29 tháng 6 năm 1999 của Chính phủ được vay vốn từ Quỹ hỗ trợ đầu tư pháttriển của Nhà nước và việc vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nướcthực hiện theo các quy định của Nghị định này

Trang trại phát triển sản xuất, kinh doanh được vay vốn tín dụng thương

Trang 16

mại của các ngân hàng thương mại quốc doanh Việc vay vốn được thực hiệntheo quy định tại Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg, ngày 30 tháng 3 năm 1999của Thủ tướng Chính phủ về "Một số chính sách tín dụng ngân hàng pháttriển nông nghiệp và nông thôn", chủ trang trại được dùng tài sản hình thành

từ vốn vay để bảo đảm tiền vay theo quy định tại Nghị định số

178/1999/NĐ-CP, ngày 29 tháng 12 năm 1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các

tổ chức tín dụng

d) Chính sách lao động

Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ để các chủ trang trại mởrộng quy mô sản xuất kinh doanh, tạo được nhiều việc làm cho lao động nôngthôn, ưu tiên sử dụng lao động của hộ nông dân không đất, thiếu đất sản xuấtnông nghiệp, hộ nghèo thiếu việc làm Chủ trang trại được thuê lao độngkhông hạn chế về số lượng; trả công lao động trên cơ sở thoả thuận với ngườilao động theo quy định của pháp luật về lao động Chủ trang trại phải trang bị

đồ dùng bảo hộ lao động theo từng loại nghề cho người lao động và có tráchnhiệm với người lao động khi gặp rủi ro, tai nạn, ốm đau trong thời gian làmviệc theo hợp đồng lao động

Đối với địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, chủ trangtrại được ưu tiên vay vốn thuộc chương trình giải quyết việc làm, xoá đóigiảm nghèo để tạo việc làm cho lao động tại chỗ; thu hút lao động ở các vùngđông dân cư đến phát triển sản xuất

Nhà nước có kế hoạch hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp cho lao động làmtrong trang trại bằng nhiều hình thức tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn

đ) Chính sách khoa học, công nghệ, môi trường

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng với các địa phương có quyhoạch, kế hoạch xây dựng các công trình thuỷ lợi để tạo nguồn nước cho pháttriển sản xuất Chủ trang trại tự bỏ vốn hoặc vay từ nguồn vốn tín dụng đầu tưphát triển của Nhà nước để xây dựng hệ thống dẫn nước phục vụ sản xuất và

Trang 17

sinh hoạt trong trang trại Các chủ trang trại xây dựng các công trình thuỷ lợi,

sử dụng nước mặt, nước ngầm trong phạm vi trang trại theo quy hoạch khôngphải nộp thuế tài nguyên nước

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng với các tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương quy hoạch đầu tư phát triển các vườn ươm giống cây nôngnghiệp, cây lâm nghiệp và các cơ sở sản xuất con giống (chăn nuôi, thuỷ sản)hoặc hỗ trợ một số trang trại có điều kiện sản xuất giống để bảo đảm đủ giống tốt,giống có chất lượng cao cung cấp cho các trang trại và cho hộ nông dân trongvùng

Khuyến khích chủ trang trại góp vốn vào Quỹ hỗ trợ phát triển khoa học,liên kết với cơ sở khoa học, đào tạo, chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật

áp dụng vào trang trại và làm dịch vụ kỹ thuật cho nông dân trong vùng

e) Chính sách thị trường

Bộ Thương mại, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhândân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức tốt việc cung cấpthông tin thị trường, khuyến cáo khoa học kỹ thuật, giúp trang trại định hướngsản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước.Nhà nước hỗ trợ việc đầu tư nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới các cơ

sở công nghiệp chế biến ở các vùng tập trung, chuyên canh; hướng dẫn việc

ký kết hợp đồng cung ứng vật tư và tiêu thụ nông sản Khuyến khích cácthành phần kinh tế tham gia phát triển công nghiệp chế biến nông sản và tiêuthụ nông sản hàng hoá của trang trại và nông dân trên địa bàn

Nhà nước khuyến khích phát triển chợ nông thôn, các trung tâm giaodịch mua bán nông sản và vật tư nông nghiệp Tạo điều kiện cho các chủtrang trại được tiếp cận và tham gia các chương trình, dự án hợp tác, hội chợtriển lãm trong và ngoài nuớc

Đẩy mạnh sự liên kết giữa các cơ sở sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sảnthuộc các thành phần kinh tế, đặc biệt là giữa các doanh nghiệp Nhà nước với

Trang 18

hợp tác xã, chủ trang trại, hộ nông dân.

Nhà nước tạo điều kiện và khuyến khích chủ trang trại xuất khẩu trựctiếp sản phẩm của mình và sản phẩm mua gom của trang trại khác, của các hộnông dân và nhập khẩu vật tư nông nghiệp

g) Chính sách bảo hộ tài sản đã đầu tư của trang trại

Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của trang trại không bị quốc hữu hoá,không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính Trong trường hợp vì lý do quốcphòng, an ninh, vì lợi ích quốc gia, Nhà nước cần thu hồi đất được giao, đượcthuê của trang trại thì chủ trang trại được thanh toán hoặc bồi thường theo giáthị trường tại thời điểm công bố quyết định thu hồi

I.4 TIÊU CHÍ ĐỊNH LƯỢNG ĐỂ XÁC ĐỊNH LÀ KINH TẾ

TRANG TRẠI

Trong những năm gần đây kinh tế trang trại phát triển mạnh ở hầu khắpcác địa phương trong cả nước, hình thành mô hình sản xuất mới trong nôngnghiệp và nông thôn nước ta Do chưa có qui định thống nhất của các Bộ,ngành Trung ương về tiêu chí trang trại nên các địa phương tự đặt ra các tiêuchí về trang trại dựa vào tính chất sản xuất hàng hoá, qui mô về diện tích đấtđai, đầu gia súc, vv để thống kê về số liệu kinh tế trang trại của địa phương,vùng nên số liệu thống kê về kinh tế trang trại chưa thật chuẩn xác, ranh giớigiữa kinh tế hộ nông dân và kinh tế trang trại không rõ ràng, khó khăn choviệc đánh giá thực trạng và xây dựng các chính sách đối với kinh tế trang trại.Chính phủ đã có nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 về kinh tếtrang trại Gồm các tiêu chí như sau:

Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản được xácđịnh là trang trại phải đạt được cả 2 tiêu chí đinh lượng sau đây:

I.4.1 Giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ bình quân 1 năm:

- Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên Hải miền Trung từ 40 triệu đồngtrở lên

Trang 19

- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên

Trang 20

I.4.2 Qui mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế

hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và từng vùng kinh tế.

a Đối với trang trại trồng trọt

- Trang trại trồng cây lâu năm

+ Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung.+ Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên

- Trang trại trồng cây lâu năm

+ Từ 3 ha trở lên đối vứi các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung + Từ 5 ha trở lên đối các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên

+ Trang trại hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên

- Trang trại lâm nghiệp

+ Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước

b Đối với trang trại chăn nuôi

- Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò, …

+ Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên

+ Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên

- Chăn nuôi gia súc: lợn, dê, …

+ Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với lợn 20 con trở lên, đối với

dê, cừu từ 100 con trở lên

+ Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên ( không kể lợnsũa ) dê từ 200 con trở lên

- Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng, … có thường xuyên từ 2000con trở lên ( không tính số đầu con duới 7 ngày tuổi )

c Đối với trang trại nuôi trồng thủy sản

- Diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản có từ 2 ha trở lên ( riêng đốivới tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên )

d Đối với các loại sản phảm nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản cótính chất đặc thù như: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thủysản và đặc sản, thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hóa ( tiêu chí 1 )

Trang 21

I.5 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI KINH TẾ TRANG TRẠI I.5.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội.

a Đặc điểm tự nhiên

Mỗi địa phương vùng miền có đặc điểm tự nhiên khác nhau Trong đó

có những đặc diểm thuận lợi cho quá trình phát triển trang trại, nhưng cũng cónhững đặc điểm tự nhiên gây cản trở cho phát triển kinh tế trang trại Và cũngtùy từng điều kiện tự nhiên tác động nhất định đến việc hình thành các loạitrang trại khác nhau như: trang trại trồng cây lâu năm, chăn nuôi, lâm nghiệp,nuôi trồng thủy sản, sản xuất kinh doanh tổng hợp …

Trong các trường hợp cụ thể của nước ta các điều kiện tự nhiên ảnhhưởng rõ nét tới sự hình thành các loại trang trại như:

Ở vùng Đông Nam Bộ có điều kiện tự nhiên thuận lợi, đất đai rộng lớn,bằng phẳng, khí hậu ôn đới Dẫn đến ở vùng này hình thành nhiều trang trạinuôi trồng thủy sản ( chiếm 50% tông số trang trại trong cả nước )

Ở vùng Tây Nguyên đồi núi nhiều, đất đai chủ yếu là đất đỏ Bazan, dẫnđến có xu hướng hình thành các trang trại trồng cây lâu năm như: cafe, cao su,

hồ tiêu …

Còn ở vùng Đông Bắc cũng là rừng núi nhưng khí hậu nhiệt đới giómùa, dẫn đến có xu hướng hình thành loại hình trang trại trồng cây ăn quả,trang trại trồng chè

Tóm lại tùy từng điều kiện tự nhiên, từng vùng dẫn đến việc hình thànhđặc trưng khá rõ nét đối với các loại hình trang trại ở nước ta

b Kinh tế - Xã hội

Kinh tế, xã hội ở mỗi địa phương có nhiều ảnh hưởng nhất định đến việchình thành và phát triển trang trại Ở những nơi có kinh tế, xã hội phát triểnngười dân sẽ có khả năng tích lũy được nhiều vốn, được tiếp thu vứi nhiềukiến thức, khoa học công nghệ, ngoài ra còn có cơ sở hạ tầng phát triển.Những mặt thuận lợi đó giúp cho 1 số người có đủ điều kiện để hình thành

Trang 22

trang trại theo hướng tích tụ mọt lượng vốn lớn, đầu tư khoa học công nghệtiên tiến Từ việc tạo điều kiện thuận lợi cho hình thành các trang trại Ở mỗiđịa phương có kinh tế, xã hội phát triển cũng là thị trường tiềm năng cho kinh

tế trang trại vì ở đâu đời sống kinh tế, xã hội của người dân phát triển, thì nhucầu cho đời sống cũng tỷ lệ thuận theo và họ cũng có khả năng chi trả Điềunày sẽ khuyến khích cho loại hnhf kinh tế trang trsị phát triển vì có thể yêntâm đầu ra cho trang trại của mình

Từ những thuận lợi trên đây mà ở những địa phương có kinh tế, xã hộiphát triển sẽ có tác động rất lớn đến việc hình thành và phát triển trang trại

I.5.2 Tác động của Nhà nước.

Việc trang trại hình thành, tồn tại, phát triển, phát triển theo hướng nàođều chịu sự tác động rất từ phía nhà nước Vì chỉ có Nhà nước là chủ thể quản

lí nền kinh tế mới có quyền công nhận tư cách pháp nhân của trang trại Từviệc công nhận này mới mở đường, khuyến khích cho người dân đầu tư côngsức tiền của để thành lập trang trại Cụ thể như: Chỉ có Nhà nước mới có thểchủ động tạo ra môi trường pháp lí cho kinh tế trang trại hoạt động Bằng cácvăn bản pháp luật, nghi định, nghị quyết liên quan nhà nước sẽ quy định,hướng dẫn các trang trại hoạt động theo quy định của pháp luật Hay nói cáchkhác Nhà nước tạo ra khung pháp lí để các trang trại làm theo

Trang trại được xem là bài toán phát triển bộ mặt nông ngiệp nông thônViệt Nam, chính vì vai trò quan trọng như vậy mà Đảng và Nhà nước ta đặcbiệt quan tâm tới thành phần kinh tế trang trại Điều đó được thể hiện rất rõtrong các chính sách sau của Nhà nước:

Nhà nước khuyến khích phát triển và bảo hộ kinh tế trang trại Các hộgia đình, cá nhân đầu tư phát triển kinh tế trang trại được Nhà nước giao đất,cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài theopháp luật để sản xuất kinh doanh

Trang 23

Nhà nước đặc biệt khuyến khích việc đầu tư khai thác và sử dụng có hiệuquả đất trống, đồi núi trọc ở trung du, miền núi, biên giới, hải đảo, tận dụngkhai thác các loại đất còn hoang hoá, ao, hồ, đầm, bãi bồi ven sông, ven biển,mặt nước eo vịnh, đầm phá để sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp theo hướngchuyên canh với tỷ suất hàng hoá cao Đối với vùng đất hẹp, người đông,khuyến khích phát triển kinh tế trang trại sử dụng ít đất, nhiều lao động, thâmcanh cao gắn với chế biến và thương mại, dịch vụ, làm ra nông sản có giá trịkinh tế lớn Ưu tiên giao đất, cho thuê đất đối với những hộ nông dân có vốn,kinh nghiệm sản xuất, quản lý, có yêu cầu mở rộng quy mô sản xuất nôngnghiệp hàng hoá và những hộ không có đất sản xuất nông nghiệp mà cónguyện vọng tạo dựng cơ nghiệp lâu dài trong nông nghiệp

Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát huy kinh tế tự chủ của hộnông dân, phát triển kinh tế trang trại đi đôi với chuyển đổi hợp tác xã cũ, mởrộng các hình thức kinh tế hợp tác, liên kết sản xuất - kinh doanh giữa các hộnông dân, các trang trại, các nông, lâm trường quốc doanh, doanh nghiệp Nhànước và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác để tạo động lực vàsức mạnh tổng hợp cho nông nghiệp, nông thôn phát triển

Nhà nước hỗ trợ về vốn, khoa học-công nghệ, chế biến, tiêu thụ sảnphẩm, xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho các trang trại pháttriển bền vững

Tăng cường công tác quản lý Nhà nước để các trang trại phát triển lànhmạnh, có hiệu quả

Chính nhờ những quan tâm đặc biệt đó mà kinh tế trang trại phát triển rấtkhởi sắc kể từ khi Nghị quyết số 03 của chính phủ về kinh tế trang trại ( ngày2-2-2000 ) Tốc độ tăng số lượng trang trại mỗi năm là 6% và hiện nay cảnước có gần 150 nghìn trang trại, với hơn 900 nghìn ha ( bình quân mỗi trangtrại khoảng 6 ha ) đó là những con số rất tích cực thể hiện vai trò vô cùngquan trọng của Nhà nước

Trang 24

I.5.3 Tác động của công nghiệp chế biến.

Mục đích của sản xuất trang trại là sản xuất nông, lâm, thủy sản hànghóa với quy mô lớn Điều này chỉ thực hiện được với sự trợ giúp từ ngànhcong nghiệp chế biến Chỉ có áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào trongsản xuất chủ trang trại mới có thể tạo ra được hàng hóa chất lượng cao, giá trịkinh té lớn và quan trọng hơn mới đáp ứng được nhu cầ trên thị trường Việctrang trại có tồn tại được hay không phụ thuộc vào đầu ra của trang trại cóđược đảm bảo hay không và điều này chỉ có thể đạt được nhờ vào sự hỗ trợcủa công nghiệp ché biến

Việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào trong sản xuất bắt nguồn

từ cả phía chủ trang traị lẫn từ yêu cầu canh tranh trên thị trường Với khốilượng sản phẩm làm ra nhiều và sản phẩm đều là nông nghiệp nên chịu sự tácđộng nhiều bởi đặc tính sinh học, tự nhiên như dễ ôi hỏng, thối, nát … nếukhông được bảo quản đúng cách Vì vậy việc áp dụng công nghệ chế biến vàokhâu sau thu hoạch sẽ mang lại kết quả khả quan Sản phẩm sẽ ít bị ôi hỏnghơn, tăng thêm thời gian bảo quản, nâng cao giá trị vật chất cho sản phẩm, sảnphẩm đã qua chế biến được bán với giá thành cao hơn Kết quả là chủ trangtrại sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn, giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh vàgiảm thiểu chi phí, tăng doanh thu

Còn từ phía thị trường, do kinh tế phát triển nên đời sống người dânngày càng nâng cao, nhu cầu được đáp ứng các sản phẩm chất lượng cao, hợp

sở thích ngày càng lớn Hơn nữa hàng hóa ngoại nhập tràn vào Việt Nam vớinhiều ưu điểm như: chất lượng cao, ngon, tươi lâu đang được người dânhưởng ững và ưa chuộng Chính vì áp lực cạnh tranh cũng buộc các chủ trangtrại phải đầu tư công ghệ chế biến vào dây truyền sản xuất của mình Có nhưvậy hàng hóa tạo ra mới được thị trường chấp nhận

I.5.4 Tác động của cơ sở hạ tầng.

Cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp bao gồm: dường giao

Trang 25

thông, công trình thủy lợi, đường điện, thông tin liên lạc … Đó là những điều kiệnvật chất không thuộc sở hữu của trang trại nhưng có tác động rất lớn tới hoạt độngsản xất kinh doanh của các trang trại Vì đây là các yếu tố không thể thiếu tácđộng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh ở trang trại Nhưthủy lợi để tưới tiêu cây trồng, làm nước uống cho gia súc; giao thông vận tải đểvận chuyển hàng hóa; thông tin liên lạc để cung cấp thông tin …

Vì thế ở những nơi phát triển kinh tế trang trại thì cơ sở hạ tầng cũngphải phát triển đồng bộ, thậm chí là đi trước 1 bước mới tạ đầy đủ nguồn lực,tiềm năng cho phát triển trang trại Thực tế đã chứng minh ở những nơi có cơ

sở hạ tầng phá triển sẽ trở thành động lực, lợi thế cho địa phương đó pháttriển nhanh chóng loại hình kinh tế trang trại Như ở Đồng Bằng Sông CửuLong kinh tế trang trại có những điều kiện thuận lợi để hình thành và pháttriển nên đã chiếm tỷ trọng hơn 50% tổng số trang trại trong cả nước ( số liệucuối năm 2004 ) Điều đó thể hiện chỉ khi nào nhà đầu tư thấy việc phát triểntrang trại được tạo điều kiện thuận lợi, có lợi nhuận thì mô hình kinh tế trangtrại mới có cơ hội phát triển

Trang 26

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TRANG TRẠI Ở THANH HOÁ

GIAI ĐOẠN 2001 – 2005

II.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI.

II.1.1 Điều kiện tự nhiên.

Nằm ở đầu miền Trung và cuối miền Bắc của đất nước, Thanh Hóa cónhiếu tiềm năng đất đai, tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng Diện tíchcủa tỉnh là 11.000 km2, dân số vào khoảng 3,76 triệu người ( năm 2005 ) Với

27 huyện, thị xã, trải dài từ Tây sang Đông; bao gồm cả các huyện miền núi,các huyện đồng bằng và các huyện ven biển Những đặc điểm tự nhiên nàymang lại nhiều thuận lợi nhưng khó khăn cũng không ít cho phát triển kinh tế

ở Thanh Hóa

Thuận lợi: Chính nhờ diện tích đất đai rộng lớn, dân số đông, tài nguyênthiên nhiên phong phú và đa dạng Đã mở ra cho Thanh Hóa nhiều hướngphát triển đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp Rõ nhất đó là việc nôngnghiệp tỉnh Thanh Hóa phát triển đồng đều tất cả các ngành trồng trọt, chănnuôi, chế biến, nông, lâm, thủy sản; một số mặt hàng đã được trong và ngoàitỉnh biết đến như: chiếu cói Nga Sơn, nem chua Hạc Thành, bánh gai Tứ Trụ.Thêm vào đó sự khác biệt về đièu kiện tự nhiên giữa các huyện cũng là thuậnlợi để Thanh Hóa phát triển các vùng theo hướng chuyên môn hóa Ví dụ ởcác huyện ven biển tập trung phát triển các ngành thủy sản, ở các huyện miềnnúi phát triển các ngàng lâm nghiệp, còn ở các huyện đồng bằng sẽ phát triểncác ngành chăn nuôi, trồng trọt

Bên cạnh những thuận lợi,điều kiện tự nhiên ở Thanh Hóa cũng gây ranhững khó khăn cho phát triển kinh tế như: số huyện miền núi nhiều có nhữnghuyện cách trung tâm tỉnh tới hơn 100 km như Cẩm Thủy, Thạch Thành,Lang Chánh; cơ sở hạ tầng ở đây chưa phát triển, gay nên khó khăn rất lớn

Trang 27

cho tỉnh trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế ở những huyện này Đối vớinhững huyện đồng bằng lại gặp những khó khăn phức tạp khác: dân số đông,mật độ người/km2 thấp vì vậy áp lực tạo thêm việc làm ở nông thôn là rất lớn,diện tích đất bị xé nhỏ gây khó khăn cho tích tụ đất nhằm sản xuất lớn.

Với vị trí là tỉnh đầu miền trung, cuối miền bắc cộng thêm có đường bờbiển dài cũng là thuận lợi rát lớn cho tỉnh Thanh Hóa Trở thành điểm thôngthương hàng hóa quan trọng, có khả năng phát triển các ngành du lịch, giaothông vận tải, thậm chí là hướng ra nước ngoài như phát triển các hải cảngquan trọng, phát triển các ngàng đánh bắt thủy, hải sản xa bờ

Về khí hậu thổ nhưỡng: Thanh Hóa mang đầy đủ đặc trưng của khí hậuViệt Nam đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa Điều này cũng tạo ra những thuậnlợi và khó khăn nhất định

Thuận lợi: Khí hậu 4 mùa tạo nên sản phẩm nông nghiệp đa dạng vàphong phú Đồng thời cũng tạo nên nhwngx đặc sản mà chỉ mình Thanh Hóamới có tạo nên lợi thế cạnh tranh với các tỉnh khác như: chiếu cói Nga Sơn, Khó khăn: Chịu nhiều tác động của thiên nhiên tới ngành nông nghiệp vàđời sống nhân dân Là nơi phải hứng chịu nhiều hiểm họa lớn từ thiên nhiênnhư bão lụt, hạn hán, dịch bệnh… Riêng bão lụt là hiểm họa lớn nhất khi nămnào ít nhất Thanh hóa cũng phải hững chịu 1 cơn bão lớn Những khó khănnày mang đến nhiều thiệt hại cho kinh tế Thanh Hóa, gây khó khăn cho đờisống người dân vốn đa phần phụ thuộc vào ngành nông nghiệp

II.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội.

Trong giai đoạn 2001 – 2005 tỉnh Thanh Hóa đã có bước tăng trưởngkhá GDP bình quân trong giai đoạn này là 11% 1 con số khá ấn tượng so vớitốc độ tăng trưởng chung của cả nước là 7,5% Cơ cấu ngành nghề cũng có sựchuyển dịch theo hướng tích cực khi các ngành công nghiệp và dịch vụ có xuhướng tăng còn ngành nông nghiệp giảm ( 42,1% năm 2000 xuống 31,5%năm 2005 ) Đây là kết quả nỗ lực cả chính quyền tỉnh và nhân dân tỉnh

Trang 28

Thanh Hóa trong những năm vừa qua Tuy nhiên kết quả đạt được trong giaiđoạn vừa qua là rất khả quan nhưng với những khó khăn và xuất phát điểmthấp nên thực tế Thanh Hóa vẫn còn là 1 tỉnh nghèo, phát triển chưa đồng đềugiữa các vùng miền, sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao Có tới 4 huyện

bị liệt vào địa bàn có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn của nhà nước baogồm:

7 Huyện Như Xuân

Chỉ riêng vấn đề này thôi cũng đủ thể hiện tỉnh Thanh Hóa còn rất nhiềuviệc cần phải làm trong thời gian tới để phát triển kinh tế, xã hội

Riêng tình hình sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa ( ngành hiệnđang chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu ngành công, nông, dịch vụ ) Trong 10năm qua, nông nghiệp Thanh Hoá đã có bước tăng trưởng khá, tổng sản phẩmnông nghiệp ( theo giá so sánh năm 1994 ) đạt 2.210,9 tỷ đồng năm 1996 lên3.238,5 tỷ đồng năm 2005 ( tăng 1,46 lần ) và dịch chuyển theo hướng tíchcực, cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong nền kinh tế của tỉnh giảm từ 42,1%bình quân thời kì 1996-2000 xuống 31,57% năm 2005

Trang 29

Mặc dù dân số tăng từ 3,6 triệu năm 1996 lên 3,76 triệu người năm 2005,nhưng dân cư nông thôn giảm dần từ 2,9 triệu người xuống 2,7 triệu người vàlao động trực tiếp sản xuất nông nghiệp giảm từ 1,53 triệu người năm 1996xuống 1,2 triệu người năm 2005.

Đã chuyển dịch một phần lao động nông nghiệp, nông thôn sang laođộng sản xuất công nghiệp, dịch vụ và các ngành sản xuất khác

Cơ cấu giá trị sản xuất ngành chăn nuôi trong nông nghiệp tăng từ 19,4%thời kỳ 1996-2000 lên 27% năm 2005

Diện tích cây công nghiệp, cây thực phẩm gắn với công nghiệp chế biếntăng và giảm dần diện tích lúa năng suất thấp, diện tích trồng khoai lang kémhiệu quả sang trồng cây công nghiệp, cây thực phẩm có hiệu quả cao hơn

II.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TRANG TRẠI Ở TỈNH

THANH HÓA.

Điều dẽ nhận thấy là hiện nay ở Thanh Hóa kinh tế trang trại phát triểnkhá mạnh, mở ra hướng làm ăn mới, được nhân dân tích cực hưởng ứng , hìnhthành đội ngũ nông dân năng động, dám nghĩ dám làm Ở mỗi huyện xuấthiện ngày càng nhiều trang trại kinh doanh giỏi như: ở các xã QuảngThành( TP Thanh Hoá ); xã Quý Lộc( Yên Định ); xã Thọ Xương( ThọXuân ); xã Thọ Bình( Triệu Sơn ); xã Thạch Cẩm( Thạch Thành) và các trangtrại nông lâm kết hợp tại các lâm trường: Như Xuân, Thạch Thành…

II.2.1 Số lượng quy mô.

Thanh Hóa là tỉnh có số lượng trang trại nhiều, tốc độ phát triển trang

trại cao Ta có thể thấy điều đó qua bảng số liệu sau:

Trang 30

Năm Số trang trại (trang trại ) So với năm 2001

Như vậy năm 2006 Thanh Hóa có 3.384 trang trại, chiếm gần 3% so

với toàn quốc ( cả nước có 113.730 trang trại ) Một kết quả rất khả quan Quabảng số liệu ta cũng thất số lượng trang trại tăng dần qua từng năm và với tốc

độ cao Kết quả là so với năm 2001 thì năm 2006 số lượng trang trại ở ThanhHóa đã có bước nhảy vọt khi tăng tới 2,16 lần

Về số lượng các trang trại giữa các huyện miền núi, các huyện đồngbằng và ven biển năm 2006 có bảng số liệu sau

( trang trại )

% trong tổng sốtrang trại ( % )

So với năm 2001tăng ( x lần )

Trang 31

Tính đến năm 2006 thì ở Thanh Hóa các huyện miền núi lại là nơi cónhiều trang trại nhất: 1.455; chiếm 43% trong tổng số trang trại; sau đó là cáchuyện đồng bằng: 1.283 trang trại, chiếm 37,9% trong tổng số; và có số lượngtrang trại ít nhất là các huyện ven biển Điều đó chứng tỏ các huyện miền núi

ở tỉnh Thanh Hóa được tạo điều kiện trong phát triển kinh tế trang trại và cáccấp chính quyền ở những huyện này có quyết tâm nên có số lượng trangă trạichiếm tỷ trọng cao Còn các huyện ven biển số lượng trang trại còn ít, pháttriển chưa đồng đều so với các huyện miền núi và đồng bằng

Bên cạnh đó ta cũng thấy xu hướng phát triển trang trại ở các huyện từ

2001 đến 2006 đó là: các trang trại ở khu vực đồng bằng có xu hướng tăngnhanh nhất: 2,65 lần; còn ở các huyện miền núi là gần bằng với tốc độ tăngtrung bình của cả tỉnh là: 2,16 lần; riêng các huyện ven biển là có tốc độ tăngchậm nhất: 1,53 lần thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trung bình của cả tỉnh.Như vậy trong xu hướng phát triển trang trại ở tỉnh Thanh Hóa thì các huyệnđồng bằng phát triển nhanh nhất, kế đến là các huyện miền núi và chậm nhất

là các huyện ven biển Điều đó là phù hợp với thực tế vì ở các huyện đồngbằng có điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn, người dân hưởng ứng phong tràophát triển kinh tế trang trại Còn các huyện ven biển do tập trung phát triểncác ngành du lịch và đánh bắt thủy hải sản nên kinh tế trang trại chưa phát

Trang 32

Trong đó những huyện có số lượng trang trại nhiều như:

Hoàng Hóa: 355 trang trại

Thạch Thành: 344 trang trại

Như Thanh: 318 trang trại

Ngọc Lạc: 312 trang trại

Yên Định: 290 trang trại

Thọ Xuân: 280 trang trại

Ở những huyện này kinh tế trang trại trở thành phong trào của ngườidân, được các cấp chính quyền quan tâm, khuyến khích phát triển nên có sốlượng trang trại nhiều và phát triển nhanh qua từng năm Bên cạnh đó vẫn cònhuyện Mường Lát vì nhiều lí do nên chưa có trang trại nào được thành lập

II.2.2 Về loại hình trang trại.

Thanh Hóa phát triển đa dạng các loại hình trang trại: trang trại trồngcây hàng năm, lâu năm, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, kinh doanh tổnghợp Trong đó cơ cấu cụ thể các loại hình trang trại năm 2006 như sau:

(trang trại )

% trong tổng sốtrang trại ( % )

So với năm 2001tăng ( x lần )Trồng cây hàng

Trang 33

Về số lượng ( năm 2006 ) ở Thanh Hóa trang trại trồng cây hàng năm có

số lượng nhiều nhất, kế đến là trang trại chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp, tổnghợp và thấp nhất là trồng cây lâu năm Vì thế tương ứng với % tổng số trangtrại ở Thanh hóa thì trang trại trồng cây hàng năm cũng chiếm tỷ lệ cao nhất

là 39,5%; còn trang trại trồng cây lâu năm chiếm tỷ lệ thấp nhất là 5,5% Kếtquả đó phản ánh ở Thanh Hóa trong thời gian vừa qua trang trại trồng câyhàng năm được nhiều chủ đầu tư phát triển, kế đến là trang trại chăn nuôi Lí

do là 2 loại hình trang trại này dễ phát triển, không đòi hỏi nhiều về vốn, côngnghệ, đất đai … và thêm vào đó phù hợp mục tiêu phát triển của tỉnh, huyệnnên được các cấp chính quyền quan tâm hỗ trợ

Trong đó xu hướng phát triển của các loại hình từ năm 2001 – 2006:trang trại chăn nuôi có tốc độ tăng cao nhất 3,57 lần; trang trại trồng cây hàngnăm là 2,4 lần; trang trại tổng hợp là 2,02 lần; … ; thấp nhất là trang trại trồngcây lâu năm 0,82 lần Xu hướng này hợp với mục tiêu phát triển chung củatỉnh đó là tăng nhanh số lượng trang traị trồng cây hàng năm, trang trại chăn

Trang 34

nuôi và giảm số lượng trang trại trồng cây lâu năm Riêng trang trại chăn nuôitrong giai đoạn vừa qua phát triển nhanh nhất, hơn cả trang trại hàng năm là

vì đây là loại hình dễ thực hiện, yêu cầu không cao, phù hợp với hả năng củangười dân, đầu ra ổn định và phát triển rất mạnh ở các huyện đồng bằng

Cơ cấu loại hình trang trại ở các vùng khác nhau:

- Các huyện miền núi:

+ Trang trại trồng cây hàng năm: chiếm 59,7%

+ Trang trại trồng cây lâu năm : chiếm 7,3%

+ Trang trại lâm nghiệp : chiếm 7,98%

+ Trang trại chăn nuôi : chiếm 13,0%

+ Trang trại thủy sản : chiếm 6%

+ Trang trại kinh doanh tổng hợp: chiếm 4,67%

So với cùng loại hình trang trại trên địa bàn Nguồn số liệu: báo cáo kếtquả thực hiện Nghị quyết 07-NQ/TU của Ban Thường Vụ Tỉnh ủy về khuyếnkhích phát triển kinh tế trang trại ( năm 2007 )

Như vậy ở các huyện miền núi có số lượng trang trại trồng cây hàngnăm chiếm tỉ lệ rất cao 59,7%; trang trại chăn nuôi đứng thứ 2 nhưng chưanhiều 13%; thấp nhất là trang trại kinh doanh tông hợp với 4,67%

- Các huyện đồng bằng

+ Trang trại trồng cây hàng năm: chiếm 38%

+ Trang trại trồng cây lâu năm : chiếm 2,1%

+ Trang trại lâm nghiệp : chiếm 12,2%

+ Trang trại chăn nuôi : chiếm 15,75%

+ Trang trại thủy sản: chiếm 27,6%

+ Trang trại kinh doanh tổng hợp: chiếm 4,26%

So với cùng loại hình trang trại trên địa bàn Nguồn số liệu: báo cáo kếtquả thực hiện Nghị quyết 07-NQ/TU của Ban Thường Vụ Tỉnh ủy về khuyếnkhích phát triển kinh tế trang trại ( năm 2007 )

Trang 35

Đối với các huyện đồng bằng trang trại trồng cây lâu năm vẫn chiếm tỉ

lệ cao nhưng không được tuyệt đối như ở các huyện miền núi khi chỉ chiếm38%; sau đấy là trang trại thủy sản chiếm 27,6%; trang trại chăn nuôi chỉđứng thứ 3: 15,75%; trang trại trồng cây lâu năm vẫn chiếm tủ lệ thấp nhất là:2,1% Điều này phù hợp với điều kiện tự nhiên ở các huyện đồng bằng đó làthích hợp cho phát triển trang trại trồng cây hàng năm,thủy sản và chăn nuôi

- Các huyện ven biển:

+ Trang trại trồng cây hàng năm: chiếm 2,3%

+ Trang trại trồng cây lâu năm : chiếm 4,8%.

+ Trang trại lâm nghiệp : chiếm 7,9%.

+ Trang trại chăn nuôi : chiếm 26,2%

+ Trang trại thủy sản: chiếm 66,4%/

+ Trang trại kinh doanh tổng hợp: chiếm 10,7%.

So với cùng loại hình trang trại trên địa bàn Nguồn số liệu: báo cáo kếtquả thực hiện Nghị quyết 07-NQ/TU của Ban Thường Vụ Tỉnh ủy về khuyếnkhích phát triển kinh tế trang trại ( năm 2007 )

Như vậy ở các huyện ven biển tỉ lệ các trang trại có sự khác biệt rất lớn

đối với các huyện miền núi và đồng bằng Khi số trang trại thủy sản chiếm đa

số với: 66,4%; kế đến là trang trại chăn nuôi: 26,2%; và trang trại tổng hợp:10,7% Do gần bờ biển nên cũng dễ hiểu khi trang trại thủy sản phát triểnmạnh ở những huyện ven biển

Tóm lại quá trình hình thành và phát triển của mỗi loại hình trang trạiđều gắn với lợi thế của từng vùng, tiểu vùng cụ thể Vùng miền núi trung du

có nhiều trang trại trồng cây công nghiệp gắn với cơ sở chế biến, quy môngày một tăng, cùng với quá trình tích tụ ruộng đất Vùng đồng bằng, các loạihình trang trại: chăn nuôi, lúa – cá kết hợp nuôi lợn, thủy cầm có tốc độ pháttriển khá nhanh gắn với phong trào đổi điền, dồn thửa vùng ven biển, trangtrại nuôi trồng thủy sản chiếm ưu thế loại hình trang trại chăn nuôi có tốc độ

Trang 36

phát triển nhanh nhất ( tăng 3,57 lần so với năm 2001) có quy mô, quy trìnhsản xất ngày càng hoàn thiện.

II.2.3 Về đất đai của trang trại.

Các loại hình trang trại ở Thanh Hóa có quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu.Điều đó thể hiện rất rõ trong bảng số liệu sau:

Trang trại

Diện tích ( ha ) % trong tổng số

trang trại ( % )

Bình quân ha/1trang trạiTrồng cây hàng

Trong số các loại hình thì trang trại trồng cây hàng năm có diện tích sửdụng cao nhất, điều này phù hợp với thực tế là tỉnh Thanh Hóa có nhiều trangtrại trồng cây hàng năm nhất và bình quân 5 ha/1 trang trại là mức sử dụngdiện tích hợp lí

Trang trại lâm nghiệp mặc dù có số lượng không nhiều nhưng do sửdụng diện tích lớn nên có diện tích sử dụng đứng thứ 2, chiếm 36,4% diệntích đất sử dụng, bình quân 18,81 ha/ 1 trang trại, tức đạt tỉ lệ khá cao nếu sosánh với tiêu chí chung của Nhà nước đối với trang trại lâm nghiệp là: “ từ 10

ha trở lên đối với các vùng trong cả nước ”

Trang 37

Trang trại chăn nuôi có diện tích sử dụng thấp nhất chiếm 4,5 % diệntích trang trại là do loại hình trang trại này không đòi hỏi nhiều về mặt diệntích Số liệu bình quân 1,16 ha/ 1 trang trại cũng đã phẳn ánh rõ nét điều này.Trang trại trồng cây lâu năm và nuôi trồng thủy sản có tỷ lệ và bình quânha/1 trang trại là hợp lí so với nhu cầu sử dụng diện tích của 2 loại hình nàylần lượt là: 1.150,9 ha; 2.860,4 ha và 6,15 ha/ 1 trang trại; 5,21 ha/ 1 trangtrại.

Tóm lại đất đai sử dụng trong trang trại phản ánh đúng với đặc điểm, sốlượng của từng loại hình trang trại Trang trại trồng cây hàng năm có diệntích sử dụng lớn nhất là do có số lượng trang trại nhiều; trang trại lâm nghiệp

có diện tích sử dụng lớn thứ là do bình quân 1 trang trại loại náy sử dngj diệntích nhiều; còn trang trại chăn nuôi có diện tích sử dụng thấp là vì loại hìnhnày không cần nhiều diện tích và hầu hết các trang trại Thanh Hóa đều vượtmức tiêu chí về đất đai của Nhà nước đặt ra đối với các loại hình trang trại

4 Về lao động.

Lao động của trang trại bắt đầu từ những hộ gia đình có ý chí làm giầu,

có sức lao động, có vốn, có năng lực quản lí đứng ra nhận thầu các vùng đấthoang hóa, khai phá mặt nước, cải tạo ao hồ đưa vào sản xuất, trồng câylương thực, nuôi trồng thủy sản, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày.Các chủ trang trại tỉnh Thanh Hóa đều là những nông dân thực thụ, 1 số làcựu chiến binh, cán bộ công chức về hưu, nhưng nhìn chung đều xuất thân từnông dân Họ mở đầu sự nghiệp bằng lao động trong gia đình và đồng vốn tự

có ít ỏi đầu tư vào sản xuất theo phương châm lấy ngắn nuôi dài Từ nhữngđặc trưng đó dẫn đến hình thành các loại lao động trong trang trại như sau:Tổng số lao động làm việc thường xuyên ở trang trại: 12.482 người, bìnhquân/ 1 trang trại là 3,67 lao động

Trong đó lao động chủ hộ trang trại: 8.019 người ( chiếm 64,24% ), bìnhquân/1 trang trại là 2,4 lao động ( cả nước 2,6 lao động )

Ngày đăng: 11/12/2012, 10:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng II.4. Nguồn số liệu: báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết 07-NQ/TU  của Ban Thường Vụ Tỉnh ủy về khuyến khích phát triển kinh tế trang trại  ( năm 2007 ). - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2006 – 2010
ng II.4. Nguồn số liệu: báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết 07-NQ/TU của Ban Thường Vụ Tỉnh ủy về khuyến khích phát triển kinh tế trang trại ( năm 2007 ) (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w