Luận Văn:Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp huyện Việt Yên
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài:
Phát triển nông nghiệp, nông thôn là một vấn đề đã và đang được sự quantâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình đất nước phát triển đi lên xâydựng chủ nghĩa xã hội Mặc dù cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷtrọng các ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, thương mại vàdịch vụ nhưng vẫn không thể phủ định vai trò to lớn của nông nghiệp đối với đờisống nhân dân đặc biệt là đối với nước ta – Cơ bản là một nước nông nghiệp Giảmdần nhưng không có nghĩa là sau đó xóa bỏ hẳn mà là giảm về số lượng để nâng caochất lượng Đất nước tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa do vậy phải đưa “côngnghiệp hóa” vào ngành nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sảnphẩm Việc Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến nông nghiệp là do ngànhnông nghiệp cung cấp những sản phẩm thiết yếu cho con người, do xuất phát từ đặcđiểm của nước ta với hơn 70% dân số sống ở nông thôn và hoạt động sản xuất nôngnghiệp là chủ yếu Bên cạnh đó nước ta trong nhiều năm liền là nước có vị trí caotrong xuất khẩu mặt hàng nông nghiệp như gạo, cà phê, cao su… Tuy nhiên, vẫncòn nhiều tồn tại yếu kém do các thành phần kinh tế tham gia hoạt động sản xuấtvẫn chưa thể phát huy hết những điều kiện thuận lợi và khắc phục khó khăn, hạnchế của ngành Có rất nhiều thành phần kinh tế tham gia hoạt động và trong mộtthời gian dài kinh tế tập thể giữ vai trò chủ đạo tiêu biểu là kinh tế hợp tác xã nôngnghiệp nói chung và hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp nói riêng
Với địa bàn hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, hòa chung với việcthực hiện mục tiêu của Đảng và Nhà nước, UBND huyện Việt Yên đã trực tiếp chỉđạo Phòng Nông nghiệp huyện tiến hành quản lý, hướng dẫn các hợp tác xã dịch vụnông nghiệp trên địa bàn huyện tham gia sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao hiệuquả trong sản xuất Để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xãdịch vụ nông nghiệp trên cả nước thì trước tiên phải nâng cao hiệu quả của các hợptác xã trong huyện Để làm được điều đó thì việc đánh giá thực trạng để từ đó tìm ra
Trang 2em quyết định chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển và
nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp huyện Việt Yên”.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề về lý luận về hiệu quả hoạt động củakinh tế hợp tác xã để phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động của các hợp tác xãnông nghiệp huyện Việt Yên trong những năm gần đây, nhằm khẳng định nhữngkết quả đạt được, chỉ ra những tồn tại và nguyên nhân chủ yếu để tiếp tục nghiêncứu và giải quyết Đồng thời đề xuất các giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quảhoạt động kinh doanh dịch vụ trong các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp phù hợpvới đặc điểm điều kiện huyện Việt Yên, phù hợp với xu hướng vận động của nềnnông nghiệp nước ta
3 Phương pháp nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: là những vấn đề về hiệu quả hoạt động của cáchợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Việt Yên,tỉnh Bắc Giang
+ Thời gian: Chủ yếu là từ năm 2004 trở lại đây
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Bên cạnh hai phương pháp cơ bản
và phổ biến là duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, em còn sử dụng thêm cácphương pháp cụ thể như: Phương pháp thống kê (thu thập và sử dụng số liệu, phân
bổ, so sánh…); phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp ước lượng…
Trang 3Chương II Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với phát triển các HTXdịch vụ nông nghiệp huyện Việt Yên.
Chương III Quan điểm và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển vànâng cao hiệu quả hoạt động của HTX dịch vụ nông nghiệp huyện Việt Yên
Trang 4CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ
TẬP THỂ VÀ HTX NÔNG NGHIỆP.
I BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA KINH TẾ TẬP THỂ.
1 Bản chất kinh tế tập thể.
Hoạt động sản xuất là đặc trưng riêng có của con người và xã hội loài người
Để có hoạt động sản xuất được, thì như Các Mác đã chỉ rõ: “Người ta không thể sảnxuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và
để trao đổi hoạt động với nhau Muốn sản xuất được, người ta phải có những mốiliên hệ và quan hệ chặt chẽ với nhau, và chỉ có trong phạm vi những mối liên hệ vàquan hệ đó thì mới có sự tác động của họ vào giới tự nhiên, tức là sản xuất”
Tính xã hội, tính tập thể về hoạt động sản xuất của con người được hìnhthành và phát triển dựa trên nền tảng là các quan hệ sở hữu đối với các tư liệu sảnxuất, quan hệ trong tổ chức quản lý và trao đổi hoạt động với nhau và quan hệ phânphối lợi ích, trong đó quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định cácquan hệ khác Bởi vì, địa vị kinh tế của cá nhân và nhóm người trong sản xuất vàphân phối đều do chế độ sở hữu quy định Đối với một tập thể với tính cách là chủthể kinh tế, sự tồn tại và phát triển cũng dựa trên nền tảng các mối quan hệ nêu trên,trong đó quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất là quan trọng nhất
Kinh tế tập thể (KTTT) là hình thức liên kết kinh tế tự nguyện, phối hợp, hỗtrợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế, kết hợp sức mạnh của từng thànhviên với ưu thế và sức mạnh của tập thể để giải quyết tốt hơn những vấn đề của sảnxuất kinh doanh và đời sống, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và lợi ích của mỗithành viên
Nền tảng kinh tế của tập thể là sở hữu tập thể Do vậy, để củng cố và pháttriển KTTT phải quan tâm tới sở hữu tập thể Tuy nhiên, cần phải thấy tính hai mặt
và sự tách rời về mặt sở hữu đối với hai mặt hiện vật và giá trị của sở hữu tập thể,chúng ta mới có thể thiết lập được các hình thức KTTT đa dạng, với trình độ phát
Trang 5triển đa dạng đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn phát triển KTTT trong mọi ngành vàmọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân.
Các hình thức tổ chức KTTT là rất đa dạng, trong đó nòng cốt là các hợp tác
xã (HTX) – là loại hình KTTT phát triển ở trình độ cao hơn các loại hình KTTTgiản đơn và các kình thức kinh tế hợp tác đa dạng khác của nông dân như tổ đoànkết sản xuất, câu lạc bộ sản xuất, các hội nghề như hội nuôi ong, hội nuôi cá…Trong quá trình phát triển, một bộ phận các tổ chức kinh tế hợp tác có thể phát triểnlên thành các HTX, nhưng các hình thức kinh tế hợp tác đa dạng khác vẫn tồn tại vàphát triển lâu dài
2 Vai trò của kinh tế tập thể trong nông nghiệp.
KTTT mà nòng cốt là HTX luôn có vị trí, vai trò quan trọng trong nền kinh
tế của đất nước ở mọi thời kỳ phát triển:
Tổ chức và phát triển KTTT để hỗ trợ, giúp đỡ kinh tế hộ nông dân vượt quanhững khó khăn trong sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh, tạo ra cho những thành viên tham gia có cơ hội phát huy tối đa năng lựccủa họ Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, cây trồng, vật nuôi đều là những cơthể sống chịu ảnh hưởng trực tiếp của ngoại cảnh như thời tiết, khí hậu và các sinhvật khác Cùng với các điều kiện thuận lợi do tự nhiên mang lại thì sản xuất nôngnghiệp gặp không ít khó khăn, trở ngại như hạn, úng, bão lụt, sâu bệnh, thú dữ pháhoại… Vì vậy, từ xa xưa cho đến nay, các hộ nông dân đều hợp tác để hỗ trợ, giúpnhau khắc phục, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do tự nhiên gây ra nhằm nângcao hiệu quả sản xuất
Trong nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, KTTT có vai trò quan trọng đểkinh tế hộ nông dân - những người sản xuất nhỏ gia tăng sức mạnh, nâng cao khảnăng cạnh tranh, chống lại sự chèn ép của kinh tế tư nhân, các doanh nghiệp lớntrên thương trường Khi nền sản xuất hàng hóa phát triển, nhu cầu dịch vụ cho quátrình tái sản xuất ngày càng tăng cả về quy mô và chất lượng dịch vụ như dịch vụ vềgiống, phòng trừ sâu bệnh, thủy lợi, chế biến và tiêu thụ nông sản… Trong điềukiện này, từng hộ nông dân tự đảm nhiệm tất cả các khâu cho quá trình sản xuất sẽ
Trang 6gặp khó khăn, hoặc sẽ không đủ khả năng đáp ứng, hoặc hiệu quả kinh tế thấp kémhơn so với hợp tác Sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển, cạnh tranh ngày cànggay gắt thì những người lao động riêng lẻ, các hộ cá thể, các doanh nghiệp nhỏ vàvừa, đặc biệt là trong nông nghiệp, nông thôn càng cần phải liên kết, hợp tác vớinhau để phát triển.
Phát triển KTTT, ngoài mục tiêu kinh tế còn có mục tiêu xã hội Trong nôngnghiệp, những người lao động nhất là lao động nghèo, chỉ có hợp tác với nhau mới
có thể giúp nhau tạo ra sức mạnh liên kết trong sản xuất kinh doanh, xóa đói giảmnghèo Các tổ chức KTTT, nhất là trong nông thôn không chỉ gắn bó về kinh tế màcòn được hình thành và phát triển trên cơ sở “tình làng nghĩa xóm” Mặc dù trong
cơ chế thị trường khắc nghiệt, các tổ chức này không thôn tính lẫn nhau, trái lạiluôn quan tâm đến nhau, cùng tồn tại và hỗ trợ nhau phát triển Điều quan trọng làcác hình thức hợp tác không dựa vào trợ cấp của Nhà nước và gây khó khăn choviệc sản xuất kinh doanh của các thành viên, ngược lại còn cải thiện điều kiện sảnxuất, nâng cao hiệu quả sản xuất và đời sống của các thành viên
Đối với nước ta, khu vực nông nghiệp, nông thôn còn chiếm tỷ trọng lớn cả
về dân cư, lao động và giá trị đóng góp cho xã hội, bộ phận dân cư nghèo và yếu vềkinh tế còn khá đông thì phát triển KTTT đặc biệt có ý nghĩa, vai trò vô cùng quantrọng thúc đẩy sự phát triển nền nông nghiệp hàng hóa tiến lên sản xuất lớn hiệnđại, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn trên conđường đi lên chủ nghĩa xã hội
II HỢP TÁC XÃ - MỘT HÌNH THỨC PHỔ BIẾN CỦA KINH TẾ TẬP THỂ.
1 Khái niệm hợp tác xã.
HTX là một hình thức tổ chức cụ thể của kinh tế tập thể, phát triển ở trình độcao hơn các hình thức kinh tế tập thể giản đơn HTX có ở hầu hết các nước trên Thếgiới và đã có lịch sử hình thành và phát triển hơn 100 năm Trong Luật Hợp tác xãcủa nhiều nước cũng như một số tổ chức quốc tế đều có các định nghĩa về HTX:
* Điều 1 của Luật HTX Việt Nam năm 1996 đã định nghĩa:
Trang 7“Hợp tác xã là tổ chức kinh tế do những người lao động có nhu cầu, lợi íchchung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để pháthuy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quảhơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phầnphát triển kinh tế - xã hội của đất nước”.
* Theo liên minh hợp tác xã Quốc tế (ICA) định nghĩa như sau:
“Hợp tác xã là một tổ chức tự trị của những người tự nguyện liên hiệp lại đểđáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hóa xãhội thông qua một xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ”
* Theo định nghĩa của Luật HTX sửa đổi năm 2003 thì:
“Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (gọichung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp sức lập ra theo quy địnhcủa Luật HTX để phát huy sức mạnh của từng hộ xã viên tham gia hợp tác xã, đểcùng nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng caođời sống vật chất, tinh thần của hộ xã viên góp phần phát triển kinh tế - xã hội củađất nước”
2 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã.
Theo Luật năm 2003 thì nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX là:
Tự nguyện: Mọi cá nhân, gia đình, pháp nhân có đủ điều kiện theo quy định
của Luật HTX, tán thành Điều lệ HTX đều có quyền gia nhập HTX và cùng theo đó
cá nhân hộ xã viên có quyền ra khỏi HTX theo quy định của Điều lệ HTX
Dân chủ, bình đẳng và công khai: Xã viên có quyền tham gia quản lý, kiểm
tra giám sát HTX và có quyền ngang nhau trong biểu quyết, thực hiện công khaiphương hướng sản xuất kinh doanh, tài chính, phân phối và những vấn đề khác quyđịnh trong Điều lệ của HTX
Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: HTX tự chủ và tự chịu trách
nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, tự quyết định về phân phối thunhập Mục đích thành lập HTXNN chủ yếu là phục vụ cho sản xuất nông nghiệpcủa hộ nông dân Vì vậy, sau khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế và trang trải các
Trang 8khoản lỗ của HTX, lãi được trích một phần vào các quỹ của HTX, một phần chiatheo vốn góp và công sức đóng góp của xã viên, phần còn lại chia cho xã viên theomức sử dụng dịch vụ của HTX.
Hợp tác và phát triển cộng đồng: Xã viên phải có ý thức phát huy tinh thần
xây dựng tập thể và hợp tác với nhau trong HTX, trong cộng đồng xã hội; hợp tácgiữa các HTX trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật
Có tư cách pháp nhân, và bình đẳng trước pháp luật: Đây là một trong
những nguyên tắc nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của mình, có tư cách phápnhân đó là điều kiện cần để tiến tới việc thành lập và đảm bảo quyền lợi của HTXnhư một doanh nghiệp, bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh
Đây là những nguyên tắc cơ bản đã được xây dựng ngay từ những ngày đầukhi HTX mới thành lập và ngày càng được hoàn chỉnh Trong luật HTX sửa đổinăm 2003 các nguyên tắc ngày càng được hoàn thiện trên tinh thần vì tập thể vàcùng có lợi.Trong những năm gần đây khi nền kinh tế ngày càng phát triển, cácHTX được thành lập cũng phá sản ngày càng nhiều do đó đòi hỏi nguyên tắc hoạtđộng của HTX phải ngày càng chặt chẽ và theo quy định của pháp luật Luật HTXsửa đổi năm 2003 đã đáp ứng đựơc yêu cầu của nền kinh tế cũng như việc gia nhập
và rút khỏi của các HTX cũng như các nguyên tắc khác
III HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP.
1 Khái niệm và đặc trưng của hợp tác xã nông nghiệp.
“Hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) là một trong các hình thức cụ thể củakinh tế hợp tác trong nông nghiệp, là tổ chức kinh tế của những hộ nông dân cánhân, pháp nhân có cùng nhu cầu và nguyện vọng, tự nguyện liên kết lại để phốihợp giúp đỡ nhau phát triển kinh tế hoặc đáp ứng tốt hơn nhu cầu về đời sống củamỗi thành viên, tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc luật pháp quy định, có tưcách pháp nhân”
Ở mỗi nước kinh tế hợp tác của nông dân có những đặc điểm không hoàntoàn giống nhau Ở Việt Nam HTXNN có những đặc trưng cơ bản như sau:
Trang 9- HTXNN là tổ chức liên kết kinh tế tự nguyện của những nông hộ, nông trại
có chung yêu cầu về những dịch vụ cho sản xuất kinh doanh và đời sống của mình
mà bản thân từng hộ nông dân không thực hiện được, khó thực hiện được hoặc thựchiện được nhưng kém hiệu quả
- Cơ sở thành lập của HTX là dựa vào việc cùng góp vốn của các thành viên
và quyền làm chủ hoàn toàn bình đẳng giữa các xã viên theo nguyên tắc mỗi xã viênmột phiếu biểu quyết, không phân biệt lượng vốn góp nhiều hay ít
- Mục đích kinh doanh của HTX là nhằm trước hết dịch vụ cho xã viên, đápứng đủ và kịp thời số lượng, chất lượng của dịch vụ, đồng thời cũng phải tuân theonguyên tắc bảo toàn và tái sản xuất mở rộng vốn bằng cách thực hiện mức giá và lãisuất nội bộ thấp hơn giá thị trường
- HTX thành lập và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi
- HTX là một tổ chức liên kết kinh tế chỉ liên kết những xã viên thực sự cóchung mục đích, nhu cầu không phụ thuộc vào nơi ở và cũng chỉ liên kết ở nhữngdịch vụ cần thiết và đủ khả năng quản lý kinh doanh Trong mỗi thôn, xã có thểcùng tồn tại nhiều loại hình HTX có nội dung kinh doanh khác nhau, có số lượng xãviên không như nhau, trong đó các nông hộ, nông trại đồng thời có thể là xã viêncủa một số HTX
- Các hộ thành viên (nông hộ, nông trại gia đình) vừa là đơn vị kinh tế tự chủtrong HTX, vừa là đơn vị kinh tế, cơ sở hoạt động kinh doanh và hạch toán độc lập
Do vậy, quan hệ giữa HTX và xã viên vừa là quan hệ liên kết, giúp đỡ nội bộ vừa làquan hệ giữa hai đơn vị kinh doanh Sự hình thành và phát triển của kinh tế HTXkhông phá vỡ kinh tế của các hộ thành viên HTX lấy kinh tế của các hộ thành viên làm
cơ sở hình thành và mục tiêu phục vụ nhằm tạo điều kiện cho các đơn vị kinh tế tự chủngày càng phát triển, trên cơ sở đó mà thúc đẩy sự phát triển của kinh tế HTX
2 Vai trò của HTXNN trong hệ thống kinh tế nông nghiệp Việt Nam.
Ngay từ khi mới thành lập, HTX nông nghiệp đã có vai trò hết sức quantrọng trong việc đáp ứng và cung cấp dịch vụ trong sản xuất nông nghiệp Tronggiai đoạn hiện nay khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì HTX nói chung và HTX
Trang 10nông nghiệp nói riêng càng có vai trò quan trọng được thể hiện trong Luật HTX sửađổi năm 2003 như sau:
- HTXNN góp phần quan trọng xây dựng nông thôn, xóa đói giảm nghèo,tăng thu nhập cho nông dân, giúp nông dân làm giàu
Mô hình HTX cũ đã kìm hãm kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việc giảiphóng tình trạng đó bắt đầu từ Chỉ thị 100 (năm 1981) và Nghị quyết 10 (năm 1988)soi sáng, đưa nông dân trở thành người chủ mới thực sự Các HTXNN đã có sựchuyển đổi vai trò, chức năng của mình, hoạt động chủ yếu là phục vụ kinh tế hộthành viên Nhờ có hoạt động của HTXNN, các yếu tố đầu vào và các khâu dịch vụcho hoạt động sản xuất nông nghiệp được cung cấp kịp thời, đầy đủ và đảm bảochất lượng, làm cho hiệu quả sản xuất của nông hộ, nông trại được nâng lên
Hoạt động dịch vụ của HTX cho xã viên chủ yếu nhằm mục đích tương trợ
để xã viên tìm kiếm các dịch vụ một cách dễ dàng hơn, thuận lợi hơn và đỡ tốn kémhơn so với việc từng hộ xã viên phải tự lo liệu các dịch vụ đó Mặc dù mục tiêu làtương trợ nhưng HTX nhờ các hoạt động chung mà tiêt kiệm được chi phí dịch vụcho các hộ xã viên Vì vậy, gián tiếp làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, tức làlàm tăng thu nhập cho các hộ thành viên
HTXNN là hình thức tổ chức quan trọng để người lao động, hộ xã viên tiếpnhận sự hỗ trợ của Nhà nước, liên kết với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế Qua đó, HTX có khả năng hỗ trợ nông dân thực hiện quy hoạch và kế hoạchchuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô ngàycàng lớn, giá trị thu nhập cao, phù hợp và đáp ứng nhu cầu của thị trường trong vàngoài nước đòi hỏi; liên kết với các thành phần kinh tế để mở rộng dịch vụ đầu vào,đầu ra, ứng dụng công nghệ sinh học và các tiến bộ kỹ thuật mới, đa dạng sản phẩmhàng hóa, thúc đẩy phân công lại lao động tại chỗ, góp phần ngày càng lớn cải thiện
và nâng cao mức sống của người dân ở nông thôn
- HTXNN góp phần giúp nông dân giải quyết các vấn đề xã hội, kinh tế thị trường.Trong cơ chế thị trường, từng hộ nông dân không đủ khả năng để tham giacạnh tranh Khi đó, HTX đóng vai trò quan trọng giúp các hộ nông dân sản xuất
Trang 11kinh doanh với các dịch vụ giá rẻ hơn, chất lượng phù hợp với nhu cầu của họ vàsản phẩm làm ra được tiêu thụ kịp thời, ổn định, hạn chế được sự cạnh tranh, chèn
ép trong các quan hệ trao đổi trên thương trường
HTXNN còn có vai trò gìn giữ và phát huy những truyền thống văn hóa tốtđẹp của dân tộc như tinh thần tương thân, tương trợ giúp đỡ nhau trong sản xuất vàđời sống, chăm lo đời sống của các hộ thành viên và góp phần giải quyết các vấn đề
xã hội ở địa phương, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của người dânnông thôn Hiện nước ta có khoảng 55 - 56 triệu người sống ở nông thôn, việc xâydựng và phát triển HTX sẽ góp phần ổn định chính trị, xã hội
3 Sự khác nhau giữa HTXNN kiểu mới theo Luật HTX và HTXNN kiểu
cũ đã tồn tại hơn 30 năm qua ở nước ta.
-Về quan hệ sở hữu:
+ HTXNN kiểu cũ dựa trên cơ sở tập thể hoá quyền sở hữu ruộng đất và các
tư liệu sản xuất khác (nói chung là vốn kinh doanh) của các nông hộ Do đó xoá bỏ
tư cách chủ thể kinh doanh của mỗi hộ, biến người lao động trong mỗi nông hộ trởthành người lao động bộ phận của mỗi đơn vị tổ chức lao động hợp tác duy nhất làHTXNN, giống như một xí nghiệp công nghiệp, thậm chí còn biến mỗi xã viênthành người lao động làm thuê cho HTX
+ HTXNN kiểu mới, theo luật HTX, dựa trên cơ sở quyền tự chủ kinh doanh
của mỗi nông hộ trên đất nước chính quyền giao cho để sử dụng lâu dài, với 5quyền như luật đất đai quy định (quyền sử dụng, chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa
kế, thế chấp và cho thuê) để tiến hành sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp với tư cách
là “tế bào” của nền kinh tế thị trường, dựa vào sự góp vốn góp sức và quyền biểuquyết ngang nhau của mỗi xã viên, để cùng hưởng thụ kết quả hoạt động và cùngchia sẻ rủi ro của HTX theo mức góp vốn, góp sức của mỗi xã viên nhằm vừa làmtăng sức mạnh kinh tế của mỗi nông hộ, vừa tạo ra sức mạnh mới cho HTXNN.Chính vì vậy, kinh tế nông hộ và kinh tế HTX có thể tồn tại và phát triển có hiệuquả trong điều kiện kinh tế thị trường mà ở đó sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp,
Trang 12các công ty và tập đoàn kinh tế ngày càng quyết liệt với quy mô ngày càng lớn,vượt ra khuôn khổ nền kinh tế của một quốc gia.
- Về mục đích thành lập:
HTXNN kiểu cũ ra đời để phát triển kinh tế tập thể của chính bản thân mỗiHTX và thay thế căn bản hoạt động kinh tế của mỗi nông hộ nhằm nâng cao mứcsống vật chất tinh thần của hộ xã viên Còn HTXNN kiểu mới ra đời trước tiên là vìyêu cầu và mục tiêu phát triển kinh tế của mỗi nông hộ thành viên đã góp vốn, gópsức vào HTX Vì vậy, HTXNN kiểu mới trước hết phải thực hiện có hiệu quả cáchoạt động dịch vụ đầu vào đầu ra cho kinh tế hộ mà bản thân các nông hộ không thểlàm được hoặc làm không hiệu quả Nếu không có HTX thì bản thân kinh tế hộ, tuy
có đầy đủ quyền tự chủ kinh doanh cũng không thể trở thành “tế bào” của nền kinh
tế thị trường, càng không thể đứng vững trong điều kiện cạnh tranh khốc kiệt vớicác doanh nghiệp Vì vậy, trong kinh tế thị trường HTXNN kiểu mới ra đời là vìkinh tế nông hộ chứ không phải để thay thế kinh tế hộ Ngược lại, kinh tế nông hộ là
cơ sở tồn tại của HTXNN kiểu mới
- Về mục tiêu hoạt động dịch vụ:
Vì những lý do trên, HTXNN kiểu mới không coi lợi nhuận là mục tiêu tốithượng Hơn nữa HTXNN có sự phát triển và hiệu quả của kinh tế nông hộ trongnền kinh tế thị trường là mục tiêu tối thượng
Dĩ nhiên không phải vì thế mà HTXNN kiểu mới chỉ có hoạt động dịch vụcho kinh tế hộ và từ bỏ các hoạt động kinh doanh vì lợi nhuận như tiểu thủ côngnghiệp, thương nghiệp, kinh doanh dịch vụ sản xuất và đời sống cho những hộ dân
cư nông thôn không tham gia HTX Trong xu thế phát triển kinh tế, trong xu thếphát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn các HTXNN ngàycàng mở mang các ngành nghề phi nông nghiệp để giải quyết việc làm, tăng thunhập cho nông dân và tạo ra lợi nhuận ngày càng nhiều tạo điều kiện phát triển kinh
tế – xã hội nông thôn
- Về quan hệ phân phối:
Trang 13Chính vì những điểm khác biệt với HTXNN kiểu cũ nêu trên đây, HTXNNkiểu mới phân phối thu nhập và lợi nhuận làm ra hàng năm không chỉ theo lao động
mà còn theo mức độ sử dụng dịch vụ và vốn cổ phần của mỗi xã viên Các xã viêntham gia sử dụng dịch vụ của HTX càng nhiều thì HTX càng có điều kiện pháttriển Do đó, để khuyến khích và cũng để thực hiện mục tiêu của mình HTX dànhmột phần lợi nhuận hàng năm phân phối cho xã viên theo mức độ tăng lợi nhuậncủa kinh tế hộ Điều kiện đó phản ánh trực tiếp và rõ nét nhất bản chất kinh tế – xãhội của HTXNN kiểu mới
Trong nông nghiệp, do đặc điểm của ngành một mặt nảy sinh các yêu cầukhách quan đòi hỏi hình thành và phát triển các loại hình kinh tế hợp tác và HTX.Mặt khác, nó đặt ra các giới hạn cho việc chọn mô hình của kinh tế hợp tác trong đó
mô hình các HTX dịch vụ nông nghiệp là loại hình thích hợp và phổ biến Hợp tác
xã dịch vụ nông nghiệp gồm các loại hình sau:
Trang 14+ Các HTX dịch vụ chuyên khâu: Là HTX chỉ thực hiện một chức năng dịch
vụ, một khâu cho sản xuất nông nghiệp: HTX dịch vụ thủy nông, HTX dịch vụ điệnnông thôn, HTX cung ứng vật tư…
+ KTX dịch vụ tổng hợp là các HTX thực hiện các chức năng dịch vụ nhiềukhâu cho sản xuất nông nghiệp, đôi khi cả đời sống
4.2 HTX sản xuất kết hợp với dịch vụ.
Các HTX loại này thường dưới dạng HTX chuyên môn hóa theo sản phẩm
Đó là HTX gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ, trong đó trực tiếp sản xuất là hộnông dân, HTX hợp đồng bao tiêu chế biến và tiêu thụ sản phẩm, nông dân tham giavào HTX như những thành viên chính thức Ví dụ: các HTX sản xuất rau, sản xuất sữa
4.3 HTX sản xuất nông nghiệp.
HTX nông nghiệp loại này giống như các HTX sản xuất nông nghiệp ở nước
ta trước khi đổi mới, nhưng mục đích nhằm tạo ra quy mô sản xuất thích hợp chốnglại chèn ép của tư thương, tạo những ưu thế mới ở những ngành khó tách riêng, khaithác những ưu đãi của Chính phủ đối với các doanh nghiệp lớn, khai thác nhữngnguồn lực cần đầu tư lớn…
IV HỢP TÁC XÃ DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP.
1 Tính tất yếu phải nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX dịch vụ nông nghiệp.
- Xuất phát từ vai trò của HTXNN là dịch vụ, phục vụ cho hộ nông dân,trang trại phát triển Vì vậy, khi hộ nông dân, trang trại phát triển thì tất yếuHTXNN phải nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ để phục vụ tốt hơnnhu cầu đó
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa phát triển như ở nước ta hiện nay thìkinh tế hộ muốn phát triển sản xuất nông nghiệp cũng phải xuất phát từ thị trường,gắn với thị trường Mức độ gắn bó với thị trường càng phát triển theo quy mô vàtrình độ của sản xuất hàng hóa Để đáp ứng những thay đổi của thị trường, kinh tế
hộ phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật canh tác, thâm canh để nâng cao năng suấtlao động và chất lượng sản phẩm Đồng thời cũng phải đa dạng hóa sản phẩm để
Trang 15tránh những rủi ro do thị trường đem lại Sản xuất kinh tế hộ càng phát triển thì nhucầu đầu vào về: vật tư nông nghiệp, thủy lợi, kỹ thuật… càng lớn cả về số lượngcũng như chất lượng Điều này đòi hỏi HTXNN cũng phải mở rộng loại hình dịch
vụ và nâng cao chất lượng hoạt động để đáp ứng nhu cầu của hộ xã viên
Chính trong quá trình phát triển sản xuất hàng hóa, nhờ sự phát triển củaHTXNN, hộ nông dân sẽ thay đổi toàn diện cả về kinh tế, văn hóa và tập quán sảnxuất Từ sản xuất tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa, kinh tế hộ sẽ trút dầnnhững tư duy cũ, thay đổi phương thức sản xuất lạc hậu thủ công bằng phương thứcsản xuất mới Hộ nông dân áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nâng cao năngsuất lao động, tỷ lệ sản phẩm bán ra trên thị trường tăng dần trong tổng sản phẩmlàm ra Từ đó, thu nhập của người dân tăng lên, góp phần vào nâng cao đời sống hộnông dân
Trong nền kinh tế thị trường, với sự thay đổi của thị trường và đặc biệt trongđiều kiện sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào sự thay đổi của tự nhiên,thời tiết khí hậu, tập quán canh tác… nên rủi ro rất lớn Điều này đòi hỏi HTX phải
mở rộng loại hình dịch vụ vừa để phục vụ tốt nhu cầu đa dạng của hộ xã viên vừahạn chế rủi ro trong kinh doanh Nhưng không phải bất kỳ HTX nào muốn mở rộngloại hình dịch vụ là được ngay mà còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, vào khả năngcủa HTX như: lao động, đất đai… và đặc biệt là vốn Khi HTX hoạt động có hiệuquả HTX sẽ có lãi, vốn tích lũy nội bộ sẽ lớn dần lên trong quá trình hoạt động, lúc
đó HTX mới có thể mở rộng loại hình kinh doanh dịch vụ phục vụ hộ xã viên và cứthế HTX sẽ ngày càng phát triển
- HTX hoạt động kinh doanh dịch vụ có hiệu quả tức là phục vụ tốt nhất nhucầu của hộ xã viên, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn theohướng sản xuất hàng hóa
HTX hoạt động có hiệu quả, xã viên sẽ được cung cấp đầy đủ, kịp thời cácyếu tố đầu vào cần thiết để sản xuất kinh doanh nhằm tăng năng suất lao động, tăngchất lượng sản phẩm, đồng thời sản phẩm làm ra ngày càng nhiều Nhờ các hoạtđộng như: bảo quản, chế biến, tiêu thụ sản phẩm…các sản phẩm của hộ được tiêu
Trang 16thụ dễ dàng, tỷ lệ sản phẩm hàng hóa so với tổng sản phẩm sản xuất ra ngày càngtăng, thúc đẩy hộ nông dân hăng hái sản xuất, chuyên môn hóa sản xuất theo hướng
ai giỏi nghề gì làm nghề nấy, quá trình phân công lao động sâu sắc hơn Lao độngtrong sản xuất nông nghiệp được rút bớt sang sản xuất phi nông nghiệp, đẩy mạnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng tích cực sản xuấthàng hóa
2 Một số tiêu chí đánh giá kết quả, hiệu quả hoạt động của HTX dịch vụ nông nghiệp.
Các HTXNN với mục đích kinh doanh là nhằm trước hết dịch vụ cho xãviên, đáp ứng đủ và kịp thời số lượng, chất lượng của dịch vụ đồng thời cũng phảituân theo nguyên tắc bảo toàn và tái sản xuất mở rộng vốn Để đánh giá kết quả,hiệu quả hoạt động của các HTX dịch vụ nông nghiệp, người ta sử dụng một số chỉtiêu chủ yếu sau:
2.1 Chỉ tiêu về kết quả hoạt động của HTX.
Các chỉ tiêu về kết quả hoạt động bao gồm:
- Mức độ đáp ứng các dịch vụ cho hộ xã viên, nông dân: Chỉ tiêu này đượcxem xét ở các mặt:
+ Số lượng các dịch vụ so với nhu cầu, mong muốn của các hộ xã viên: sảnxuất hàng hóa càng phát triển thì nhu cầu dịch vụ của các hộ xã viên càng được mởrộng Các HTX dịch vụ nông nghiệp ngoài việc chú trọng làm tốt các khâu dịch vụ
cơ bản, cần mở thêm các dịch vụ thiết yếu khác phục vụ cho hoạt động sản xuấtkinh doanh và đời sống của kinh tế hộ thành viên Vì vậy, chỉ tiêu này biểu hiện khảnăng đáp ứng nhu cầu về các dịch vụ cho các hộ xã viên của HTX đã đầy đủ, kịpthời hay chưa
+ Chất lượng và giá cả các dịch vụ: chất lượng và giá cả các dịch vụ cho biếthoạt động dịch vụ của HTX có làm tiết kiệm được chi phí dịch vụ cho các hộ xã viên
và chất lượng dịch vụ có đảm bảo hay không Trên thực tế, HTX có thể không giảmgiá dịch vụ nhưng đã nâng cao chất lượng dịch vụ phù hợp với yêu cầu của xã viên
Trang 17+ Thời gian cung cấp các dịch vụ: một trong những đặc điểm của hoạt độngsản xuất nông nghiệp là tính thời vụ cao, đặc biệt là sản xuất trồng trọt Do vậy, việcđáp ứng kịp thời các dịch vụ đầu vào và đầu ra cho sản xuất của các hộ xã viên,nông dân có ý nghĩa quan trọng, có tác dụng nâng cao năng suất, chất lượng, giá trịcủa các sản phẩm nông sản, đồng thời giúp cho các hộ nông dân tiết kiệm được chiphí sản xuất và tiêu thụ kịp thời năng suất với giá cả đảm bảo, qua đó góp phầnnâng cao thu nhập của hộ xã viên Hoạt động dịch vụ của các HTX dịch vụ nôngnghiệp với nguyên tắc trước hết là vì lợi ích của sản xuất nông nghiệp và các hộnông dân cần đáp ứng tốt yêu cầu này, nhất là ở những dịch vụ thiết yếu như dịch
vụ tưới tiêu, dịch vụ cung ứng vật tư, dịch vụ bảo vệ thực vật…
- Doanh thu dịch vụ: Đây là chỉ tiêu biểu hiện quy mô hoạt động dịch vụ củaHTXNN Quy mô của HTX đủ lớn sẽ giúp HTX tiết kiệm được chi phí và thuận lợihơn trong hoạt động, từ đó có điều kiện nâng cao hiệu quả cho kinh tế tập thể cũngnhư lợi ích của các hộ thành viên
- Lãi, lỗ của các hoạt động dịch vụ: Đây là chỉ tiêu kết quả kinh tế cuối cùngcủa HTX, phản ánh khả năng tích lũy và mở rộng các hoạt động dịch vụ của HTX
2.2 Chỉ tiêu hiệu quả hoạt động của HTX.
- Mức lãi từng dịch vụ: biểu hiện hiệu quả từng hoạt động dịch vụ cụ thể củaHTX, qua đó cũng đánh giá công tác quản lý và năng lực điều hành của HTX đốivới từng dịch vụ là tốt hay không tốt
- Phân phối lãi của HTX:
+ Trích các quỹ của HTX: quỹ phát triển sản xuất, quỹ dự phòng…
+ Chia lãi cho xã viên theo vốn góp, công sức đóng góp của xã viên
+ Chia lãi cho xã viên theo mức độ sử dụng dịch vụ của HTX
Chỉ tiêu phân phối lãi của HTX phản ánh việc thực hiện quy định của HTXtrong việc phân phối lãi, phản ánh sự quan tâm đến lợi ích chung của HTX và nhucầu tích lũy để phát triển HTX
Trên đây là một số tiêu chí chủ yếu đánh giá kết quả, hiệu quả hoạt động củaHTX dịch vụ nông nghiệp Một số điểm cần lưu ý khi đánh giá hiệu quả hoạt động
Trang 18của HTXNN là ngoài những chỉ tiêu kinh tế trực tiếp trên đây, hoạt động của HTXvới vai trò trước hết là phục vụ, hỗ trợ kinh tế hộ xã viên Vì vậy, cần tính tới nhữngđóng góp của HTX cho sự phát triển kinh tế hộ xã viên ngoài kết quả thực hiện cáchoạt động dịch vụ, như việc hướng dẫn, tổ chức xã viên, nông dân sản xuất; đưatiến bộ khoa học – công nghệ vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ…Ngoài ra, hoạt động của HTXNN không phải chỉ vì mục tiêu kinh tế mà còn cónhững mục tiêu khác mang tính cộng đồng, xã hội; đây là nét đặc thù của HTX sovới các loại hình kinh tế khác.
V KINH NGHIỆM HOẠT ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ HTX DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP Ở MỘT SỐ ĐIẠ PHƯƠNG TRONG NƯỚC.
HTX nói chung, HTX dịch vụ nông nghiệp nói riêng là nền tảng của nềnkinh tế bền vững và phát triển Tuy nhiên, trước năm 1996, do quản lý nặng về tậptrung, bao cấp… nên đa phần các HTX nông nghiệp hoạt động thiếu hiệu quả, sứcsản xuất bị kìm chế Nhưng sau khi hoạt động theo Luật HTX, nhiều địa phươngtrong cả nước đã xuất hiện những HTX sản xuất, kinh doanh dịch vụ có hiệu quả,đem lại lợi ích cho hộ nông dân như:
1 HTX dịch vụ nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long.
Có rất nhiều HTX nông nghiệp giỏi ở đồng bằng sông Cửu Long nhưng nổitrội là HTX Bình Tây (Tiền Giang) HTX này có quy mô liên thôn, và làm tốt 8 loạidịch vụ, trong đó có 3 dịch vụ “đầu vào” là: dịch vụ giống lúa, cây ăn quả, lợn, giacầm và cá, dịch vụ vật tư phân bón các loại, thuốc bảo vệ thực vật và thức ăn giasúc, dịch vụ khuyến nông và tưới tiêu nước; và 3 dịch vụ “đầu ra” là: sấy lúa, xayxát lúa gạo và tiêu thụ thóc gạo, trứng và rau quả cho dân; và hai dịch vụ đời sốnglà: Nước sinh hoạt và chợ nông thôn Hàng năm, HTX có doanh thu 3,5 - 4 tỷ đồng
2 HTX dịch vụ nông nghiệp ở miền Trung.
HTX điển hình nổi bật là HTX Duy Sơn 2 (Quảng Nam) Đây là HTX miềnnúi, quy mô thôn, ngoài việc làm tốt các dịch vụ tưới tiêu, dịch vụ điện (tự làm lấynhà máy thủy điện công suất 1200 KW để cung cấp điện cho xã viên), dịch vụ bảo
vệ thực vật, dịch vụ giống, dịch vụ vật tư… HTX còn mở rộng quan hệ liên kết, hợp
Trang 19tác với các ngành, các cấp, phát triển ngành nghề như liên kết với nhà máy làm đếgiày xuất khẩu, doanh thu trên 8 tỷ đồng/năm; liên kết may với nhà máy may xuấtkhẩu, doanh thu trên 2 tỷ đồng; dệt xuất khẩu, xưởng mây tre đan xuất khẩu, doanhthu trên 2 tỷ đồng Sản phẩm của HTX được xuất đi nhiều nước trên thế giới Hàngnăm tạo thêm việc làm cho gần 1000 lao động, với thu nhập ổn định từ 300 – 500nghìn đồng/lao động/tháng, doanh thu năm 2000 của HTX đạt trên 21,5 tỷ đồng.
Cũng ở vùng miền Trung nhưng ở đồng bằng có HTX thị trấn Bình Định(Quy Nhơn) rất chú trọng khâu dịch vụ Để làm tốt các dịch vụ “đầu vào”, HTX đã
tổ chức đầu tư ứng trước các dịch vụ cho hộ xã viên như bán chịu giống và phânbón… từ đầu vụ (có tính thêm phần trượt giá), cuối năm, cuối vụ HTX thu lại giá trịđầu tư bằng thóc Doanh số dịch vụ vật tư của HTX này đạt tới 12 tỷ đồng/năm.HTX cũng đã liên doanh với các doanh nghiệp ở địa phương chế biến thức ăn giasúc Mua thóc xuất khẩu qua công ty lương thực miền Trung Doanh thu của HTXđạt 15,8 tỷ đồng/năm
Lại cũng ở miền Trung, song là vùng núi đá Tuyên Hóa (Quảng Bình) nơinổi tiếng khí hậu khắc nghiệt, đất đai cằn cỗi vẫn có HTX sau chuyển đổi làm ăn cóhiệu quả, đó là HTX Cổ Cảng Ở HTX này, bên cạnh việc làm tốt các dịch vụ đầuvào, HTX đã thực hiện được việc huy động vốn theo hình thức góp cổ phần bổ sunghoặc vay vốn cán bộ xã viên để mở rộng kinh doanh theo hai hướng chính: (1) Đầu
tư ứng trước cho xã viên về giống và vật tư từ đầu vụ (có tính trượt giá), đến mùathu hoạch, HTX thu lại bằng sản phẩm, dự trữ đến khi giáp hạt tổ chức xay xát bánlại cho xã viên, cho thị trường địa phương và vùng biên giới Việt – Lào (2) Mởngành khai thác đá cung cấp cho tuyến đường giao thông Việt – Lào và xây dựngnhà ở ở địa phương Số lãi kinh doanh 2 ngành nghề kể trên sau khi trừ quỹ, đượcphân phối đều cho số cổ phần Nhờ cách làm này, riêng số vốn lưu động của HTX
Cổ Cảng hiện đã có trên 1 tỷ đồng
3 HTX dịch vụ nông nghiệp ở miền núi phía Bắc.
Nổi lên ở miền núi phía Bắc có HTX Phù Nham, huyện Văn Chấn (YênBái) HTX đã hoạt động có hiệu quả từ 6 khâu dịch vụ năm 1997 tăng lên 9 khâu
Trang 20dịch vụ năm 2004, kinh doanh có lãi Năm 1997, khi mới chuyển đổi, vốn hoạtđộng của HTX chỉ có 504 triệu đồng, đến năm 2004 vốn hoạt động đã lên đến 1,82
tỷ đồng, tăng 1,3 tỷ đồng (tương đương 357% trong 7 năm) Sản xuất kinh doanh cólãi từ 65 – 180 triệu đồng hàng năm, chia cổ phần xã viên tăng từ 22 – 54 triệuđồng/năm Đó là điều rất đáng quý của mô hình chuyển đổi HTX nông nghiệp PhùNham từ HTX kiểu cũ sang HTX kiểu mới hoạt động theo Luật HTX Với phươnghướng tổng quát hoạt động sản xuất kinh doanh là hoạt động đa ngành, trong đó chútrọng các ngành nghề kinh doanh dịch vụ nông nghiệp và kinh doanh tổng hợp,HTX dịch vụ nông nghiệp Phù Nham đã thu hút được 100% hộ nông dân toàn xã thamgia, với 1.421 hộ So với năm 2000, HTX đã tăng 3 ngành nghề dịch vụ kinh doanh thuhút thêm 80 lao động, trên 1.400 xã viên được hưởng dịch vụ vật tư hàng hóa
4 HTX dịch vụ nông nghiệp ở Hà Nội
HTX thống nhất, xã Trung Văn, huyện Từ Liêm đã khai thác thế mạnh vùngngoại ô làm ăn giỏi Là một HTX quy mô thôn, đa số là nông dân theo đạo thiênchúa, ngoài các dịch vụ nông nghiệp, HTX còn tiến hành tích tụ, tập trung hóa ao
hồ để tổ chức kinh doanh thủy sản Đặc biệt, HTX đã tiến hành cổ phần hóa, thu hútvốn xã viên mở được các ngành dịch vụ kinh doanh có lãi và chia lãi theo cổ phầnnhư: Dịch vụ tín dụng nội bộ, xây dựng đường điện sinh hoạt, tổ chức làm nhà tạmcho sinh viên thuê, xây chợ và quản lý chợ nông thôn, cung cấp nước sạch và thugom rác thải Doanh thu hàng năm của HTX đạt 3 tỷ đồng
* Tóm lại, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho phát triển HTX dịch
vụ nông nghiệp như sau:
- Mỗi nơi mỗi vẻ, tuy nhiên họ có những nét chung, bài học chung rất đáng
quan tâm và điểm chung nổi bật nhất đó là có chủ nhiệm giỏi có tâm, có tài, năng động và có trách nhiệm với cộng đồng, với hợp tác Họ là “động lực” của cỗ máy,
thiếu họ cỗ máy sẽ khó hoạt động hoặc hoạt động thiếu hiệu quả Cho đến nay, cónhiều nguyên nhân làm cho số đông HTX chuyển đổi chưa thành công, trong đó cómột nguyên nhân quan trọng, có tính chất quyết định là do không có người “cầmcờ”, “cầm lái” giỏi Ở những HTX làm ăn có hiệu quả, các chủ nhiệm HTX đều
Trang 21giỏi, có đức, có năng lực; họ được xã viên tín nhiệm bầu qua nhiều khóa như: ông LòVăn Minh, chủ nhiệm HTX Phù Nham, 22 năm; ông Nguyễn Văn Mười chủ nhiệmHTX Bình Tây, ông La Văn Tám chủ nhiệm HTX thị trấn Bình Định 20 năm…
Để có người “cầm cờ” giỏi cần có chiến lược lựa chọn người năng động vàtâm huyết với sự nghiệp HTX ở quê hương, từ đó tiến hành mở lớp đào tạo bồidưỡng, nâng cao trình độ cho họ, đồng thời cần có chế độ thù lao thỏa đáng và chế
độ bảo hiểm xã hội cho đội ngũ cán bộ này Hiện nay, thù lao đối với chủ nhiệmHTX rất thấp, nhiều HTX chỉ 100.000đ – 200.000đ/tháng, lại không có chế độ bảohiểm xã hội nên đa số chủ nhiệm không an tâm Nhiều chủ nhiệm HTX Hải Phòng,Vĩnh Phúc, Hà Nội… không muốn làm chủ nhiệm HTX Ở những nơi tiền côngquản lý HTX quá thấp, thù lao chủ nhiệm dưới 200.000đ/tháng thì nên có chế độ trợcấp thêm từ ngân sách địa phương, coi đó là đầu tư ban đầu cần thiết cho sự nghiệpphát triển HTX Mặt khác, sớm thực hiện chế độ bảo hiểm cho cán bộ xã viên HTX,trước hết là đối với cán bộ quản lý HTX
- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa Ở HTX Bình Tây (Tiền Giang), HTX Ngang Nội (Bắc Ninh),
trước đây khi còn sản xuất tự cấp tự túc, độc canh lúa, nông dân tự làm lấy côngviệc đồng áng nên hoạt động của HTX rất hạn hẹp Nhưng sau khi HTX đưa nhữnggiống cây trồng, vật nuôi mới cho các hộ nông dân sản xuất hàng hóa thì yêu cầucủa nông dân đối với dịch vụ của HTX (cả dịch vụ đầu vào và đầu ra) tăng lên rõrệt Từ đó, các hoạt động của HTX có điều kiện mở rộng, đa dạng và hoạt động cóhiệu quả
- Mở rộng liên kết sản xuất kinh doanh là bài học thứ 3 rút ra ở những HTX
dịch vụ nông nghiệp làm ăn giỏi Nổi bật ở bài học này là HTX Duy Sơn 2, HTXnày đã liên kết, liên hệ với các Công ty nhà máy khắp đất nước từ Đà Nẵng đếnThành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội để tìm cơ hội đầu tư HTX đã ký hợp đồng vớicác tổng công ty, nhà máy đầu ngành đầu tư máy móc, công nghệ mới, cử chuyêngia về đào tạo bồi dưỡng kỹ thuật sản xuất cho xã viên ngay tại địa phương và baotiêu sản phẩm Còn ở các HTX Bình Tây (Tiền Giang), HTX Vạn Hoa (Lào Cai), HTX
Trang 22Mỹ Trung (Nam Định)… đã thực hiện tốt quan hệ 4 nhà (nhà nông, nhà khoa học,doanh nghiệp nhà nước và Nhà nước) trong việc gắn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
- Thực hiện cổ phần hóa Nhiều HTX sau một quá trình chuyển đổi đến nay
hoạt động vẫn chưa hiệu quả “chuyển nhưng không đổi”, chuyển đổi có tính chấthình thức chưa thực hiện tốt chế độ cổ phần trong HTX Khi đã cổ phần sẽ là sở hữuriêng của xã viên (vào HTX thì phải gom góp vào HTX thì được hưởng lợi theo kếtquả kinh doanh, khi ra HTX thì được rút cổ phần) và dù họ muốn hay không đềuphải quan tâm đến hoạt động sản xuất kinh doanh, giám sát lẫn nhau và cùng nỗ lựccho sự sinh lợi của cổ phần mình Để thu hút được vốn cổ phần, các HTX đã phảixây dựng dự án làm rõ đầu vào đầu ra, thực hiện chi lãi và mức lãi phân phối theo
cổ phần, chứng minh tính khả thi và hiệu quả thiết thực của từng dịch vụ kinh doanhmới Có như vậy xã viên mới tin và góp cổ phần mới
- Ngoài 4 bài học trên, việc có sự chỉ đạo đúng mức của Đảng và chính quyền Nhà nước các cấp, đặc biệt cấp chính quyền cơ sở cũng là yếu tố cực kỳ
quan trọng
Xây dựng được HTX vững mạnh, kinh tế phát triển làm chỗ dựa cho chế độ,cho người dân là công việc vô cùng khó khăn, đòi hỏi nhiều thời gian, công sức,song đã và đang có rất nhiều điển hình HTX làm ăn giỏi, nên toàn xã hội, toànngành cùng đồng tâm xây dựng làm cho kinh tế hợp tác sẽ phát triển đưa nền nôngnghiệp nước nhà tiến lên một tầm cao mới
Trang 23CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN CÁC HTX DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP HUYỆN VIỆT YÊN
I NHỮNG ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CHỦ YẾU CỦA HUYỆN VIỆT YÊN ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN HTX DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP.
1 Đặc điểm tự nhiên.
1.1 Vị trí địa lý.
Việt Yên là huyện trung du nằm ở phía Tây Nam tỉnh lỵ Bắc Giang, có tổngdiện tích tự nhiên là: 17.135,42 ha, có phạm vi ranh giới như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Tân Yên
- Phía Nam giáp huyện Quế Võ và thị xã Bắc Ninh
- Phía Đông giáp huyện Yên Dũng và thị xã Bắc Giang
- Phía Tây giáp huyện Yên Phong và huyện Hiệp Hòa
Việt Yên có vị trí tương đối thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế xã hộinhư: Đây là địa bàn đầu mối của một số tuyến giao thông quan trọng như quốc lộ
37, tỉnh lộ 272 nối vùng đồng bằng của tỉnh Bắc Giang với các huyện miền núi phíaTây Bắc của tỉnh và các tỉnh lân cận Trên địa bàn huyện còn có các tuyến giaothông huyết mạch như quốc lộ 1A, tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn và giaothông đường thủy trên sông Cầu Bên cạnh đó, Việt Yên nằm tương đối gần thủ đô
Hà Nội (cách 42km) và một số trung tâm văn hóa - kinh tế - du lịch như thị xã BắcNinh, Bắc Giang…
Với vị trí của mình, Việt Yên có điều kiện tạo thành mạng lưới giao thôngtương đối thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa trên địa bàn toàn tỉnh và với cácvùng khác, có điều kiện tiếp cận với khoa học kỹ thuật…
1.2 Địa hình.
Địa hình huyện Việt Yên có thể chia làm 3 dạng chính:
- Địa hình đồi núi thấp: Dạng địa hình này được phân bố rải rác ở các xã:Việt Tiến, Thượng Lan, Minh Đức, Nghĩa Trung ở phía Bắc và Trung Sơn, Tiên
Trang 24Sơn, Vân Trung, Ninh Sơn ở phía nam huyện, bình quân độ cao từ 6 – 120m, đỉnhcao nhất là đỉnh núi Mỏ Thổ 161m.
- Địa hình bồn địa gò thấp: Dạng địa hình này được phân bố chủ yếu ở các
xã phía Bắc huyện và xã Tiên Sơn, Ninh Sơn, Trung Sơn Bình quân độ cao dạngđịa hình này là 15 – 25m so với mặt nước biển, hầu hết diện tích này đều đã đượcđưa vào sử dụng làm đất ở hoặc đất trồng màu
- Địa hình vùng đồng bằng có lượn sóng: Dạng địa hình này tập trung ở các
xã phía Đông đường quốc lộ 1A như: Quang Châu, Hoàng Ninh, Vân Trung, TăngTiến…và một số xã vùng giữa huyện như: Hương Mai, Tự Lạn, Bích Sơn, QuảngMinh… độ cao bình quân dạng địa hình này là 2,5 – 5m
1.3 Đặc điểm đất đai.
Việt Yên có tổng diện tích tự nhiên là 17.135,42 ha, ngoài diện tích ao hồ,núi đá, sông suối, thùng đào, thùng đấu, quy mô và cơ cấu các loại đất huyện ViệtYên gồm: đất xói mòn trơ sỏi đá, đất vàng nhạt trên đá cát, đất phù sa được bồihàng năm, đất phù sa không được bồi, đất xám bạc màu, đất nâu vàng trên phù sa
cổ, đất đỏ biến đổi do trồng lúa, đất phù sa úng nước
1.4 Đặc điểm khí hậu thời tiết.
Việt Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với đặc điểm có mùamưa (từ tháng 5 đến tháng 10) và mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.Chế độ nhiệt của vùng phân hóa theo mùa rõ rệt, trong năm có 3 tháng nhiệt độ bìnhquân nhỏ hơn 20oC Đây là điều kiện rất thích hợp cho việc phát triển cây nhiệt đới
và á nhiệt đới, đặc biệt là các loại rau màu thực phẩm ưa nhiệt độ thấp Với nhiệt độbình quân cả năm cao cho phép huyện Việt Yên phát triển nhiều vụ cây trồng ngắnngày trong năm ở các công thức luân canh
- Chế độ mưa, bình quân năm là 1451,5mm nhưng phân bố không đều, tậptrung vào tháng 5 đến tháng 10 (chiếm 85,8% tổng lượng mưa cả năm) Tháng cólượng mưa lớn nhất là tháng 6, 7 và tháng 8 Trong 3 tháng này thường có nhiềucơn mưa với cường độ lớn gây xói mòn, rửa trôi đất và ảnh hưởng lớn đến cây trồng
Trang 25nông nghiệp Mùa khô có lượng mưa bình quân 26 mm/tháng gây khô hạn, đặc biệt
là tháng 1 trong năm
- Gió bão: Hướng gió chủ đạo của vùng là Đông Bắc, tốc độ gió trung bìnhtrong năm là 1,9 m/s, tháng có tốc độ gió cao nhất là tháng 8 (2,7 m/s) Mỗi nămthường có từ 2 – 3 cơn bão đổ vào kéo theo mưa lớn từ 200 – 300 mm gây ngậpúng, thiệt hại cho vụ mùa
* Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên của huyện ảnh hưởng đến phát
triển HTX dịch vụ nông nghiệp.
Điều kiện tự nhiên (thời tiết, khí hậu, đất đai, địa hình ) không những chiphối trực tiếp đến quá trình sản xuất nông nghiệp mà cũng đồng thời ảnh hưởng cótính quyết định đến việc hình thành và phát triển của hệ thống nông nghiệp nóichung và hợp tác xã nông nghiệp nói riêng Bên cạnh những thuận lợi, huyện ViệtYên còn có những khó khăn do tự nhiên đem lại cản trở sự phát triển của nền nôngnghiệp sản xuất hàng hoá nói chung và những hình thức kinh tế hợp tác nói riêng:
- Lợi thế:
+ Huyện Việt Yên có vị trí tương đối thuận lợi để giao lưu với các trung tâmkinh tế - kỹ thuật của Bắc Giang cũng như các tỉnh khác Điều này giúp cho cácHTX dịch vụ nông nghiệp mở rộng quy mô dịch vụ, có điều kiện tiếp thu công nghệmới, học hỏi kinh nghiệm…
+ Điệu kiện khí hậu thời tiết, đất đai cho phép huyện bố trí phát triển một hệthống cây trồng đa dạng
+ Diện tích đất xám bạc màu khá lớn thuận lợi cho sản xuất cây công nghiệpngắn ngày như lạc, đậu tương và rau màu các loại theo hướng hàng hóa
+ Tiềm năng đất đai còn khá lớn, quỹ đất chưa sử dụng còn tương đối nhiều.Đây là tiềm năng cần khai thác đưa vào sử dụng những năm tới và các HTXNN cầntận dụng triệt để lợi thế này
- Hạn chế:
+ Do lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm đã gây nênhiện tượng hạn hán và úng lụt Hạn hán từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau đã làm ảnh
Trang 26hưởng tới gieo trồng vụ đông xuân, úng lụt vào tháng 7, 8 và tháng 9 đã làm ngậpcục bộ những chân địa hình thấp làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống.
+ Địa hình và cấu trúc của đất đa dạng, phức tạp, nhiều ruộng bậc thang, địamạo lồi lõm xen kẽ những khu cao cục bộ và khu trũng Đồng thời phần lớn đất đai
là bạc màu, tầng canh tác mỏng, cấu tượng rời rạc có ảnh hưởng rất lớn đến việcthâm canh cây trồng Điều này cũng ảnh hưởng đến các hoạt động dịch vụ của cácHTX dịch vụ nông nghiệp như: Dịch vụ tưới tiêu, dịch vụ làm đất, dịch vụ tiêu thụsản phẩm…
2 Đặc điểm kinh tế - xã hội.
2.1 Tăng trưởng kinh tế.
Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội cụ thể của Việt Yên năm 2006 được trình bàyqua bảng:
Bảng 1: Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội của huyện Việt Yên năm 2006.
Việt Yên Toàn tỉnh
650.899
556.63844.261
10 Số giáo viên trực tiếp giảng dạy Giáo viên 16.970 354.648
11 Lương thực có hạt bình quân đầu
người
Kg/người/năm 445,01 380,14
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Qua bảng 1 ta thấy, nền kinh tế huyện Việt Yên về cơ bản vẫn là một nềnkinh tế nông nghiệp Theo quy hoạch của tỉnh Bắc Giang, đến năm 2010 khu công
Trang 27nghiệp lớn Đình Trám đi vào hoạt động, kinh tế của huyện sẽ thay đổi tỷ trọng,ngành nông nghiệp giảm, ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tăng Theobáo cáo quy hoạch của huyện sau năm 2010, cơ cấu kinh tế của Việt Yên như sau:
- Ngành nông – lâm nghiệp: 35%
- Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: 30%
- Dịch vụ, thương mại, du lịch: 35%
2.2 Về cơ sở vật chất kỹ thuật.
Cơ sở vật chất kỹ thuật chủ yếu nhất ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nôngnghiệp là hệ thống thủy lợi Trong nhiều năm trở lại đây huyện Việt Yên đã xâydựng hàng loạt các công trình thủy lợi tưới và tiêu Các công trình được thiết kế xâydựng theo 2 phương thức: hệ thống trọng lực và hệ thống động lực Cả 2 hệ thốngnày hàng năm tưới tiêu được khoảng trên 3500 ha Ngoài ra còn có các công trìnhthủy lợi nhỏ do thôn xã quản lý gồm 64 trạm bơm cục bộ, tưới được hơn 2970 ha,tiêu 770 ha Hệ thống nước tự chảy tưới được 690 ha Với các công trình hiện cónhư hiện nay, diện tích cây trồng được tưới tiêu khoảng 70%, còn 30% diện tích vẫnphụ thuộc vào thiên nhiên
Hiện nay, với xu thế hiện đại hóa thì hệ thống kênh mương sẽ được cứnghóa, bê tông một phần, với sự hỗ trợ của Nhà nước toàn huyện đã có được 64 kmkênh mương cứng đã góp phần tăng hiệu quả tưới và tiết kiệm được một phần diệntích đất của hệ thống thủy lợi
Tuy nhiên giải quyết vấn đề tưới tiêu ở Việt Yên cũng còn nhều vấn đề nangiải do:
- Địa hình đa dạng và phức tạp, địa mạo lồi lõm, ruộng bậc thang, cắt giữacác vùng, thậm chí trên từng cánh đồng đã gây khó khăn cho việc tưới tiêu chủđộng Vì vậy vấn đề giải quyết thủy lợi ở Việt Yên chủ yếu vẫn bằng động lực Tạonguồn nước chủ động tại chỗ là cơ bản Tưới bằng động lực sẽ làm thủy lợi phí cao
và thiếu nguồn nước gốc tại chỗ Song trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tếnông nghiệp gắn liền với việc cải tạo đồng ruộng với thủy lợi thì đây là giải phápquan trọng Do vậy, vai trò của dịch vụ thủy lợi của các HTX dịch vụ nông nghiệp
Trang 28càng trở nên cần thiết Nó làm giảm thủy lợi phí, việc tưới tiêu được chủ động nângcao năng suất cây trồng.
- Vấn đề úng lụt là một yếu tố cản trở lớn nhất hiện nay đối với việc nângcao năng suất cây trồng Xuất phát từ tính chất đa dạng và phức tạp của địa hình nênkhông thể dùng phương pháp nội tiêu, mà chủ yếu vẫn tiêu bằng động lực và tiêubằng động lực đòi hỏi đầu tư lớn và chi phí thủy lợi cao
Ngoài hệ thống thủy lợi là cơ sở vật chất chủ yếu nhất tác động trực tiếp đếnsản xuất nông nghiệp thì hệ thống giao thông, đặc biệt là giao thông nông thôn vànội đồng là cơ sở vật chất không thể thiếu được Hệ thống giao thông cũng ảnhhưởng rất lớn đến việc đáp ứng yêu cầu phục vụ của các hộ xã viên Hệ thống giaothông trong huyện khá thuận lợi với các tuyến đường bộ, đường thủy và đường sắt.Các tuyến đường bộ có tổng chiều dài 106,43 km bao gồm: Quốc lộ 1A, quốc lộ 37,quốc lộ 1A mới, tỉnh lộ 272, tỉnh lộ 284, tỉnh lộ 269 và 13 tuyến huyện lộ Hệ thốngđường liên xã, liên thôn, nội thôn, nội đồng trong huyện đã hình thành một cáchtương đối ổn định song cũng đã xuống cấp làm ảnh hưởng tới quá trình phát triểnkinh tế trong nông thôn, giao lưu hàng hóa trong huyện cũng như với các vùngkhác Do vậy cần phải nâng cấp các tuyến đường này để đi lại thuận tiện hơn, giaolưu trao đổi hàng hóa vùng nông thôn mới phát triển
2.3 Tình hình dân cư, dân số, lao động.
Các khu dân cư nông thôn được hình thành dưới các xóm, làng thôn Hiệnnay toàn huyện có 173 thôn, trung bình mỗi xã 9-10 thôn, mỗi thôn trung bình có
300 - 350 hộ
Theo số liệu thống kê năm 2006 dân số Việt Yên là 159.345 người, mật độdân số cao: 930 người/km2 Tỷ lệ dân số tự nhiên 1,03%/năm 2005, toàn tỉnh là1,195% Đây là một kết quả rất đáng khích lệ của huyện nhằm giảm sức ép về giatăng dân số
Tính đến cuối năm 2006 toàn huyện có 70.850 người trong độ tuổi lao động
Số lao động nông nghiệp là 64.920 lao động (chiếm 91,39%) Còn lại là phi nôngnghiệp (chủ yếu trong các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng)
Trang 29Lực lượng lao động của Việt Yên chủ yếu ở khu vực nông thôn, nguồn laođộng dồi dào, hàng năm bổ xung 700 – 800 người đến tuổi lao động Do vậy, vấn đềgiải quyết việc làm cho lực lượng lao động trên địa bàn là một nhu cầu lớn tronghiện tại và tương lai.
* Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến
phát triển HTX dịch vụ nông nghiệp.
- Lợi thế:
+ Việt Yên cũng là một huyện có nhiều thuận lợi trong việc phát triển mộtnền kinh tế đa dạng và sản xuất hàng hóa do giao thông thuận lợi, lưu thông, phânphối và khả năng tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp lớn
+ Đời sống nhân dân trong những năm gần đây được cải thiện, lương thựcbình quân đầu người tăng nhanh, tỷ lệ đói nghèo giảm qua các năm
+ Người dân yên tâm với đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, thuậnlợi cho kinh tế HTX dịch vụ nông nghiệp phát triển
+ Trình độ dân trí khá cao, nguồn lao động dồi dào, có tay nghề, cần cù, năngđộng trong cơ chế thị trường, có năng lực tiếp thu công nghệ mới, có thể thích ứngvới nhiều ngành nghề Nhiều xã đã có các mô hình thâm canh đạt hiệu quả kinh tếcao (>50 triệu đồng/ha/năm)
- Hạn chế:
+ Việt Yên là huyện có mật độ dân cư cao, bình quân có diện tích đất nôngnghiệp nói chung trên đầu người thấp (750 m2/người) Riêng đất canh tác 680,6 m2/người Dân cư phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở khu vực thị trấn, thị tứ vàcác xã trung du Điều này gây khó khăn trong việc giải quyết công ăn việc làm,nâng cao đời sống nhân dân
+ Quá trình chuyển dịch tuy theo hướng tích cực nhưng còn chậm, sản xuấthàng hóa chưa nhiều, tiêu thụ bấp bênh và ít mang tính cạnh tranh
+ Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp tuy đã được nângcấp sửa chữa nhưng vẫn chủ yếu là các công trình đã xây dựng từ nhiều năm trướcnên chất lượng không cao, dễ hư hỏng, kinh phí đầu tư, nâng cấp tốn kém
Trang 30+ Nguồn lao động dồi dào nhưng chủ yếu là lao động nông nghiệp (thủ công,đơn giản, năng suất lao động thấp), lao động chưa qua đào tạo vẫn còn nhiều, chưađáp ứng được với yêu cầu công nghiệp hóa.
I THỰC TRẠNG HTX DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP CỦA HUYỆN VIỆT YÊN TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
1 Số lượng, quy mô, loại hình hợp tác xã.
* Hợp tác xã nông nghiệp huyện Việt Yên nói chung và lĩnh vực dịch vụnông nghiệp nói riêng trong những năm qua đã có sự phát triển cả về số lượng vàhoạt động của HTX Điều đó được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2: Số lượng các HTX của huyện Việt Yên.
Nguồn: Phòng Nông nghiệp huyện Việt Yên.
Qua bảng 2 ta thấy, số lượng HTX trong những năm gần đây đã tăng lên rõrệt, từ 100 HTX (năm 2004) lên 119 HTX (năm 2006) tức tăng 9 HTX trong 2 nămtrong đó HTX dịch vụ nông nghiệp tổng hợp tăng nhiều nhất (9 HTX) HTX dịch
vụ nông nghiệp tổng hợp chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số HTX của huyện và nhìnchung là tăng qua các năm Còn HTX dịch vụ điện năng mặc dù chiếm tỷ lệ cao(46,2% năm 2006) nhưng có xu hướng giảm (từ 51% năm 2004 xuống còn 46,2%năm 2006) Số lượng HTX dịch vụ nông nghiệp tăng lên đồng nghĩa với việc nhucầu, chất lượng cuộc sống của nông dân ngày càng lớn, sự liên kết hợp tác giữa các
hộ nông dân càng cao…
Như vậy 18/19 xã, thị trấn đã có HTX đạt 95% (còn thị trấn Bích Động chưa
có HTX) Số thôn đã có HTX dịch vụ đạt 96% đã thu hút được hơn 10.000 hộ xãviên tham gia HTX Trong 119 HTX (năm 2006) có 6 HTX quy mô toàn xã (2 HTX
Trang 31Mai, Tăng Tiến, Thượng Lan, Nghĩa Trung), 6 HTX có quy mô liên thôn (HTXdịch vụ Trung Xuân, Nam Quảng Minh, Việt Ý, HTX dịch vụ điện khu vực 1, HTXdịch vụ điện khu vực 2 xã Tự Lạn, HTX dịch vụ điện Thiết Sơn xã Minh Đức) cònlại là các HTX quy mô thôn.
Nhìn chung các HTX dịch vụ đang có xu hướng phát triển theo chuyênngành, chuyên khâu như: HTX chăn nuôi, HTX thủy sản, HTX mây tre đan, HTXdịch vụ điện năng… Đây là những HTX phát triển thực sự xuất phát từ nhu cầu của
xã viên
* Về đánh giá phân loại HTX
Theo căn cứ hướng dẫn số 10/2006/TT-BKH ngày 19/11/2005 của bộKHĐT, kết quả sản xuất kinh doanh của các HTX, Sở NN & PTNT đã cụ thể hóacác chỉ tiêu đánh giá và phân loại HTX:
+ Nhóm 1 là HTX loại khá: Các HTX này thể hiện rõ vai trò chỉ đạo sảnxuất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, làm tốt các dịch vụ thiết yếu, cung ứng 70%giống, 30% phân bón, thuốc sâu, kinh doanh có lãi, không có nợ đọng, có ý thứctham gia xây dựng HTX Năm 2006, trong tổng số 116 HTX đã kiểm tra rà soát thì
số lượng HTX hoạt động đạt loại khá có 23 HTX đạt 20% Những HTX điển hìnhtiên tiến là: HTX dịch vụ Việt Tiến, HTX dịch vụ nông nghiệp Quang Biểu (QuangChâu), HTX dịch vụ nông nghiệp Xuân Lạn (Hương Mai), HTX dịch vụ nôngnghiệp Ninh Khánh, HTX dịch vụ nông nghiệp Hữu nghị Việt – Ý (thị trấn Nếnh),HTX mây tre đan xã Tăng Tiến…
Các HTX đã đảm bảo được nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, quản lý dânchủ và cùng có lợi Với quy mô thích hợp, bộ máy quản lý gọn nhẹ, có phương ánsản xuất kinh doanh rõ ràng Vốn huy động để sản xuất kinh doanh ngày một tăng,tạo thêm việc làm cho xã viên, hoạt động kinh doanh của HTX từng bước ổn định
và có hiệu quả, một số HTX bước đầu đã có tích lũy và đã đầu tư mở rộng sản xuấtkinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn góp phần vào sự phát triển kinh tế -
xã hội của huyện
Trang 32+ Nhóm 2 là HTX trung bình gồm 35 HTX chiếm 30%: Nhóm HTX này làmđược các dịch vụ thiết yếu, vốn quỹ được bảo toàn, có mức tăng trưởng, các dịch vụthỏa thuận không làm được hoặc tỷ lệ cung ứng thấp.
+ Nhóm 3 là HTX yếu có 58 HTX chiếm 50%: Là những HTX không làmđược dịch vụ thỏa thuận hoặc hiệu quả thấp không có vốn lưu động hoạt động
Bảng 3: Kết quả phân loại hoạt động của HTX dịch vụ nông nghiệp huyện qua các năm.
Số HTXDVNN
Nguồn: Phòng Nông nghiệp huyện Việt Yên.
2 Thực trạng về năng lực sản xuất của HTX dịch vụ nông nghiệp.
2.1 Cán bộ quản lý.
* Cán bộ quản lý HTX là những người điều hành công việc của HTX do các
xã viên bầu ra thông qua Đại hội xã viên Yêu cầu của bất cứ các loại doanh nghiệphay một tổ chức nào thì người cán bộ được các thành viên bầu ra đều được sự tínnhiệm của các thành viên nhất là trong HTXNN thì lại càng thể hiện rõ hơn bao giờhết Bởi vì các xã viên đều bình đẳng có quyền ngang nhau, mỗi người một phiếukhông phân biệt vốn góp nhiều hay ít Cán bộ phải là người có trình độ, năng lực,phẩm chất đạo đức tốt để điều hành HTX hoạt động có hiệu quả Trình độ của cán
bộ có ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động của HTX, nhất là trong sự cạnh tranhgay gắt của cơ chế thị trường thì trình độ của cán bộ là một trong những nhân tốhàng đầu ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh dịch vụ của đơn vị
Bảng 4: Trình độ của cán bộ quản lý các HTX dịch vụ nông nghiệp năm 2006 STT Cán bộ quản lý HTX Tổng
số
Trình độ chuyên môn Được bồi dưỡng,
tập huấn
Chưa qua đào tạo Trung Cao Đại Sở Nông Khác
Trang 33Nguồn: Phòng Nông nghiệp huyện Việt Yên.
Trình độ, năng lực của cán bộ quản lý HTX được xem là yếu tố quyết địnhđến thành công và hiệu quả hoạt động của HTX Tuy nhiên, qua bảng 4 chúng tathấy số cán bộ có chuyên môn còn rất ít: Trình độ đại học chỉ có 1 người (chiếm0,4%), ở trình độ trung cấp là 8 người (chiếm 3,3%) Trình độ của các cán bộ quản
lý HTX của huyện chủ yếu là do được bồi dưỡng, tập huấn trong đó Sở Nôngnghiệp bồi dưỡng, tập huấn 120 người (chiếm 49,2%) Ngoài ra, số cán bộ chưa quađào tạo cũng còn rất nhiều (100 người chiếm 41%) Từ đây có thể thấy đội ngũ cán
bộ quản lý HTX của huyện Việt Yên chưa đáp ứng được yêu cầu về trình độ vànăng lực quản lý Điều này đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền của huyện Việt Yêncần tìm ra và thực hiện các biện pháp nhằm khắc phục tình trạng trên Tuy nhiênviệc thực hiện gặp phải những trở ngại như: Chế độ thù lao thấp (từ 80.000 –150.000đ/tháng) nên chưa khuyến khích cán bộ HTX toàn tâm toàn ý gắn bó với sựnghiệp của HTX Hơn nữa, cán bộ quản lý HTXNN là không ổn định và thườngxuyên thay đổi (thường có sự thay đổi sau mỗi kỳ đại hội) nên họ không yên tâmcông tác Do vậy, huyện Việt Yên luôn ở tình trạng thiếu cán bộ có năng lực và kinhnghiệm trong công tác quản lý Do đó, cần mở các lớp tập huấn ngắn hạn từ tỉnh,huyện tới xã nhằm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý HTX
Tuy nhiên hiện nay, các cơ sở đào tạo thì không đủ kinh phí để đào tạo, trongkhi đó phần lớn cán bộ HTXNN là những người nghèo, không thể tự bỏ tiền đi họcđược Bản thân cán bộ quản lý HTX với đồng lương ít ỏi không đủ cho đời sốnghàng ngày, đại đa số là người nghèo nên cán bộ HTX ngoài công tác quản lý HTX
ra họ còn làm nhiều công việc khác như: Cán bộ xã kiêm phó chủ tịch hội nông dân,hội cựu chiến binh, trưởng thôn, phó Bí thư chi bộ… Ngoài ra họ còn sản xuất nôngnghiệp, phi nông nghiệp, nghề phụ… để giúp đỡ gia đình tăng thu nhập đảm bảo
Trang 34cuộc sống Vì vậy, thời gian đầu tư cho công tác quản lý HTX ít, thời gian để rènluyện nâng cao kiến thức nhất là kiến thức quản lý kinh tế lại càng không có.
Đây là một trong những nguyên nhân lớn ảnh hưởng đến kết quả hoạt độngkinh doanh dịch vụ của HTXNN Điều đó đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền củahuyện Việt Yên phải áp dụng các biện pháp khắc phục tình trạng trên như: Mở cáclớp tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng và hỗ trợ kinh phí đào tạo nhằm nâng cao hiệu quảcủa các HTXNN nói chung và HTX dịch vụ nông nghiệp nói riêng
* Tổ chức, hoạt động của bộ máy quản lý hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp.
Nhìn chung các HTX được chuyển đổi, thành lập trên cơ sở tự nguyện, bìnhđẳng, đúng Luật HTX, từng bước đã được củng cố để không ngừng phát triển Đại
đa số các HTX đã tổ chức đại hội xã viên thường kỳ 1 năm 1 lần và đại hội hếtnhiệm kỳ Đại hội nghe báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của HTX, báo cáo tàichính của HTX, xây dựng bổ sung phương án sản xuất kinh doanh, rà soát lại điều
lệ để sửa đổi hoặc bổ sung, bầu Ban quản trị cho nhiệm kỳ mới… Đây chính là sự
cố gắng, tiến bộ về công tác tổ chức của HTX
SƠ ĐỒ BỘ MÁY QUẢN LÝ HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP
Đại hội xã viên
Kế toán Thủ kho Thủ quỹ
Ban quản trị(Chủ nhiệm) Ban Kiểm soát
Trang 35Từ sơ đồ trên ta thấy, bộ máy quản lý của HTX bao gồm: Ban quản trị, Bankiểm soát, cán bộ giúp việc, các tổ đội giúp việc.
+ Ban quản trị: Là cơ quan điều hành hoạt động của HTX, nhiệm kỳ của Banquản trị HTX là từ 3 – 5 năm Trong những năm vừa qua, hoạt động chính của Banquản trị là tổ chức thực hiện, điều hành các hoạt động dịch vụ, kinh doanh và chủnhiệm có tư cách đại diện cho HTX trước pháp luật, chịu trách nhiệm trước Đại hội
xã viên về các nhiệm vụ, công việc của mình Đa số các HTX dịch vụ nông nghiệphuyện Việt Yên có từ 2 – 3 người (Chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm, ủy viên Ban quảntrị) tương đối phù hợp với nội dung hoạt động của HTX Các HTX ngành nghề vàHTX dịch vụ điện năng thì bố trí 1 người trực tiếp làm chủ nhiệm HTX, nhiều HTXđiện năng chủ nhiệm HTX còn kiêm nhiệm các công việc chính quyền khác nhưtrưởng hoặc phó thôn như ở xã Bích Sơn, xã Minh Đức, xã Trung Sơn Thù laocho chủ nhiệm bình quân từ 80.000 đồng đến 150.000 đồng/tháng
+ Ban kiểm soát: Ban kiểm soát có chức năng giám sát các hoạt động củachủ nhiệm HTX, thực hiện công việc khiếu tố, khiếu nại của xã viên Nhưng trongnhững năm vừa qua, Ban kiểm soát của các HTX hoạt động chưa có hiệu quả, nhiều
vụ việc đơn từ khiếu nại của xã viên không giải quyết được, không có đại hội xãviên hoặc đại hội không đúng giờ quy định gây ảnh hưởng đến công tác điều hànhcủa HTX Nguyên nhân chính là do trình độ, năng lực chưa tương xứng với chứcnăng nhiệm vụ được giao, hiểu biết về pháp luật cũng như Luật Hợp tác xã chưathấu đáo nên khi xã viên thắc mắc không giải thích được và cũng do năng lực nênhoạt động công tác kém hiệu quả gây mất lòng tin đối với xã viên Hầu hết các HTXchỉ có 1 Kiểm soát trưởng được bầu chuyên trách, còn lại các ủy viên Ban kiểm soát
là không chuyên được trưng tập khi có yêu cầu Nhìn chung cán bộ Ban kiểm soátchưa thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình, ở một số HTX cán bộ Ban kiểm soátcòn chờ sự phân công nhiệm vụ của Ban quản trị
Trang 36+ Bộ phận giúp việc: Có từ 2 – 3 người (Kế toán, thủ kho, thủ quỹ) Cán bộ
kế toán có năng lực rất ít, phần lớn còn yếu về chuyên môn, nghiệp vụ, khi đượcchọn cử làm kế toán thì mới vừa làm vừa học, sự thay đổi cũng như bổ nhiệm kếtoán HTX hoàn toàn do HTX không có sự thống nhất với cơ quan quản lý chuyênngành, để đảm bảo sự quản lý chặt chẽ về chuyên môn nghiệp vụ
+ Các tổ dịch vụ: HTX bố trí số lượng tổ dịch vụ tùy theo nội dung hoạtđộng của mình, số lượng người trong tổ dịch vụ căn cứ theo khối lượng công việcnhiều hay ít
2.2 Tài sản, vốn quỹ của HTX.
2.2.1 Tài sản:
Tài sản của HTX bao gồm:
- Tài sản cố định: Giá trị tài sản cố định của các HTX dịch vụ nông nghiệpchủ yếu nằm trong hệ thống thủy lợi (kênh, mương, trạm bơm, cầu cống), đường xánội đồng, trụ sở của HTX… Tài sản cố định của HTX được hình thành chủ yếu từtài sản của thôn chuyển giao được UBND xã giao khoán để bảo tồn vốn Đến naynhiều HTX dịch vụ nông nghiệp không những đã bảo tồn được tài sản mà còn làmtăng giá trị tài sản mới hàng chục triệu đồng Đó là các HTX dịch vụ nông nghiệp:Việt Tiến, Ninh Khánh, Hạ Lát, Thượng Lát, Quang Biểu… Nguyên nhân chủ yếucủa sự tăng tài sản cố định là các HTX thường xuyên thực hiện các hoạt động nângcấp, bồi dưỡng các hệ thống kênh mương, hệ thống nội đồng, cầu cống… Khi cóđiều kiện các HTX thường tiến hành xây dựng mới các công trình giao thông, thủylợi phục vụ sản xuất nông nghiệp
- Tài sản lưu động: Giá trị tài sản lưu động gồm tiền (bao gồm cả tiền mặt vàtiền gửi ngân hàng); Các khoản phải thu (gồm phải thu khách hàng, hộ xã viên, phảithu khác như tạm ứng chưa thu hồi, trả trước người bán…); Hàng tồn kho; Tài sản
cố định khác: Chi phí trả trước, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, chi phí quản lý
dở dang Nói chung, giá trị tài sản lưu động của các HTX dịch vụ nông nghiệphuyện còn nhỏ, chiếm tỷ lệ thấp