1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

HỘI THI TÌM HIỂU GIÁ TRỊ VĂN HĨA – LỊCH SỬ ĐỒNG NAI

48 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hội Thi Tìm Hiểu Giá Trị Văn Hóa – Lịch Sử Đồng Nai
Trường học Trường Đại Học Đồng Nai
Chuyên ngành Giáo Dục
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 2013
Thành phố Biên Hòa
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bàn Tiên sư thờ bài vị các bậc tiền nhân đã có công lao to lớn với làng xã, giúp dân lập nghiệp như các vị: Lưu ăn Nghi, Bùi ăn ĩnh… Ngoài ra Hậu điện còn dùng đ chứa các vật ph m ph c v

Trang 2

HỘI THI TÌM HIỂU GIÁ TRỊ VĂN HÓA - LỊCH SỬ

ĐỒNG NAI NĂM 2013

NỘI DUNG CÂU HỎI:

Trong số các di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh ở Đồng Nai mà bạn đã đến tham quan,

hãy trình bày cảm nghĩ về giá trị lịch sử - văn hóa của di tích mà bạn tâm đắc nhất; nêu ý kiến góp ý kiến nghị về việc giữ gìn, phát huy giá trị của di tích ấy trong quá trình xây dựng, phát triển tỉnh Đồng Nai văn minh, giàu đẹp

CỤM DI T CH ĐÌNH UÂN LỘC – CH A UÂN H A

Đình Xuân Lộc

Trang 3

Biên Hòa sử lược – Vị trí huyện Long Khánh năm 1837

Trang 4

Cổng chùa Xuân Hòa

Chùa Xuân Hòa

Trang 5

PHẦN I: V I C M NGH V GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA C A CỤM DI

T CH ĐÌNH UÂN LỘC – CH A UÂN H A, THỊ Ã LONG KHÁNH

Khoảng đầu thế kỷ XIX vùng đất Xuân Lộc - Long Khánh tuy đã thành lập các đơn vị hành chính và chịu sự quản lý của nhà Nguyễn nhưng chủ yếu vẫn là nơi sinh sống của các dân tộc bản địa Khi thực dân Pháp bắt đầu đặt nền cai trị lên các tỉnh Nam bộ, năm 1865 chúng chia tỉnh Biên Hòa thành 5 sở tham biện: Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Bà Rịa, Long Thành, Bảo Chánh, trong đó sở tham biện Bảo Chánh bao gồm cả vùng đất Long Khánh ngày nay Lúc này đã có những người dân di cư từ khắp nơi về đây sinh sống, chủ yếu làm nghề khai thác lâm sản Họ là những lưu dân tứ xứ, quần cư, sinh cơ lập nghiệp và lập nên làng Xuân Lộc vào nửa cuối thế kỷ XIX Gắn liền với sự hình thành làng là nhu cầu tín ngưỡng tâm linh nên đình - chùa ra đời Trong ký ức của người dân, từ người già đến trẻ ở Long Khánh vẫn ghi nhớ cái tên rất đỗi thân thuộc, đó là đình làng Xuân Lộc - chùa làng Xuân Lộc

C m di tích đình Xuân Lộc - chùa Xuân Hòa thuộc lo i hình di tích lịch sử được UBND tỉnh Đồng Nai xếp h ng theo quyết định số 982/QĐ-UBND, ngày 28/3/2008 Chùa Xuân Hòa còn gọi là chùa làng Xuân Lộc vì tọa l c t i làng Xuân Lộc xưa, t ng Bình Lâm Thượng, tỉnh Biên Hòa nay ở số 12 - 12 đường Nguyễn ăn Cừ, phường Xuân n, thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai cách BND thị xã Long Khánh 5 m về hướng Nam au năm 19 chùa được nhân dân gọi là chùa iệt Minh do sự kiện một số nhà sư t i chùa tham gia cách m ng bị giặc giết h i dã man

Năm 1925, do đình hư h ng nên ông Đ i Hương cả Lưu ăn Nghi chủ trương trùng tu l i ngôi đình Đình dựng b ng cây, vách ván, lợp ngói, nền g ch Tuy ngôi đình còn thô sơ nhưng

do tâm sức của nhiều người đóng góp mà thành nên rất được nhân dân tôn kính Năm 19 , chính quyền địa phương mở mang đường sá, làm con đường phía sau lưng đình nay là đường Nguyễn ăn Cừ nên đình phải “phản tiền chi hậu”, quay mặt ra đường lớn về hướng Tây như ngày nay

Năm 19 , nhận thấy ngôi đình quá nh , chật không đủ chỗ đ t chức mỗi khi tế lễ nên ông Hương quản Xuân Lộc Trần ăn anh đứng ra vận động mọi người đóng góp xây dựng một nhà v ca làm nơi hát bội cúng thần vào các dịp K yên

Trang 6

Đình Xuân Lộc với tượng lưỡng long tranh châu

và hình cuốn thư với ba chữ Tối linh th n

Đến năm 1962, ngôi đình có nhiều bộ phận b ng cây bị hư m c nặng, hương chức Xuân Lộc quyết định thành lập Ban trùng tu đình do ng Nguyễn ăn Nh làm trưởng ban và ng

Hu nh ăn Ngàn làm cố vấn Ngôi đình được dỡ ra và xây dựng l i hoàn toàn với t ng chi phí

là 19 đồng tiền ài Gòn do bà con dân làng Xuân Lộc và Phật tử gần xa đóng góp Lần trùng tu này, chánh điện đình Xuân Lộc được xây mới b ng g ch, lợp ngói, nền lát g ch bông Trong khuôn viên đình được xây thêm miếu thờ Ng Hành nương nương Làng Xuân Lộc đã mời nhóm thợ mộc ở Long Xuyên đảm trách phần cột, vì kèo và nhóm thợ trang trí người Bình Định ph trách việc đắp n i các hoa văn, họa tiết như hình cuốn thư, long ph ng, mai h c…

Năm 198 , Ban Hội đình quyết định xây dựng miếu thờ Liệt sĩ đ ghi nhớ công ơn các liệt sĩ đã xả thân vì nước Đến năm 1991, đình l i được tu sửa, xây thêm một nhà khách và t o nên diện m o như ngày nay

Đình Xuân Lộc tọa l c trong một khuôn viên rộng rãi, b ng ph ng với nhiều cây c th , cây ăn trái rợp bóng mát quanh năm Mặt tiền đình quay về hướng tây giáp với đường Nguyễn

ăn Cừ, phường Xuân n, thị xã Long Khánh Nhìn t ng th , đình Xuân Lộc có kiến trúc hình chữ tam với nhà v ca, chánh điện và hậu điện tiếp nối nhau bên c nh chánh điện là nhà khách

và miếu Ng hành nương nương Đình có 2 c ng ra vào, c ng chính ngay trước mặt đình, rộng

m, cao 2m, cánh b ng sắt chỉ được mở vào các dịp lễ K yên C ng ph rộng m thường xuyên

mở cửa cho nhân dân đến cúng bái Ba mặt khuôn viên đình được bao bọc b ng hàng rào xây

b ng g ch và sắt cao khoảng 1,8m, mặt tiếp giáp với các hộ dân sống liền kề có hàng rào t m

b ng cây, riêng hàng rào mặt tiếp giáp chùa Xuân Hòa có c ng nh thông sang chùa

Ngay sau c ng chính của đình là bức bình phong b ng xi măng rộng m, cao 1,6m, đắp

n i hình thần h , đây được xem là lá chắn không cho tà ma vào đình quấy phá Mặt sau bức bình

Trang 7

phong là bàn thờ Thần Nông, đây là bàn thờ của hầu hết cư dân nông nghiệp mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt

au bình phong là nhà v ca Xưa kia v nhà ca lợp b ng ngói móc năm 1991 được trùng

tu l i, kiến trúc ki u chồng diêm, hình vuông mỗi chiều 12m, bộ khung làm b ng gỗ, mái tôn giả ngói, nền lát g ch bông ca là nơi diễn xướng các tuồng tích mỗi dịp lễ K yên

Khoảng sân nh ngay trước chánh điện đình Xuân Lộc được lát g ch Giữa sân đặt một lư hương cao 1, m b ng xi măng c n gốm, sứ với các mô típ trang trí long ph ng, mây hoa lá… Hai bên là miếu thờ B ch mã Thái giám và Lang l i Đ i tướng quân rộng 1,5m, cao 2,2m xây

b ng g ch, lợp ngói móc

Lư hư ng c n gốm, s với các m típ trang trí long ph ng, mây hoa lá

Chánh điện đình Xuân Lộc có diện tích khoảng 6 m2 (8m x 8m được xây b ng g ch thẻ, lợp ngói móc vảy cá , nền lót g ch bông, kiến trúc ki u tứ tr với bộ cột, vì kèo b ng gỗ tốt như căm xe, g , c m… đưa phần mái lên cao t o không gian nội thất rộng rãi, thông thoáng Trên nóc chánh điện có tượng lưỡng long tranh châu rực rỡ nhiều màu sắc n i bật trên nền trời và hình cuốn thư với ba chữ “Tối linh thần” b ng chữ Hán

Hàng cột trước chánh điện có các câu đối sau:

Xuân gian th sắc thiên hoa mãn/Lộc trình tuyền thanh bá đạo phi

Dịch nghĩa: Sắc cây khoản xuân ngàn hoa rộ/Tiếng suối triền đồi trăm đạo đ y

Trang 8

Dịch nghĩa: Đủ đ y như hoa cỏ ngàn năm/Mừng vui tợ nguồn nước mu n đời

Đáng chú ý là các chữ đầu của các cặp đối này ghép l i thành tên của làng xã Xuân Lộc - Long Khánh

Chánh điện có ba cửa ra vào, hai cửa bên rộng 2,2m, cửa chính giữa rộng , m chỉ mở vào dịp lễ K yên Chánh điện được bài trí từng lớp ban thờ như sau:

- Lớp thứ nhất: bên phải là ban thờ Tiền hiền, bên trái thờ Hậu hiền, chính giữa là bàn thờ

có di ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh Ban thờ Tiền hiền và Hậu hiền có hình thức là một tấm gỗ

ch m hoa văn mây hoa lá, chính giữa là chữ “Tiền hiền”, “Hậu hiền”, hai bên có đôi câu đối

b ng chữ Hán, bức ch m này được đặt trên một b c xây b ng xi măng, cao 1m, rộng 1m phía trước bày các đồ thờ Đôi câu đối ở bàn Tiền hiền như sau:

Tiền khai s n lộc cảnh/Hiền hóa vạn dân khang

Dịch nghĩa: Tiền nhân khai phá l p nên cảnh đẹp/ ùng điều hiền khiến mu n dân no ấm

Ban Hậu hiền có đôi câu đối:

H u kh n huy m t /Hiền thùy đ c trạch u ng

Dịch nghĩa: H u theo khu n mẫu đẹp/Hiền rủ n đ c đ y

Điện thờ Th n hoàng bổn cảnh đình Xuân Lộc

- Lớp thứ hai: bên phải là ban thờ Đông hiến, bên trái thờ Tây hiến, chính giữa là Bàn thờ

La liệt Bàn thờ Đông, Tây hiến b ng gỗ dài 1, m rộng ,8m Bàn thờ La liệt b ng xi măng lát

g ch men, hình vuông mỗi chiều 1, m

Trang 9

- Lớp thờ cuối ở chánh điện: bên phải là Hữu ban, bên trái là Tả ban, chính giữa là điện thờ Thần Thành hoàng Tả ban có đôi câu đối:

Tả triển uy đối c /Ban bài lệnh độc nghiêm

Dịch nghĩa: Tả ra oai hùng c /Ban bài lệnh riêng nghiêm

Hữu ban: Hữu dực tinh k diệu/Ban phù tướng tướng dư

Dịch nghĩa: Cánh phải cờ xí rực rỡ/Ban phò tướng (văn) tướng (võ) đ ng đ y

Điện thờ Thần được bài trí trang nghiêm Chính giữa thờ Thần Thành hoàng tượng b ng

gỗ mít nài , hai bên tượng thờ có 2 cây kiếm lệnh b ng kim lo i, ngay dưới chân tượng là hộp gỗ đựng sắc của vua Khải Định phong Thần Thành hoàng làng Xuân Lộc năm 1918

ắc viết:

Sắc Biên Hòa tỉnh, Bình Lâm Thượng tổng, Xuân Lộc th n

h ng sự bổn cảnh Thành hoàng t n Th n

Hộ quốc tí dân nhẫm tr linh ng

T kim phi thừa cánh mệnh mi n niệm Th n hưu

Tr phong vi Đ n Ngưng ực Bảo Trung Hưng chi th n Chu n k ph ng sự th ky th n k tư ng hựu bảo ngã lê dân khâm tai Khải Định nhị niên tam nguyệt th p bát nh t

Hãy nghiêm t c thi hành sắc này

Ngày 18 tháng 3 năm Khải Định th 2

Các ban thờ đều có lư đồng, đỉnh đồng to nh khác nhau Đặc biệt điện thờ Thần có một cặp h c đồng cao ,8m và một cặp nh khoảng , m trước điện có một cặp h c b ng xi măng cao 1,8m Ngoài ra trong chánh điện còn có các hoành phi, liễn đối như:

Thánh đ c cao c u tất linh đảo tất ng/Th n c ng vi n thị v hình thính v thanh

Trang 10

Dịch nghĩa: Thánh đ c cao v t, c u tất linh, xin tất ng/ C ng th n xa vợi, nhìn kh ng thấy hình, nghe kh ng thấy tiếng

Hay: Hiển thánh Nam bang đãng đãng uy linh nhân hộ quốc/Xuất th n Việt địa dư ng

dư ng thịnh đ c nghĩa tý dân

Dịch nghĩa: Hiển thánh nước Nam oai linh bàng bạc nhân từ gi p đỡ nước/Xuất th n đất Việt thạnh đ c tràn đ y nghĩa khí che chở dân.

Liền kề với chánh điện là Hậu điện có diện tích 8m2 (8m x 6m xây b ng g ch, lợp ngói, nền xi măng đây là nơi thờ Tiên sư, Hậu bối Ban thờ Tiên sư có đôi câu đối sau:

Vạn cổ ân quang thùy phổ chiếu/Thiên thu đ c hiển vĩnh miên tường

Dịch nghĩa: Muôn thuở ân ngời luôn rộng khắp/Ngàn năm đức r ng mãi dài lâu

Bàn Tiên sư thờ bài vị các bậc tiền nhân đã có công lao to lớn với làng xã, giúp dân lập nghiệp như các vị: Lưu ăn Nghi, Bùi ăn ĩnh… Ngoài ra Hậu điện còn dùng đ chứa các vật

ph m ph c v cho các nghi lễ của đình

Bên phải chánh điện đình Xuân Lộc là Nhà khách xây dựng năm 1991 làm nơi tiếp khách, hội họp của đình Nhà khách có diện tích 9 m2

(9m x1 m , xây b ng g ch ống, mái tôn, nền tráng xi măng Nội thất nhà khách đơn giản, chỉ bài trí một số bàn ghế ph c v cho làm việc

và tiếp khách Cách Nhà khách khoảng m về tay phải là Miếu thờ Ng hành Nương nương, diện tích khoảng m2 (5m x 6m xây vách kín bốn mặt b ng g ch, lợp tôn, nền lát g ch hoa hai bên có cửa ra vào rộng 1m Bộ cột, vì kèo miếu b ng gỗ tốt, trên các cột đều có liễn đối ca ngợi công đức và sự hi n linh của các Bà như:

Anh phong vi n tí giang thiên ngoại/Th n đ c trường thùy quốc trạch trung

Dịch nghĩa: Anh phong che chở xa ngoài cõi/Th n đ c rũ thư ng mãi trong nước.

Hay: Hải tịnh ba di cộng ngưỡng th n quang phổ chiếu/ ân an v t ph thành chiêm

át bên miếu Ng Hành nương nương là miếu thờ Liệt s kích thước m x 5m, xây b ng

g ch, lợp ngói tây, nền lát g ch tàu Bàn thờ Liệt s có hai câu thơ trích từ hai bài Đường thi n i tiếng:

Trang 11

Miếu thờ Liệt s tại Đình Xuân Lộc

Nh t mộ hư ng quan hà x thị Hoàng H c lâu – Thôi Hiệu

Cổ lai chinh chiến k nhân hồi Lương Châu từ – ương Hàn

Dịch nghĩa: Chiều tối giữa đường kh ng biết đâu là quê nhà

Xưa nay chinh chiến mấy người đi trở về

Miếu n m khiêm tốn trong ánh nắng chiều soi qua tàng cây, thêm đôi câu thơ trầm mặc khiến cho người thăm viếng không kh i bùi ngùi, xúc động nhưng c ng thêm kính trọng, ghi nhớ công lao của các liệt s đã xả thân vì nghĩa nước

Giếng nước đào năm 1912 và cây sung cổ th trồng năm 1932

Trang 12

Nhìn chung các h ng m c kiến trúc của đình Xuân Lộc được phân bố hài hòa, phía trước

có khoảng sân rộng trồng nhiều cây trái Đặc biệt trước sân đình có giếng c được đào cùng thời gian khởi dựng đình năm 1912 Tương truyền, xưa kia nhân dân quanh vùng đều đến đình đ lấy nước giếng này về dùng vì nước trong, vị ngọt C nh giếng nước là cây sung c th trồng từ năm 19 2 đến nay vẫn xanh tốt và trĩu quả, bi u tượng cho sự sung túc của làng Xuân Lộc

Hiện nay, Đình Xuân Lộc còn lưu giữ những hiện vật có giá trị như sau: Một tượng Thần thành hoàng b ng gỗ mít nài cao khoảng cm được t c năm 19 Một long đình dùng đ rước sắc thần b ng gỗ, ch m khắc tinh xảo các hình rồng phượng và các hoa văn mây, hoa, lá… làm năm 19 Một cặp kiếm lệnh của Thần Thành hoàng b ng kim lo i Một hộp gỗ đựng sắc cùng sắc thần vua Khải Định ban năm 1918 Hai cặp rùa đội h c b ng đồng, một cao ,8m, một cao , m Hai cặp liễn đối b ng gỗ hình lòng máng, ch m khắc tinh xảo, được ph ng cúng năm

19 Một cặp phù điêu ch m rồng hình lòng máng Bốn tượng Bà b ng gỗ mít và một tượng xi măng trong miếu Ng hành Ngoài ra còn hàng ch c lư đồng, đỉnh đồng to nh khác nhau

Long đình dùng để rước sắc th n bằng gỗ, chạm khắc tinh xảo

Lễ Kỳ yê tại đ L :

Quan niệm thờ Thần Thành hoàng ở Nam bộ nhìn chung là tương đối giống nhau về nghi thức lễ bái, ph m vật dâng cúng do đa số các làng miền Nam hình thành ph c v cho quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp chứ không có hèm, c tích riêng Tuy nhiên, do yếu tố địa phương khác nhau và tập quán sản xuất, sinh ho t khác nhau nên nghi lễ cúng Thần có biến đ i cho phù hợp Đình Xuân Lộc t chức lễ K yên vào ngày 1 , 15 tháng 2 âm lịch M c đích của

lễ K yên là cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, đất nước thái bình, nhân dân yên

Trang 13

n Do đó ngoài việc cầu cho dân an, vật thịnh còn có các nghi lễ tống ôn, tống phong đ xua

đi những bệnh dịch, tà quỷ ra kh i làng

* Xưa kia lễ K yên ở đình Xuân Lộc gồm các nghi thức sau: Lễ tỉnh sanh; Lễ rước sắc;

Lễ khán sắc; Lễ Túc yết; Lễ tiền hiền, hậu hiền; Lễ xây chầu

* Ngày nay lễ K yên chỉ còn l i các nghi thức như: Lễ tỉnh sanh Lễ khán sắc Lễ Túc yết Lễ Hậu bối

* Lễ vật cúng trong lễ K yên gồm:

- Xôi: ngày xưa, vào dịp lễ K yên mỗi gia đình trong làng đều dâng một mâm xôi cúng Thần đ t lòng tri ân Thần đã giúp cho mùa màng bội thu, sức kh e dồi dào, gia đình êm ấm… Ngày nay chỉ còn một số ít nhà mang xôi cúng đình, đa số họ cúng b ng các hiện vật, hiện kim

- Thịt: lễ vật tế Thần theo quy định xưa kia là “Tam sanh” gồm thịt ba con vật heo, bò,

dê Ngày nay đình Xuân Lộc chỉ còn dùng thịt heo đ tế Thần

- Con g i: chỉ chung các lo i heo quay mà dân làng dâng cúng đ trả ơn Thần đã giúp đỡ phù hộ cho mình

- Heo cơm: là heo dùng đ tế Tiền hiền, Hậu hiền nên c ng phải làm lễ Tỉnh sanh au khi tế xong thì xẻ thịt đãi khách, người giúp việc trong đình và gánh hát ph c v trong lễ K yên

- Rượu, trà, bánh trái: lễ tế Thần dâng một tuần trà, ba tuần rượu, phải là rượu trắng Ngoài ra dân làng dự lễ dâng cúng đủ lo i bánh trái, hoa quả

* Chương trình - nghi thức lễ K yên:

áng ngày 1 /2 âm lịch làm lễ tắm Thần au đó làm lễ mở cửa đình, dọn dẹp trên dưới, chu n bị nhang đèn, lau chùi lư đồng, đỉnh đồng… Các ph m vật chia ra các ban thờ như: bàn thờ Thần phần, bàn Hội đồng phần, Hậu bối phần, Liệt sĩ phần, miếu Ng hành 5 phần, các bàn khác 1 phần… Đúng 19 giờ tối cúng xôi chè, mời thầy t ng kinh cầu an cho nhân dân, làng xóm áng ngày 15 có các nghi lễ sau:

Lễ Tỉ sa : Bồi tế l y Thần xin làm lễ tỉnh sanh, đồ t l y Thần rồi đốt vàng b c t i nơi con heo bị thọc huyết au đó nh một ít lông gáy b vào ly và hứng một chút máu tươi đ làm lễ ế mao huyết Toàn bộ Ban Tế tự đình tập trung, chỉnh tề y ph c sắp làm hai hàng, tay cầm nến thắp sáng vào đình xá l y trình diện Thần

Nghi thức Ế mao huyết: học trò lễ bưng song đăng, nhất đài đi trước, Bồi tế lấy ly mao

huyết theo ra ngoài sân, dùng dao đào đất lên, đ ly mao huyết xuống, khấn vái Thần, rót rượu tưới xung quanh, đốt vàng b c rồi lấp đất l i

Lễ K á sắ : cử hành theo lời Lễ sinh xướng

Bổn hội viên ch c tề ban: đứng nghiêm

Trang 14

Phân ban: tắt nến, ai về chỗ người đấy

L v t c ng trong l K yên đình Xuân Lộc

Củ soát l v t: mỗi người ki m tra lễ vật ở bàn mình xem đầy đủ chưa, riêng Chánh tế

ki m tra bàn La liệt

Bổn hội viên ch c đồng khán sắc: các vị khán sắc vào chỗ

Thọ sắc: bưng hộp sắc lên

Chuyển sắc: đem hộp sắc xuống

Giai quỵ: các vị khán sắc qu xuống, Chánh tế c ng qu , hai tay bưng hộp sắc

Khai sắc: mở hộp sắc ra

Khán sắc: xem sắc

Hiệp sắc: thay vàng b c, cuộn sắc, cho vào hộp đậy l i

Thượng sắc: đưa sắc lên

An sắc: trả sắc về chỗ c

Lễ Tú yết:

Chấp sự tựu vị: ba vị đánh m , chiêng, trống cầm dùi vào xá Thần

Chấp sự giã các tư k sự: ba vị lui ra, ai về chỗ nấy

Khởi thái bình: đánh ba hồi m

Khởi minh chinh: đánh ba hồi chiêng

Khởi đại cổ: đánh ba hồi trống lớn

Trang 15

Nhạc sinh tựu vị: ban nh c khăn áo chỉnh tề vào chỗ

Nhạc sinh nghinh th n: ban nh c xá l y Thần

Khởi nhạc: đánh ba hồi chín chập nh c lễ

Nhạc sinh hoàn cựu sở: ban nh c về chỗ c

Thái bình, chinh, cổ, nhạc hòa minh: nh c, trống, m , chiêng cùng đánh

Chánh niệm hư ng tựu vị: chánh niệm hương vào chỗ

Nghê quán t y sở: chánh niệm hương l i chỗ đ chậu nước và khăn lau

Quán t y: rửa mặt, rửa tay

Thuế cân: lau mặt, lau tay

Chỉnh y quan: sửa l i khăn áo

h c vị vào chỗ đứng

h n hư ng: đốt nhang

Niệm hư ng: dâng hương

Thượng hư ng: cắm nhang vào lư

Nghinh th n c c cung bái cúi l y

Hưng bình thân: đứng lên l y lần như vậy

Xảo thối: lui ra

Chánh tế, Bồi tế, Tả ban, Hữu ban, Đ ng hiến, Tây hiến, Tiền hiền, H u hiền tựu vị: mỗi

người vào chỗ đứng ở bàn mình tế

Nghê quán t y sở, quán t y, thuế cân, chỉnh y quan, ph c vị: như chánh niệm hương đã

làm

Nghệ hư ng án tiền: Học trò lễ vào, hai người đi trước cầm song đăng, hai người đi sau

cầm chén than và hương Các cô đào đi sau cùng, tất cả vào chánh điện

Giai quỵ: tất cả mọi người đều qu , k cả các bàn khác

Niệm hư ng: chánh tế dâng hương ngang trán vái l y Thần

Chuyển hư ng: đưa chén hương cho học trò lễ

Tấn hư ng: học trò lễ đi lên bàn thờ Chánh tế vẫn qu Lúc này các cô đào thài:

Trầm đàn phối kết năm mây Mùi hương phảng phất nhẹ bay chín tầng Hiến tuần hương là hiến tuần hương

Trang 16

Thượng hư ng: Ban tế lễ tiếp hương đặt lên bàn thờ Thần Học trò lễ và các cô đào quay

ra ngoài

Nghinh th n c c cung bái: các vị cúi l y

Hưng bình thân: tất cả đứng lên l y lần như vậy

Xảo thối: các vị lui ra

Bổn hội, viên ch c, nam nữ đồng lai bái: tất cả nam nữ cùng vào l y

Chánh tế, bồi tế tựu vị: chánh tế, bồi tế vào chỗ

Hành s hiến l : hiến tuần rượu thứ nhất Học trò lễ chu n bị

Nghệ tửu t n sở: Học trò lễ đi vào chánh điện, các cô đào theo sau

Giai quỵ: tất cả cùng qu

Chước tửu: Chánh tế rót rượu vào ly, vái Thần, trao ly rượu cho Học trò lễ

Chuyển chước: Học trò lễ đứng dậy, những người khác vẫn qu

Tấn chước: Học trò lễ đi lên bàn thờ Đào thài:

Kim phiêu phi lễ cựu phần

ơ tuần t y thượng cầu Thần giáng lâm Hiến tuần sơ là hiến tuần sơ

Nghệ tửu chánh điện tiền: Ban tế lễ tưới rượu Học trò lễ và đào thài quay ra

Cúc cung bái: các vị cúi l y

Hưng bình thân: đứng lên l y lần như vậy

Nghệ độc ch c vị: Hương văn vào trước chánh điện, Học trò lễ cầm đèn

Giai quỵ: Hương văn và Học trò lễ qu

Chuyển ch c: đem bản sớ vào, Học trò lễ soi đèn cho Hương văn

Độc ch c: Hương văn đọc bản sớ

Hưng bình thân: đứng lên xá Thần

Xảo thối: Hương văn lui ra

Hành á hiến l : hiến tuần rượu thứ hai, nghi lễ như lần đầu Các cô đào thài:

Tế viên bôi tửu mãn châm Trung tuần t y thượng cầu Thần giáng lâm Hiến tuần trung là hiến tuần trung

Trang 17

Hành chung hiến l : dâng tuần rượu cuối Nghi lễ vẫn như trước Đào thài:

Khôi khôi đức đội non đương Thất văn phất hiến hữu thành tắc lâm Hiến tuần chung là hiến tuần chung

Nghệ m phước dị: Học trò lễ lên bàn thờ Thần, ban tế lễ sớt rượu đã cúng Thần vào ly

cho Học trò lễ bưng ra

Giai quỵ: Học trò lễ và Chánh tế qu xuống

Ẩm phước: Chánh tế uống rượu Thần ban cho Đào thài:

Ẩm phước thọ nhờ ơn thần thánh

Ẩm phước rồi kh e m nh dưới trên

Xảo thối: Chánh tế uống rượu xong lui ra lau miệng

h c vị: Chánh tế vào chỗ c

Điểm trà: Học trò lễ bưng trà, đi th ng vào chánh điện, Ban tế lễ tiếp trà dâng lên bàn thờ

Thần Các cô đào thài:

ơi vơi chén ngọc ve vàng long phất nhiễu ph ng loan giao đầu

Đi m trà phô là đi m trà phô

Tạ th n c c cung bái: tất cả l y Thần l y theo nhịp Học trò lễ xướng

Hưng bình thân: đứng lên

Xảo thối: tất cả lui ra

h n ch c: Hương văn đốt văn tế

L thành: Học trò lễ và các đào l y Thần Lễ xong

Lễ Hậ bối: đây là nghi lễ tế các vị tiền nhân đã có công lập làng, dựng đình Lễ ph m

c ng gồm rượu, trà, bánh trái, hoa quả nhưng nghi thức tương đối đơn giản hơn lễ Túc yết

Ngoài ra, hàng năm đình t chức cúng vào các ngày âm lịch như sau:

- Ngày 25/12 giáp ấn : cúng vịt, xôi, chè

- Ngày /1 khai sơn : cúng gà t i đình Thần, miếu Ng hành và bàn thờ ông H

- Ngày 15/8 (trung thu): cúng bánh, trái cây, trà

- Ngày 1 /1 t chức cúng vía Bà ở miếu Ng hành nương nương

Trang 18

Nhìn chung lễ K yên ở đình Xuân Lộc về cơ bản tương tự như đa phần các đình Nam bộ khác Tuy nhiên do tính địa phương nên c ng có một vài đặc đi m khác biệt, ch ng h n như t i đình Xuân Lộc, người ta cúng Tiền hiền, Hậu hiền chung trong lễ Túc yết chứ không chia ra Khi làm lễ Túc yết, các học trò lễ c ng dâng luôn rượu, trà… lên bàn thờ Tiền hiền, Hậu hiền

2 Chùa Xuân Hoà:

Nhân dịp trùng tu đình Xuân Lộc lần đầu tiên năm 1925, dân làng c ng phát nguyện dựng lên một ngôi chùa trên mảnh đất liền kề với đình Xuân Lộc đ th a lòng kính Phật Ban đầu chùa chỉ được làm b ng cây t p, mái tranh, vách tre au khi ngôi chùa hình thành, dân làng thỉnh ông ết ma Lê ăn Quý về tr trì

Năm 1928, một Phật tử t c gọi là bà Cả Dương ở Đất Đ thấy chùa làng Xuân Lộc l p

x p nên phát tâm cúng tiền xây dựng l i ngôi chùa b ng cây gỗ, mái lợp ngói âm dương - nay là nhà Hậu t của chùa

Năm 19 , ông Lê ăn Quý xin xuất tự về Biên Hòa, giao l i chùa cho đệ tử là ông Giáo Đương tr trì thay Năm 19 , bà Nguyễn Thị Mầu thường gọi là bà Cả nhà lầu cùng em trai là ông Nguyễn ăn T o - một người khai thác lâm sản - đứng ra kêu gọi dân làng và các Phật tử chung sức dựng thêm một gian chùa phía trước b ng cột gỗ tròn, lợp ngói móc vảy cá , vách

g ch, nền lót g ch tàu là chánh điện của chùa ngày nay Nhiều vị Phật tử hảo tâm đem cúng đầy

đủ cốt Phật

Đến năm 19 , ông Giáo Đương c ng xin xuất tự đ tu t i gia chùa Xuân Hòa được giao

l i cho đệ tử ông là Ký Thừa tiếp t c kế vị tr trì

Năm 1962, do chùa liên t c bị pháo kích của M - Ng y bắn phá, ông Hu nh ăn Ngàn

là Hội trưởng hội Phật học Long Khánh đã đề xuất xây thêm một gian Niệm h t đường kiên cố

phía trước đ bảo vệ cho ngôi c tự Niệm Phật đường được xây b ng g ch ống, mái lợp ngói

âm dương, nền lát g ch bông bộ cột, vì kèo b ng gỗ căm xe Gian này hiện nay là tiền điện của chùa Xuân Hòa

Hiện nay, Chùa Xuân Hòa n m liền kề đình Xuân Lộc, kiến trúc d ng chữ tam với tiền điện, chánh điện và nhà Hậu t nối tiếp nhau Chùa có 2 c ng, c ng ph rộng khoảng m, mở quanh năm đ Phật tử đến chiêm bái c ng như cho bà con dân làng Xuân Lộc đến chăm sóc, quét tước, dọn dẹp Đặc biệt c ng tam quan chùa là một kiến trúc tuyệt đẹp, gồm cột cái đường kính cm, cao 5m và cột quân cao m b ng gỗ căm xe đỡ lấy mái ngói âm dương ti u

đ i C ng chùa với những hàng cột trầm mặc, mái ngói rêu phong t o thành một đi m nhấn kiến trúc c kính, uy nghiêm giữa phố phường sầm uất Ngoài công d ng là nơi ra vào, Tam quan

còn là “n i quan sát” theo triết học Phật giáo gồm:

- Kh ng quan nói chưa hiểu gì, kh ng có quan niệm gì về cuộc đời

- Giả quan cái gì cũng là hư ảo, biến hóa kh n lường

Trang 19

- Trung quan xét theo thuyết kh ng t c là có, có t c là kh ng nên phải nhìn theo hướng thích ng nhất

Từ c ng đến chánh điện chùa là một khoảng sân rộng trồng nhiều cây, từ c th cho đến các lo i hoa ki ng Mùa nào hoa đấy, tiết Trung thu sân chùa đi m xuyết những khóm cúc rung rinh trước gió sang xuân l i ngập trong sắc mai vàng rực rỡ của đất trời phương Nam Trong sân có tượng Quán Thế Âm Bồ tát uy nghiêm đứng dưới gốc tùng xanh mướt và tượng Phật Di lặc với n cười ung dung muôn thuở xua tan mọi ưu phiền cho du khách ngay khi bước qua

c ng Bên phải sân chùa có tháp xây b ng xi măng cao tới 1 m, hình l c giác đều mỗi c nh 2m Tương truyền xưa kia các tượng Phật, tượng Bồ tát… bị hư h ng, r ng gãy thì không vứt đi mà được đem vào tháp này lưu giữ, do đó bà con thành kính gọi là “Tháp Phật”

Tiền điện chùa Xuân Hòa

Tiền điện chùa Xuân Hòa được xây b ng g ch, lợp ngói âm dương, có bộ cột, vì kèo ki u

tứ tr , kiến trúc chồng diêm Bốn cột chính b ng gỗ căm xe, đường kính cm, cao 5m t o không gian rộng thoáng, mặt được bao quanh bởi các dãy hành lang với những hàng cột c ng

b ng gỗ căm xe đường kính cm Mái ngói rêu phong, các đầu đao được chấn bởi tượng rồng

b ng gốm men xanh uy nghi nhìn về bốn phương trời Diện tích tiền điện khoảng 6 m2

(8m x 8m), có cửa ra vào, cửa chính rộng 2, m, hai cửa bên rộng 1,2m Ngay trên cửa chính là bức hoành phi với ba chữ “Xuân Hòa tự” sơn son thếp vàng Tiền điện chia làm ba gian, gian chính giữa có ban thờ Thập phương Tam bảo gồm ba tầng:

- Tầng trên cùng là tượng Cửu Long còn gọi là tượng Thích ca sơ sinh một tay chỉ xuống đất, một tay tr lên trời với câu nói: “Thiên thượng, địa h , duy ngã độc tôn” nghĩa là: trên trời, dưới đất, một ta là tôn quý hơn cả

- Tầng thứ hai: chính giữa thờ Ngọc Hoàng thượng đế, hai bên là Nam Tào và Bắc Đ u

- Tầng dưới cùng thờ hai ông Thiện và Ác

Trang 20

au ban thờ Thập phương Tam bảo là tượng Phật Thích Ca cao khoảng 1,6m ngự trên tòa sen cao 6 cm, đúc b ng xi măng

Hai gian hai bên có 2 tượng Phật cùng ki u dáng tượng Phật ở gian giữa, kích thước nh hơn, khoảng 1, m ngồi trên tòa sen cm Ngoài ra trong tiền điện còn có tượng thờ Tiêu diện,

Hộ pháp và tượng Quan thế âm

Nhìn chung tiền điện bài trí đơn giản, hệ thống tượng thờ không nhiều nên không gian rộng rãi, thông thoáng t o cảm giác thư thái cho khách viếng thăm

Gian thờ th p phư ng Tam bảo tại chánh điện chùa Xuân Hòa Liền kề với hành lang tiền điện là chánh điện mà dân làng Xuân Lộc thường gọi là chùa

trúc chánh điện theo ki u tứ tr , mái lợp ngói móc, nền lát g ch bông, xây vách b ng g ch kín mặt, mặt còn l i thông với nhà Hậu t Bộ cột, vì kèo chánh điện b ng gỗ căm xe đường kính

cm, cao 5m đưa mái ngói lên cao t o không gian thông thoáng và mở rộng diện tích làm hành lang bên ngoài Bên trong chánh điện có các ban thờ phân bố như sau:

- Bàn thờ bên trái: có tượng Cửu Thiên Huyền Nữ b ng gỗ mít cao 8 cm và hai tượng Địa T ng vương cao khoảng cm b ng xi măng

- Bàn thờ bên phải có tượng Quan Công cao 6 cm và tượng Di lặc cao khoảng cm đều

b ng xi măng

- Ở giữa là bàn thờ Thập phương tam bảo gồm ba hàng:

+ Hàng thứ nhất thờ Di đà tam tôn: chính giữa là tượng di đà, hai bên là tượng Quan thế âm tay cầm hồ nước cam lộ và tượng Đ i thế chí tay cầm hoa sen

Trang 21

+ Hàng thứ hai thờ Phật Thích ca: chính giữa là tượng Thích ca Mâu ni đang thuyết pháp trong tư thế ngồi trên tòa sen, hai bên là tượng hai vị đ i đệ tử của Đức Phật: Ca diếp tôn giả và nanđà tôn giả

+ Hàng dưới cùng th hiện tượng Phật Thích ca sơ sinh và tượng Thích ca nhập Niết bàn Đối diện với các bàn thờ này là bàn thờ Chu n đề 18 tay, mỗi tay cầm một món đồ pháp khí Trong chánh điện c ng có chuông, trống và một bao lam b ng gỗ rộng m, cao ,6m ch m khắc hình rồng và hoa văn tinh tế Trên các cột gỗ có các câu đối ca ngợi Phật pháp như:

h t pháp trường hưng duy nguyện quốc gia thùy vạn cổ Quảng trường vĩnh thịnh thường k lão ấu lạc thiên thu

Dịch nghĩa: h t pháp lu n hưng chỉ nguyện nước nhà bền vạn thuở

Quảng trường mãi thịnh thường c u già trẻ vui ngàn thu

Hay: Sắc t c thị kh ng kh ng t c thị sắc tu tín tính trung v quải ngại

h t bất ly tâm tâm bất ly h t thùy vân tâm ngoại thị bồ đề

Dịch nghĩa: Sắc t c là kh ng, kh ng t c là có nên tin trong tính chẳng vướng gì

h t chẳng rời tâm, tâm chẳng rời h t, ai bảo ngoài tâm là Bồ đề

Tượng Di Đà Phật, Đ i Thế Chí Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát chùa Xuân Hòa

Thông với chánh điện là hậu điện và nhà khói Hậu điện có diện tích khoảng 8m2 (6m x 8m), vách xây b ng g ch, mái ngói âm dương, nền lát g ch bông bộ cột ki u tứ tr c ng b ng

gỗ căm xe nhưng nh và thấp hơn bộ cột ở chánh điện nên không mở hành lang bao quanh bên ngoài Hậu điện thờ Bồ đề Đ t ma và các vị T sư tr trì chùa đã viên tịch Ngoài ra hậu điện còn là nơi thờ cúng, đ bài vị, tro cốt của một số người dân làng Xuân Lộc gửi vào chùa và là nơi tiếp khách, nghỉ ngơi của tr trì Liền với hậu điện là nhà khói diện tích 2m2

(4m x 8m),

Trang 22

tường xây b ng g ch thẻ, mái tôn, nền tráng xi măng Nơi đây thờ vị Giám trai sứ giả được cho

là người quản lý việc bếp núc trong chùa

Từ cửa hậu điện theo một hành lang có mái che b ng tôn dài chừng 1 m sẽ đến Giảng đường Giảng đường xây b ng g ch, lợp tôn, nền tráng xi măng, diện tích khoảng 8 m2 Xưa kia đây là nơi các vị tr trì giảng kinh cho các đồ đệ và dân làng sau ngày giải phóng, chính quyền mượn làm trường Chính trị cho huyện

Bên phải chánh điện chùa Xuân Hòa là 5 ngôi tháp cao từ 2,5 - m, đường kính đáy khoảng 1,2m, xây b ng g ch thẻ tô xi măng, có tháp được ốp đá Đây là nơi yên nghỉ các vị sư

tr trì đã viên tịch, trong đó có nhà sư được Nhà nước phong Liệt sĩ Thiêm Nam Hưng

Khuôn viên chùa Xuân Hòa rộng thoáng, các h ng m c kiến trúc phân bố hài hòa Đường

đi lối l i trong chùa đều được tráng bê tông s ch đẹp, thuận tiện cho du khách và bà con Phật tử ườn chùa trồng nhiều cây ăn trái như mít, chôm chôm, mãng cầu… và nhiều lo i rau, thuốc nam Nhìn chung chùa Xuân Hòa trang nghiêm, linh thiêng nhưng c ng rất gần g i, thân thiện với du khách và dân làng Xuân Lộc

Đại hồng chung với quai chu ng chạm khắc hình rồng rất tinh xảo

Trang 23

Chùa Xuân Hòa theo phái C ơn Môn, đây là một hệ phái c truyền của Phật giáo iệt Nam, các tu sĩ thường ở t i gia Dân chúng rước các tu sĩ nầy đến t ng kinh cầu siêu cho linh hồn người chết trong các lễ ma chay, cúng tuần Các tu sĩ theo phái C ơn Môn chú trọng ở việc t ng kinh, niệm Phật ì thường t ng kinh các đám ma chay nên người ta thường gọi các tu

sĩ này là thầy cúng Khi cúng, các tu sĩ nầy mặc áo cà sa màu vàng, lần tràng h t, gióng chuông,

g m , đọc kinh kệ Phái C ơn Môn có mặt trong các tỉnh thành khắp cả nước Một số nơi có chùa còn đa số các tu sĩ cất am hay tu t i gia

Tượng rồng bằng gốm men xanh trang trí trên đ u đao tiền điện chùa

Hiện nay, di tích chùa Xuân Hòa còn lưu giữ những hiện vật có giá trị như sau: Ba Đ i hồng chung cao từ 8 cm - 1m, quai chuông ch m khắc hình rồng rất tinh xảo, trên thân chuông

có nhiều hoa văn mây rồng, dây hoa lá… Trong đó một chuông đúc năm 1925, một chuông đúc năm 19 và chuông còn l i đúc năm 196 Một bao lam b ng gỗ rộng m, cao ,6m ch m khắc hoa văn mây rồng được làm từ năm 19 Một tượng thờ Cửu Thiên Huyền Nữ b ng gỗ mít cao

8 cm Bốn tượng rồng b ng gốm men xanh trang trí trên đầu đao tiền điện chùa Một bức hoành phi gỗ kích thước 5 cm x 15 cm đề “Xuân Hòa tự” Các tượng thờ b ng xi măng Ngoài ra còn

có các đồ thờ khác như khánh, m , tranh thờ…

Các hiện vật quý như sắc phong, long đình, tượng thờ, hoành phi, liễn đối… đã góp phần không nh vào việc nghiên cứu kiến trúc, xác định niên đ i của c m di tích đình Xuân Lộc - chùa Xuân Hòa

Trang 24

M c Kiền Liên bèn đến xin Đức Phật chỉ d y, Phật nói: “Dù ngư i th n th ng quảng đại đến

đâu cũng kh ng đủ s c c u mẹ ngư i đâu Chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phư ng l p đàn tràng soi sáng tâm linh cho mẹ ngư i tỉnh ngộ, phá tan tư tưởng u mê, phá bỏ tính sân tham mà giải thoát khỏi cõi khổ đau để thanh thoát lên cõi thiện lành Ngày rằm tháng bảy hãy sắm sửa l c ng vào dịp đó” Làm theo lời Phật, mẹ của M c Kiền Liên đã được

giải thoát Phật c ng d y r ng chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ c ng theo cách này, từ

đó ngày lễ u Lan ra đời

Tượng h t i lặc và Quán Thế âm Bồ tát tại chùa Xuân Hòa

Có th nói tư tưởng Phật giáo đã song hành trong suốt tiến trình lịch sử của dân tộc ta, góp phần lớn vào việc hình thành nền văn hoá dân tộc, lấy đ o lý nhân bản đ hướng dẫn mọi người sống tốt đẹp hơn Mỗi năm, đến r m tháng bảy thì Phật tử và nhân dân ta l i dâng lên một niềm cảm xúc thiêng liêng của Ngày Báo hiếu u Lan Báo hiếu là nét văn hoá truyền thống của dân tộc iệt Nam, th hiện lòng thành kính đối với các đấng sinh thành Lễ u lan đền đáp 4 ân đức trong đời sống đối với con người, đó là:

Ngày đăng: 07/12/2022, 00:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đại hồng chung với quai chung chạm khắc hình rồng rất tinh xảo - HỘI THI TÌM HIỂU GIÁ TRỊ VĂN HĨA – LỊCH SỬ ĐỒNG NAI
i hồng chung với quai chung chạm khắc hình rồng rất tinh xảo (Trang 22)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w