BÀI THU HOẠCH MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊ NIN CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM MỞ ĐẦU Sau hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu kinh tế xã hội quan trọng. Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nghề nông, đến nay đã xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng kinh tế xã hội từng bước đáp ứng được cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và chuyển toàn bộ mọi hoạt động của nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp sang nền kinh tế có tư duy công nghiệp. Quy mô của nền kinh tế tăng nhanh, thu nhập đầu người vượt khỏi ngưỡng thu nhập thấp, đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước có mức thu nhập trung bình. Kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Những thành tựu của quá trình CNH, HĐH đưa đất nước ngày càng phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân và góp phần bảo đảm an ninh, quốc phòng. Đảng ta đã đề ra đường lối “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức”. Xuất phát từ những lý do trên, em lựa chọn xây dựng bài thu hoạch hết môn của mình là Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển tri thức ở Việt Nam.
Trang 1BÀI THU HOẠCH MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊ NIN
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM
Trang 2
MỞ ĐẦU
Sau hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu kinh tế xã hội quan trọng Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nghề nông, đến nay đã xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước đáp ứng được cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và chuyển toàn bộ mọi hoạt động của nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp sang nền kinh tế có tư duy công nghiệp Quy mô của nền kinh tế tăng nhanh, thu nhập đầu người vượt khỏi ngưỡng thu nhập thấp, đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước có mức thu nhập trung bình Kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới Những thành tựu của quá trình CNH, HĐH đưa đất nước ngày càng phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân và góp phần bảo đảm an ninh, quốc
phòng Đảng ta đã đề ra đường lối “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức” Xuất phát từ những lý do trên, em lựa chọn xây
dựng bài thu hoạch hết môn của mình là "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển tri thức ở Việt Nam"
Trang 3NỘI DUNG
I Một số vấn đề lý luận cơ bản về công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
1 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.1 Quan niệm về công nghiệp hóa
Công nghiệp hóa có nhiều quan niệm khác nhau, nhưng về cơ bản các quan niệm đều có những điểm chung, có thể được hiểu theo hai nghĩa:
- Theo nghĩa hẹp: Công nghiệp hóa là quá trình chuyển dịch từ kinh tế nông
nghiệp (hay tiền công nghiệp) lên nền kinh tế lấy công nghiệp làm chủ đạo, từ chỗ
tỷ trọng lao động nông nghiệp chiếm chủ yếu giảm dần và nhường chỗ cho lao động công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn hơn
- Theo nghĩa rộng: Công nghiệp hóa là quá trình chuyển dịch từ xã hội nông nghiệp lên xã hội công nghiệp, từ văn minh nông nghiệp lên văn minh công nghiệp Nó không chỉ đơn thuần là những biến đổi về kinh tế mà bao gồm cả các biến đổi về văn hóa và xã hội từ trạng thái nông nghiệp lên xã hội công nghiệp, tức
là trình độ văn minh cao hơn
1.2 Quan niệm về hiện đại hóa
- Hiện đại hóa là quá trình biến đổi từ tính chất truyền thống cũ lên trình độ tiên tiến của thời đại hiện nay Theo ý nghĩa về kinh tế - xã hội, hiện đại hóa là quá trình chuyển dịch căn bản từ xã hội truyền thống lên xã hội hiện đại, quá trình làm cho nền kinh tế và đời sống xã hội mang tính chất và trình độ thời đại ngày nay Hiện đại hóa về kinh tế vừa có sự thay đổi về tính chất, vừa có tính xác định về thời gian Giai đoạn đầu của hiện đại hóa được xác định trùng với thời kỳ diễn ra
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (còn gọi là thời kỳ công nghiệp hóa),
giai đoạn này, hiện đại hóa có nội dung cốt lõi là công nghiệp hóa
- Quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam: Xuất phát từ việc kế thừa có chọn lọc, phát triển và vận dụng vào điều kiện lịch sư cụ thể của Việt Nam Tại Hội nghị Trung ương 7 Khóa VII, Đảng ta đã đưa ra quan
niệm về CNH, HĐH như sau: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản ly
Trang 4kinh tế - xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”.
Từ đó, công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH; mục tiêu của CNH nhằm chuyển đổi một cách căn bản nền sản xuất xã hội
từ lao động thủ công là chủ yếu sang lao động bằng máy móc, xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất; nâng cao đời sống nhân dân; quốc phòng an ninh vững mạnh
2 Khái niệm kinh tế tri thức
Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó việc tạo ra, truyền bá và sư dụng tri thức là động lực chủ yếu của sự tăng trưởng, của quá trình tạo ra của cải và việc làm trong tất cả các ngành kinh tế, những đặc điểm chính của nền kinh tế tri thức:
- Là một nền kinh tế có trình độ cao hơn các nền kinh tế nông nghiệp và công nghiệp trước đó Phát triển kinh tế tri thức là xu hướng dựa trên trình độ rất cao của lực lượng sản xuất hơn hẳn so với kinh tế nông nghiệp và công nghiệp Tri thức khoa học và công nghệ, kỹ năng của con người là những yếu tố quyết định nhất của sản xuất và trở thành lực lượng sản xuất quan trọng hàng đầu
- Kinh tế tri thức là nền kinh tế dựa chủ yếu vào phát minh, truyền bá và sư dụng tri thức.Trong nền kinh tế tri thức, tri thức là bộ phận nguồn lực quan trọng nhất, quyết định nhất của lực lượng sản xuất hiện đại, mà trình độ phát triển của lực lượng sản xuất lại đóng vai trò quyết định sự phát triển xã hội
- Trong nền kinh tế tri thức thì tri thức, trí tuệ là nguồn lực quan trọng nhất Nền kinh tế tri thức được phát triển dựa trên 4 trụ cột: môi trường kinh tế và thể chế xã hội; giáo dục đào tạo; hệ thống cách tân và hạ tầng cơ sở thông tin
II Sự cần thiết phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
1 Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức là cách thức để đất nước sớm thoát khỏi tình trạng lạc hậu
Trang 5Việt Nam là một nước đang phát triển, đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen lẫn nhau: một mặt, tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản đặt ra cho nền kinh tế trong quá trình chuyển từ kinh tế nông nghiệp lên trình độ của nền kinh tế công nghiệp, như bảo đảm lương thực, thực phẩm, nhu cầu nước sạch, trường học, đi lại cho người dân; mặt khác, phải nhanh chóng nắm bắt các xu thế phát triển hiện đại không những chỉ
để tránh tụt hậu ngày càng xa hơn so với trình độ chung của thế giới, mà còn phải thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển khi bản thân họ đã có trình độ phát triển cao hơn Khi các yếu tố cho phát triển không chỉ đơn thuần là vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên mà còn có thêm yếu tố tri thức với ý nghĩa là yếu tố quan trọng và trực tiếp đối với quá trình phát triển, thì việc không nhanh chóng nắm bắt được những tri thức mới sẽ không thể tránh khỏi sự tụt hậu tuyệt đối so với các nước khác Do đó, chúng ta không thể bỏ lỡ cơ hội, mà phải tìm giải pháp bứt phá bằng cách đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
1.1 Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức là yêu cầu bắt buộc để tạo ra cơ
sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội
Theo Lênin: Cơ sở vật chất duy nhất và thực sự để làm tăng của cải của
chúng ta, để xây dựng xã hội XHCN chỉ có thể là đại công nghiệp Không có một nền đại công nghiệp tổ chức cao thì không thể nói đến CNXH được, mà lại càng không thể nói đến CNXH ở một nước nông nghiệp được
Tạo lập cơ sở vật chất kỹ thuật để xây dựng CNXH hiện thực là đòi hỏi có tính bắt buộc đối với tất cả các nước muốn quá độ lên CNXH
1.2 Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức bắt nguồn từ yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế sâu hơn, đầy đủ hơn
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn kết của một nước vào các thể chế kinh tế khu vực và thế giới bằng các nỗ lực thực hiện tự do hóa, mở cưa kinh tế, giảm thiểu và đi tới xóa bỏ sự khác biệt để trở thành một bộ phận hợp thành chỉnh thể nền kinh tế khu vực và toàn cầu Con đường cơ bản và lâu dài để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế sâu hơn, đầy đủ hơn phải đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức
Trang 61.3 Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là đòi hỏi thiết yếu để xây dựng quan hệ sản xuất mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp chính là quan hệ sản xuất mới phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đây cũng chính là quá trình thực hiện xã hội hóa sản xuất trên thực tế
2 Quan điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức của Việt Nam
Thứ nhất, công nghiệp hóa phải gắn với hiện đại hóa và công nghiệp hóa,
hiện đại hóa phải gắn với phát triển kinh tế tri thức Việt Nam là nước đi sau, xuất phát điểm từ một nền nông nghiệp lạc hậu nên CNH phải gắn với HĐH và CNH -HĐH gắn phát triển kinh tế tri thức để rút ngắn thời gian, để đẩy nhanh hơn nữa quá trình CNH - HĐH, nhằm tranh thủ những tiến bộ khoa học và công nghệ tiên tiến của các nước phát triển và tránh tụt hậu ngày càng xa so với các nước đi trước
Thứ hai, coi phát triển khoa học và công nghệ là nền tảng, động lực CNH
-HĐH Điều đó khẳng định vai trò, vị trí của khoa học công nghệ trong quá trình CNH - HĐH Tiến hành CNH - HĐH phải dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ Trên cơ sở nền tảng vững chắc đó để tạo ra năng suất, chất lượng, hiệu quả
Thứ ba, lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển
nhanh và bền vững Con người là trung tâm của sự phát triển Phát triển vì mục đích con người, do con người, vì con người Chính vì vậy khi tiến hành CNH -HĐH phải luôn quan tâm tới yếu tố con người, nâng cao năng suất lao động cũng như đời sống vật chất và tinh thần của con người
Thứ tư, CNH - HĐH gắn với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế Mô hình kinh tế nước ta xây dựng là nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN Vì vậy, CNH - HĐH là một nhiệm vụ kinh tế rất quan trọng của nước ta, nhằm nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy KTXH phát triển.Kinh tế thị trường cũng nhằm nâng cao năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội Do vậy, CNH - HĐH cần gắn với phát triển kinh tế thị trường
Trang 7Thứ năm, phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi
với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học Phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững đó là xu hướng phát triển của các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Thống nhất quan điểm phát triển bền vững, gắn kết giữa mục tiêu kinh tế với mục tiêu xã hội và mục tiêu môi trường
III Nội dung đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
- Mục tiêu tổng quát của CNH - HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức: Từ nay
đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng XHCN (Đại hội XII)
- Mục tiêu lâu dài của CNH - HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức.
- Mục tiêu cụ thể giai đoạn 2016 - 2020: “Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” (Đại hội XII).
- CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức khi kết thúc là một quá trình
“lồng ghép”, phải thực hiện cùng lúc ba tiến trình: đẩy mạnh công nghiệp hóa;
hiện đại hóa đất nước; phát triển kinh tế tri thức
IV Điều kiện và giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
1 Điều kiện đảm bảo đẩy mạnh CNH - HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức
- Ổn định chính trị
- Ổn định xã hội
2 Giải pháp đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức
- Giải pháp bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô
+ Ổn định kinh tế vĩ mô là việc bảo đảm cho nền kinh tế quốc gia giảm thiểu tình trạng dễ bị tổn thương trước các cú sốc từ bên ngoài, từ đó tạo ra triển vọng tăng trưởng bền vững
Trang 8+ Sự ổn định về kinh tế vĩ mô có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của các chủ kinh tế và của toàn bộ nền kinh tế quốc dân + Giải pháp chủ yếu để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô là chính sách kinh tế của nhà nước phải nhất quán, không chồng chéo, mâu thuẫn, loại trừ nhau và phải duy trì ổn định lâu dài, bảo đảm an sinh xã hội, đẩy mạnh cải cách hành chính…
- Giải pháp xây dựng hệ thống thể chế kinh tế thị trường dựa trên tiến bộ của khoa học, công nghệ và tri thức
+ Thể chế kinh tế thị trường là tổng thể các bộ quy tắc, luật lệ và hệ thống các
thực thể, tổ chức kinh tế được tạo lập nhằm điều chỉnh các hoạt động trao đổi, giao dịch của các chủ thể thị trường
+ Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN là tổng thể đường lối, chủ trương, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, hệ thống pháp luật, chính sách, hệ thống đảm bảo xã hội, các quy tắc, quy chế của Đảng và Nhà nước nhằm định hướng nền kinh tế thị trường theo mục tiêu lựa chọn
+ Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN khi đã được tạo lập và hoàn thiện đồng bộ với trình độ hiện đại thì có vai trò rất quan trọng trong việc tạo tiền
đề ổn định kinh tế vĩ mô
+ Hoàn thiện thể chế về sở hữu theo hướng thể chế hoá đầy đủ quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân Bảo đảm công khai, minh bạch về nghĩa vụ và trách nhiệm trong thủ tục hành chính nhà nước và dịch vụ công để quyền, bảo đảm hiệu lực thực thi và bảo vệ có hiệu quả quyền sở hữu tài sản
+ Hoàn thiện thể chế về phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp theo hướng nhất quán một chế độ pháp lý kinh doanh
+ Hoàn thiện thể chế phát triển các yếu tố và các loại thị trường tạo sự đồng
bộ, bảo đảm vận hành thông suốt các thị trường
+ Hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với phát triển bền vững + Hoàn thiện thể chế đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế
- Giải pháp thúc đẩy phát triển nguồn tài nguyên trí lực
Trang 9+ Trong bối cảnh nhân loại đang chuyển mạnh sang phát triển kinh tế tri thức,
tiến vào nền văn minh trí tuệ, thì nguồn tài nguyên trí lực lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết
+ Thực hiện Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 và Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020
+ Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội
+ Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả GD&ĐT
+ Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của GD&ĐT theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học
+ Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập
+ Đổi mới căn bản quản lý GD&ĐT, bảo đảm dân chủ, thống nhất…
+ Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính tạo động lực cho người dạy, người học, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội
+ Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là KH giáo dục và khoa học quản lý
- Giải pháp đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ
+ Đảng ta xác định KH&CN là một quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động
lực của CNH, HĐH đất nước Khoa học và công nghệ là động lực quan trọng nhất
để phát triển LLSX hiện đại, là yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh trên thị trường, quyết định tốc độ tiến hành CNH - HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức
+ Tiếp tục đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KH&CN; Tăng cường tiềm lực KH&CN quốc gia; Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, gắn nhiệm vụ phát triển KH&CN với nhiệm vụ phát triển KT-XH ở các cấp, các ngành
+ Nhà nước tăng mức đầu tư và ưu tiên đầu tư cho các nhiệm vụ KH&CN quốc gia, các sản phẩm quốc gia Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực, đặc biệt là của các doanh nghiệp cho đầu tư phát triển KH&CN
Trang 10+ Phát triển thị trường KH&CN gắn với thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ nhằm thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, khuyến khích sáng tạo KH&CN
+ Hội nhập quốc tế về KH&CN là mục tiêu đồng thời là giải pháp quan trọng để góp phần đưa KH&CN
- Giải pháp tạo lập, sử dụng hiệu quả nguồn lực vốn, tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
+ Theo nghĩa hẹp, vốn là một trong các nguồn lực của sản xuất được biểu
hiện bằng tiền của các giá trị của cải do con người tạo ra và tích lũy lại
+ Theo nghĩa rộng, thì vốn là những tài sản có khả năng tạo ra thu nhập, là biểu hiện bằng tiền của các nguồn lực
+ Vốn là nguồn lực không thể thiếu cho phát triển kinh tế nói chung, CNH, HĐH nói riêng; nó bảo đảm các dự án đầu tư được thực hiện
+ Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách thu đi đôi với cơ cấu lại thu và đảm bảo nhu cầu chi tiêu cần thiết, hợp lý của NSNN
+ Nghiên cứu sưa đổi, bổ sung, ban hành chính sách thu NSNN liên quan đến hoạt động thăm dò, khai thác và sư dụng tài nguyên đảm bảo thống nhất, phù hợp nhằm góp phần bảo vệ, khai thác, sư dụng tài nguyên hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ môi trường
+ Rà soát, sư dụng tốt các kênh huy động vốn, đa dạng hóa các công cụ đầu
tư tài chính để huy động có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước
+ Đẩy mạnh việc hoàn thiện môi trường pháp lý theo hướng huy động và sư dụng có hiệu quả các nguồn vốn vay nợ phục vụ mục tiêu CNH, HĐH, đảm bảo an toàn về nợ và an ninh tài chính quốc gia
- Giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả hội nhập KTQT
+ Chủ động, tích cực hội nhập KTQT; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ
KTQT, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác cụ thể; kết hợp hiệu quả ngoại lực và nội lực, gắn hội nhập KTQT với xây dựng nền kinh tế độc lập
+ Rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm thực thi có