Luận Văn: Một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh phát triển kinh tế quận Cầu Giấy từ các xã - thị trấn trong quá trình đô thị hoá
Trang 1A LỜI MỞ ĐẦU 3
B NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÔ THỊ HOÁ VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỪ CÁC XÃ - THỊ TRẤN THÀNH QUẬN NỘI THÀNH 5
1.1 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ, ĐẶC TRƯNG ĐÔ THỊ HOÁ 5
1.1.1 Khái niệm, đặc trưng, phân loại đô thị 5
1.1.1.1 Khái niệm đô thị 5
1.1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của đô thị 6
1.1.1.2 Phân loại đô thị 9
1.1.2 Khái niệm, đặc trưng và tính tất yếu của đô thị hoá 10
1.1.2.1 Khái niệm về đô thị hoá 10
1.1.2.2 Đặc điểm của đô thị hoá 13
1.1.2.3 Vai trò của đô thị hoá 15
1.1.2.4 Tính tất yếu của đô thị hoá 16
1.1.2.5 Một số chỉ tiêu chí đánh giá trình độ đô thị hoá 19
1.2 BẢN CHẤT CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ 20
1.2.1 Bản chất của phát phát triển kinh tế 20
1.2.1.1 Bản chất của tăng trưởng kinh tế 21
1.2.1.2 Bản chất của phát triển kinh tế 21
1.2.1.3 Phát triển kinh tế bền vững 22
1.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá phát triển kinh tế 24
1.2.2.1 Đánh giá tăng trưởng kinh tế 24
1.2.2.2 Đánh giá về cơ cấu kinh tế 25
1.2.2.3 Đánh giá sự phát triển xã hội 26
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT T RIỂN KINH TẾ CỦA QUẬN CẦU GIẤY TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ 28
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI QUẬN CẦU GIẤY ẢNH HƯỞNG TỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ 28
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 28
2.1.1.1 Vị trí địa lý của Quận 28
2.1.1.2 Điều kiện thời tiết khí hậu 29
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 30
2.1.2.1 Đặc điểm kinh tế 30
2.1.2.2 Đặc điểm xã hội 32
2.1.3 Những ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tới phát triển kinh tế trong quá trình đô thị hoá 34
2.1.3.1 Tác động tích cực 34
2.1.4.2 Tác động tiêu cực 35
2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ QUẬN CẦU GIẤY TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ 36
Trang 22.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế chung của quận Cầu Giấy 36
2.2.2 Thực trạng phát triển các ngành và nội bộ ngành 39
2.2.2.1 Về công nghiệp và xây dựng cơ bản 39
2.2.2.2 Về thương mại, dịch vụ 41
2.2.2.3 Về nông nghiệp 45
2.2.2.4 Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật 48
2.3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN PHẢI GIẢI QUYẾT VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG VẤN ĐỀ ĐÓ 49
2.3.1 Những vấn đề đặt ra 49
2.3.2 Nguyên nhân của những vấn đề trên 52
2.3.2.1 Nguyên nhân khách quan 52
2.3.2.2 Nguyên nhân chủ quan 53
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ 54
3.1 ĐỊNH HƯỚNG 54
3.2 MỤC TIÊU 55
3.2.1 Mục tiêu tổng quát 55
3.2.2 Nhiệm vụ trọng tâm 56
3.2.3 Các chỉ tiêu chủ yếu 57
3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ QUẬN CẦU GIẤY TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ 58
3.3.1 Tiến hành thực hiện rà soát và điều chỉnh lại quy hoạch 58
3.3.2 Thực hiện tuyên truyền chủ trương, chính sách phát triển kinh tế trên địa bàn 59
3.3.3 Nâng cao trình độ và chất lượng người lao động 60
3.3.4 Thu hút nguồn vốn đầu tư 61
3.3.5 Tăng cường kiểm tra, giám sát thị trường 62
3.3.6 Tăng cường công tác bảo đảm an ninh chính trị trên địa bàn 63
C KẾT LUẬN 65
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
A LỜI MỞ ĐẦU
Phát triển kinh tế nhằm đưa tới cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn là mục tiêu phấn đấu của tất cả các vùng và quốc gia trên thế giới Phát triển kinh tế là động cơ thúc đẩy quá trình đô thị hoá thực hiện nhanh và hiệu quả hơn
Tại quận Cầu Giấy quá trình đô thị hoá đã bắt đầu diễn ra ngay từ khi quận được thành lập từ những năm 1997 cho tới nay song quá trình đô thị hoá là
Trang 3quá trình diễn ra trong thời gian dài nên cho tới nay Kinh tế trên địa bàn quận đãphát triển nhanh chóng trong những năm qua và kết quả của nó là thu nhập củangười dân và mức sống của dân cư cũng tăng lên nhanh chóng và ngày càng tốthơn.
Song cùng với quá trình phát triển kinh tế đó đã nảy sinh nhiều vấn đề cầnphải giải quyết đặc biệt là phải đẩy mạnh phát triển kinh tế để rút ngắn thời giancủa quá trình đô thị hoá trên địa bàn quận đồng thời đưa quận Cầu Giấy trở thànhquận phát triển so với cả Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung Căn cứ vào tìnhhình cụ thể của quận Cầu Giấy em xin nêu lên một số giải pháp chủ yếu để thúc
đẩy phát triển kinh tế thông qua chuyên đề tốt nghiệp có tên là: “ Một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh phát triển kinh tế quận Cầu Giấy từ các xã - thị trấn trong quá trình đô thị hoá”.
Trong chuyên đề có nêu lên những vấn đề về lý luận, thực trạng phát triểncủa địa phương và một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh phát triển kinh tế quậnCầu Giấy Các nội dung đó sẽ được trình bày ở các chưong như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận về đô thị hoá và phát triển kinh tế từ các xã - thị trấn thành quận nội thành.
Chương 2 Thực trạng phát triển kinh tế quận Cầu Giấy trong quá trình
đô thị hoá
Chương 3 Phương hướng và giải pháp tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh
tế trong quá trình đô thị hoá
Trong mỗi chương đã trình bày theo đúng tên của chương song trong quátrình thực hiện còn những sai sót ngoài mong đợi của bản thân và cũng do hạnchế trong kiến thức mong các thầy, các cô thông cảm
Trang 4Em xin chân thành cảm ơn tập thể Phòng Kinh tế - Kế hoạch - Quận uỷCầu Giấy đã giúp đỡ em trong quá trình thực tập tại đây và cung cấp tài liệu để
em có thể hoàn thành Chuyên đề tốt nghiệp này!
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và chỉ bảo thân tình của Thầy giáoPGS.TS Phạm Văn Khôi để em có thể hoàn thành chuyên đề!
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5B NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÔ THỊ HOÁ VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỪ CÁC XÃ - THỊ TRẤN THÀNH QUẬN NỘI THÀNH
1.1 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ, ĐẶC TRƯNG ĐÔ THỊ HOÁ
1.1.1 Khái niệm, đặc trưng, phân loại đô thị
1.1.1.1 Khái niệm đô thị
Chúng ta có rất nhiều cách định nghĩa về đô thị hoá và các định nghĩa đóđứng trên những quan điểm khác nhau và nó tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứucủa từng lĩnh vực, chúng ta có thể hiểu đô thị theo một số các sau và chúng cómối liên quan tới mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Một là, theo từ biển Bách khoa toàn thư Việt Nam thì đô thị là một khônggian cư trú của cộng động người sống tập trung và hoạt động trong những khuvực kinh tế phi nông nghiệp
Hai là, đô thị là nơi tập trung dân cư chủ yếu là là lao động phi nôngnghiệp, sống và làm việc theo kiểu đô thị hoá
Ba là, đô thị là nơi có mật độ dân cư cao, chủ yếu là lao động phi nôngnghiệp, có cơ sở hạ tầng phát triển, là trung tâm văn hoá hay chính trị của cáccấp, ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển của đất nước, tỉnh (thành phố), huyện(quận)
Nói chung tất cả các khái niệm về đô thị chỉ mang tính chất tương đối do
sự khác nhau về trình độ phát triển của kinh tế - xã hội và điều kiện tự nhiên.Song chúng đều thống nhất trên hai tiêu chuẩn đê phân biệt đô thị và nông thôn
Trang 6đó là đô thị là những thành phố, thị xã, thị trấn có dân số trên 2000 người vàtrong đó trên 60% là sản xuất phi nông nghiệp.
1.1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của đô thị
1/ Đô thị là nơi tập trung nhiều vấn đề và nó có tính chất toàn cầu:
Vấn đề môi trường: cùng với tốc độ gia tăng nhanh chóng về côngnghiệp hoá và đô thị hoá là tốc độ gia tăng phá vỡ môi trường sinh thái tại đô thị.Quá trình đô thị hoá càng nhanh thì tốc độ phá huỷ môi trường sinh thái càngnhanh, điều này gây nên hiện tượng ô nhiễm môi trường sống cho khu vực dân
cư … vấn đề này đang đặt ra bài toán cho việc tính toán phát triển đô thị sao chovừa nhanh vừa phải đảm bảo môi trường không bị ô nhiễm, tất cả các đô thị đã
và đang hình thành, phát triển hiện nay đều gặp phải vấn đề ô nhiễm môi trường
mà thường ngày càng nặng nề hơn Nguyên nhân chủ yếu của vấn nạn này đó lafkhi tốc độ cnh nhanh thì lượng chất thải thải ra môi trờng càng lớn và trong điềukiện khi bắt đầu tiến hành đô thị hoá thì khả năng tào chính và kinh nghiệm cònhạn chế nên khó có thể tiến hành áp và thực hiện những chính sách về bảo vệmôi trường sinh thái hoặc có áp dụng cũng còn rất hạn chế
Vấn đề dân số cũng là vấn đề lớn cần phải giải quyết của quá trình đôthị hoá Ở những khu vực đô thị hoá thì việc tăng dân số là không thể tránh khỏi.Việc tăng dân số này có nguồn gốc là tăng dân số tự nhiên và tăng dân số cơ học,song tại đô thị thì tăng dân số cơ học là chính Quá trình đô thị hoá đã tạo ra sứchút mạnh mẽ đối với lực lượng lao động đông đảo từ các khu vực lân cận tới đây
để sinh cơ lập nghiệp Đô thị là một địa bàn hẹp nên với lượng dân cư đông đảo
đã làm gia tăng thêm mật độ dân cư, mật độ dân cư do đó đã tăng nhanh chóng
và có tác động xấu tới môi trường sinh thái và xã hội Việc tăng dân số nhanh và
Trang 7mạnh như vậy vừa có những tác động tích cực vừa có tác động tiêu cực, tiêu cựcnhư trên đã trình bày Yếu tố tích cực ở đây là nó thu hút nhiều lao động có trình
độ chuyên môn hoặc có sức khoẻ tốt đáp ứng nhu cầu lao động cho quá trìnhcông nghiệp hoá và đô thị hoá
Vấn đề tổ chức không gian và môi trường sống: do dân số quá đônglại sống và sinh hoạt trên một địa bàn chật hẹp đã gây ra tình trạng mật độ dân cưquá đông khiến việc bố trí không gian xinh hoạt cho người dân và bố trí nhữngđịa điểm văn hoá, thể thao gặp nhiều khó khăn
2/ Thành thị và nông thôn luôn có mối quan hệ và mối quan hệ này ngàycàng trở nên quan trọng hơn:
Quá trình đô thị hoá dù thực hiện theo hình thức đô thị phân tán hay tậptrung đều gây ra những ảnh hưởng tới môi trường sinh thái song đo thị hoá phântán thì vấn đề đó dó giảm hơn nhiều so với đô thị hoá tập trung và chúng ta cóthể giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường nhanh chóng và hiệu quả hơn.Thành thị và nông thôn có mối quan hệ với nhau, mối quan hệ này tương đốikhăng khít tuy rằng ở hai nơi có điều kiện sống và sinh hoạt khác nhau vì chủyếu dân cư ở thành thị là từ khu vực nông thôn chuyển ra Ở đầu quá trình đô thịhoá thì nông thôn là tiền đề về cơ sở vật chất kỹ thuật và điều kiện kinh tế choquá trình phát triển đó, ngược lại trong quá trình đô thị hoá thì thành thị lại làđiều kiện thúc đẩy nông thôn phát triển theo Đặc biệt với quá trình đô thị hoáphân tán thì khả năng thúc đẩy phát triển kinh tế và điều kiện sống tạo vùngnông thôn nhanh và mạnh hơn
3/ Đô thị hoá mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất kỹthuật, kinh tế và xã hội Đó có nghĩa là đô thị hoá được hình thành theo quá trìnhlịch sử chứ không phải một chốc, một lát là có, nó là quá trình kế thừa những
Trang 8thành tựu của những thế hệ đi trước khai phá nên những điều kiện ban đầu choquá trình phát triển của đô thị từ nông thôn lên.
4/ Đô thị so với nông thông thì có một số những đặc trưng riêng có, cụ thể
đó là những đặc trưng sau:
Dân cư đô thị có nhu cầu trao đổi, thông thương buôn bán do ở đây
dó trình độ tập trung và chuyên môn hoá cao nên lượng sản phẩm làm ra ngàycàng nhiều và chủ yếu cac sản phẩm đó là sản phẩm công nghiệp chứ không thểsản xuất ra những sản phẩm thiết yếu nuôi sông con người Nên người dân đô thị
có nhu cầu trao đổi lương thực, thực phẩm với những nông dân hay nhữngthương nhân Bên cạnh đó tạo những đô thị còn có những thì đất, lao động, dịch
vụ, thị trường tài chính ngân hàng…
Số lượng vốn được đầu tư vào các ngành luôn cao hơn nhiều lần sovới lượng vốn được đầu tư vào các ngành tại khu vực nông thôn, do đó, hạ tầng,
kỹ thuật và điều kiện sống về vật chất ở đây cao hơn hẳn so với khu vực nôngthôn Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng của đô thị như hệ thống đườnggiao thông, hệ thống bệnh viện và trạm y tế… tương đối hoàn thiện và đồng bộ
do yêu cầu khách quan của quá trình đô thị hoá Điều đó bắt nguồn từ yêu cầukhách quan của quá trình đô thị hoá, đó là điều kiện thúc đẩy quá trình đô thị hoáphát triển nhanh và mạnh
Đô thị có nền an ninh trật tự khó đảm bảo so với nông thôn song nóluôn được duy trì tốt Tính không ổn định của nó là do đô thị là nơi tập trung củarất nhiều thành phần vởi đủ các tầng lớp dân cư và dân số ở đây chủ yếu là từ cácnơi khác chuyển đến với phong tục tập quán khác nhau song lại chung mục đích
là làm kinh tế nên có thể va chạm với nhau gây nên sự mất ổn định cho xã hội
Trang 9Để duy trì sự ổn định cho đô thị chúng ta luôn phải bỏ ra một khoản chi phí của
về vật chất và con người lớn hơn rất nhiều so với khu vực nông thôn
1.1.1.2 Phân loại đô thị
Chúng ta có nhiều cách tiếp cận để tìm hiểu về khái niệm đô thị trên cơ sở
đó chúng ta có nhiều cách đề phân laọi đô thị Có thể chúng ta phân loại đô thịtheo tiêu chí sau:
Phân loại đô thị theo quy mô dân số
Phân loại theo tính chất hành chính
Phân loại theo chức năng hoạt động
Phân loại theo cơ cấu lao động
Phân loại theo mức độ hoàn thiện cơ sở hạ tầng
Song chúng ta chủ yếu phân loại theo hai cách đó là phân loạ theo tínhchất hành chính và phân loại theo quy mô dân số Ở đây chúng ta chỉ nghiên cứucách phân loại theo quy mô dân số:
Phân loại theo quy mô dân số thì có các loại đô thị sau:
Đô thị loại 1: đô thị có quy mô rất lớn: là những trung tâm kinh tế,chính trị, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, giao lưư quốc tế có vai trò thúc đẩy pháttriển kinh tế của cả nước; đây là đô thị có quy mô dân số trên 1triệu dân, mật độdân cư là 15000người/km2 Lao động phi nông nghiệp chiếm trên 90%; cơ sởvật chất kỹ thuật hạ tầng đồng bộ và hoàn thiện
Đô thị loại 2: đô thị có quy mô lớn là những trung tâm kinh tế chính trị,văn hoá, khoa học - kỹ thuật, du lịch, giao lưu quốc tế, có vai trò thúc đẩy pháttriển kinh tế của một vùng lãnh thổ; dân số trên 35 vạn người, mật độ dân cư là
12000 người/km2, lao động phi nông nghiệp trên 90%, cơ sở vật chất kỹ thuậttương đối hoàn chỉnh và tiến tới hoàn thiện
Trang 10 Đô thị loại 3: đô thị có quy mô trung bình: là những trung tâm kinh tế chính trị, văn hoá, nơi sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thương mại; dân số từ 10 –
-35 vạn người, mật độ dân số 10 000 người/km2; lao động phi nông nghiệp trên80%; cơ sở kỹ thuật hạ tầng được đầu tư xây dựng từng phần
Đô thị loại 4: đô thị có quy mô trung bình nhỏ: là những trung tâm kinh
tế, chính trị, văn hoá hoặc là nơi chuyên sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thươngnghiệp có vai trò thúc đẩy kinh tế của tỉnh hoặc một vùng trong tỉnh Dân số đôthị: 3- 10 vạn người, mật độ dân cư: 8 000người/km2; lao động phi nông nghiệptrên 70%, đã và đang đầu tư xây dựng kỹ thuật hạ tầng và các công trình côngcộng từng phần
Đô thị loại 5: đô thị có quy mô nhỏ: là những trung tâm tổng hợp củahuyện hay một vùng trong huyện có vai trò thúc đẩy kinh tế của vùng và có quy
mô dân số dưới 3 vạn người, mật độ dân số 6000người/km2 Lao động phi nôngnghiệp chiếm trên 60% Bước đầu xây dựng một số công trình công cộng và kỹthuật hạ tầng
1.1.2 Khái niệm, đặc trưng và tính tất yếu của đô thị hoá
1.1.2.1 Khái niệm về đô thị hoá
Trên quan điểm đô thị trên chúng ta có thể đưa ra khái niệm về đô thị hoánhư sau:
Trên quan điểm của một vùng: đô thị hoá là quá trình hình thành vàphát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị
Trên quan điểm của nền kinh tế quốc dân: đô thị hoá là quá trình biếnđổi về sự phân bố các yếu tố nguồn lực sản xuất, bố trí dân cư những vùngkhông phải đô thị thành đô thị
Trang 11Hay chúng ta có thể hiểu một cách nôm na, đô thị là chúng ta đã đạt đượcnhững chỉ tiêu để đánh giá là đô thị và những chỉ tiêu đó là những chỉ tiêu đãđược các cơ quan có thẩm quyền dựa vào trình độ phát triển và văn minh đô thị
để đề ra có sự tham khảo các chỉ tiêu của các quốc gia trên thế giới Đô thị lànhững vùng có trình độ phát triển cao về kinh tế và xã hội
Còn quá trình đô thị hoá là quá trình chuyển đổi khu vực sản xuất nôngnghiệp với những đặc trưng cơ bản về kinh tế, văn hoá, xã hội của vùng nôngthôn lên những đặc trưng kinh tế, xã hội theo kiểu đô thị, ở đấy sản xuất khôngcòn mang nặng tính nông nghiệp nữa mà sản xuất công nghiệp và dịch vụ là chủyếu Hay đây chính là thời kỳ quá độ từ nông thôn lên thành thị
Đô thị hoá là quá trình tất yếu trong qúa trình công nghiệp hoá và hiện đạihoá đất nước và chúng ta càng đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá thì đời sống dân cư sẽngày càng tăng nhanh hay chất lượng cuộc sống của con người ngày một đượcnâng cao Quá trình đô thị hoá là quá trình mang tính lịch sử song có sự tác độngrất lớn của con người, con người tác động tích cực hay tiêu cực đều có ảnhhưởng lớn tới quá trình đô thị hoá Khi chúng ta có cách thức tiến hành đô thịhoá phù hợp thì quá trình đô thị hoá sẽ được đẩy nhanh và như thế đô thị sẽ đượchình thành nhanh chóng và cóp hiệu quả
Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới và thực tế ở nước ta thì quátrình đô thị hoá được chia thành hai xu hướng khá rõ nét đó là đô thị hoá tậptrung và đô thị hoá phân tán
Đô thị hoá tập trung là hình thức mà toàn bộ công nghiệp và dịch vụ côngcộng được tập trung phát triển vào các thành phố lớn và xung quanh tạo nênthành phố công nghiệp, tạo nên sự đối lập lớn giữa thành thị và nông thôn Xu
Trang 12hướng đô thị hoá này gây ra nhiều vấn đề mà các quá trình sau đó phải tiến hànhkhắc phục và giải quyết các vấn đề về môi trường sinh thái và vấn đề xã hội.
Đô thị hoá phân tán hay còn gọi là quá trình hình thành đô thị vệ tinh, hìnhthức đô thị này đã giải quyết các vấn đề khó khăn và trở ngại của đô thị hoá tậptrung Đô thị hoá phân tán là hình thức hình thành các mạng lưới điểm dân cư cótrình độ phát triển hợp lý giữa công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ
Đô thị hoá phân tán đảm bảo tính cân bằng sinh thái, tạo điều kiện cho conngười sống và làm việc tốt hơn Quá trình đô thị hoá phân tán khi hoàn thành sẽtạo ra sự biến đổi sâu sắc về kinh tế, văn hoá, xã hội và đặc biệt là hệ thống cơ sởvật chất kỹ thuật
Chúng ta thấy rằng đô thị hoá tập trung sẽ có nhiều vấn đề xã hội đặt ra vì
đó là quá trình dân cư tập trung quá đông vào một khu vực khhiến cho các vấn
đề nảy sinh như: nhà ở, y tế, môi trường… khó có thể giải quyết được và quátrình đô thị hoá như thế này sẽ khiến quá trình đô thị hoá không bền vững vàphải giải quyết những vấn đề nặng nề
Thực tế chững minh rằng, khi đô thị hoá phân tán sẽ phải mật nhiều thờigian hơn đô thị hoá tập trung song tính tổng thể nền kinh tế quốc dân thì nhanhhơn khi chúng ta phải tiến hành trên toàn bộ khu vực lãnh thổ của nước ta và khihoàn thành đô thị hoá phân tán thì chúng ta không phải giải quyết những vấn đề
xã hội sâu sắc như đô thị hoá tập trung
Ngày nay, quá trình đô thị hoá được tiến hành nhanh và có hiệu qủa hơntrước do tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại, đặc biệt ngày nay còn
có sự tác động đắc lực của công nghệ thông tin vào quá trình đô thị hoá Đây lànhững tiền đề cho phép chúng ta tiến hành đô thị hoá nhanh hơn và có hiệu quảhơn Đô thị hoá tập trung sẽ được tiến hành nhanh và tương đối có hiệu quả nếu
Trang 13chỉ tính trong ngắn hạn vì chúng ta chỉ mất thời gian ngắn có thể hình thành các
đô thị có trình độ phát triển cao, mà điển hình là ở các nước phát triển thì việc đôthị hoá tập trung là chủ yếu và ngày nay phải đối mặt với chênh lệch giữa thànhthị và nông thôn đồng thời phải giải quyết vấn đề dân cư và xã hội Dân cư ở cácthành phố này tập trung rất đông, khiến các vấn đề xã hội này sinh ngày một lớn
và để giải quyết phải bỏ ra một khoản chi phí khổng lồ
Tóm lại, chúng ta là một nước thực hiện đô thị hoá sau các nước trên thếgiới nên cần phải xem xét các mô hình đô thị hoá trên thế giới đồng thời phải căn
cứ vào tình hình cụ thể của từng địa phương mà chúng ta có thể áp dụng hìnhthức đô thị hoá phân tán hoặc kết hợp giữa hai hình thức đó Song chúng ta vẫntập trung ưu tiên cho phát triển đô thị theo hướng đô thị hoá phân tán hay còn gọi
là phát triển đô thị vệ tinh bao quanh các đô thị lớn để giảm sức ép về xã hội chocác đô thị lớn
1.1.2.2 Đặc điểm của đô thị hoá
Đô thị hoá mang tính lịch sử và xã hội: ở đây đô thị hoá mang tính xãhội vì quá trình đô thị hoá là quá trình tăng lên nhanh chóng của dân cư và laođộng mà chủ yếu là tăng dân số do biến động cơ học Đi đôi với nó là các vấn đề
xã hội nảy sinh đó là các vần đề về nhà ở, khu vực phục vụ sinh hoạt cộng đồng,giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao… qúa trình đô thị hoá phát triển từ thấp tới caotức là quá trình đó trước hết là hình thành và phát triển những khu đô thị với quy
mô nhỏ cùng trình độ thấp về các mặt đồng thời mang nặng tính nông thôn vàdần dần thay đổi Việc thay đổi này sớm hay muôn là do sự tác động của conngười là chủ yếu Trong quá trình hình thành và phát triển thì đô thị sẽ ngày càng
Trang 14hiện đại và có quy mô ngày càng lớn hơn Quá trình đô thị hoá cần phải trải quamột thời gian, thời gian này ngắn hay dài là do nhiều yếu tố tác động, trong đó
có cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan Ở đây yếu tố khách quan là quantrọng song yếu tố chủ quan mới là yếu tố quyết định
Đô thị hoá gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội: chúng tathấy rằng đỉêm khởi đầu của quá trình đô thị hoá là một khu dân cư có trình độphát triển thấp và mang nặng tính sản xuất nông nghiệp, lối sống nông thôn vàđích đến của quá trình đô thị hoá là một xã hội có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đạicùng lối sống kiểu thành thị song đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc Tính chất đậm
đà bản sắc văn hoá dân tộc có thể có những nơi không thực hiện Việc thay đổi
về kinh tế - xã hội như thế trong một thời gian tương đối ngắn thì điều đó khẳngđịnh tính gắn bó mật thiết giữa biến đổi về kinh tế - xã hội với quá trình đô thịhoá Trong quá trình đô thị hoá thì trước hết hết thảy mọi người đều quan tâm tớiviệc phát triển kinh tế song để có thể phát triển được kinh tế thì chúng ta cần rấtnhiều yếu tố phụ trợ cho nó, đó là cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng, hệ thốngđường giao thông…
Đô thị hoá là quá trình tập trung dân số ở đô thị và hình thành nhanhchóng các điểm dân cư do yêu cầu của công nghiệp hoá và hiện đại hoá: vì nhưvậy mới có thể đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động tại các nhà máy và cáccông trường Đề tiến hành công nghiệp hoá và hiện đạo hoá từ nền nông nghiệpthì chúng ta phải cần nhiều lao động, lao động trong những ngành công nghiệp.Sau đó tới quá trình hiện đại hoá thì ngựơc lại là ngày càng sử dụng ít lao động
và gần như không sử dụng lao động vào các công việc nặng nhọc, khi đó chúng
ta sử dụng máy móc là chính
1.1.2.3 Vai trò của đô thị hoá
Trang 15 Trước hết chúng ta có thể nhận thấy vai trò của đô thị hoá là thúc đẩytốc độ công nghiệp hoá và hiện đại hoá Quá trình công nghiệp hoá và hiện đạihoá muốn thành công thì cần phải chuyển đổi căn bản cơ cấu kinh tế từ sx nôngnghiệp sang sản xuất công nghiệp với kỹ thuật cao, nâng cao trình độ lực lượngsản xuất Quá trình đô thị hoá tạo điều kiện để tập trung dân cư với đa số là laođộng có trình độ lao động cao như vậy vô hình dung nó đã mang lại một nguồnnhân lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá Bên cạnh là khu vực tiến hành đôthị hoá còn được đầu tư về cơ sở hạ tầng và những điều kiện tiên quyết cho quátrình phát triển đô thị cùng với đó quá trình đô thị hoá sẽ biến những khởi điểmban đầu đó thành những công trình kiến trúc theo đúng ý đồ phát triển đô thị củacác nhà hoạch định.
Đô thị hoá đặc biệt là đô thị hoá phân tán giúp chúng ta giải quyết đượcnhiều vấn đề khó khăn trước mắt của xã hội như các tệ nạn xã hội: rượu chè, cờbạc, ma tuý … Quá trình đô thị hoá bắt buộc mọi người phải tiến hành lao độngmới có khả năng tìm kiếm và nâng cao thu nhập của bản thân và gia đình nhưvậy họ đã góp phần vào công tác chống những tệ nạn xã hội Thứ hai, nhờ vàotình hình quá trình đô thị hoá mà chúng ta có khả năng giải quyết được nhữngvấn đề về thu nhập và việc làm từ đó nâng cao được đời sống kinh tế và văn hoácho người dân Người đời có câu “Có thực mới vực được đạo” có ý nói rằng khikinh tế phát triển, khi có đủ ăn thì con người mới nhớ tới đạo đức được, như vậy
đô thị hoá đã góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội và nân cao đờisống vật chất và tinh thần cho người lao động nói riêng và toàn xã hội nói chung.Đồng thời chúng ta thực hiện việc đô thị hoá phân tán tạo điều kiện phát triểnkinh tế không chỉ ở những đô thị lớn mà còn những đô thị phân tán, điều đó đãhạn chế việc di dân từ nông thôn ra thành thị Nhờ đó giảm sức ép về các vấn đề
Trang 16xã hội cho các đô thị lớn Mặt khác đô thị hoá phân tán còn tạo điều kiện để khôiphục các làng nghề, ngành nghề truyền thống kể cả những ngành nghề và làngnghề đã mai một, thực tế hiện nay ở nước ta đã chứng minh được điều này.
Nâng cao thu nhập không chỉ cho người lao động mà còn nâng caoGDP cho toàn xã hội và thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá đất nước Kết quảcủa quá trình đô thị hoá là mở rộng và phát triển đô thị đã đóng góp tỷ trọng lớn(40%) tổng thu nhập quốc dân và cho 36% ngân sách nhà nước Có thể nói đô thị
là nguồn thu chủ yêú cho nhà nước vì trong cơ cấu của chúng ta nguồn thu từkhu vực nông thôn rất nhỏ và nguồn thu đó chúng ta lại dùng phần lớn vào pháttriển kinh tế và trợ cấp cho nông nghiệp
1.1.2.4 Tính tất yếu của đô thị hoá
Đối với nước ta có điểm xuất phát là nước nông nghiệp lạc hậu mang nặngtính truyền thống, tự cung, tự cấp đang dần chuyển sang nền kinh tế thị trườngtheo định hướng xã hội chủ nghĩa và từng bước xây dựng điều kiện vật chất kỹthuật hạ tầng Chủ nghĩa Cộng sản nên chúng ta phải tiến hành công cuộc côngnghiệp hoá và hiện đại hoá là tất yếu khách quan đặc biệt là phải tiến hành côngnghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Để có thể thực hiện côngnghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thì có nhiều cách song chúng
ta tiến hành đô thị hoá nông nghiệp, nông thôn là phương thức đi có hiệu quảcao
Quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắnliền với quá trình chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế của địa phương đó, vô hình dung
đó cũng là kết quả hay mục tiêu cần đạt đến của quá trình đô thị hoá Khi chúng
Trang 17ta thực hiện đô thị hoá thì cơ cấu kinh tế ở nông thôn thì tỷ trọng của ngành nôngnghiệp có xu hướng và của công nghiệp sẽ tăng, việc tăng hay giảm nhanh haychậm là tuỳ vào tốc độ đô thị hoá của địa phương đó kể cả nền nông nghiệptruyền thống cũng chuyển sang nền nông nghiệp hàng hoá và mọi cái chúng taphải tuân thủ sự phát triển của nền kinh tế thị trường, chúng ta chỉ có thể tácđộng phần nào để đẩy nhanh hay hạn chế mà thôi Trong quá trình công nghiệphoá và hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thì chúng ta phải giải quyết hàngloạt những vấn đề ưu tiên phát triển ngành nào trước, chuyển dịch và bố trí laođộng dôi dư ra làm sao, đầu tư cơ sở vật chất như thế nào…
Theo quy luật duy vật biện chứng thì chúng ta phải làm biến đổi về mặtlượng tới thời điểm nào đó nó sẽ làm biến đổi về chất Đối với nền kinh tế thìchúng ta phải tiến hành làm thay đổi theo hướng phát triển của lực lượng sảnxuất thì tới giai đoạn đó nó sẽ làm thay đổi quan hệ sản xuất Mà hiểu cụ thể đó
là sự thay đổi trình độ sản xuất dẫn tới thay đổi tư duy và lối sống của người laođộng nói riêng và dân cư nói chung Và người quản lý có thể đề ra và thực hiệnnhững định hướng, tạo điều kiện và khai thác những yếu tố tích cực Nếu nhàquản lý có tư duy đúng thì có thể đưa ra những định hướng đúng và tạo đà pháttriển nhanh, mạnh và hiệu quả, giúp quá trình đô thị hoá được diễn ra nhanh hơn,thành công hơn
Tất cả các nước trên thế giới đều tiến hành đô thị hoá và quá trình này đãchở thành tất yếu tố khách quan vì các yếu tố sau:
Một là, về các vấn đề kinh tế: kinh tế là xương sống cho sự tồn tại và suyvong của đất nước và kinh tế là cấu trúc tổng thể của tất cả các ngành, lĩnh vựccủa xã hội, nó gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của các ngành đó.Các ngành cấu tạo nên nền kinh tế đó là các ngành: nông nghiệp, công nghiệp,
Trang 18dịch vụ, thương mại… trong từng giai đoạn thì các ngành nay đóng góp vào nềnkinh tế là khác nhau và do đó nó quyết định tới tính chất của nền kinh tế Cácngành này hình thành và phát triển sẽ thúc đẩy quá trình đô thị hoá diễn ra nhanhhơn và ngược lại quá trình đô thị hoá lại thúc đẩy các ngành phát triển theohướng ngày càng hoàn thiện và theo hướng ngày càng tích cực hơn.
Hai là, về phát triển xã hội: quy mô dân số ngày càng tăng và đòi hỏi phảiđáp ứng ngày càng tăng không chỉ vật chất mà còn về tinh thần Như đòi hỏinâng cao thu nhập, điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng, các khu vui chơigiải trí… Những nhu cầu này vừa là động cơ vừa là động lực cho quá trình đô thịhoá phát triển nhanh chóng hơn và có hiệu quả cao hơn Đặc biệt ngày nay sovới những nước trong khu vực và trên thế giới thì điều kiện sống của chúng taphải mất thời gian dài nữa mới có thể đạt được như họ bây giờ nên đó là yêu cầuđòi hỏi tất yếu phải thực hiện quá trình đô thị hoá, đồng thời cũng là đích đếncủa quá trình đô thị hoá
Ba là, về cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng: Con người luôn hướng và mongmuốn có cuộc sống ấm no, hạnh phúc với những điều kiện giao thông đi lạithuận tiện, giáo dục con người được tốt hơn… điều kiện đó nảy sinh yêu cầu làphải tiến hành đô thị hoá, đô thị hoá sẽ biến những điều mà con người mongmuốn thành hiện thực Đô thị hoá tạo ra những tiền đề vật chất đó cũng làm chotốc độ phát triển kinh tế được nhanh và hiệu quả hơn
Bốn là, quá trình phát triển kinh tế là chúng ta phát triển lực lượng sảnxuất rồi tiến tới biến đổi quan hệ sản xuất Trên thế giới đã chải qua nhiều hìnhthức quan hệ sản xuất và ở mỗi thời kỳ đó nó lại có những đặc trưng riêng, xãhội loại người trong thời kỳ nguyên thuỷ chủ yếu sống dựa vào tự nhiên đã dầnthay đổi đến ngài mà chải quả hình thức phong kiến dồi đến tư bản chủ nghĩa và
Trang 19xã hội chủ nghĩa thì con người dần thay đổi từ dựa vào tự nhiên chuyển sang tựsản xuất để nuôi sống bản thân mình rồi đến tích luỹ để làm giàu Đó là một quátrình lâu dài song là bước phát triển của con người.
1.1.2.5 Một số chỉ tiêu chí đánh giá trình độ đô thị hoá
Đô thị hoá theo chiều sâu:
Các chỉ tiêu định tính:
Tổng thu nhập xã hội / đầu người
Các chỉ tiêu đô thị/người: diện tích cây xanh; diện tích đườnggiao thông: diện tích các công trình công cộng…
Cơ cấu các ngành trong tổng thu nhập toàn xã hội
Môi trường đô thị
Đô thị hoá theo chiều rộng:
Các chỉ tiêu định tính:
Tổng thu nhập xã hội / đầu người
Tỷ lệ diện tích đất đô thị / diện tích đất tự nhiên
Quy mô dân số đô thị
Trang 20 Quy mô và cơ cấu tổng sản phẩm xã hội (hoặc tổng giá trị sảnxuất)
Trình độ văn minh đô thị
1.2 BẢN CHẤT CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.2.1 Bản chất của phát phát triển kinh tế
Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu đầu tiên của tất cả các nướctrên thế giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của các quốcgia Điều này đặc biệt có ý nghĩa với các quốc gia đang phát triển như nước tahiện nay, nó là phương tiện giúp chúng ta đuổi kịp nền kinh tế của các nướctrong khu vực và trên thế giới
Để tìm hiểu được bản chất của phát triển nói chung và phát triển kinh tếnói riêng thì trước hết chúng ta phải xem xét tới tăng trưởng kinh tế
1.2.1.1 Bản chất của tăng trưởng kinh tế
Khái niệm về tăng trưởng kinh tế đã được các nhà kinh tế xây dựng từ rấtlâu và ngày càng được hoàn thiện hơn Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu
Trang 21nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm).
Sự gia tăng này thể hiện cả về quy mô và tốc độ, nếu quy mô phản ánh sự giatăng nhiều hay ít thì tốc tốc phản ánh sự gia tăng đó nhanh hay chậm Thu nhậpcủa nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng vật chất và giá trị song để có thể sosánh với các vùng và quốc gia khác đồng thời đảm bảo tính thống nhất thì chúng
ta nên xem xét trên góc độ giá trị
Như vậy, bản chất của tăng trưởng kinh tế là phản ánh sự thay đổi vềlượng của nền kinh tế Nếu trước đây chúng ta chỉ quan tâm tới tăng trưởngchung chung thì ngày nay chúng ta thiên về tăng trưởng bền vững đó là sự tăngtrưởng ổn định trong dài hạn
1.2.1.2 Bản chất của phát triển kinh tế
Hiện nay đích đến của các nước trên thế giới không phải là đích quá quátrình tăng trưởng nữa mà là đích đến của quá trình phát triển Phát triển kinh tếđược hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế Nếu như tăng trưởngchỉ dừng lại ở mặt lượng thì phát triển đã chú trọng tới cả về mặt lượng và mặtchất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh
tế và xã hội ở mỗi quốc gia Như vậy, phát triển kinh tế là một quá trình lâu dài
và do nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định
Nội dung của phát triển kinh tế là:
Một là, sự gia tăng tổng thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thunhập bình quân đầu người Đây là nội dung phản ánh sự tăng lên về mặt lượngcủa nền kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của mỗi quốc gia
và thực hiện những mục tiêu khác của phát triển
Trang 22 Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế Đây là tiêuthức phản ánh mặt chất của nền kinh tế hay so sáng với trình độ phát triển giữacác vùng, nước trong khu vực và trên thế giới.
Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội mục tiêucuối cùng của sự phát triển kinh tế trong các quốc gia không phải là tăng trưởngkinh tế hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà là biến đổi sâu sắc theo hướng ngàycàng tốt hơn của đời sống người dân Cuộc sống của con người được cho là tốtkhông chỉ dừng lại ở mặt vật chất mà nó còn bao gồm cả yếu ta tinh thần Biểuhiện rõ nét của nội dung này chính là việc xoá đói giảm nghèo, suy dinh dưỡng,
sự tăng lên của tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nướcsạch, trình độ dân trí ngày một nâng cao…
1.2.1.3 Phát triển kinh tế bền vững
Như trên chúng ta đã đề cập về vấn đề tăng trưởng và đã nêu lên rằng đòihỏi của nền kinh tế bây giờ không phải là tăng trưởng nữa mà là tăng trưởng bềnvững Trong phát triển cũng vậy, để cuộc sống của con người luôn được đảm bảo
và thời gian sau tốt hơn thời gian trước thì chúng ta phải tiến hành thực hiện pháttriển kinh tế bền vững Việc phát triển của các nước trên thế giới vào thập niên70,80 của thế kỷ 21 đã đặt ra nhiều vấn đề tiêu cực đó là những vấn đề về ônhiễm môi trường sinh thái và nhiều mặt của xã hội nên đã đặt ra đòi hỏi phảiphát triển kinh tế theo hướng phát triển bền vững
Trước đây chúng ta chỉ hiểu phát triển bền vững là việc sử dụng hợp lý và
có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sống cho conngười Ngày nay, quan điểm phát triển bền vững được đề cập một cách đầy đủ
Trang 23hơn, bên cạnh yếu tố về môi trường tài nguyên thiên nhiên thì vấn đề về bảo vệ
và phát huy môi trường xã hội được đặt ra với ý nghĩa quan trọng
Từ đó chúng ta có thể thấy được bản chất của phát triển bền vững: pháttriển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoàgiữa ba mặt của sự phát triển, gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xãhội và bảo vệ môi trường
Từ đó chúng ta có thể đưa ra những tiêu chí để đánh giá sự phát triển bềnvững là: sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công băng xãhội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nângcao chất lượng môi trường sống
Điều đó đã được Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện trong chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội của đất nước đến năm 2010: “ phát triển nhanh, hiệuquả và bền vững Tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xãhội và bảo vệ môi trường”, gắn sự phát triển kinh tế với giữ vững ổn định chínhtrị, xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng
Trang 241.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá phát triển kinh tế
Như bên trên chúng ta đã đưa ra một số chỉ tiêu đánh giá về phát triển bềnvững, những chỉ tiêu đó được đề cập cụ thể qua những chỉ tiêu cụ thể sau:
1.2.2.1 Đánh giá tăng trưởng kinh tế
1/ Tổng giá trị xản xuất GO: là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụđược tạo nên trên phạm vi lãnh thổ một quốc gia trong thời kỳ nhất định thường
là một năm Chỉ tiêu này được tính theo hai cách sau: một là, dựa vào tổng doanhthu bán hàng thu được từ các đơn vị, các ngành trong toàn bộ nền kinh tế quốcdân; hai là, tính trực tiếp từ sản xuất và dịch vụ gồm chi phí trung gian (IC) vàgiá trị gia tăng của sản phẩm và dịch vụ (VA)
2/ Tổng sản phẩm quốc nội: là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụcuối cùng do kết quả hoạt động kinh tế trên phạm vi lãnh thổ của một quốc giatạo nên trong một thời kì nhất định thường tính trong một năm
Chúng ta có ba cách tính đó là: tiếp cận từ sản xuất thì đó là giá trị giatăng tính cho toàn bộ nền kinh tế; tiếp cận từ chi tiêu thì đó là tổng chi cho tiêudùng cuối cùng của các hộ gia đình, chi tiêu của chính phủ, đầu tư tích lũy tàisản và chi tiêu thương mại quốc tế; tiếp cận từ thu nhập thì nó được xác định trên
cơ sở các khoản hình thành thu nhập và phân phối thu nhập lần đầu, bao gồm:thu nhập của người có sức lao động dưới hình thức tiền lương và tiền công, thunhập của người cho thuê đất, thu nhập của người có tiền cho vay, thu nhập củangười có vốn, khấu hao vốn cố định và thuế kinh doanh
3/ Tổng sản phẩm quốc dân: đây là chỉ tiêu phản ánh tổng thu nhập củacác công dân thuộc quốc gia mình Cách tính đơn giản nhất là chúng ta có thể lấy
Trang 25tổng sản phẩm quốc nội trừ đi lượng tiền chuyển ra nước ngoài cộng với tổnglượng tiền người nước mình chuyển về nước.
4/ Thu nhập bình quân đầu người: chỉ tiêu này phản ánh tăng trưỏng kinh
tế có tính đến sự thay đổi dân số của quốc gia mình Quy mô và tốc độ tăng thunhập bình quân đầu người là những chỉ tiêu phản ánh quan trọng và là tiền đề đểnâng cao mức sống dân cư nói chun Nếu chỉ tiêu này gia tăng liên tục với tốc độngày càng cao thì đó là dấu hiệu thể hiện sự tăng trưởng bền vững và nó cònđược sử dụng trong so sánh mức sống của dân cư giữa các nước và vùng lãnh thổvới nhau
Lưu ý: để so sánh mức sống của dân cư các nước hay vùng lãnh thổ vớinhau thì chúng ta phải quan tâm tới chỉ số giá cánh kéo của các quốc gia vớinhau Thường chúng ta quy về đơn vị chuẩn đó là lấy việc tiêu dùng ở Hoa Kỳlàm chuẩn
Trên đây mới chỉ là một số chỉ tiêu quan trọng và thường được sử dụng tạicác quốc gia trên thế giới Bên cạnh đó để tính cụ thể và tuỳ vào điều kiện tựnhiên cũng như xã hội của mỗi nước chúng ta có thể áp dụng thêm một số chỉtiêu khác nữa
1.2.2.2 Đánh giá về cơ cấu kinh tế
Nếu như các chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng kinh tế là những chỉ tiêu về mặtlượng thì nhữn chỉ tiêu đánh giá về cơ cấu kinh tế là những chỉ tiêu đánh giá vềmặt chất của việc phát triển kinh tế
Sau đây là một số chỉ tiêu đánh giá về cơ cấu kinh tế của một quốc gia:1/ Cơ cấu ngành kinh tế: nó là chỉ tiêu phản ánh cả định tính và định lượng
đó hay cả về quy mô và trỷ trọng trong GDP của từng ngành, từng lĩnh vực vàmức độ quan trọng của từng yếu tố đó trong hệ thống nền kinh tế quốc dân Ở
Trang 26các nước phát triển thì trong tổng sản phẩm xã hội nông nghiệp chỉ đóng góp 1 –7%, công nghiệp chiếm 20 – 30% còn lại dịch vụ.
2/ Cơ cấu vùng kinh tế: chúng ta xem xét tỷ trọng đóng góp vào nền kinh
tế của khu vực nông thôn và thành thị Tại những nước đang phát triển thì tỷtrọng của vùng nông thôn trong đóng góp vào tổng thu nhập xã hội là rất lớn cònthành thị thì rất ít song với việc thực hiện đô thị hoá thì dần dần khu vực nôngnghiệp sẽ giảm tỷ trọng và thay vào đó là khu thành thị tăng nhanh chóng Đô thịhoá là động lực thúc đẩy để đưa khu vực nông thôn ra khỏi tình trạng kém pháttriển
3/ Cơ cấu thành phần kinh tế: Đây là dạng cơ cấu phản ánh tính chất xãhội hoá về tư liệu sản xuất và tài sản của nền kinh tế Dựa vào quan hệ sở hữuchúng ta có thể phân chia thành nhều thành phần kinh tế, đó là: kinh tế nhà nước,kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhànước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Trong đó kinh tế nhà nước có vai tròchủ đạo và là định hướng phát triển kinh tế của đất nước
Ngoài ra chúng ta còn một số chỉ tiêu đánh giá khác nữa đó là: cơ cấu khuvực thể chế, cơ cấu tái sản xuất, cơ cấu thương mại quốc tế…
1.2.2.3 Đánh giá sự phát triển xã hội
Tiến bộ xã hội mà trung tâm là vấn đề phát triển con người được xem làtiêu thức đánh giá mục tiêu cuối cùng của phát triển Sự phát triển đó được cemxét trên các khía cạnh sau:
1/ Một số chỉ tiêu phản ánh nhu cầu cơ bản của con người: nhu cầu mứcsống vật chất, nhu cầu giáo dục, nhu cầu y tế - chăm sóc sức khỏe, nhu cầu việclàm Trong đó nhu cầu vật chất là cơ bản đảm bảo sự sinh tồn và phát triển cho
xã hội loài người Các chỉ tiêu này có những chỉ tiêu cụ thể bên trong chúng
Trang 27nhưng ở đây chỉ xin nói lên chỉ tiêu tổng quát mà Liên hiệp quốc dùng đó là chỉ
số HDI, đây là chỉ tiêu tổng quát của các chỉ tiêu trên, nó có các bộ phần hợpthành là tuổi thọ bình quân, mức thu nhập bình quân và tỷ lệ người biết chữ và đihọc đúng độ tuổi
2/ Chỉ tiêu nghèo đói và bất bình đẳng Đây là chỉ tiêu phản ánh tình trạngthu nhập và chính sách phân phối thu nhập của toàn xã hội nhằm điều tiết thunhập của toàn xã hội
Trang 28CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT T RIỂN KINH TẾ CỦA QUẬN CẦU GIẤY TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI QUẬN CẦU GIẤY ẢNH HƯỞNG TỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý của Quận
Quận Cầu Giấy là một trong 9 quận nội thành hợp thành Thủ đô Hà đô HàNội Cầu Giấy là quận chính thức đi vào hoạt động từ ngày 3/9/1997, tính tới nay
là chưa tròn 10 năm song nó đã có quá trình phát triển rất mạnh mẽ và đã đạtđược những thành tựu trong xây dựng và phát triển kinh tế Địa bàn hành chínhcủa Quận bao gồm các trị trấn và xã: Nghĩa Tân, Nghĩa Đô, Mai Dịch, Yên Hoà,Trung Hoà, Dịch Vọng của Huyện Từ Liêm Tổng diện tích đất tự nhiên củaQuận là 1204,5 ha với dân số là 127 700 người (theo kết quả của cuộc điều tradân số Quận đến ngày 31/12/1999) Các thị trấn và các xã này khi đó vẫn mangtính nông nghiệp, phát triển chưa mạnh mẽ song cho tới nay thì tất cả các thị trấn
và các xã này đã trở thành các phường của một quận mới với trình độ phát triểncao
Quận Cầu Giấy có vị trí ở phía Tây của Thủ đô Hà Nội, nơi mà theo địnhhướng là phải phát triển của Thủ đô trong những năm tới Quận Cầu Giấy cáchtrung tâm thành phố chừng 6km, phía Bắc giáp quận Tây Hồ, phía Nam giápquận Đống Đa, phía đông giáp quận Ba Đình và phía tây tiếp giáp thị trị trấn Cầudiễn, huyện Từ Liêm
Trang 29Trên địa bàn Quận tập trung nhiều trung tâm văn hoá và các trường Đạihọc, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp – các trường dạy nghề và nhiều cơquan, ban ngành lãnh đạo trung ương và địa phương Đây là điều kiện cho côngtác phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ cao, bên cạnh đó là đội ngũ trí thức
có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, là điều kiện phát triển kinh tế nhanh chóngnên chúng ta phải sử dụng sao cho hợp lý nhất để đem lại hiệu quả cao nhất
Quận Cầu Giấy nằm trên trục đường Quốc lộ 32 nối liền Hà Nội và cáctỉnh phía Bắc, có trục đường Láng – Hoà Lạc nối Hà nội với khu công nghệ caoHoà Lạc, có trục đường Nam Thăng Long nối Hà Nội với sân bay Nội Bài Nhưvậy Cầu Giấy có nhiều điều kiện phát triển kinh tế và giao lưu văn hoá –du lịchvới các khu ven đô
Như vậy, với điều kiện về vị trí địa lý quận Cầu Giấy có điều kiện pháttriển kinh tế - xã hội, trong đó phải kể tới là những điều kiện để phát triển ngànhthương mại và dịch vụ cùng với phát triển công nghiệp Song chủ yếu chúng tatập trung vào phát triển dịch vụ thương mại và dần chuyển những nhà máy, xínghiệp được xây dựng trước đây vào những khu công nghiệp tập trung phù hợp
2.1.1.2 Điều kiện thời tiết khí hậu
Cầu Giấy có vị trí thuộc vùng châu thổ sông Hồng với thời tiết khíhạu bốn mùa thuận tiện cho phát triển kinh tế cả về các lĩnh vực dịch vụ hay dulịch Là vùng đồng bằng nền điều kiện về giao thông giao lưu kinh tế, văn hoá –
xã hội với các khu vực khác là thuận tiện, nó là điều kiện co phát triển kinh tế
-xã hội
Trong năm chia làm hai mùa: mùa khô và mùa mưa Mùa mưa thìlượng nước tương đối lớn đây là điều kiện để thúc đẩy phát triển sản xuất cũngnhư làm trong lành môi trường đô thị song tại đây nó lại gây ra nhiều ảnh hưởng
Trang 30sấu hơn do đặc điểm kinh tế - xã hội chủ yếu phát triển dịch vụ cũng như côngnghiệp Nhưng hiện nay khi vào mùa khô trên cả nước thiếu điện phục vụ sảnxuất nên nó có ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất và kinh doanh dịch vụ củaquận Khi cắt muốn sản xuất được thì chúng ta phải dùng máy phát điện điều đólàm tăng chi phi rất lớn ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống dân cư và thu nhập củakhông chỉ lao động mà còn cả doanh nghiệp và ngân sách nhà nước.
Khí hậu thì có bốn tiết (mùa): Xuân, hạ, thu, đông Mỗi một mùa lại
có những điểm hạn chế và tích cực riêng có Sự phia chia ra các mùa với đặctrưng thời tiết khí hậu như thế này ảnh hưởng tới kinh doanh rất lớn Điều đó đòihỏi kinh doanh phải thay đổi theo mùa sao cho phù hợp với đặc điểm thời tiết đó.Việc kinh doanh nhờ đó mà đa dạng và phong phú hơn rất nhiêu Đặc biệtnhững dịch vụ kinh doanh quần áo thời trang, nhà hàng, giải khát… thì việc làm
ăn phụ thuộc vào màu là tương đối rõ nét và nó đem lại thu nhập khá lớn cho nhàhàng cũng như lao động làm thuê Chúng ta có thể lấy ví dụ từ nhà hàng kinhdoanh giải khát bia hơi: bên cạnh kinh doanh bia chúng ta còn thầy rằng có rấtnhiều dịch vụ đi kèm như đồ nhậu hay một số dịch vụ khác…
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Đặc điểm kinh tế
Đại hội Đảng bộ quận lần thứ nhất đã tập trung tìm hướng đi cho pháttriển kinh tế của quận theo hưóng phát triển chuyển dịch theo cơ cấu: côngnghiệp, tiểu thu công nghiệp, xây dựng – thương mại, dịch vụ - nông nghiệp Khi
đó nền kinh tế của quận mới có điểm xuất phát là từ sản xuất nông nghiệp truyềnthống là chủ yếu nên trước mắt phải phát triển công nghiệp Việc thực hiện giai
Trang 31đoạn này là điều kiện cho thực hiện việc cải thiện mức sống cho dân cư trên địabàn và phát triển kinh tế của quận.
Kinh tế quận Cầu Giấy phtá triển mạnh và khá toàn diện, vượt cao so vớichỉ tiêu đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng Cơ cấu kinh tế có bước chuyểnbiến quan trọng theo đúng định hướng của Đại hội II và đã chuyển sang cơ cấu:
Dịch vụ - công nghiệp – nông nghiệp Hiện nay, dịch vụ đã chiếm 83,33%,
công nghiệp chiếm 16,4%; nông nghiệp chỉ còn chếm 0,27% Chất lượng cơ cấukinh tế đã được nâng lên trong lĩnh vực Dịch vụ và Công nghiệp theo hướng vănminh hơn, ứng dụng khoa học và công nghệ mới nhiều hơn Tốc độ tăng trưởngkinh tế bình quân của giai đoạn 2001 – 2006 là 30% (so với Nghị quyết là 12,5 –13,5%)
Từ năm 2001 đến 2005, do quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng vàdưới sự chỉ đạo của thành phố, Đảng bộ và nhân dân Quận Cầu Giấy đã quyếttâm chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng: Dịch vụ, Công nghiệp và Nôngnghiệp Với kết quả của ba năm công nghiệp hoá và hiện đại hoá trên địa bànquận cơ cấu kinh tế của quận đã dần chuyển sang cơ cấu mới với công nghiệp làngành chiếm tỷ trọng lớn Cùng với việc thu hồi đất để phát triển các khu đô thị
và các trung tâm thương mại, văn hoá, các khu nhà cao tầng đã làm diện tích đấtnông nghiệp giảm đi nhanh chóng và cùng với nó là tỷ trọng của ngành nôngnghiệp đóng góp vào toàn nền kinh tế của quận đã giảm từ 3,75% (năm 2000)xuống còn 0,27%(năm 2006) Diện tích đất nông nghiệp ở thời điểm năm 1998
là 404,9ha trên tổng diện tích tự nhiên 1204,5ha song cho tới năm 2000 chỉ còn
362 ha, giảm 42,09ha (10,2%) Diện tích đất nông nghiệp vãn giảm mạnh vàonhững năm tiếp theo do theo quy hoạch phát triển toàn quận thì chúng tap phảilấy đất để tiến hành xây dựng một hệ thống các chung cư cao tầng nhằm mục
Trang 32đích giải quyết vấn đề nhà ở cho một bộ dân cư trên địa bàn thành phố và một bộphận nhỏ những lao động từ địa phương khác tới Tính tới năm 2005, diện tíchđất nông nghiệp Quận chỉ còn lại 78 ha với giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 23 –
27 triệu đồng/ha và những diện tích này được chuyển sang trồng rau xang làchính và đến đây diện tích đất nông nghiệp được giữ nguyên tới nay
2.1.2.2 Đặc điểm xã hội
Về lao động : quận Cầu Giấy là quận mới thành lập nhưng quá trình đôthị hoá diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ nên quy mô dân số và nguồn lực laođộng luôn biến động không ngừng và nguồn nhân lực ở đây sẽ biến đổi theohướng ngày càng nâng cao chất lượng lao động Nguồn nhân lực vẫn tăng nhanh
cả về số lượng và chất lượng Về số lượng vẫn tiếp tục tập trung vào độ tuổi laođộng chiếm tỷ trọng lớn, về chất lượng thì lao động qua đào tạo sẽ tăng nhanh và
đó là nguồn lao động tạo đà phát triển cho toàn xã hội
Tính tới năm 2000, dân số toàn quận là 132.500 người, đến năm 2004 là149.500 người và đến nay là 168.700 người như vậy, giai đoạn 2000 -2006 tăng36.200 người, tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm 4% trong khi đó tốc độtăng dân số bình quân của cả nước chỉ khoảng 1,7% và đang trong xu hướnggiảm
Dân số biến động theo thời kì đã được theo dõi và biểu hiện trên bảng sốliệu sau Bảng số liệu cũng cho ta thấ cấu trúc bên trong của nguồn lao động:
Trang 33Bảng 1: Dân số và lao động quận Cầu Giấy giai đoạn 2000 - 2006
1,510,0218,11
1,6210,024
3 Lao động trong độ tuổi
Tỷ lệ lao động trong độ tuổi (00)
72,7254,8
8057
8449,79
4 Lực lượng lao động
Tỷ lệ lượng lao động(%)
91,2268,8
9568
114,7568,02
5 Dân số trong độ tuổi hoạt động kinh tế
Tỷ lệ dân số trong độ tuổi hoạt động kinh tế (%)
56,6342,7
6747
81,0348,03
Nguồn: Phòng Kinh tế - Kế hoạch
Qua bảng số liệu ta thấy rằng mật độ dân cư của quận là lớn và ngày càngtăng mạnh, đó là do tốc độ tăng dân số cơ học là chính trong khi diện tích củaquận là không đổi sự gia tăng như thế này tạo sức ép ngày càng lớn đối với côngtác phát triển đô thị và giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh
Trong giai đoạn 2001 – 2006 hàng năm đã giải quyết việc làm cho khoảng3.000 lao động trong đó có 31 – 35% là lao động đã qua đào tạo
Về công tác văn hoá - thể dục thể thao: hoạt động văn hoá, thể dục thểthao ngày càng phong phú và đa dạng, phục vụ ngày càng có hiệu quả đời sốngtinh thần của nhân dân cũng như có tác động tích cực trong đâu tranh phòngchống tội phạm và tệ nạn xã hội trên địa bàn quận