Luận Văn: Mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ xã Tân Liên
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của vấn đề lựa chọn
Trải qua một thời gian dài tồn tại và phát triển, hình thức kinh tế hợp tác xãtrong nông nghiệp ngày càng khẳng định được vị trí đích thực của nó trong nền kinh
tế quốc dân nói chung và nền sản xuất NN nói riêng, góp phần nâng cao đời sốngvật chất tinh thần cho người dân Tuy nhiên trước sự biến động không ngừng củanền kinh tế, nhu cầu ngày càng cao của thị trường và điều quan trọng là hình thức
và cơ chế hoạt động của các loại hình kinh tế HTX NN còn chưa thực sự mang lạihiệu quả thiết thực, vì vậy đổi mới và phát triển các HTX NN theo Luật HTX Năm
2003 là một tất yếu khách quan
Vấn đề trên cũng được Đảng và nhà nước ta quan tâm sâu sắc trong suôt quátrình phát triển của hình thức kinh tế này,biểu hiện đó là những văn bản, chính sáchmang tính định hướng chiến lược ở cả tầm vi mô và vĩ mô Trong đó Luật HTX
2003 thể hiện sự điều chỉnh toàn diện đối với sự hoạt động và phát triển của cácHTX
Huyện Nam Trực tỉnh Nam Định là một huyện thuần nông với hầu hết dân
số hoạt động trong ngành NN, vì vậy sản xuất NN là ngành sản xuất chính chiếm tỷtrọng cao nhất trong nền kinh tế của huyện Những thành tựu đã đạt được trongnhững năm qua của huyện nhà càng không thể phủ nhận được vai trò của các HTX
NN – hình thức sản xuất kinh doanh chính trong NN Với tinh thần thực hiện đổimới và phát triển các HTX NN theo Luật HTX, đặc biệt là Luật 2003 sửa đổi, cán
bộ và nhân dân huyện đã tạo ra những bước chuyển biến lớn trong ngành NN, tươngxứng với khả năng sẵn có của ngành Tuy nhiên trong quá trình hoạt động thì cácHTX NN vẫn chưa phát huy hết khả năng vốn có của nó, sản xuất NN nhiều nơi cònđình đốn do cơ chế quản lý các HTX NN còn nhiều vướng mắc, rồi trong quá trìnhhạot động còn nảy sinh nhiều vấn đề về xã viên HTX, tình hình sở hữu vốn quỹSX…Vì thế nó cũng chưa mang lại hiệu quả thiết thực cho cả HTX NN và xã viênHTX theo những mục tiêu đã đặt ra
Từ thực tế trên, qua quá trình thực tập tại Phòng NN& PTNT huyện NamTrực, tỉnh Nam Định em đã lựa chọn đề tài: “ đổi mới và phát triển các Hợp tác xã
Trang 2nông nghiệp theo Luật hợp tác xã năm 2003 ở huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định”làm chuyên đề thực tập cho mình.
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề đổi mới và phát triển các HTX NN huyện Nam Trực theo Luật HTX năm 2003
Đánh giá chung về thực trạng đổi mới và phát triển của các HTX NN huyện Nam Trực khi thực hiện theo Luật HTX năm 2003, đồng thời làm rõ những mặt đạt được, chưa đạt được, nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm từ vấn đề đó
Đề xuất định hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quá trình đổi mới và phát triển của các HTX NN huyện Nam Trực theo Luật HTX năm 2003
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung vào phân tích tình hình của các HTX NN huyện Nam Trực tỉnh Nam Định từ sau khi có Luật HTX năm 2003
Số liệu nghiên cứu của đề tài từ năm 2000 đến năm 2006
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trong bài đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp nghiên cứu chung, bên cạnh đó là một số phương pháp khác như: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp điều tra, phương pháp so sánh, phương pháp nghiên cứu tài liệu
Bố cục đề tài: Bên cạnh phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu
tham khảo, đề tài gồm 3 phần cơ bản như sau:
Chương I: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế tập thể và hợp tác xã
nông nghiệp
Chương II: Thực trạng đổi mới và phát triển các hợp tác xã nông nghiệp
theo Luật HTX năm 2003 ở huyện Nam Trực tỉnh Nam Định
Chương III: Một số giải pháp tiếp tục đổi mới và phát triển các hợp tác xã
nông nghiệp theo Luật hợp tác xã năm 2003 ở huyện Nam Trực Tỉnh Nam Định
Em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn
PGS.TS Vũ Đình Thắng, sự giúp đỡ nhiệt tình của các bác, cô chú, anh chị ở
phòng NN & PTNT huyện Nam Trực tỉnh Nam Định dành cho em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Trang 3CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ
Như vậy, về bản chất KTTT là hình thức tổ chức sản xuất mọi cá nhân có thểtham gia một cách tự nguyện, tự chủ, bình đẳng trên cơ sở góp vốn, góp sức nhằmtạo ra những điều kiện vật chất đủ lớn để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh.Trong quá trình hoạt động mỗi thành viên phải có nhiệm vụ giúp đỡ lẫn nhau, hỗtrợ nhau cùng giải quyết những công việc mà một cá nhân không tự làm được hoặclàm không có hiệu quả Từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động và lợi ích của mỗi thànhviên trong tập thể, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển
Chúng ta có thể hiểu bản chất của KTTT:
* Kinh tế tập thể dựa trên sở hữu của các thành viên tham gia hợp tác và sởhữu của cả tập thể ( hộ gia đình, pháp nhân, người lao động), KTTT liên kết rộng rãinhững người lao động, những hộ sản xuất tự chủ, các doanh nghiệp vừa và nhỏthuộc các thành phần kinh tế
* KTTT thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động và theo vốn góp củacác thành viên và theo mức độ tham gia dịch vụ
* KTTT tổ chức theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi, hoạt độngtheo nguyên tắc tự chủ và tự chịu trách nhiệm, lấy lợi ích kinh tế là chính bao gồm
Trang 4lợi ích của các thành viên, lợi ích của tập thể và lợi ích xã hội của các thành viên( giải quyết nạn thất nghiệp,tăng thu nhập góp phần xóa đói giảm nghèo…)
* KTTT hoạt động dựa trên cơ sở đảm bảo quyền tự chủ kinh doanh của cácthành viên tham gia và hỗ trợ tạo mọ điều kiện cho các thành viên phát triển nhất làđối với kinh tế hộ và trang trại
Tuy nhiên, hình thức biểu hiện của các quan hệ trên ở mỗi giai đoạn khácnhau là khác nhau, nó tuỳ thuộc vào phương thức mà con người tiến hành các hoạtđộng kinh tế của mình Thời kỳ trước đổi mới (1986) bản chất của KTTT là tập thểhoá lao động và toàn bộ các hoạt động kinh tế, phủ nhận vai trò tự chủ của kinh tế
hộ nông dân, cơ chế quản lý tập trung, mệnh lệnh mang tính chất áp đặt, làm cản trở
sự phát triển Chuyển sang giai đoạn sau đổi mới trên cơ sở cụ thể hoá những tưtưởng mới vào đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước thì hình thức kinh tếtrên tự chủ của hộ nông dân và thị trường hoá hoạt động kinh tế Nhờ đó mà hiệuquả hoạt động của KTTT ở giai đoạn này ngày càng tăng cao
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định: “ Kinh tế tập thể phát triểnvới nhiều hình thức hợp tác đa dạng trong đó hợp tác xã là nòng cốt” Như vậyKTTT gồm các hình thức đa dạng khác nhau về quy mô sản xuất, về mức độ liênkết, về địa bàn của các chủ thể tham gia hợp tác( không phân biệt ranh giới của cácchủ thể tham gia hợp tác) như tổ đoàn kết sản xuất, câu lạc bộ sản xuất,… trong đóHTX là một hình thức hợp tác cụ thể, giữ vai trò nòng cốt trong các hình thức hợptác đa dạng đó, hoạt động theo Luật hợp tác xã năm 1996 và Luật hợp tác xã sửa đổinăm 2003 Trong quá trình phát triển, một bộ phận các tổ chức kinh tế hợp tác cóthể phát triển lên thành các HTX, nhưng các hình thức kinh tế hợp tác đa dạng khácvẫn tồn tại và phát triển lâu dài trong điều kiện nền kinh tế thị trường
1.2 Vai trò của KTTT
Từ bản chất của KTTT ta thấy được vị trí quan trọng của loại hình tổ chứcnày trong đời sống sinh hoạt và trong các mối quan hệ sản xuất của mối thành viêntrong tập thể
Trang 5Tham gia vào KTTT mỗi thành viên, mỗi cá nhân có thể tranh thủ được sựgiúp đỡ của sức mạnh tập thể trên cơ sở là sức mạnh tổng hợp của các thành viên cả
về mặt vật chất lẫn tinh thần Hơn nữa, khi tham gia vào KTTT họ sẽ có cơ hội pháthuy nhưng khả năng, từ đó có thể giải quyết được những vấn đề mà mỗi thành viênkhông thể thực hiện được hoặc thực hiện được nhưng hiệu quả không cao
Cũng từ đặc điểm của nền nông nghiệp nước ta, hoạt động sản xuất chịu sựảnh hưởng của điều kiện tự nhiên với những diễn biến bất thường của thời tiết khíhậu, đối tượng sản xuất là những cây, con giống có quy luật sinh trưởng và pháttriển nên mang tính thời vụ cao, nhất định và rất nhiều những điều kiện ảnh hưởngkhác nữa do đó đòi hỏi người lao động phải liên kết với nhau, cùng nhau tiến hànhcác hoạt động sản xuất mới đem lại hiệu quả cao
KTTT phát triển với mục tiêu kinh tế là hỗ trợ có hiệu quả cho hoạt độngkinh doanh của các thành viên tham gia nhằm mang lại lợi nhuận cao trên cơ sởđảm bảo các yếu tố sản xuất đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho các hoạt độngsản xuất của họ, làm cho họ yên tâm sản xuất và đững vững trên thị trường sảnphẩm nông sản
Bên cạnh đó phát triển KTTT cũng đem lại những mục tiêu xã hội to lớn.Nhờ có KTTT tạo điều kiện huy động một cách có hiệu quả nguồn lực vật chất, làmtăng sức sản xuất của xã hội từ đó tạo ra một khối lượng sản phẩm lớn đáp ứng nhucầu tại chỗ cho mỗi thành viên và tham gia vào xuất khẩu ra mọi vùng miền của đấtnước Hay nói cách khác sự hoạt động có hiệu quả của KTTT góp phần thúc đẩynền sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp nông thôn, thúc đẩy quá trình chuyên mônhóa, hợp tác hóa theo định hướng mà nước ta đã đặt ra KTTT thu hút được sự thamgia đông đảo của mọi thành viên trong xã hội, giảm được lao động thất nghiệp trongnông thôn nước ta hiện nay, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân
Xét thực trạng phát triển kinh tế nông thôn nước ta hiện nay, đại bộ phận dân
cư hoạt động trong ngành nông nghiệp, tình trạng bán thất nghiệp là phổ biếnthường xuyên do tính sản xuất thời vụ, hiệu quả sản xuất nông nghiệp còn thấp sovới tiềm năng sẵn có của ngành, bộ máy tổ chức quản lý hoạt động chưa phát huy
Trang 6được vai trò chỉ đạo một cách có hiệu quả Do đó nâng cao hơn nữa vai trò to lớncủa KTTT mà nòng cốt là các HTX NN là một nhiệm vụ quan trọng mà Đảng vànhà nước ta cần phải quan tâm trong suốt quá trình phát triển nhằm đem lại lợi íchthiết thực cho các thành phần kinh tế tham gia, góp phần vào sự nghiệp phát triểnchung của đất nước, thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế xã hội mà Đảng và nhànước ta đã đặt ra trong quá trình CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn.
2 Hợp tác xã nông nghiệp và vai trò của nó
2.1 Khái niệm hợp tác xã nông nghiệp
HTX là một trong những hình thức tổ chức kinh tế trong nông nghiệp, bêncạnh các loại hình kinh tế khác như kinh tế trang trại, hộ nông dân và các doanhnghiệp nhà nước Hình thức kinh tế này không chỉ xuất hiện ở những nước đangphát triển mà ngay ở những nước phát triển tư bản chủ nghĩa cũng duy trì hình thứcnày với những quy mô và trình độ tổ chức khác nhau Với sự phổ biến rộng rãi nhưvậy đã hình thành lên một tổ chức thống nhất mang tính quốc tế Đó chính là Liênminh hợp tác và Hợp tác Quốc tế (ICA), theo cách hiểu của tổ chức này thì: “ Hợptác xã là một tổ chức tự trị của nhứng người tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng cácnhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua một
xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ” Và định nghĩa đã được bổ sung trongtuyên bố năm 1995 “ Hợp tác xã dựa trên ý nghĩa tự cứu giúp mình, tự chịu tráchnhiệm, cộng bằng và đoàn kết Theo truyền thống của những người sáng lập ra hợptác xã, các xã viên hợp tác xã tin tưởng vào ý nghĩa đạo đức và tính trung thực, cởi
mở, trách nhiệm xã hội và quan tâm chăm sóc người khác”
Dựa vào định nghĩa trên mà mỗi nước với đặc điểm điều kiện phát triển củamình đã đưa ra những khái niệm định nghĩa khác nhau về HTX Tuy nhiên về nộidung và mục đích của việc phát triển các HTX là không thay đổi Cũng trên cơ sởkhái niệm trên, Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng một cách sáng tạo và điều kiệnphát triển của nước nhà và từng bước hoàn thiện sự phát triển của các HTX thôngqua hệ thống các văn bản pháp luật Cụ thể đã có luật HTX năm 1996 và Luật HTX(sửa đổi) năm 2003
Trang 7Tại điều 1 trong Luật hợp tác xã Việt Nam năm 1996 ghi “ Hợp tác xã là tổchức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyệncùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh củatập thể và của từng xã viên, nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các loại hoạtđộng sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống góp phần phát triển kinh tế– xã hội của đất nước” Định nghĩa đã được bổ xung trong Luật HTX ( sửa đổi) năm2003: “ Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân
có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góc sức lập ra theo quy định của Luậtnày để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúpnhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao đời sốngvật chất tinh thần, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước”
Các cách tiếp cận ở mối giai đoạn, mỗi quốc gia về định nghĩa Hợp tác xãkhác nhau là khác nhau, nhưng nhìn chung đều nêu lên được những điều bản chấtnhất, đặc trưng nhất của loại hình tổ chức này Cụ thể:
- Có thể tham gia một cách tự nguyện, tự chủ
- Tham gia với mục đích trước hết là sự giúp mình dựa vào sức mạnh của tậpthể
Mỗi xã viên đều có quyền ngang nhau, bình đẳng trong các vấn đề quản lý,phân phối và sử dụng tài sản chung của HTX theo quy định của điều lệ HTX và gópvốn theo quy định
- Có trách nhiệm giúp đỡ nhau, cùng nhau tiến hành các hoạt động sản xuấtkinh doanh và tôn trọng nguyên tắc của HTX
- Mục đích hoạt động vừa mang tính chất kinh tế, vừa mang tính chất xã hội
2.2 Đặc trưng của Hợp tác xã nông nghiệp
Từ những cách hiểu về HTX nêu trên, chúng ta có thể rút ra được những đặctrưng cụ thể của loại hình tổ chức này
Thứ nhất: HTX nông nghiệp là tổ chức liên kết kinh tế tự nguyện của những
nông hộ, nông trại, các tổ chức kinh tế và pháp nhân có chung yêu cầu về dịch vụ
Trang 8cho sản xuất kinh doanh và cho đời sống của mình mà bản thân từng nông hộ khônglàm được hoặc làm nhưng kém hiệu quả
Thứ hai: Cơ sở thành lập của HTX là dựa vào việc cùng góp vốn của các
thành viên và quyền chủ hoàn toàn bình đẳng giữa các xã viên theo nguyên tắc mỗi
xã viên một phỉếu biểu quyết không phân biệt lượng vốn góp ít hay nhiều
Thư ba: Mục đích kinh doanh của HTX là nhằm trước hết dịch vụ cho xã
viên, đáp ứng đủ và kịp thời số lượng, chất lượng của dịch vụ, đồng thời cũng phảituân theo nguyên tắc bảo toàn và tái sản xuất mở rộng vốn bằng cách thực hiện mứcgiá và lãi suất nội bộ thấp hơn giá thị trường
Thứ tư: HTX thành lập và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện dân chủ và
cùng có lợi
Thứ năm: HTX là một tổ chức liên kết kinh tế chỉ liên kết những xã viên
thực sự có nhu cầu, có mong muốn không lệ thuộc vào nơi ở và cũng chỉ liên kết ởnhững dịch vụ cần thiết và đủ khả năng quản lý kinh doanh Như vậy trong mỗithôn, mỗi xã có thể cùng tồn tại nhiều loại hình hợp tác xã có nội dung kinh doanhkhác nhau, có số lượng xã viên không như nhau, trong đó một số thành viên có thểđồng thời là thành viên của một số HTX
Thứ sáu: Nông hộ, trang trại xã viên vừa là đơn vị kinh tế tư chủ trong HTX,
vừa là đơn vị kinh tế cơ sở hoạt động kinh doanh và hạch toán độc lập Do vậy quan
hệ giữa HTX và xã viên vừa là quan hệ liên kết, giúp đỡ nội bộ, vừa là quan hệgiữa hai đơn vị kinh doanh có tư cách pháp nhân độc lập
Việc hiểu rõ những đặc trưng trên giúp cho các cơ quan quản lý nắm vữngđược quy luật phát triển của loại hình tổ chức này trong từng điều kiện cụ thể, từ đó
có những tác động tích cực nhằm thúc đẩy sự phát triển và ngược lại
2.3 Vai trò của hợp tác xã nông nghiệp
Với đặc trưng cơ bản mục đích kinh doanh của HTX là nhằm trước hết dịch
vụ cho xã viên, ta có thể khẳng định thêm HTX là một tổ chức kinh tế để phát triểnkinh tế hộ gia đình Từ đó có thể suy rộng ra kinh tế HTX không phải vì kinh tếHTX mà là sự phát triển kinh tế của các chủ thể kinh tế của HTX Vì vậy mục tiêu
Trang 9trước tiên, chủ đạo của việc thành lập các HTX là hỗ trợ hoạt động của các chủ thểtham gia HTX bằng cách tạo ra những đòn bẩy để phát triển kinh tế của các chủ thểkinh tế Vai trò của các HTX được thể hiện trên các mặt
* Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế trong HTX
NN
Thứ nhất: HTX NN là hình thức kinh tế tập thể của nông dân Vì vậy hoạtđộng của HTX NN có tác động to lớn, tích cực đến hoạt động sản xuất của hộ nôngdân Nhờ đó hoạt động của HTX NN, các yếu tố đầu vào của các khâu dịch vụ chohoạt động sản xuất nông nghiệp được cung cấp kịp thời, đầy đủ và đảm bảo chấtlượng, các khâu sản xuất tiếp theo được đảm bảo làm cho hiệu quả sản xuất của hộnông dân được nâng lên
Thứ hai: Thông qua hoạt động dịch vụ vai trò điều tiết sản xuất của HTX NN
được thực hiện, sản xuất của hộ nông dân được thực hiện theo hướng tập trung, tạođiều kiện hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên môn hoá Như dịch vụ làmđất, dịch vụ tưới nước, dịch vụ bảo vệ thực vật… đòi hỏi sản xuất của hộ nông dânphải thực hiện thống nhất trên từng cánh đồng về chủng loại giống, về thời vụ gieotrồng và chăm sóc Nếu hộ nông dân không thực hiện thống nhất sẽ ảnh hưởng trựctiếp đến các công việc sản xuất và đến kết quả sản xuất cuối cùng của họ
Thứ ba: HTX còn là nơi tiếp nhận những trợ giúp của Nhà nước tới từng hộ
nông dân, vì vậy hoạt động của HTX NN ở những vùng chuyên môn hoá còn làhình thức thể hiện mối liên minh công nông, đặc biệt sự gắn kết giữa khâu sản xuấtnguyên liệu và chế biến nông sản
Xét nền kinh tế nước ta đang trong xu thế hội nhập với nền kinh tế khu vực
và thế giới, cơ hội rất nhiều song thử thách cũng không ít Điều đó thể hiện rõ hơntrong sản xuất nông nghiệp của nước ta
Khi phương thức sản xuất còn lại hậu, tình trạng ruộng đất phân tán, manhmún, chất lượng sản xuất làm ra chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường, ngay cảthị trường trong nước Vấn đề trên mặc dù đã được đề cập rất nhiều nhằm làm cơ sở
để tiến hành đổi mới và phát triển kinh tế HTX song nhìn chung vẫn còn nhiều
Trang 10vướng mắc Vì vậy để giảm thiểu những nguy cơ rủi ro từ thị trường đến với hoạt độngsản xuất kinh doanh của hộ nông dân, thành viên của HTX thì tất yếu cần phải nângcao hiệu quả hoạt động của các HTX NN nhằm nâng cao hơn nữa vai trò hỗ trợ, thúcđẩy sản xuất của kinh tế hộ nông dân Từ đó giúp họ có đủ khả năng và năng lực cạnhtranh trên thị trường trong nước và rộng hơn nữa là thị trường quốc tế
* Đối với nền kinh tế quốc dân
Đóng vai trò là một trong những hình thức tổ chức sản xuất chính trongnông nghiệp nền việc phát triển nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX NN gópphần phát triển nền nông nghiệp bền vững, toàn diện Cũng qua đó tạo lực về mặtkinh tế để hoàn thành các mục tiêu xã hội trên cơ sở giải quyết các vấn đề mang tínhchất xã hội như giải quyết nạn thất nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập cho hộ nôngdân, nâng cao điều kiện vật chất tinh thần cho người dân, tăng thu ngân sách cho đấtnước, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Nhờ đó mà rút ngắnkhoảng cách phát triển giữa nông thôn và thành thi, giữa các vùng miền trong cảnước trên cơ sở khai thác một cách có hiệu quả các nguồn lực lợi thế phục vụ chomục tiêu phát triển kinh tế xã hội
II ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ TRONG NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
1 Quá trình hình thành và phát triển của HTX NN
Từ cuối những năm 50 đến nay cùng với sự phát triển của các hình thức hợp táctrong nông nghiệp nông thôn, HTX NN đã trải qua những bước phát triển thăngtrầm và đang có những thay đổi đáng kể để khẳng định vị trí đích thực trong thời kỳđổi mới với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủnghĩa có sự quản lý của nhà nước
1.1 Gai đoạn trước năm 1981
Sau khi hoà bình lặp lại ở miền bắc, đảng ta bắt đầu quan tâm tới công cuộcxây dựng HTX trong nông nghiệp, đầu tiên là một vài HTX mang tính chất thíđiểm trên cơ sở của các HTX giản đơn Sau hội nghị sơ kết công tác xây dựng HTXthí điểm, Đảng ta đã tiếp tục đề ra nhưng chủ trương tiếp tục củng cố các HTX thí
Trang 11điểm này và xây dựng cácHTX mới Mốc đánh dấu là Hội nghị trung ương lần thứ
16 ( khóa II) họp tháng 4 năm 1959 đưa ra quyết định về hợp tác hoá nông nghiệpvới các đặc điểm: HTX NN trong giai đoạn này hoạt động theo nguyên tắc tập thểhoá tư liệu sản xuất và quản lý sản xuất tập trung, phân phối thống nhất, quy địnhviệc trích lập các quỹ và tổ chức bộ máy HTX sản xuất nôngnghiệp, đặt nền tảngcho đường lối hợp tác hoá nông nghiệp theo mô hình thập thể hoá cho những giaiđoạn tiếp theo và năm 1959 điều lệ HTX bặc thấp được ban hành
Để điều hành sản xuất các HTX sản xuất NN đã giao kế hoạch sản xuất, nghĩa
vụ nộp sản phẩm và xét duyệt kế hoạch phân phối từng vụ từng năm của các HTX.Hình thức phổ biến của các HTX trong thời gian này là các HTX NN bậc thấp quy
mô thôn trong đó tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của từng hộ xã viên nhưng do HTXthống nhất quản lý sản xuất, lao động tập thể, phân phối thống nhất Với hình thức
tổ chức đó trong quá trình hoạt động đã cơ bản hoàn thành kế hoạch hợp tác hoánông nghiệp bậc thấp, tạo ra sự biến đổi lớn lao trong hình thức tổ chức sản xuấtnông nghiệp ở miền bắc, chế độ người bóc lột người bị xoá bỏ, lao động tập thể cănbản thay lối làm ăn cá thể và hình thức sở hữu trong giai đoạn này là sở hữu toàndân và sở hữu tập thể Nhờ đó mà kinh tế nông nghiệp miền bắc đạt được những kếtquả đáng khích lệ đảm bảo cung cấp đủ lương thực cho tiền tuyến, tuy nhiên trongquá trình phát triển hình thức tổ chức đó cũng dần bộc lộ những mặt hạn chế, lợi íchcủa người lao động và của HTX ngày càng thấp làm suy giảm phong trào xây dựng
và phát triển các HTX NN trong nông thôn
Trước tình thế đó Miền Bắc đặt ra nhiệm vụ là phải tiếp tục tiến hành các côngcuộc cải tiến quản lý HTX NN và trên tất cả các mặt, một trong số những nội dung
đó là chấn chỉnh chế độ 3 khoán theo hướng lấy HTX làm đơn vị hoạch toán, quản
lý sản xuất và phân phối tập trung, còn đội sản xuất là đơn vị nhận khoán sản lượng,công điểm và chi phí sản xuất
Đến tháng 4 năm 1969, điều lệ HTX NN bậc cao được ban hành, trong điều lệ
có ghi rõ nghĩa vụ của xã viên khi gia nhập HTX phải đưa vào tập thể ruộng đất,trâu bò cầy kéo và các nông cụ chủ yếu khác Về cải tiến kỹ thuật các HTX NN tiến
Trang 12hành xây dựng các cơ sở vật chất kỹ thuật thuỷ lợi, giao thông, kho tàng, cơ sở xaysát, chuồng trại và máy móc cơ khí cho nông nghiệp.
Tiếp theo đo là chỉ thị 33 và quyết định 61/CP, các HTX NN trong giai đoạnnày tiếp tục chấn chỉnh quan hệ sản xuất, HTX quản lý thống nhất, xoá bỏ tình trạngkhép kín trong đội sản xuất, hình thành các đội chuyên khâu, thực hiện sự phâncông , hợp tác, chuyên môn hoá
Như vậy tổ chức HTX N theo mô hình tập thể hoá trải qua 1 thời gian xâydựng củng cố và cải tiến quản lý trên cơ sở tập thể hoá tư liệu sản xuất là chủ yếu,HTX quản lý lao động sản xuất và phân phối tập trung thông qua các đội chuyên vàđội sản xuất cơ bản Kết quả đạt được là sản xuất nông nghiệp đã có những bướcphát triển đột biến, cung cấp kịp thời lương thực chi viện cho tiền tuyến miền nam
về sức người và sức của, các nguồn lực được tập trung khai thác vào phục vụ sảnxuất Tuy nhiên trong quá trình hoạt động vẫn còn nhiều hạn chế bộc lộ những mặtyếu kém do yêu cầu của quá trình phát triển đặt ra Trước thực tế đó đòi hỏi phải cónhững biện pháp tác độngcụ thể hơn nữa nhằm thức đẩy sự hình thành và phát triểncủa các HTX NN
1.2 Giai đoạn sau năm 1981
Từ 1981 đến 1996:
Hình thức tổ chức HTX trong nông nghiệp ở giai đoạn này tiếp tục được đổimới theo yêu cầu của sự phát triển, đây là thời kỳ nhận thức lại, tổng kết thực tiễn,phát hiện quy luật khách quan và đề ra những giải pháp nhằm củng cố và phát triểncác hình thức HTX trong NN Ngày 13/01/1981, Ban bí thư Trung ương Đảngkhóa VI đề ra chỉ thị 100CT/TW với nội dung: “ quy định mở rộng hình thức khoánsản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động trong đó HTX quản lý điều hànhnhững khâu cần thiết còn lại giao cho hộ xã viên đảm nhận Khoán sản phẩm đã mởđầu cho việc đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp sau này, sản xuất nông nghiệp cótốc độ tăng trưởng khá, hiệu quả kinh tế HTX nâng lên 1 nét rõ rệt góp phần vàomang lại ổn định lương thực cho nước nhà Nhưng từ năm 1986 trở đi sản xuất nôngnghiệp bắt đầu có chiều hướng suy giảm nguyên nhân do HTX chưa quản lý chặt
Trang 13chẽ sản xuất làm cho chi phí sản xuất tăng cao, lợi nhuận của người sản xuất giảmdẫn đến họ không nhiệt tình với công tác tham gia sản xuất nữa Vì vậy vấn đề đặt
ra lúc này là phải đổi mới và phát triển HTX kiểu cũ và phát triển cái mới cho nóphù hợp với tình hình thực tiễn
Trước yêu cầu của thực tiễn, tháng 4/1988, Nghị quyết 10 của Bộ chính trịkhóa 6 về đổi mới quản lý nhà nước, đó là một quyết sách có tác dụng trực tiếp làmchuyển biến căn bản quá trình phát triển NNNT với những nội dung:
+ Những tư liệu sản xuất gì nếu hộ quản lý hiệu quả thì để cho hộ quản lý.+ Điều chỉnh quan hệ sở hữu giữa HTX và hộ
+ Khẳng định hộ là đơn vị tự chủ trong sản xuất hàng hóa
+ Khoán ruộng đất ổn định lâu dài cho hộ
+ Đổi mới nội dung hoạt động HTX NN chuyển sang làm dịch vụ cho kinh tế hộ.Khi thực hiện Nghị quyết 10 hộ nông dân được hưởng 40%-50% sản phẩmlàm ra( trước kia 10%-20% sản phẩm làm ra) Vì vậy hộ nông dân yên tâm vớiquyền lợi được hưởng, họ tích cực đầu tư vốn công sức để tăng thêm sản phẩm.Nghị quyết 10 đem lại thành tựu rất rõ rệt cho sản xuất NN, với 19,6 triệu tấn lươngthực năm 1989 nước ta vẫn phải nhập khẩu đã tăng thêm 21 triệu tấn trong năm sau
và từ đó sản lượng lương thực mỗi năm tăng thêm 1 triệu tấn, đưa nước ta trở thànhnước thứ 2 xuất khẩu gạo trên thế giới
Tuy nhiên, khi thực hiện theo nghị quyết 10 làm cho ruộng đất phân chia manhmún điều đó đã mâu thuẫn với quá trình tập trung hóa sản xuất và khó khăn trongviệc sử dụng công nghệ mới vào sản xuất Chính những mâu thuẫn này đã làm giảmhiệu lực của Nghị quyết 10, vấn đề đặt ra là phải đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện để sảnxuất hàng hóa phát triển
Cũng trong giai đoạn này Luật đất đai năm 1993 được ban hành đánh một dấumốc quan trọng cho sản xuất nông nghiệp Với nội dung chủ yếu là cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất lâu dài ổn định cho người lao động, để họ tự quyết địnhphương hướng sản xuất kinh doanh trên mảnh đất của mình, tự họach toán thu chi.Cùng với đó là luật HTX năm 1996 được ban hành, càng làm tăng thêm tính khả thi
Trang 14của các văn bản được ban hành trước đó Luật quy định tất các những người laođộng đều có thể là thành viên của HTX NN trên cơ sở tự nguyện tham gia Coitrọng vai trò tự chủ của kinh tế hộ gia đình và các nông trại, HTX chỉ là người thựchiện dịch vụ phục vụ các khâu sản xuất cho các hộ xã viên, thúc đẩy hỗ trợ họ pháttriển theo các mục tiêu đã đặt ra, HTX thực hiện vai trò của mình thông qua các hợpđồng kinh tế với hộ xã viên, điều hành các khâu dịch vụ sản xuất và chức năng nàyngày càng được củng cố trong nền kinh tề hàng hóa nhiều thành phần.
Với việc thực hiện các chủ trương đường lối mà nhà nước đã nêu ra, sự pháttriển của các HTX NN trong giai đoạn này đã góp phần làm tăng nhanh gía trị nôngsản của nước ta và trở thành một cường quốc trong xuất khẩu lương thực
Từ 1997 đến nay:
Luật HTX năm 1996 bên cạnh việc mang lại sự phát triển mới cho các HTX
NN trên cơ sở của sự tiến hành đổi mới các hình thức HTX NN kiểu cũ chuyểnsang các hình thức HTX kiểu mới phù hợp với các điều kiện phát triển thì nó vẫnbộc lộ những điểm yếu do nội tại của chế độ HTX cũ để lại như về quan hệ sở hữu,chế độ quản lý phân phối, về nhận thức xã viên HTX… lại đặt ra yêu cầu phải tiếptục đổi mới các vấn đề trên, từ đó mà Luật HTX năm 2003 được ban hành nhằm bổsưng, sửa đổi cho luật HTX năm 1996 về nhưng vấn đề còn tồn tại
Giai đoạn này các HTX phát triển trên cở sở tiếp tục khẳng định vai trò kinh tế
tự chủ của các hộ xã viên và nông trại là thành viên của HTX Sự phát triển của cácHTX nhằm mục địch hỗ trợ có hiệu quả hơn nũa cho các chủ thể kinh tế thông quachức năng dịch vụ sản xuất trên cơ sở hoạch toán kinh doanh, và là người đại diệntiếp nhận sự trợ giúp của nhà nước tới hộ xã viên
Với đường lối đổi mới mang tính thực tiễn cao của đảng và nước nhờ đó màhiệu quả kinh tế HTX ngày càng rõ nét góp phần làm tăng giá trị sản xuất ngànhnông nghiệp, tăng thu cho nhân sách nhà nước, đời sống của người dân ở nông thônđược cải thiện
Tuy nhiên trước sự biến đổi mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường đòi hỏiđảng và nhà nước tiếp tục có những biện pháp thiết thực hơn nữa trong việc điều
Trang 15chỉnh sự phát triển của các HTX NN nhằm nâng cao vai trò của nó trong sản xuấtnông nghiệp và nền kinh tế quốc dân góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêukinh tế đã đặt ra xuất nông nghiệp và nền kinh tế quốc dân.
2 Sự cần thiết phải đổi mới HTX trong nông nghiệp ở nước ta
2.1 Xuất phát từ thực trạng nền kinh tế đòi hỏi phải đổi mới và phát triển các HTX NN
Đổi mới kinh tế là đường lối chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta trong suốtnhững năm qua, đặc biệt là từ sau khi đất nước ta hoàn toàn được giải phóng Sự đổimới này diễn ra trên tất cả các mặt của đời sống xã hội trên cơ sở phát huy nhữngmặt mạnh, khắc phục khó khăn và tiếp thu cái mới
Giai đoạn trước năm 1986, chúng ta đã duy trì mô hình kinh tế của các nước
xã hội chủ nghĩa cũ đó là nền kinh tế tập trung bao cấp với hai loại hình tổ chứcchính đó là kinh tế tập thể và kinh tế quốc doanh Trong sản xuất nông nghiệp hìnhthức kinh tế tập thể là chính trên cơ sở, sở hữu tập thể mọi nguồn lực sản xuất vàcác hoạt động kinh tế và trong những điều kiện nhất định nó đã phát huy được một
số những mặt mạnh của nó thông qua sự hoạt động có hiệu quả của HTX NN, gópphần đảm bảo an ninh lương thực cho nước nhà trong thời cuộc Trong quá trìnhphát triển thì mô hình đó cần bộc lộ những mặt yếu kém, nguyên nhân do nhận thức
về các điều kiện kinh tế – xã hội còn hạn chế, bộ máy tổ chức cồng kềnh, chỉ đạotập trung mang tính chất áp đặt, nó đã gây ảnh hưởng đến tâm lý và lợi ích củangười lao động HTX làm cho hiệu quả sản xuất nông nghiệp suy giảm Điều đó cònthể hiện rõ nét hơn khi nước ta tiến hành cải cách nền kinh tế, phát triển theo cơ chếthị trường Giá trị sản xuất nông nghiệp không những không tăng mà còn có nhiềuhướng giảm, người lao động có tư tưởng rời bỏ HTX, trong khi đó cơ sở vật chấtnghèo nàn, xuống cấp nghiêm trọng Trước thực tế đó thì đòi hỏi Đảng và Nhà nước
ta phải đưa ra được những đường lối cụ thể nhằm đổi mới các hình thức tổ chức sảnxuất trong nông nghiệp, đặc biệt là các HTX NN để phát huy hơn nữa hiệu quả củaloại hình tổ chức này
Trang 16Ngoài ra, với vai trò là thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO) vàcủa nhiều tổ chức kinh tế chính trị có tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới, đặt ra yêucầu phải có cơ chế mới, cách làm ăn mới phù hợp với thông lệ quốc tế và các quyluật phát triển khách quan Đặc biệt, để thực hiện thắng lợi mục tiêu CNH – HĐHnông nghiệp nông thôn mà Đảng đã đề ra thì vấn đề đổi mới sự hoạt động của cácHTXNN càng cấp thiết
2.2 Xuất phát từ vai trò của nền nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.
Xuất phát từ đặc điểm của nước ta hơn 70% dân số sống và làm việc ở nôngthôn với hoạt động sản xuất nông nghiệp là chính Nguồn lao động dồi dào, kinhnghiệm sản xuất từ lâu đời và những ưu đãi của các cơ quan quản lý nhà nước nênchúng ta đã sản xuất đủ lương thực, đảm bảo an ninh lương thực cho nước nhà,không những thế còn là nước xuất khẩu lương thực đứng thứ 3 trên thế giới trongnhiều năm Bên cạnh đó là các mặt hàng nông sản khác như Cà phê, cao su, lạc, đậutương … cũng chiếm được vị thế cao trong các nước xuất khẩu trên thế giới, từ đólàm tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu nhập ngoại tệ cho đất nước Phát triển nôngnghiệp còn có vai trò cung cấp nguồn nguyên liệu thô dồi dào cho các ngành kinh tếkhác, nó còn góp phần giải quyết vấn đề xã hội như việc làm, thu nhập của ngườidân, chuyển dịch cơ cấu kinh tế… Để phát huy hơn nữa những kết quả đã đạt được
và khắc phục những hạn chế trong hoạt động của các HTX NN thì vấn đề đặt ra là
tổ chức các loại hình kinh doanh trong nông nghiệp như thế nào và duy trì nhữnghình thức kinh tế không phù hợp liệu có được ? Với sự phát triển của lực lượngsản xuất và yêu cầu ngày càng cao của thị trường đối với các mặt hàng nông sản thìcần thiết phải có sự đổi mới phù hợp
2.3 Xuất phát từ vai trò của loại hình HTX trong kinh doanh nông nghiệp
Như đã nêu HTX là một trong những hình thức tổ chức sản xuất chính trongnông nghiệp, bên cạnh loại hình trang trại, hộ nông dân và các doanh nghiệp nhànước Phát triển các HTX nhằm tạo ra các điều kiện vật chất và các nguồn lực cầnthiết để các đơn vị kinh tế cơ sở trang trại và hộ nông dân phát triển Đây cũng là
Trang 17phương hướng đổi mới các HTX – hoạt động với mục đích hỗ trợ kinh tế hộ vàtrang trại đó là những mô hình tổ chức tiên tiến và có khả năng phát huy hiệu quảcao trong điều kiện nước ta phát triển nền kinh tế thị trường cạnh tranh
Từ những lý do nêu trên ta thấy cần thiét phải từng bước tiến hành đổi mới
và phát triển các HTX NN trên cơ sở hành lang pháp lý mà Nhà nước ta đặt ra nhưcác luật HTX năm 1996, Luật HTX (sửa đổi) năm 2003 và các văn bản pháp luậtkhác liên qua Nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX tạo lực thúc đẩy nền nôngnghiệp phát triển toàn diện, góp phần vào công cuộc CNH - HĐH đất nước trongnhững năm tới thông qua đổi mới các HTX là một tất yếu khách quan phù hợp
3 Nôi dung đổi mới HTX NN theo luật ở nước ta
3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề tiếp tục đổi mới và phát triển HTX NN theo Luật
Trên cơ sở nắm vững lý luận, nhận thức đúng đắn thực tiễn Từ đó thế chếhoá những tư tưởng mới, nhận thức mới vào đường lối phát triển nền kinh tế nêntrong suốt những năm qua Đảng và Nhà nước ta liên tục ban hành những văn bảnchính sách pháp luật nhằm tạo ra hành lang pháp lý để các loại hình tổ chức kinh tếhoạt động có hiệu quả trong khuôn khổ đó Đối với loại hình HTX trong nôngnghiệp cũng vậy, ban đầu là các mô hình HTX bậc thấp sau phát triển thành các môhình HTX bậc cao, phù hợp với thực tiễn là kết quả của sự vận dụng sáng tạo nhữngquan điểm, đường lối chỉ đạo của Nhà nước vào những điều kiện phát triển và đổimới các HTX cụ thể
Trước những yêu cầu đặt ra của sự phát triển ở mỗi giai đoạn mà các quanđiểm của Đảng và Nhà nước về đổi mới phát triển các HTX là khác nhau Nhưng về
cơ bản sự can thiệp đó đều có chung mục đích là tạo ra những điều kiện thuận lợi đểcho các HTX hoạt động ngày càng có hiệu quả, xứng đáng với vai trò là hình thức
tổ chức sản xuất chính trong nông nghiệp
Trên cơ sở của những tư tưởng đổi mới trong những giai đoạn trước, ngày18/1/1981 ban Bí thư ra Chỉ thị 100/CT-TW với nội dung khoán sản phẩm cuốicùng đến nhóm và người lao động trong đó HTX quản lý điều hành năm khâu làm
Trang 18đất, giống mạ, phân hoá học, tưới tiêu nước và phòng trừ sâu bệnh còn HTX đảmnhiệm ba khâu gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch Khoán 100 có ý nghĩa rất quan trọng vì
đó là bước mở đầu (Không việc đổi quản lý kinh tế nông nghiệp sau này, quan trọngnữa là sản xuất nông nghiệp ở giai đoạn này đạt được những thành tựu đáng kể)
Một dấu mốc quan trọng nữa là Đại hội Đảng toàn quốc khoá VI họp năm
1986, đã tạo ra những tiền đề cơ bản về đổi mới kinh tế, theo đó ngày 05/04/1988
Bộ chính trị đã ra nghị quyết số 10/NQ-TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp
mở đường cho bước phát triển sản xuất nông nghiệp mạnh mẽ trong những năm gầnđây, trên cơ sở đổi mới quản lý HTX NN
Tiếp đó là Hội nghị lần thứ sáu BCH TW khoá VI tháng 3 năm 1989 đã đề ranhiều chủ trương, chính sách thực hiện công cuộc đổi mới, trong đó đã đề cập tớinhiều quan điểm, phương hướng tiếp tục đổi mới HTX, tập đoàn sản xuất với nhữngnội dung cụ thể thích hợp
Luật đất đai năm 1993 với những nội dung cụ thể về việc HTX được cấpgiấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất lâu dài và được hưởng năm quyền: sửdụng, chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế và thế chấp tạo ra bước ngoặt cho sựphát triển sản xuất nông nghiệp
Luật HTX năm 1996 và Luật HTX (sửa đổi) năm 2003 với mục tiêu đổi mới
và phát triển các HTX NN nhằm phát huy vai trò quan trọng của kinh tế hợp tác, tạo
cơ sở phát lý cho việc tổ chức và hoạt động của HTX trong nền kinh tế hàng hoánhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theođịnh hướng XHCN
Bên cạnh những chính sách văn bản trên là một loạt những nghị quyết, nghịđịnh, Chỉ thị như nghị định 16/CP của Chính phủ về chuyển đổi đăng ký kinh doanhthao luật HTX, Nghị định 36/CP của Chính phủ về điều lệ mẫu HTX, Công văn số355/CP ngày 30/3/1998 của Chính phủ về triển khai luật HTX … và rất nhiều nhữngvăn bản khác nhằm tạo môi trường thuận lợi để các HTX hoạt động, phát triển
Trang 193.2 Một số nội dung chủ yếu của Luật HTX năm 2003.
Trên cơ sở nội dung của Luật HTX năm 1996, đồng thời thể chế hoá những
tư tưởng, nhận thức mới về thực trạng HTX ngày 26/22/2003, Luật HTX (sửa đổi)năm 2003 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004
Sau đây là một số nội dung cơ bản cụ thể:
Thứ nhất: Luật định nghĩa: “ Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá
nhân, hộ gia đình, pháp nhân có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện góp vốn, góp sứclập ra theo quy định của luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viêntham gia hợp tác xã, cùng nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất kinhdoanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế – xã hộicủa đất nước
Luật còn quy định rõ “Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp,
có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm”
Thứ hai: Về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX
Đổi mới và phát triển các HTX phải đảm bảo những nguyên tắc cơ bản sau:Mọi xã viên có thể tự nguyện gia nhập hoặc ra khỏi HTX: Quản lý dân chủ, bìnhđẳng và công khai và đều có quyền ngang nhau trong biểu quyết: tự chủ, tự chịutrách nhiệm và cùng có lợi; chia lãi đảm bảo lợi ích của mỗi xã viên và lợi ích củaHTX; Hợp tác và phát triển cộng đồng
Thứ ba: Quan hệ sở hữu và phân phối trong HTX
Khi gia nhập HTX, xã viên phải góp vốn theo quy định của điều lệ HTX,mức vốn góp không vượt quá 30% vốn điều lệ của HTX Tuỳ theo mức đóng gópcủa mỗi xã viên mà quy định mức độ trách nhiệm của xã viên đối với HTX cácnguồn khác thuộc sở hữu chung của HTX thì quyền sử dụng thuộc về HTX
Về phân phối: Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế, lãi của HTX đượcphân phối như sau: Trả bù các khoản lỗ của năm trước, trích lập các quỹ, chia lãicho xã viên theo vốn góp, công sức đóng góp của xã viên và phần còn lại theo mức
độ sử dụng dịch vụ của HTX
Thứ tư: Về xã viên HTX
Trang 20Xã viên HTX có thể là cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân theo quy định củaluật HTX Trong đó, cán bộ công chức được tham gia HTX nhưng không được trựctiếp quản lý và điều hành HTX Hộ gia đình, pháp nhân khi tham gia HTX phải cửngười đại diện có đủ điều kiện như đối với cá nhân tham gia Mỗi xã viên có thể là
xã viên của nhiều HTX và đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ
Thứ năm: Quan hệ giữa HTX và xã viên
Xã viên là thành viên của HTX thì phải tuân thủ theo quy định trong điều lệHTX để hoàn thành nghĩa vụ và hưởng các quyền từ HTX
HTX có vai trò giúp xã viên giải quyết những khó khăn trong phát triển kinh
tế, hỗ trợ các dịch vụ cho xã viên: điện nước, phân bón … đảm cho các hoạt độngsản xuất kinh doanh của xã viên diễn ra thuận lợi
Cam kết kinh tế giữa HTX và xã viên là những ràng buộc về kinh tế giữaHTX và xã viên thông qua các hợp đồng kinh tế
Thứ sáu: Điều kiện thành lập và hoạt động của HTX
HTX phải có điều lệ riêng cụ thể, rõ ràng, phù hợp với các quy định củaLuật này và các quy định khác của pháp luật Tổ chức hội nghị thành lập HTX có sựtham gia của các xã viên có nguyện vọng, có sự thống nhất về phương hướng, kếhoạch hoạt động của HTX và được các cơ quan hữu trách phê duyệt
HTX có quyền tham gia liên kết, liên doanh với các HTX khác trong vàngoài nước để mở rộng sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật
Thứ bẩy: Chức năng quản lý nhà nước đối với HTX: Bao gồm các nôi dung
sau: ban hành phổ biến và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về HTX; xâydựng thực hiện chiến lược, kế hoạch phát triển HTX; xây dựng thực hiện chiếnlược, kế hoạch phát triển HTX, tổ chức đăng ký kinh doanh đối với HTX, liên hiệpHTX; Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Thực hiện thanh tra, kiểm tra,giám sát việc thực hiện pháp luật của HTX…
Trang 214 Một số điểm khác biệt của luật HTX năm 2003 so với luật HTX năm 1996.
Về cơ bản Luật HTX năm 2003 vẫn xoay quanh những nội dung mà luậtHTX năm 1996 nêu ra Luật HTX năm 1996 ra đời đã có sự tác động cả về chiềusâu lẫn chiều rộng của sự phát triển HTX, tuy nhiên trong mỗi giai đoạn phát triểncao hơn lại xuất hiện những nhận thức mới về điều kiện phát triển của HTX trên cơ
sở đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội Trước vấn đề đặt ra và những nộidung cụ thể của Luật HTX năm 1996, Luật HTX năm 2003 ra đời là kết quả của sựthể chế hoá những quan điểm mới, nhận thức mới vào trong đường lối phát triểncủa các HTX, hay nói cách khác luật HTX năm 2003 nhằm tạo ra các điều kiệnthuận lợi hơn nữa để thúc đẩy hoạt động của các HTX nâng cao hiệu quả trong điềukiện kinh tế mới Như vậy, sự ra đời của luật HTX năm 2003 là một tất yếu kháchquan, phù hợp với đường lối đổi mới mà Đảng và Nhà nước ta nêu ra trong nhữngnăm trước
Dưới đây là một số nội dụng mới được bổ sung, sửa đổi trong luật HTX năm
2003 so với luật HTX năm 1996
* Mở rộng đối tượng tham gia HTX
Tại luật HTX năm 2003 đã quy định một cách cụ thể, rõ ràng đối tượng đượctham gia phát triển HTX, không phải chỉ có cá nhân người lao động mới được thamgia như Luật năm 1996 mà quy định cụ thể hơn bên cạnh cá nhân người lao độngcòn có hộ gia đình và pháp nhân nếu có nguyện vọng gia nhập HTX Luật HTXnăm 1996 có sự hạn chế về đối tượng tham gia nguyên nhân là do những nhận thức
cũ về mô hình hoạt động của tổ chức này vẫn còn tồn tại, từ đó làm hạn chế sự pháttriển mở rộng của các HTX về các nguồn lực phát triển Tuy nhiên những ý kiếnthảo luận về đề nghị xem xét để mở rộng đối tượng kết nạp đã được đưa ra trongcác cuộc dự thảo Luật năm 1996 và đến Luật HTX năm 2003 Quan điểm này đãđược thể chế hoá và chính thức đưa vào nội dung của Luât Như vậy hộ nông dân,các tổ chức kinh tế xã hội và các pháp nhân khác đều có thể gia nhập HTX nếu cónguyện vọng Tuy nhiên mức độ gia của các đối tượng trên là khác nhau, đối với
Trang 22công chức được tham gia HTX theo điều lệ nhưng không được trực tiếp quản lý vàđiều hành HTX, còn hộ gia đình và pháp nhân khi tham gia phải cử người địa diện
có đủ điều kiện như đối với cá nhân Sử mở rộng đối tượng tham gia vào phát triểnHTX nhằm huy động mọi nguồn lực vật chất sẵn có vào phục vụ phát triển kinh tếHTX ở nước ta
có hiệu lực thi hành cao nhưng vấn đề đó vẫn tồn tại chưa được tháo gỡ đến luậtHTX 2003 có một bước tiến hơn trong việc xác định một cách rõ ràng: ‘Hợp tác xãhoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịutrách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vị vốn điều lệ, vốn tích luỹ vàcác nguôn vốn khác của HTX theo quy định của pháp luật”.Với nội dung trên luậtHTX năm 2003 không khẳng định HTX là một loại hình doanh nghiệp mà chỉkhẳng định hoạt động như một loại hình doanh nghiệp Với sự khẳng định trên đãtạo ra môi trường hoạt động của các HTX cũng chính là môi trường hoạt động củacác doanh nghiệp khác, có quyền bình đẳng và được đối xử ngang nhau trong nềnkinh tế quốc dân
* Đơn giản hoá quá trình thành lập
Do ảnh hưởng của chế độ cũ để lại nên vấn đề thủ tục hành chính vẫn còn rấtnặng nề, bộ máy quản lý cồng kềnh, cứng nhắc nhiều phòng ban với nhiều loại giấy
tờ không cần thiết gây ảnh hưởng đến quá trình đăng ký tham gia hoạt động sản
Trang 23xuất kinh doanh của các tổ chức Luật HTX năm 1996 cũng đề cập dến những tìnhtrạng trên vẫn chưa có hiệu quả do thực tế hoạt động nẩy sinh nhièu vấn đề mâuthuẫn Luật HTX năm 2003 đã có một bước chuyển tiến bộ hơn trong quy định đốivới việc thành lập của các HTX
Về thủ tục hồ sơ đăng ký kinh doanh đã được tinh giảm xuống chỉ bao gồm 4loại giấy tờ: 1 Đơn đăng ký kinh doanh 2 Điều lệ hợp tác xã; 3 Số lượng xã viên,danh sách Ban quản trị, Ban kiểm soát của HTX; 4 Biên bản đã thông qua tại Hộinghị thành lập HTX, so với 6 giấy tờ của Luật HTX năm 1996
Về cấp thẩm quyền cấp giấy phép đăng ký kinh doanh cho các HTX cũng có
sự linh hoạt hơn so với Luật HTX năm 1996, Luật năm 1996 quy định cơ bản cấpgiấy đăng ký kinh doanh là cấp quận huyện, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể củaHTX thì luật HTX năm 2003 đã mở rộng hơn “ Hợp tác xã đăng ký kinh doanh tại
cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh hoặc cấp huyện nơi HTX dự định đặt trụ sởchính, tuỳ theo điều kiện cụ thể của HTX”
Sự đổi mới trên được thực hiện theo tinh thần cải cách thủ tục hành chính ởnước ta, đơn giản hoá mọi vấn đề trên cơ sở vẫn mang lại hiệu quả thiết thực nhằmkhuyến khích và tạo điều kiện cho các HTX thành lập và phát triển
* Đã cụ thể hơn trong việc phân định tài sản của HTX
Tài sản của HTX bao gồm phần tài sản của các thành viên đóng góp và phầntài sản chung của HTX trong quá trình hoạt động tạo ra So với luật năm 1996 thìluật HTX năm 2003 đã phân định một cách rõ ràng nguồn gốc của khối tài sản, đặcbiệt là làm rõ khối tài sản chung bao gồm các công trình phục vụ sản xuất, côngtrình phúc lợi văn hoá, xã hội, kết cấu hạ tầng phục vụ chung cộng đồng dân cưđược hình thành từ quỹ phát triển sản xuất, quỹ phúc lợi của HTX, các nguồn vốn
do nhà nước trợ cấp, quà biếu tặng của các cá nhân trong và ngoài nứơc” Bên cạnh
đó cũng cụ thể trong việc xử lý tài sản và vốn của HTX khi giải thể Ngoài việckhông chia cho xã viên vốn và tài sản chung do Nhà nước trợ cấp mà chuyển giaocho chính quyền địa phương quản lý như Luật HTX năm 1996, Luật HTX năm2003còn quy định đối với tài sản chung của HTX được hình thành từ các nguồn vốn
Trang 24và công sức của xã viên, quà biếu tặng của các tổ chức trong và ngoài nước thì doĐại hội xã viên quyết định.
Nhờ có sự phân định rõ ràng như trên mà hiệu quả trong việc huy động quản
lý sử dụng vốn của HTX được nâng lên, cũng qua đó đảm bảo được lợi ích củangười xã viên và của HTX trong việc phân phối lãi kinh doanh, tạo ra sự gắn bó hơngiữa xã viên và HTX từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển
* Đã phân điịnh rõ hơn chức năng nhiệm vụ trong bộ máy quản lý của HTX.
Đã có sự đa dạng về mô hình quản lý, Luật HTX năm 2003 bên cạnh việcquy định duy trì một bộ máy vừa quản lý vừa điều hành HTX như luật HTX năm
1996 đã cho phép HTX thành lập riêng bộ máy quản lý và bộ máy điều hành, theo
đó có những nội dung đổi mới quan trọng so với luật năm 1996:
- Chuyển một số quyền hạn và nhiệm vụ giữa chủ nhiệm HTX và Ban quảntrị cho nhau
- Quy định đại diện chủ sở hữu tài sản của HTX và doanh nghiệp trực thuộctrong trường hợp HTX có doanh nghiệp là Ban quản trị
Ngoài ra trong mô hình HTX thành lập riêng bộ máy quản lý và bộn máyđiều hành thì ban quản trị có quyền trực tiếp bổ nhiệm, miễn nhiệm, thuê hoặc chấmdứt hợp đồng thuê chủ nhiệm HTX theo nghị quyết của đại hội xã viên Đây là mộtđiểm mới hoàn toàn trong luật HTX năm 2003
Như vậy với một số nội dung đổi mới trong bộ máy quản lý HTX đã tạo điềukiện hơn nữa cho các cơ quan quản lý nhà nước cấp trên có cơ chế chế tài phù hợptrong việc quản lý và điều hành các hoạt động của HTX Việc tổ chức lại theohướng tinh giảm , tránh tình trạng chồng chéo chức năng nhằm nâng cao hơn nữahiệu quả hoạt động của các HTX
Ngoài những nội dung cơ bản nêu trên thì Luật HTX năm 2003 còn bổ sungmột số nội dung mới quan trọng khác như hướng dẫn cụ thể về việc đóng bảo hiểm
xã hội đối với xã viên HTX, sự xuất hiện của các doanh nghiệp trực thuộc HTX,quy đinhj cụ thể chức năng quản lý nhà nước đối với HTXNN
Trang 25Nói tóm lại, Luật HTX sửa dổi năm 2003 với những nội dung đổi mới quantrọng càng tạo điều kiện hơn nữa cho sự phát triển của các HTX Luật HTX năm
2003 ra đời là một tất yếu khách quan phù hợp với sự phát triển, minh chứng chođường lối lãnh đạo đúng đắn của nhà nước ta đối với sự nhgiệp phát triển nôngnghiệp nông thôn Góp phần nâng cao tính khả thi của các văn bản luật đối với sựphát triển của các HTX
III CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂNCÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP THEO LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2003
Mỗi sự thay đổi, điều chỉnh đều không nằm ngoài mục đích nhằm nâng caohơn nữa hiệu quả hoạt động của các HTX trên cơ sở những cái đã đạt được, đó cũngchính là mục đích mà các HTX NN đặt ra khi tiến hành tổ chức các hoạt động sảnxuất kinh doanh Dưới đây là một số chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả hoạtđộng của các HTX NN khi có sự đổi mới theo Luật HTX năm 2003
1 Chỉ tiêu về kết quả đổi mới và phát triển
Các chỉ tiêu này bao gồm:
* Các mô hình HTX mới
Chỉ tiêu này phản ánh sự phát triển về mặt quy mô của các HTX NN, và sựđổi mới về nội dung và mục đích kinh doanh của các HTX NN trên cơ sở khuyếnkhích xây dựng các HTX NN mới như HTX nông nghiệp đa ngành, chuyên ngành,liên xã nhằm nâng cao vai trò và chức năng của các HTXNN trong việc hỗ trợkinh tế hộ và nông trại dựa vào điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội và thực trạng pháttriển nơi mà HTX hoạt động nhằm khai thác và phát huy thế mạnh của vùng nhưHTX tín dụng nội bộ, HTX dịch vụ mang tính thương mại
Trang 26+ Số lượng các loại dịch vụ mà các HTX cung cấp cho các hộ xã viên tuỳthuộc vào nhu cầu của hộ xã viên và khả năng của các HTX, số lượng các dịch vụcàng nhiều càng phản ánh quy mô hoạt động của các HTX càng lớn và sự hoạt động
đa dạng của các loại hình kinh doanh dịch vụ ở địa phương Các loại dịch vụ chínhphục vụ trực tiếp sản xuất NN mà các HTX tiến hành kinh doanh như dịch vụ điện,dịch vụ nước, … ngoài ra là các dịch vụ thoả thuận như dịch vụ cung ứng giống,phân bón, dịch vụ BVTV… Chỉ tiêu này biểu hiện khả năng đáp ứng nhu cầu vềcác dịch vụ cho hộ xã viên đã đày đủ kịp thời hay chưa
+ Chất lượng và giá cả các loại dịch vụ: Cho biết các HTX hoạt động kinhdoanh dịch vụ có tiết kiệm được chi phí để kinh doanh có lãi hay không, và chấtlượng dịch vụ có đảm bảo hay không Giá của các loại dịch vụ biến động theo chấtlượng cảu các laọi dịch vụ đó và sự hoạt động của cơ chế thị trường
+ Thời gian cung cấp dịch vụ: phụ thuộc vào đặc điểm của hoạt động sảnxuất NN, vì sản xuất NN mang tính thời vụ cao cho nên yếu tố thời gian cung cấpcác dịch vụ rất quan trọng Việc đáp ứng kịp thời các dịch vụ sản xuất NN sẽ đảmbảo cho các hoạt động sản xuất diễn ra bình thường và ổn định, từ đó góp phần nângcao giá trị sản xuất NN, cải thiện đời sống cho nhân dân, sản phẩm làm ra sẽ có giátrị kinh tế cao đảm bảo về chất lượng và số lượng, tăng khả năng cạnh tranh trên thịtrường nông sản Các HTX tiến hành các hoạt động dịch vụ trước hết là vì lợi íchcủa người sản xuất NN, bên cạnh đó là các mục tiêu xã hội
*Doanh thu dịch vụ: là chỉ tiêu phán ánh quy mô hoạt động của các HTX
hay nói cách khác đó là tổng giá trị sản xuất của HTX Quy mô hoạt động của cácHTX đủ lớn sẽ giúp các HTX tiêt kiệm chi phí và mang lại lợi nhuận cao cho cả hộ
xã viên và HTX
* Mức lãi lỗ từng dịch vụ: đây là doanh thu thuần của các HTX sau khi đã
trừ đi các khoản chi phí theo quy định của pháp luật Nó phản ánh doanh nhgiệphoạt dộng có hiệu quả nếu có lãi và ngược lại Cũng dựa vào đó mà các HTX có thểxác lập được tỷ lệ thích hợp trong khoản đó thành lập các quỹ để duy trì hoạt độngcủa HTX
Trang 272 Chỉ tiêu về hiệu quả đổi mới và phát triển
Các chỉ tiêu này bao gồm:
+ Mức lãi từng dịch vụ: đây là khoản mà người sản xuất thu được sau khi đã
trừ đi tất cả các chi phí vật chất và chi phi lao động của từng dịch vụ chỉ tiêu nàyphản ánh khả năng nà năng lực điều hành của HTX đối với từng loại dịch vụ là cóhiệu qủa hay không
+ Phân phối lãi của HTX: chỉ tiêu này phản ánh mức độ đảm bảo lợi ích của
HTX đối với các hộ xã viên và của chính HTX Việc phân phối lãi được thực hiệntheo điều lệ của HTX được quy định trong Luật HTX năm 2003 như sau:
+ Bù lỗ năm trước
+ Trích lập các quỹ: quỹ phát triển sản xuất, quỹ dự phòng
+ Chia lãi cho xã viên theo mức vốn góp, công sức của xã viên
+ Chia lãi cho xã viên theo múc độ sử dụng dịch vụ của HTX
Những chỉ tiêu trên phán ánh mục tiêu kinh tế của các HTX trong hoạt độngkinh doanh, tuy nhiên trong quá trình hoạt động cũng như các loại hình kinh tế khácbên cạnh các mục tiêu kinh tế còn bao gồm các mục tiêu xã hội và mục tiêu kinh tế
là cơ sở để thực hiện các mục tiêu xã hội
VI KINH NGHIỆM VỀ ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃNÔNG NGHIỆP Ở TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
Thực hiện đường lối mở cửa nền kinh tế nhằm mục đích học hỏi kinhnghiệm, tiếp thu những thành tựu phát triển của các nước trên thế giới để phục vụvào sự nghiệp phát triển của nước nhà Sản xuất nông nghiệp tồn tại ở rất nhiềunước trên thế giới, tuy nhiên ở mỗi nước, mỗi điều kiện phát triển, mỗi trình độkhác nhau lại có những hình thức tổ chức khác nhau, nhưng nội dung và mục đíchhoạt động đều dựa trên nền tảng mà liên minh HTX quốc tế nêu ra Dưới đây làmột vài kinh nghiệm về phát triển kinh tế HTX
1 Các HTX NN ở Trung Quốc
Cũng giống như nước ta, vấn đề phát triển HTX NN được nhà nước quamtâm sâu sắc, các HTX NN ở Trung Quốc đã trải qua những giai đoạn phát triển với
Trang 28những mô hình và hinh thức đa dạng khác nhau,nhưng cũng theo những định hướngđổi mới sau:
+ Phát triển kinh tế HTX trên cở sở đó hỗ trợ có hiệu quả cho hoạt động kinh
tế của hộ gia đình áp dụng chế độ khoán kinh doanh gia đình, phát triển các tổ chứckinh tế tự chủ của nông hộ
+ Hộ gia đình có quyền sở hữu tài sản tương đối độc lập, nền kinh tế hàng hoá ởnông thôn với mục tiêu thu lợi nhuận phân phối nguồn lực theo cơ chế thị trường
+ Xác lập địa vị của người nông dân trong HTX NN: họ là những người chủlợi ích, người chủ sở hữu của HTX và quyêt định hoạt động của nó
Các hình thức tổ chức HTX NN ở nông thôn Trung Quốc: tổ chức HTX liênkhu, tổ chức HTX cung tiêu, và tổ chức HTX tín dụng
2 Kinh nghiệm phát triển HTX NN Nhật Bản
HTX NN của Nhật Bản tổ chức các loại hình kinh doanh dịch vụ đa dạng và
là một trong những mô hình HTX NN phát triển nhất trên thế giới Nguyên nhân là
có sự quam tâm của chính phủ đối với sự phát triển của hình thức kinh tế này CácHTX NN Nhật Bản có các đặc điểm tổ chức sau:
* HTX NN Nhật Bản là một tổ chức tự chủ, dựa trên nguyên tắc tự nguyệngia nhập và ra HTX
* Hoạt động với 2 hình thức chính:
+ Hình thức HTX NN đa chức năng về mặt tổ chức( số lượng xã viên) vàhoạt động kinh doanh Các hình thức này tiến hành các hoạt động tín dụng cho vay
và nhận tiền gửi tiêt kiệm
+ Hình thức HTX NN đơn chức năng tổ chức tiêu thụ một số mặt hàng nôngsản nhất định
* Cơ cấu quản lý kinh tế của HTX NN chia thành 2 loại:
+ Phân chia các đơn vị nghiệp vụ theo các chức năng riêng biệt như mua,bán, tín dụng, bảo hiểm cộng đồng
+ Phân chia theo mặt hàng nông sản do xã viên sản xuất như rau quả, sảnphẩm chăn nuôi
Trang 293 Kinh nghiệm phát triển HTX dịch vụ nông nghiệp Phù Nham( Tây Bắc)
Là một trong những HTX điển hình về phong trào đổi mới và phát triển HTX
NN theo luật HTX, không những thế trong những năm phát triển trước sự phát triểncủa HTX cũng thu được những thành tựu đáng kể, dưới đây là một vài kinh nghiệmphát triển của bản thân HTX
* Coi trọng thực hiện nhiệm vụ chính của HTX là phục vụ sản xuất nôngnghiệp trên địa bàn, tạo điều kiện để các hộ gia đình nông dân áp dụng khoa học kỹthuật trong nông nghiệp, góp phần đẩy mạnh lưu thông hàng hoá
* Dựa vào điều kiện cụ thể của địa phương, xây dựng điểm bán hàng vớiphương châm trao đổi hàng hoá với hộ nông dân, chuyển giao khoa học kỹ thuật tớitận vùng sâu vùng xa, thực hiện tốt các khâu dịch vụ kinh doanh
* Lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo và nâng cao vai trò của nó Tổ chức sắpxếp lao động đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hoạt động kinh doanh, đào tạo sử dụng cán
bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng thời kỳ
Trên đây là một số những kinh nghiệm về phát triển các HTX NN trong vàngoài nước, nó là một tiền đè quan trọng để đảng và nhà nước ta có những chính sách
để phát triển kinh tế HTX phù hợp với các quy luật khách quan Dựa vào những môhình HTX trên ta có thể rút ra một vài nhận xét về kinh nghiệm phát triển HTX:
- Xây dựng mô hình HTX trên cơ sở là sự tự nguyện của mỗi hộ xã viên
- Phát triển kinh tế hợp tác nhằm trước hêt phục vụ cho lợi ích của kinh tế giađình và kinh tế trang trại
- Phát triển đa dạng các hình thức kinh doanh dịch vụ của HTX nhằm phục
vụ cho nhu cầu phát triển của kinh tế hộ xã viên
Trang 301 Đặc điểm điều kiện tự nhiên.
1.1 Điều kiện tự nhiên.
+ Vị trí địa lý: Huyện Nam Trực là một phần của châu thổ Sông Hồng - vựa
lúa lớn thứ hai của cả nước, phía bắc tiếp giáp với thành phố Nam Định là trung tâmvăn hoá kinh tế, chính trị, đây là một lợi thế rất lớn để tiến hành các hoạt động giaolưu văn hoá kinh tế của huyện
Phía Đông tiếp giáp với tỉnh Thái Bình
Phía Tây tiếp giáp với huyện Vụ Bản
Phía Nam tiếp giáp với huyện Trực Ninh và Nghĩa Hưng
+ Địa hình: Là vùng đồng bằng tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc
canh tác sản xuất nông nghiệp của người dân với một cơ cấu giống cây trồng vậtnuôi phù hợp, đồng nhất Bên cạnh sản xuất lúa nước là các loại cây rau mầu, câycông nghiệp ngắn ngày, chăn nuôi gia cầm, gia súc, …
+ Khí hậu: Mang những nét đặc trưng của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa Khí
hậu phân thành hai mùa mưa và mùa khô hanh, cho phép phát triển một cơ cấu câytrồng vật nuôi đa dạng mang đặc trưng của hai mùa
Nhiệt độ trung bình hàng năm 27 – 300C, độ ẩm trung bình trên 75%, lượngmưa xấp xỉ hàng năm vào khoảng 1580mm -2000 mm
+ Thuỷ văn: Huyện có các con sông lớn chảy qua như sông Đào, sông Hồng
và hệ thống sông nhỏ, ao hồ trong nội bàn huyện vì vậy hàng năm đã cung cấp đủlượng nước phục vụ đời sống và sản xuất của người dân, tạo thế chủ động cho việccanh tác khi mùa vụ tới
Trang 311.2: Nguồn tài nguyên thiên nhiên
+Tài nguyên đất: là nguồn tài nguyên quý giá, là cơ sở để bố trí các hoạt
động sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp Huyện có diện tích tự nhiên 16.194
ha, với tổng diện tích đất nông nghiệp 11.818 ha trong đó cây hàng năm là 10656
ha, diện tích cấy lúa cả năm khoảng 17000 ha, bình quân diện tích canh tác 500m2/khẩu Hàng năm, diện tích đất được bồi đắp bởi các con sông tạo thuận lợi để pháttriển các cây rau màu, tuy vậy nó chỉ chiếm một lượng nhỏ bên cạnh diện tích đấtphù sa không được bồi đắp hàng năm, đây là đất trồng lúa chính của huyện vàchiếm một diện tích lớn Chất lượng của đất phù hợp với nhiều loại cấy trồng có giátrị kinh tế cao phù hợp với nhu cầu của thị trường
+Tài nguyên nước: Trữ lượng nước dồi dào được cung cấp bởi hệ thống sông
hồ trong huyện và nguồn nước mưa hàng năm Tiềm năng to lớn này đã và đangđược khai thác vào phục vụ đời sống sinh hoạt của người dân đặc biệt là sản xuấtnông nghiệp Hệ thống các công trình chứa nước hàng năm được tu bổ nạo vétthường xuyên tạo cho các dòng chảy được lưu thông dễ dàng, phục vụ kịp thời nhucầu của người dân
+ Tài nguyên khoáng sản: Trên cơ sở tiến hành thăm dò địa chất đã phát hiện
ra nguồn nguyên liệu đất sét, là nguyên liệu để phát triển ngành nghề phụ củahuyện Sét gạch ngói nằm rải rác ở các bãi ven sông như Đồng Côi trữ lượng 2 tấn,sét làm bột mầu có ở Nam Hồng, Nam Trực
+ Tài nguyên Nhân văn: Theo số liệu thống kê năm 2005 dân số toàn huyện
là 204.850 người, đa số hoạt động trong ngành nông nghiệp, tỷ lệ dân số trong độtuổi lao động cao chiếm 64% trong tổng số Người dân có tình thần trách nhiệm laođộng cao, cần cù sáng tạo, kinh nghiệp sản xuất được tích luỹ từ lâu đời, biết làmchủ và khai thác tự nhiên vào phục vụ đời sống Đây là một lợi thế lớn của huyệnnhà trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế
+ Cảnh quan môi trường: Khí hậu ôn hoà, thuận lợi cho hoạt động sản xuất
và sức khoẻ của người dân Trên địa bàn huyện còn tồn tại rất nhiều di tích lịch sử
Trang 32của người xưa như đền chùa, miếu mạo, và lĩnh vực nghệ thuật như múa rối nước,keo vật, … mang đậm nét văn hoá Phương Đông đã và đang được khôi phục và lưu truyền.
2 Điều kiện kinh tế xã hội.
2.1 Kết cấu hạ tầng.
+ Giao thông: Với hai trục đường chính 21 và 55, bên cạnh đó là hệ thống
giao thông nội bàn đã được bê tông hoá đến tận đường làng, ngõ xóm, thuận tiệncho việc đi lại của người dân cả trong sản xuất lẫn sinh hoạt hàng ngày Hàng nămhuyện cũng có kế hoạch tu bổ nâng cấp các tuyến đường bị xuống cấp Đặc biệtthuận tiện cho quá trình chuyên môn hoá, hiệp tác hoá với các vùng miền kháctrong giao lưu đi lại
+ Hệ thống thuỷ lợi: Trong huyện đã xây dựng nhiều hệ thống công trình
thuỷ lợi phục vụ sinh hoạt và sản xuất của người dân Với vai trò là biện pháp quantrọng hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp nên hàng năm đã có nhiều công trìnhthuỷ lợi mới và sửa chữa lại bàn giao cho các đội sản xuất quản lý và sử dụng vớichất lượng cao, công suất sử dụng lớn Công tác khai thông dòng thuỷ, kiên cố hoá
hệ thống kênh mương, đầu tư các trang thiết bị máy móc được tiến hành hàng nămnhờ đó mà sản xuất nông nghiệp luân đạt giá trị cao
+ Nguồn điện năng:Cho đến nay 100% số hộ trong huyện đã sử dụng mạng
điện quốc gia vào phục vụ sản xuất và sinh hoạt hàng ngày với chi phí phù hợp vớimức thu nhập của người dân Hệ thống đường dây, tạm biến áp cung cấp điện đượcbảo dưỡng và tu sửa thường xuyên đáp ứng yêu cầu của người dân
+ Cơ sở cung cấp giống và vật tư nông nghiệp: Giống và vật tư nông nghiệp
là yếu tố vật chất quan trọng cơ bản để tiến hành sản xuất nông nghiệp Huyện đãcấp giấy phép kinh doanh cho những cơ sở tư nhân có nhu cầu kinh doanh mặt hàngnày và có cơ chế giám sát chặt chẽ bên cạnh các cơ sở kinh doanh đại diện cho nhànước Về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu về giống và vật tư cho nông nghiệp chocác họ sản xuất với số lượng vừa đủ, chất lượng cao, giá cả phù hợp và một cáchkịp thời, tạo tâm lý yên tâm cho các đối tượng tiêu thụ mặt hàng quan trọng này
Trang 33Bên cạnh đó là các trung tâm khuyến nông, khuyến lâm và các trung tâmnghiên cứu khoa học cũng ngày càng được đầu tư mở rộng và hoạt động có hiệuquả cao.
+ Hệ thống thông tin liên lạc: Đóng vai trò là tai mắt trong nền kinh tế thị
trường, cho phép các chủ sản xuất kinh doanh chớp thời cơ mở rộng sản xuất kinhdoanh trên cơ sở tiếp thu kịp thời những thông tin từ thị trường và các nhà sản xuấtkhác Toàn huyện đã xây dựng hệ thống thông tin với sự xuất hiện của các trungtâm bưu điện cấp xã và các phương tiện thông tin đại chúng khác với chất lượngngày càng tốt đáp ứng kịp thời nhu cầu cập nhật tin tức hàng ngày của người dân vềcác lĩnh vực của đời sống xã hội trên phạm vi rộng lớn, từ đó có phương hướng đểtiến hành các hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường
+ Các cơ sở chế biến nông sản: Nắm bắt được nhu cầu của thị trường về
những sản phẩm đã qua chế biến nên huyện đã nhanh chóng tiến hành xây dựng các
cơ sở chế biến hàng nông sản với công suất lớn, phương tiện máy móc hiện đại,thuận tiện ở những nơi sản xuất có khối lượng lớn để làm giảm tổn hao sản phẩm.Các cơ sở này ngày càng được chú trọng quan tâm đầu tư, xây dựng, đây cũng làkết quả của việc thực hiện chuyển đổi nội dung và mở rộng phương thức sản xuấtkinh doanh theo luật HTX của Huyện
2.2 Dân số, lao động, việc làm và đời sống dân cư.
+ Dân số: Toàn huyện có 19 xã và 1 thị trấn, trong đó có 9 HTX toàn xã và
27 HTX liên thôn, với tổng số dân là 204.850 người (2005), mật độ dân số cao trên
800 người/km2, đa số người dân sống tập trung ở những thôn, làng Tỷ lệ gia tăngdân số tự nhiên của huyện là 1,04%, đây là kết quả đáng khích lệ của huyện nhàtrong công tác hạn chế sự gia tăng dân số
+ Lao động- việc làm: số người trong độ tuổi lao động chiếm trên 60%, và
hoạt động trong ngành nông nghiệp là chủ yếu.Hàng năm cung về việc làm có tăngnhưng tốc độ tăng nhỏ hơn so với tốc độ gia tăng dân số trong độ tuổi lao động nêntình trạng thất nghiệp trong lao động nông thôn vẫn chiếm tỷ lệ cao Bên cạnh đó về
Trang 34kinh nghiệm và trình độ của người lao động vẫn còn thiếu và yếu do đó làm giảm sựchuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang các ngành có hàm lượng khoa học cao
+ Đời sống dân cư: ngày càng được cải thiện cả về vật chất lẫn tinh thần, thu
nhập bình quân đầu người trên 300nghìn đồng/tháng, cao hơn so với mức thu nhậptrung bình của cả nước Sức tiêu thụ các mặt hàng nông sản lớn, đây là một lợi thếcho ngành nông nghiệp của huyện nhà trong công việc tìm kiếm mở rộng thị trườngtiêu thụ hàng hóa Đã xuất hiện những trung tâm vui chơi giải trí đến từng thôn,làng và dưới nhiều hình thức khác nhau, tạo điều kiện cho người dân phát triển toàndiện
2.3 Thực trạng phát triển kinh tế của huyện Nam Trực trong những năm qua.
Quán triệt tư tưởng của đảng và nhà nước về đổi mới nền kinh tế nên trongnhững năm qua huyện Nam Trực đã tiến hành đổi mới kinh tế và đổi mới về cáchình thức sản xuất nông nghiệp được coi là mặt trận hàng đầu, nhằm thực hiệnthắng lợi mục tiêu CNH_HĐH nông nghiệp nông thôn Cùng với sự lãnh đạo củaĐảng bộ huyện và sự cố gắng không ngừng của nhân dân trong huyện, đã vượt quanhững khó khăn thử thách xây dựng kinh tế huyện vững mạnh, với nhiều thành tựuđổi mới quan trọng Cụ thể:
* Về tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Theo báo cáo của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Nam Trực tại Đại hội đạibiểu Đảng bộ huyện lần thứ XXIII tháng 5/2005
+ Tăng trưởng kinh tế: nhìn chung kinh tế toàn huyện tăng trưởng mạnh,nhiều ngành đã tạo ra sự tăng trưởng vượt bậc như công nghiệp và xây dựng Tốc
độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm(2001-2005) đạt 7,67% vượt kế hoạch0,17%, trong đó nông gnhiệp tăng bình quân 3,7% hoàn thành chỉ tiêu, công nghiệp
và xây dựng tăng bình quân 18,8% vượt 6,8% chỉ tiêu, thương mại dịch vụ tăng7,1% hoàn thành chỉ tiêu
+Về cơ cấu kinh tế: đã có sự chuyển dịch mạnh theo hướng tăng dần tỷ trọngngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp nhưng giá trị
Trang 35sản xuất vẫn tăng cao Về cơ cấu kinh tế đến năm 2005, tỷ trọng nông nghiệp chiếm41,2%, công nghiệp và xây dựng chiếm 28,2%, dịch vụ 30,7%, huyện đã hoànthành chỉ tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Sự chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp cũng đạt được nhữngkết quả khả quan, theo hướng giảm diện tích đất trồng trọt chuyển sang chăn nuôi,chuyển diện tích của những cây trồng kém hiêu quả những cây trồng có giá trị kinh
tế cao theo yêu cầu của thị trường hoặc sang nuôi trồng thuỷ sản tại những nơi cóđiều kiện phù hợp, làm cho giá trị sản xuất nông nghiệp tăng và hoàn thành chỉ tiêuđặt ra đến năm 2005 giá trị sản xuất nông nghiệp/ha đất canh tác đạt khoảng 34 triệuđồng
* Thực trạng phát triển một số ngành
+ Sản xuất nông nghiệp bao gồm:
Trồng trọt: tổng diện tích gieo trồng hàng năm là 22.604 ha Giá trị sản phẩm
nông ngiệp bình quân 5 năm tăng 4,4%, năng suất một số cây trồng chính tăng sovới các năm trước Tổng sản lượng lương thực bình quân 5 năm đạt 108.035 tấn,lương thực bình quân đầu người 572 kg, luôn ở mức an toàn cao Sản lượng một sốsản phẩm hàng hoá tăng so với các năm trước
Chăn nuôi:Ngành chăn nuôi tiếp tục có bước phát triển mạnh, tổng đàn gia
súc gia cầm tăng nhanh, giá trị sản phẩm chăn nuôi bình quân hàng năm tăng 8.7%
Tỷ trọng giá trị ngành chăn nuôi tăng từ 22.2% năm 2000 lên 25.7% năm 2005.Trong chăn nuôi đã xuất hiện tích tụ vốn đầu tư vào chăn nuôi theo mô hình trangtrại Nhiều hộ gia đình chăn nuôi lợn với quy mô từ 50-300 con lợn lạc xuất khẩu công tác quản lý nhà nước về chăn nuôi, tiêm phòng dịch bệnh được quan tâm chỉđạo, đã phát hiện sớm và dập tắt kịp thời dịch cùm gia cầm típ A-H5N1
Công tác thuỷ lợi: Đã chỉ đạo triển khai đề án phòng chống lụt bão hàng năm
có hiệu quả Hoàn thành tốt kế hoạch tu bổ, xây dựng đê kè cống Thường xuyênquan tâm công tác thuỷ lợi nội đồng , kiên cố hoá hệ thống kênh mương
Công tác quản lý HTX:dã tiến hành Đại hội tổng kết nhiệm kỳ và tổng kết
sản xuất kinh doanh hàng năm Hoạt động kinh doanh dịch vụ của các HTX đã kịp
Trang 36thời phục vụ hco sản xuất, hỗ trợ có hiệu quả cho kinh tế hộ phát triển Công tácquản lý sử dụng vốn quỹ đảm bảo nguyên tắc, vừ có hiệu quả.
Công tác quản lý đất đai: đã hoàn thành việc quy hoạch sử dụng đất đến năm
2010 Hoàn thành hồ sơ địa chính, triển khai kế hoạch sử dụng đất hàng năm và cấpgiấy chứng nhận cho các hộ sử dụng đất.Triển khai thực hiện có hiệu quả Nghịquyết số 02-NQ/TU ngày06/8/2002của tỉnh uỷ Nam Định về công tác dồn điền đổithửa
+ Công nghiệp - tiểu thủ công nghệp: thực hiện đường lối đổi mới của đảng
trong những năm qua, trên cơ sở phát huy tiềm năng thế mạnh của địa phương, cáccấp chính quyền đã phối hợp với các doanh nghiệp tích cực tìm kiếm thị trường, đốitác đầu tư, đẩy mạnh xây dựng các cụm công nghiệp tập trung, liên doanh liên kếtvới các đơn vị trong và ngoài tỉnh Giá trị sản xuất của ngành trong 5 năm (2001-2005) đạt tốc độ tăng bình quân 30%/năm, sảm phẩm đa dạng phong phú về chủngloại từ ngành ngề truyền thống đến các ngành nghề mới, góp phần làm tăng giá trịsản lượng công nghiệp ở địa phương
+ Tài chính- tín dụng ngân hàng: Các cấp các ngành đã tập trung chỉ đạo
tăng cường khai thác các nguồn thu, thực hiện thu chi theo dự toán, thực hành tiếtkiệm chi tiêu hành chính Ngân hàng NN & PTNT đã tập trung huy động vốn vàđầu tư phục vụ tốt nhu cầu vốn vây phát triển nền kinh tế đặc biệt là các hộ sản xuấtnông nghiệp
3 Một số nhận định tổng quan về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của Huyện Nam Trực.
3.1 Thuận lợi.
Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội là cơ sở quạn trọng để tiến hành bố trícác hoạt động sản xuất kinh doanh, đây chính là cơ sở tự nhiên để các hoạt độngdiễn ra trên cơ sở khai thác các nguồn lực tự nhiên sẵn có vào phục vụ sản xuất Vớinhững đặc điểm trên huyện nhà có 1 tiềm năng lớn để phát triển nền nông nghiệphàng hóa với trình độ cao và quy mô lớn Hệ thống giao thông thuận lợi cho việcchuyên chở các yếu tố đầu vào cũng như đầu ra sản phẩm trong nội vùng và từ vùng
Trang 37sang các vùng khác, thúc đẩy sự chuyên môn hoá, hiệp tác hoá trong sản xuất nôngnghiệp phù hợp với xu hướng phát triển chung của toàn ngành Với đặc điểm khíhậu của 2 mùa cho phép phát triển cây trồng vật nuôi của vùng nhiệt đới và ôn đới,tạo ra sự đa dạng trong cơ cấu cây trồng vật nuôi, đáp ứng được nhu cầu của thịtrường về đa dạng sản phẩm, đây cũng là 1 lợi thế của nước ta so với các nước kháctrong khu vực và trên thế giới Trữ lượng nước lớn, hệ thống thuỷ lợi với chất lượngtốt nên công tác sản xuất chủ động được trong vấn đề tưới tiêu nước, công tácchống úng chống hạn được thực hiện tốt Nhờ có hệ thống thuỷ lợi nội đồng mà banchỉ đạo sản xuất đã mạnh dạn đưa những cây trồng có năng suất, chất lượng cao vàosản xuất và tích cực chuyển đổi cớ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện sản xuất.
Với hệ thống cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện tạo điều kiện để các hoạtđộng sản xuất của nông dân diễn ra ổn định và có hiệu quả cao, nâng giá trị sản xuấtcủa ngành nông nghiệp trong cơ cấu giá trị sản xuất của Huyện
Đặc điểm điều kiện tự nhiên là cơ sở quan trọng để xác định phương hướngsản xuất và bố trí cây trồng vật nuôi phù hợp, tuy nhiên để các yếu tố này phát huyhiệu quả như mong muốn thì cần phải có sự tác động của lao động con người thôngqua các công cụ lao động Cả chất lượng và số lượng dân cư lao động đều ảnhhưởng trực tiếp đến sự phát triển của ngành sản xuất Nguồn lao động chiếm tỷ lệcao trong tổng dân số nên hàng năm đã cung cấp 1 lượng lớn lao động bổ xung chocác ngành nghề Đội ngũ lao động có trình độ tay nghề cao, kinh nghiệm phong phúđáp ứng nhu cầu của sự phát triển
Cùng với sự gia tăng về dân số trong độ tuổi lao động thì cùng về việc làmngày càng mở rộng, bên cạnh sản xuất nông nghiệp là sự xuất hiện của những ngànhnghề phụ như đúc gang, thép, cơ khí, sản xuất gạch ngói, dệt may … tạo ra nhu cầu
về lao động, góp phần giải quyết việc làm tại chỗ cho người dân nông thôn
Địa bàn huyện cung xlà một thị trường có tiềm năng lớn về tiêu thụ, các mặthàng thông thường, mặt hàng cao cấp do mức sống của người dân ngày một cảithiện và thu nhập cao Đây là một định hướng quan trọng giúp các nhà phân tích thịtrường đưa ra chiến lược kinh doanh phù hợp
Trang 38Nhìn chung huyện Nam trực có một tiềm năng lớn về cả điều kiện tự nhiên
và xã hội, bên cạnh đó là những cơ hội mới, thời cơ mới đến với nước ta nói chung
và với huyện Nam trực nói riêng, là cơ sở để phát triển nền kinh tế toàn diện, nângcao đời sống vật chất tinh thân cho người dân thúc đẩy hoàn thành các mục tiêu màĐảng và Nhà nước đặt ra
3.2 Khó khăn thách thức
Bên cạnh những thuận lợi trên thì không thể khống kể đến những khó khăn
đã và đang đặt ra với sự nghiệp phát triển của huyện, nó bắt nguồn từ tính chất 2mặt của sự vật hiện tượng Những khó khăn này do nội tại và yêu cầu khách quanquy định trong quá trình phát triển kinh tế huyện
Sản xuất nông nghiệp chịu nhiều ảnh hưởng do điều kiện tự nhiên mang lại,đối với nước ta thì đặc điểm đó còn rất rõ nói lên nền sản xuất lạc hậu, phươngthức canh tác lạc hậu và phụ thu vào điều kiện tự nhiên Khí hậu n mang tính chấtnhiệt đới nóng ẩm mưa nhiều, độ ẩm không khí cao, là điều kiện thuận lợi bùngphát các dịch bệnh phá hoại mùa màng Hệ thống thuỷ lợi đã được kiên cố nhưngtình trạng xuống cấp vẫn xảy ra do quá trình quản lý lỏng lẻo, qua loa gây ra tìnhtrạng lũ lụt, hạn hán khi mùa mưa và mùa hanh khô xuất hiện, làm thiệt hại sảnxuất
Công tác giao đất đến tận tay người dân vẫn chưa triệt để, tình trạng sảnxuất manh mún, phân tán còn tồn tại
Hệ thống kết cấu hạ tầng nhiều nơi đang bị xuống cấp nghiêm trọng làmgiảm quá trình sản xuất của nông dân Cùng với cả nước, huyện Nam trực cũngđang phải đối mặt với sự gia tăng dân số nhanh, tỷ lệ lao động thất nghiệp cao,trong khi sức hút về lao động từ các cơ sở sản xuất kinh doanh còn yếu do quy môsản xuất còn nhỏ Trước tình trạng đó người lao động nông thôn rời bỏ sản xuấtnông nghiệp đổ xô ra các thành phố lớn tìm việc còn lại trong nông thôn đa số lànhững gười đã quá tuổi lao động và lao động trẻ em, từ đó làm giảm sức sản xuấttrong nông thôn
Trang 39Mức sống của người dân cả về vật chất, lần tình thần tuy đã được cải thiệnnhững vẫn còn một số ít hộ rơi vào tình trạng mức thu nhập nhỏ hơn mức thu nhậptrung bình của vùng và rất bấp bênh Nhận thức của người dân về các vấn đề đổimới, phát triển còn nhiều hạn chế, gây khó khăn trong công tác tuyên truyền vậnđộng đường lối chinh sách của Đảng về phát triển kinh tế xã hội
Tất cả những khó khăn trên là một trở ngại rất lớn trên bước đường phát triểncủa huyện nhà để phát triển nền kinh tế lành mạnh vững chắc đòi hỏi Ban lãnh đạohuyện phải có những cơ chế chính sách cụ thể, phù hợp để làm tốt công tác lãnhđạo, chỉ đạo trên cơ sở tìm hiểu và tôn trọng các quy luật tự nhiên, quy luật kinh tếtrong nền kinh tế thị trường Bên cạnh đó là sự nỗ lực của bản thân người dân tronghuyện cùng nhau giải quyết các vấn đề kinh tế
Phân tích được những thuận lợi và khó khăn do đặc điểm điều kiện tự nhiênmang lại để có cái nhìn tổng quan hơn các vấn đề phát triển từ đó có phương hướng,biện pháp tổ chức hoạt động nhằm đem lại hiệu quả phát triển cao
II THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN HTX NN THEO LUẬT HTX NĂM 2003 Ở HUYỆN NAM TRỰC
Thực hiện Nghị quyết số 13NQ-TW Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá
IX về tiếp tục đổi mới và nâng cấp hiệu quả kinh tế tập thể, nghị quyết 04/NQ-TƯ
về đổi mới HTX gắn với chỉ đạo đại hội xã viên HTX NN nhiệm kỳ 2003-2006, kếhoạch số 49/UBND - VP3 của UBND tỉnh Nam Định
Căn cứ tình hình cụ thể của các HTX NN trong huyện và định hướng pháttriển kinh tế HTX đến năm 2010 của BCH Huyện, UBND huyện Nam trực tiếnhành tiếp tục đổi mới và phát triển các HTX NN theo luật HTX năm 2003
1 Các bước tiến hành đổi mới
Dưới sự hướng dẫn của Sở NN &PTNT, UBND huyện Nam Trực tiến hànhtriển khai, công bố tiến hành đổi mới và phát triển các HTX NN tới các HTX trongtoàn huyện.Hướng đổi mới xoay quanh các nội dung cụ thể sau:
- Đối với mô hình HTX NN hiện nay giữ nguyên mô hình cần tập trung đổimới về nội dung, phương thức hoạt động để HTX ổn định phát triển
Trang 40- Đối với HTX khá giỏi, xã viên tin cậy HTX cần mạnh dạn huy động xãviên góp vốn, xác định xã viên theo đúng luật, chuyển mô hình HTX hiên nay sang
mô hình HTX cổ phần
- Khuyến khích tạo điều kiện cho các địa phương hình thành HTX kiểu mới:HTX dịch vụ chuyên nganh, HTX dịch vụ tổng hợp, HTX liên xã với 100% vốngóp của xã viên tham gia HTX
Bám sát những định hướng trên, Phòng NN&PTNT huyện Nam Trực triểnkhai hướng dẫn các bước tiến hành đổi mới và phát triển các HTX NN theo luậtHTX năm 2003 đến từng HTX như sau:
- Tiến hành thành lập Ban chỉ đạo điều hành, hướng dẫn các HTX trong toànhuyện những nội dung cần và tiếp tục đổi mới đối với các HTX về các mặt phươnghướng, mục đích kinh doanh, sở hữu vỗn quỹ HTX, xã viên HTX, phân phối lợinhuận HTX…
- Phổ biến công tác kế hoạch và quy trách nhiệm đối với cán bộ và xã viênHTX nhằm nâng cao nhận thức của họ, để họ thấy được đổi mới và phát triển cácHTX là một xu thế khách quan tất yếu, phục vụ trước hết lợi ích của họ
- Xây dựng các kế hoạch phương án sản xuất kinh doanh, những cơ chế, chếtài cụ thể trên cơ sở đường lối của Đảng và Nhà nước, những điều kiện tự nhiênkinh tế xã hội của vùng và từ thực trạng hoạt động của các HTX hiện nay
- Tiến hành họp Đại hội xã viên thông qua đó báo cáo kết qảu sản xuất kinhdoanh đã được tổng kết thường kỳ, nêu những vấn đề được và chưa đạt được từ đó
có hướng điều chỉnh cụ thể
2 Nội dung đổi mới HTX NN theo luật HTX năm 2003 ở huyện Nam Trực
Được sự chỉ đạo trực tiếp của Phòng NN & PTNT huyện Nam Trực, cácHTX trong toàn huyện đã nhanh chóng tiến hành đổi mới và củng cố lại bộ máyquản lý hoạt động HTX mình trên cơ sở bám sát đường lối chủ trương mà đảng vànhà nước ta đề ra trong luật HTX, và các nghị quyết, chỉ thị hướng dẫn thi hành từcấp trung ương đến cấp cơ sở Những nội dung đổi mới được triển khai đến từng các