1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự

19 24 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hình sự
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 40,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 I. Khái quát chung về nguyên tắc suy đoán vô tội. 1 1. Khái niêm nguyên tắc suy đoán vô tội 1 2. Nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội. 4 3. Ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội 6 II. Điều kiện đảm bảo thực hiện của nguyên tắc suy đoán vô tội. 9 1. Điểu kiện đảm bảo thực hiên. 9 1.1. Điều kiện chính trị 9 1.2. Điều kiện kinh tế xã hội 10 1.3. Điều kiện về sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật 11 2. Thực tiễn thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Việt Nam. 13 KẾT LUẬN 16 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

MỞ ĐẦU

Việt Nam đang trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Một trong những yêu cầu của nhà nước pháp quyền là phải xây dựng cho được hệ thống pháp luật thống nhất, chặt chẽ và đồng bộ bảo vệ quyền con người Pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) cũng cần đáp ứng yêu cầu đó Bởi lẽ, TTHS là lĩnh vực hoạt động đặc biệt của nhà nước, ở đó, xuất hiện quan hệ bất bình đẳng giữa một bên là các cơ quan tiến hành tố tụng với sự hậu thuẫn của quyền lực nhà nước và bên kia yếu thế hơn là những người bị buộc tội Cũng từ đó, nguy cơ xâm phạm đến quyền con người là cao nhất và hậu quả cũng nặng nề nhất và đòi hỏi bảo vệ quyền con người trong TTHS cũng là yêu cầu bức thiết nhất Vì lý do đó nên em xin lựa chọn đề số 5 “ Nguyên tắc“ suy đoán vô tội” trong tố tụng hình sự Việt Nam và điều kiện đảm bảo thực hiện.”

Trong quá trình làm bài khó tránh mắc phải sai sót, kính mong thầy cô góp ý để bài làm của em được hoàn thiện Em xin trân thành cảm ơn!

NỘI DUNG

I Khái quát chung về nguyên tắc suy đoán vô tội.

1. Khái niêm nguyên tắc suy đoán vô tội

Nguồn gốc của thuật ngữ suy đoán bắt nguồn từ tiếng Latinh“praesumptino” hay trong tiếng anh “presump” được hiểu là coi vấn đề, hiện tượng nào đó là đúng đắn cho đến khi chưa có lý do bác bỏ vấn đề, hiện tượng đó.Từ điển Longman nêu rõ trong lĩnh vực pháp luật, “presump” được hiểu là “chấp nhận một điều gì đó là đúng cho đến khi nó được chứng minh là không đúng”.1

1 Đỗ Đức Minh, Bàn về suy đoán vô tội,Tạp chí tòa án nhân đân, truy cập lần cuối ngày 24/4/2021,

https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/ban-ve-nguyen-tac-suy-doan-vo-toi<

Trang 3

Từ điển Tiếng Việt có giải thích nguyên tắc là“ điều cơ bản định ra, nhât thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”2

Theo Triết học Mác- Lênin thì “nguyên tắc” là“những tư tưởng xuất phát điểm, có tính chất chỉ đạo, có tính chất chủ đạo, định hướng là nguyên tắc cơ bản của hành động” Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ “nguyên tắc của pháp luật” được định nghĩa như sau: “ Nguyên tắc của pháp luật là những tư tưởng chỉ đạo,

cơ bản mang tính chất xuất phát điểm, định hướng, chịu sự quy định của những quy luật phát triển khách quan của xã hội, xuyên suốt nội dung, hình thức pháp luật, toàn bộ thực tiễn pháp luật, hoạt động xây dựng, áp dụng pháp luật, hành vi pháp luật, ý thức luật”3

Ngay từ thời La mã cổ đại người ta đã khẳng định trách nhiệm chứng minh thuộc về bên tố cáo, thuộc bên khẳng định chứ không phải bên phủ định, những tư tưởng này chỉ được các quan toà áp dụng trong tố tụng dân sự Đây được coi là cội nguồn của nguyên tắc suy đoán vô tội (presomtion of innonce) Tuy nhiên, chỉ đến khi cách mạng tư sản Pháp 1789 bùng nổ, tư tưởng này mới được ghi nhận như là một nguyên tắc của pháp luật Tuyên ngôn nhân quyền

1789 long trọng tuyên bố: Mọi người được coi là vô tội cho đến khi bị tuyên bố phạm tội Nếu xét thấy cần thiết phải bắt giữ thì mọi sự cưỡng bức vượt quá mức cần thiết cho phép đều bị pháp luật xử lý nghiêm khắc.4

Ở Việt Nam trước khi BLTTHS 2015 ra đời thì thuật ngữ “suy đoán vô tội” chưa được quy định chính thức trong bất cứ điều luật điều luật nào Tuy nhiên một phần của nội dung và tư tưởng của nguyên tắc cũng đã được xuất hiện

ở một số văn bản quy phạm pháp luật cũ Trước tiên tại thông tư số 2252/HCTP

2 Viện ngôn ngữ học, Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa.

3 Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Tư pháp, Hà Nội 2016

4 Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2017

Trang 4

ngày 29/10/1953 cho 11 rằng “Không nên có định kiến rằng, hễ người bị truy tố

là nhất định có tội mà đối xử như người có tội; bị can trước khi tuyên án được coi như vô tội để toà án có thái độ hoàn toàn khách quan” BLTTHS năm 1988

ra đời đã quy định rõ hơn nội dung này tại điều 10: “Không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt, khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” Hiến pháp 1992 kế thừa và khẳng định lại tinh thần SĐVT một lần

nữa tại Điều 725 BLTTHS năm 2003 ra đời và cũng tiếp tục kế thừa phát huy những thành tựu của các Bộ luật trước, quy định rõ ràng hơn tại Điều 9, theo đó

"Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật" Tại Điều 10 BLTTHS 2003 “Xác định sự thật

của vụ án” cũng quy định rõ trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình

vô tội Bản Hiến pháp 2013 mở ra một trang mới quyền con người khi đặt ra quy định tại Chương II – Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Theo đó “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Đây là một trong những nội dung chính là thể hiện đầy đủ của một nguyên tắc pháp lý quan trọng, Nguyên tắc SĐVT Để cụ thể hóa Hiến pháp 2013, Bộ luật TTHS 2015 được ban hành và ghi nhận một nguyên tắc hoàn toàn mới có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động TTHS và góp phần bảo đảm quyền còn người, đó là “nguyên tắc suy đoán vô tội” Nguyên tắc mở ra một định hướng tích cực hơn và được coi là nguyên tắc “vàng” trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hiện nay.6

5 Đoàn Thị Ngọc Hải (2015) “Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Luật tố tụng hình sự, sự thể chế hóa cho phù hợp với Hiến pháp”, mục nghiên cứu và trao đổi https://moj.gov.vn

6 Phạm Việt Cường ,Nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự VIệt Nam( 2019), Luận văn thạc sĩ luật học, học viên Khoa học xã hội.

Trang 5

Từ những nghiên cứu trên ta có thể hiểu về định nghĩa nguyên tắc suy đoán vô tội như sau: Nguyên tắc suy đoán vô tội là một nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự Việt Nam, là tư tưởng chủ đạo, cơ bản mang tính xuất phát điểm, bảo đảm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không bị coi là có tội khi lỗi của

họ chưa được cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định và chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật.7

2. Nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội.

Suy đoán vô tội đã đựợc luật hình sự của nhiều nhà nước coi là nguyên tắc của tố tụng hình sự, được đánh giá là thành tựu vĩ đại của văn minh pháp lý trong việc bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm về nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội, nhưng theo chúng tôi suy đoán

vô tội bao gồm những nội dung sau đây: Người bị buộc tội có quyền được suy đoán vô tội Điều đó nghĩa là tuy đang

Thứ nhất, người bị buộc tội được suy đoán vô tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Người bị buộc tội có quyền được suy đoán vô tội Điều đó nghĩa là tuy đang bị buộc tội, đã tham gia vào tố tụng, chịu sự hạn chế nhất định về quyền tự

do cá nhân theo quy định của pháp luật nhưng người bị buộc tội vẫn có quyền được coi như không phạm tội cho đến khi bản án kết tội của toà án có hiệu lực pháp luật

Nguyên tắc suy đoán vô tội cũng đòi hỏi bất cứ tội phạm nào cũng phải được chứng minh theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định

7 Đinh Thế Hưng( 2019) , “Thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội tring tố tụng hình sự Việt Nam”, tạp chí tòa án nhân dân truy cập lần cuối ngày 24/4/2021, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/xay-dung-phat-luat/thuc-hien-nguyen-tac-suy-doan-vo-toi-trong-to-tung-hinh-su-viet-nam<

Trang 6

Quá trình chứng minh tội phạm được thực hiện từ khi có tố giác, tin báo về tội phạm và thông qua các thủ tục khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành các hoạt động điều tra, kết thúc điều tra đề nghị truy tố, truy tố bằng bản cáo trạng và tiến hành xét xử, điều tra công khai tại phiên tòa Suy đoán vô tội là quyền của người

bị buộc tội, dẫn đến trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan buộc tội Tòa án chính là cơ quan duy nhất trong bộ máy nhà nước có quyền ra bản án kết tội khi có các căn cứ theo quy định pháp luật Tính duy nhất của Tòa án thể hiện

ở chỗ ngoài Tòa án ra, không có bất cứ cơ quan nào khác có thể ra quyết định đó,

kể cả Quốc hội, chính phủ vv Như vậy chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền phán quyết, xác định một người có tội bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật Bản

án là một văn bản pháp lý ghi nhận phán quyết của Tòa án đánh dấu sự kết thúc toàn bộ quá trình điều tra, truy tố, xét xử, và phản ánh những kết quả của phiên tòa, ý kiến phân tích, kết quả tranh tụng và đánh giá của hội đồng xét xử Bản án quyết định bị cáo là người có tội hoặc không có tội

Thứ hai, trách nhiệm chứng minh lỗi của người bị buộc tội thuộc về các

cơ quan tiến hành tố tụng hình sự Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình là vô tội.

Trách nhiệm chứng minh tội phạm được quy định tại Điều 15 BLTTHS

2015 theo đó “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”8

Quy định trên không chỉ thuộc nội dung nguyên tắc xác định sự thật của vụ án mà thuộc về nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội Người bị buộc tội không có nghĩa vụ phải chứng minh sự vô tội của mình mà nghĩa vụ chứng minh thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (cơ quan buộc tội, người buộc

tội) phải tuân thủ nghiêm ngặt trình tự, thủ tục luật định Người bị buộc tội được

8 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015

Trang 7

quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội đồng nghĩa với việc tại phiên toà bị cáo có quyền im lặng tức là không có nghĩa vụ phải trả lời các câu hỏi của Hội đồng xét xử Để có thể ra một trong các quyết định khởi tố, điều tra, truy thì các cơ quan THTT phải có trách nhiệm chứng minh và xác định rõ ràng các căn cứ là có tội được quy định trong BLHS

Thứ ba, bảo đảm mọi nghi ngờ trong quá trình chứng minh tội phạm đối với người bị buộc tội, nếu không bị loại trừ theo trình tự thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định thì phải được giải thích có lợi cho họ.

Đây là quy định rõ ràng, dứt khoát và tinh thần này được thể hiện ở các ở giai đoạn tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử Mục đích của TTHS là tội phạm phải được phát hiện và xử lý theo quy định của pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội Nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi sự buộc tội phải dựa trên những chứng cứ xác thực, không còn nghi ngờ Mọi sự nghi ngờ đối với người bị buộc tội đều phải được kiểm tra, chứng minh làm rõ Nếu không chứng minh làm rõ được sự nghi ngờ thì sự nghi ngờ đó phải được giải thích theo hướng có lợi cho họ Nội dung này của nguyên tắc suy đoán vô tội thể hiện sự nhân đạo của pháp luật đối với người bị buộc tội

Thứ tư, bảo đảm bản án kết tội của tòa án không được dựa trên những giả định.

Bản án kết tội được tuyên đối với bị cáo phải bảo đảm tính xác định, có căn cứ, tính hợp lý và không thể dựa trên những giả định, chưa được kiểm chứng Khi ra bản án buộc tội, phải trên cơ sở các chứng cứ có trong vụ án làm căn cứ, nhưng những chứng cứ đó phải được kiểm tra, đánh giá một cách tổng

Trang 8

thể và công khai trong quá trình xét xử, dựa trên những thông tin có thật, đã được kiểm chứng mà không dựa trên những thông tin có tính giả định.9

3. Ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội

Đầu tiên, nguyên tắc suy đoán vô tội có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án nói chung và quá trình chứng minh nói riêng

Nguyên tắc suy đoán vô tội giúp hoạt động chứng minh được thực hiện đúng quy định pháp luật, theo trình tự thủ nhất đinh và loại trừ những yếu tố, vấn đề còn nghi ngờ về hành vi phạm tội Mọi sai lầm trong chứng minh nhiều khi có thể phải trả giá bằng sinh mệnh của con người Do đó, nếu chỉ chứng minh theo hướng suy đoán có tội thì rất dễ dẫn đến việc coi tố tụng hình sự chỉ đơn thuần là việc bắt người và ra bản án kết tội kèm theo những hình phạt cụ thể Việc định kiến người bị buộc tội là người có tội là hết sức nguy hiểm Nó đồng nhất người

bị buộc tội là người có tội kéo theo đó là việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng tràn lan, thiếu căn cứ, chà đạp lên quyền con người mà nhiều trường hợp khi vụ án được xem xét lại thì họ hoàn toàn vô tội Lúc đó, có bồi thường oan sai đi chăng nữa thì hậu quả đối với họ không thể nói là đã bù đắp được toàn bộ

Thứ hai nguyên tắc suy đoán vô tội có ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền con người.

Hoạt động tố tụng hình sự bao gồm hai nhiệm vụ: Bảo vệ xã hội chống lại hành vi xâm hại từ phía tội phạm và bảo vệ cá nhân người bị buộc tội chống lại

sự xâm hại quyền con người từ phía công quyền Dưới góc độ Quyền con người, nguyên tắc SĐVT có ý nghĩa quan trọng Một là thể chế hóa được các chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước trong công tác cải cách tư

9 Lâm Tuấn Anh( 2016), “ Nguyên tắc suy đoán vô tôi trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” , Luận văn thạc sĩ

luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Trang 9

pháp, cụ thể hóa các Công ước quốc tế nhằm bảo vệ quyền con người Suy đoán

vô tội còn đem đến sự cân bằng trong hoạt động tố tụng hình sự giữa một bên là

nhà nước với bộ máy điều tra, truy tố xét xử hùng mạnh được hậu thuẫn bằng quyền lực nhà nước với một bên yếu thế hơn là người bị buộc tội Như vậy, không chỉ là quyền của người bị buộc tội, nghĩa vụ của bên buộc tội, thể hiện giá trị của văn minh nhân loại trong việc bảo vệ quyền con người, suy đoán vô tội còn phù hợp với quy luật của nhận thức trong tố tụng hình sự: Một người luôn

vô tội khi nhà nước không chỉ ra được những bằng chứng chống lại điều này và chứng minh được họ có tội

Thứ ba, nguyên tắc suy đoán vô tội có ý nghĩa trong xây dựng và thực hiện pháp luật.

Suy đoán vô tội có nội dung quan trọng và trọng tâm là bảo vệ chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự và lợi ích của người bị truy cứu trách nhiệm hình

sự, phản ánh bản chất nhân văn, nhân đạo của pháp luật dân chủ và pháp quyền nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, loại trừ việc buộc tội và kết

án thiếu căn cứ Do vậy, trong quá trình tiến hành tố tụng các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như người tiến hành tố tụng phải nghiêm túc tuân thủ, tôn trọng và chấp hành theo nguyên tắc này để tránh việc oan sai đối với những công dân vô tội Nguyên tắc mở ra một định hướng tích cực hơn và được coi là nguyên tắc

“vàng” trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hiện nay

Thứ tư, nguyên tắc suy đoán vô tội có quan hệ chặt chẽ với nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa

Bởi vì nếu đã bị coi là có tội ngay từ khi chưa xét xử thì việc thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội chỉ còn là hình thức Người bào chữa là người được đào tạo chuyên nghiệp về nghiệp vụ bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của bị cáo Họ được nghiên cứu hồ sơ vụ án trên cơ sở am hiểu các quy định của pháp luật và được bị cáo hoặc gia đình bị cáo ủy quyền để bảo vệ

Trang 10

cho các quyền và lợi ích chính đáng của bị cáo Sự có mặt của người bào chữa nhằm đưa ra các luận cứ chứng minh sự vô tội của bị cáo hoặc đưa ra các lập luận đồng ý hay không đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát về tội danh cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát buộc tội Đảm bảo quyền bào chữa là cơ sở quan trọng để bảo vệ quyền con người Vì vậy, Hiến pháp năm 2013 cũng đã quy định rõ quyền tự bào chữa hoặc nhờ Luật sư, người khác bào chữa của những người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử

II Điều kiện đảm bảo thực hiện của nguyên tắc suy đoán vô tội.

1. Điểu kiện đảm bảo thực hiên.

Điều kiện bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội là tổng hợp các yếu tố khách quan về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật tạo cơ sở cho sự tồn tại và hiện thực hoá nguyên tắc trong đời sống xã hội

1.1. Điều kiện chính trị

Mỗi con người đều là thành viên của một chế độ chính trị - xã hội nhất định, và không đứng ngoài các mối quan hệ giai cấp, cộng đồng, dân tộc, quốc gia Vì vậy, xét về phương diện chính trị, việc thực hiện một nguyên tắc hiến định - nguyên tắc suy đoán vô tội với ý nghĩa là một nguyên tắc quan trọng trong bảo vệ quyền con người được hiểu là tạo ra một môi trường chính trị thuận lợi trong mối quan hệ giữa con người với với toàn bộ hệ thống chính trị Cùng với đó là nhiệm vụ hoàn thiện hệ thống các thiết chế bảo vệ quyền: Đảng phái chính trị, Nhà nước, các tổ chức đoàn thể và nhân dân để nguyên tắc suy đoán vô tội được tôn trọng và thực hiện trong phạm vi toàn quốc gia Ở Việt Nam, bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội là một nhu cầu cấp thiết nhằm thực hiện đúng đắn, kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Ngày đăng: 06/12/2022, 22:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2017
3. Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2017
4. Viện ngôn ngữ học, Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Tác giả: Viện ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Văn hóa
5. Phạm Việt Cường ,Nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự VIệt Nam( 2019), Luận văn thạc sĩ luật học, học viên Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Phạm Việt Cường
Năm: 2019
6. Lâm Tuấn Anh( 2016), “ Nguyên tắc suy đoán vô tôi trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” , Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc suy đoán vô tôi trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Lâm Tuấn Anh
Nhà XB: Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2016
7. Lê Ngọc Hà( 2016), “Bảo vệ quyền con người thông qua nguyên tắc suy đoán vô tội theo hiến pháp Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền con người thông qua nguyên tắc suy đoán vô tội theo hiến pháp Việt Nam
Tác giả: Lê Ngọc Hà
Nhà XB: Trường Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2016
8. Đoàn Thị Ngọc Hải (2015) “Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Luật tố tụng hình sự, sự thể chế hóa cho phù hợp với Hiến pháp”, mục nghiên cứu và trao đổi. https://moj.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Luật tố tụnghình sự, sự thể chế hóa cho phù hợp với Hiến pháp
9. Đinh Thế Hưng( 2019) , “Thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội tring tố Khác

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w