Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra những đánh giá khái quát về thành tựu và hạn chế trong thực hiện công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội ở Việt Nam trước và trong n
Trang 1Tr−êng §¹i häc KHoa häc
ViÖn triÕt häc
TrÇn ThÞ H»ng
ë n−íc ta hiÖn nay
luËn v¨n th¹c sÜ triÕt häc
Trang 2Tr−êng §¹i häc KHoa häc
ViÖn triÕt häc
TrÇn ThÞ H»ng
ë n−íc ta hiÖn nay
Chuyªn ngµnh: TriÕt häc M· sè : 60 22 80
luËn v¨n th¹c sÜ triÕt häc
Ng−êi h−íng dÉn khoa häc: PGS.TS NguyÔn Ngäc Hµ
Trang 3Phần mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên quy mô
toàn thế giới Sự lan tỏa và tác động của quá trình đó đã tạo ra những thay đổi lớn trong đời sống xã hội, tạo cơ hội cho tất cả các nước cùng phát triển, đồng thời cũng đặt ra những thách thức cho tất cả các nước như đói nghèo, thất nghiệp, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, làm ăn phi pháp, khoảng cách chênh lệnh giàu nghèo giữa các nước… Trong bối cảnh đó, vấn đề công bằng xã hội càng trở nên bức thiết
Công bằng xã hội là một trong những mục tiêu xuyên suốt của sự nghiệp cách mạng mà Đảng ta và nhân dân ta đã tiến hành gần 80 năm qua,
đồng thời là một động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của
đất nước
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đổi mới với mục đích xoá bỏ bất công, chúng ta chủ trương thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động Nhưng nguyên tắc phân phối theo lao động chưa được thực hiện trên thực tế lại bị biến thành phân phối bình quân, hơn nữa nếu có thực hiện thì cũng chưa phù hợp với điều kiện kinh
Nhờ sự đổi mới đó nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng:
định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững, kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ cao, xã hội ổn định, đời sống nhân dân được cải thiện, hầu hết mọi
Trang 4người đều hăng hái đóng góp công sức và vốn để xây dựng đất nước Tuy nhiên, trong xã hội lại nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực như tham nhũng, buôn lậu, trốn thuế, những hành vi vi phạm pháp luật khác Bên cạnh đó, sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội ngày càng gia tăng Thực tế đó đặt ra các vấn đề: Phát triển nền kinh tế thị trường và thực hiện nhiều hình thức phân phối có đi chệch hướng chủ nghĩa xã hội hay không? Phân phối như thế nào là công bằng?
Đề tài “Công bằng xã hội trong phân phối ở nước ta hiện nay” liên quan
đến các vấn đề trên, vì thế đó là đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Công bằng xã hội là một trong những chủ đề được nhiều nhà lý luận và hoạt động thực tiễn quan tâm ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề công bằng xã hội và phân phối thu nhập Trong những năm qua, đã có các công trình nghiên cứu như: “Một số vấn đề về công bằng xã hội ở nước ta hiện nay” (do Hoàng Chí Bảo chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993); “Động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” (do Lê Hữu Tầng chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997); “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số nước Châu á và Việt Nam” (do Lê Bộ Lĩnh chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998); “Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội”
(của Nguyễn Minh Hoàn - Luận án tiến sỹ, 2005); “Phân phối trong nền kinh
tế thị trường” (của Mai Ngọc Cường - Đỗ Đức Bình, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1994); “Lý luận chung về phân phối của chủ nghĩa xã hội” (của Lý Bân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999); “Nguyên tắc phân phối vì mục tiêu công bằng xã hội ở nước ta hiện nay” (của Nguyễn Ngọc Hà, Tạp chí Triết học, số
8, 12-2002); “Vai trò của Nhà nước trong phân phối thu nhập ở nước ta hiện nay” (do Mai Hữu Thực chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004)
Tại “Hội thảo quốc tế về vấn đề công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và
đoàn kết xã hội” được tổ chức năm 2007 tại Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Trang 5đã có nhiều bài nghiên cứu về công bằng xã hội dưới nhiều góc độ khác nhau như khái niệm công bằng xã hội, tiêu chí của sự công bằng, quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội, công bằng xã hội trong điều kiện kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, thực hiện công bằng xã hội về giáo dục…
Gần đây, đã có nhiều bài viết, bài nghiên cứu đề cập một cách sâu sắc
về vấn đề thực hiện công bằng xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay như:
- “Công bằng xã hội, tránh nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” của tác giả Trần Đức Cường (Tạp chí Triết học,
số 1 tháng 1/2008) Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra những đánh giá khái quát về thành tựu và hạn chế trong thực hiện công bằng xã hội, trách nhiệm xã
hội và đoàn kết xã hội ở Việt Nam trước và trong những năm đổi mới đất nước; đồng thời, gợi mở những vấn đề cần thảo luận để việc thực thi công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội không chỉ là một mục tiêu phấn đấu, mà còn là một động lực mạnh mẽ để phát triển đất nước và đảm bảo cho sự phát triển của Việt Nam là một sự phát triển bền vững
- “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Lê Hữu Tầng (Tạp chí Triết học, số 1 tháng 1/2008) Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và luận giải một
số vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay Những vấn đề đó là: 1 Khái niệm công bằng xã hội, những điểm tương đồng và khác biệt giữa nó và khái niệm bình đẳng xã hội;
2 Công bằng xã hội theo chiều dọc và công bằng xã hội theo chiều ngang; 3
Công bằng về cơ hội và bình đẳng về cơ hội; vai trò của trình độ phát triển kinh tế trong việc thực hiện công bằng xã hội; 4 Phân phối theo kết quả lao
động và hiệu quả kinh tế; 5 Phân phối theo cống hiến cho xã hội; 6 Công bằng xã hội và tăng trưởng kinh tế; 7 Vấn đề thực hiện công bằng xã hội và bình đẳng xã hội
Trang 6- “Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” của tác giả Phạm Xuân Nam (Tạp chí Triết học, số 2 tháng 2/2008) Trong bài viết này, tác giả đưa ra và luận giải:
1 Việc giải quyết mối quan hệ giữa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội ở một số mô hình kinh tế tiêu biểu trên thế giới, như mô
hình kinh tế thị trường tự do, mô hình kinh tế thị trường xã hội, mô hình kinh
tế kế hoạch hóa tập trung phi thị trường; 2 Những thành tựu và những vấn đề
đặt ra trong việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hơn 20 năm đổi mới; cụ thể hóa quan điểm và đề xuất những giải pháp về thực hiện công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong những năm tiếp theo
- “Bảo đảm công bằng xã hội vì sự phát triển bền vững” của tác giả
Nguyễn Ngọc Hà (Tạp chí Triết học, số 2 tháng 2/2009) Trong bài viết này, tác giả đã phân tích quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam coi công bằng xã hội là mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội Để có được công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường, cần phải xác định và thực hiện đúng nguyên tắc phân phối phù hợp như Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã
đề ra Để phát huy vai trò động lực của công bằng xã hội, theo tác giả, cần khắc phục những thiếu sót trong việc thực hiện công bằng xã hội hiện đang còn tồn tại Công tác lý luận cần hướng vào việc nghiên cứu và giải quyết nhiệm vụ đó Và một số công trình nghiên cứu khác
Những công trình nghiên cứu trên đã góp phần quan trọng làm rõ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về công bằng xã hội và phân phối thu nhập ở nước
ta Tuy nhiên, phân phối như thế nào để đảm bảo công bằng xã hội trong điều kiện hiện nay, giải pháp gì để đẩy lùi thiếu sót trong phân phối đảm bảo công bằng xã hội? Đó là những vấn đề liên quan đến công bằng xã hội trong phân phối còn có những ý kiến khác nhau, cần được làm rõ hơn
Trang 73 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
+ Mục đích của luận văn là luận chứng sự cần thiết phải tiếp tục quan tâm giải quyết vấn đề đảm bảo công bằng xã hội trong phân phối ở nước ta hiện nay
+ Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công bằng xã hội trong phân phối
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu đã có
5 Đóng góp mới của luận văn
- Góp phần làm rõ quan điểm của Đảng ta về thực hiện nhiều hình thức phân phối trong giai đoạn hiện nay là phù hợp với nền kinh tế thị trường, phù hợp với mục tiêu công bằng xã hội
- Góp phần làm rõ thực trạng của việc thực hiện công bằng trong phân phối ở nước ta hiện nay
Trang 8Chương 1 Quan điểm của chủ nghĩa mác - lênin, của Hồ chí
hội trong phân phối
1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về công bằng xã hội trong phân phối
Trong các thời kỳ khác nhau của lịch sử nhân loại, vấn đề công bằng xã hội luôn được quan tâm ở cả phương Tây cũng như phương Đông với nhiều cách giải thích khác nhau Dù cách giải thích có khác nhau nhưng công bằng xã hội nhìn chung được coi là một trong những khát vọng chân chính của con người, là một mục tiêu đấu tranh xuyên suốt lịch sử phát triển nhân loại kể từ khi xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp
Vấn đề công bằng xã hội đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử Ngay từ thời cổ đại đã có nhiều nhà triết học đề cập công bằng xã hội Trong hai tác phẩm “Nhà nước” và “Luật lệ”, Platôn khẳng định rằng không thể có sự bình
đẳng giữa những tầng lớp người khác nhau trong xã hội, bản thân nhà nước xuất hiện từ sự đa dạng về nhu cầu con người, do sự đa dạng về nhu cầu ấy nên xã hội cần duy trì các hạng người khác nhau, cần thực hiện các dạng phân công lao động khác nhau để thỏa mãn các nhu cầu của xã hội và do đó không thể có sự bình đẳng giữa họ Ông cho rằng, “sự bình đẳng giữa những người không bình đẳng là tệ xấu chủ yếu của nền dân chủ, xã hội không có sự bình
đẳng nhưng lại có sự công bằng bởi lẽ công bằng là ở chỗ mỗi hạng người dù
ở địa vị xã hội nào cũng có thể làm hết trách nhiệm của mình, biết sống đúng với tầng lớp của mình và phải biết thân phận mình” [85; tr.57]
Tương tự như vậy, Arixtốt quan niệm rằng, công bằng là sự bình đẳng giữa người với người có cùng địa vị xã hội, còn sự bất bình đẳng giữa người với người không cùng địa vị là công bằng
Trang 9Các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng Anh và Pháp cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 (như: Xanhximông, Phurie, Ô - oen) có cách tiếp cận mới về công bằng xã hội Các ông vạch trần sự bất công của chủ nghĩa tư bản Theo các
ông, chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất chính là nguyên nhân gây ra mọi sự bất công trong xã hội; giai cấp tư sản ngày càng trở lên giàu có, chiếm hữu nhiều của cải vật chất của xã hội; còn sự nghèo khổ tập trung về phía giai cấp vô
sản, những người không có quyền sở hữu của cải vật chất của xã hội; để xóa
bỏ tình trạng bất bình đẳng trong xã hội phải xây dựng một xã hội mới khác với xã hội tư bản chủ nghĩa; trong xã hội này, mọi người đều bình đẳng, mọi
đặc quyền đặc lợi trong xã hội đều bị xóa bỏ Nhưng làm thế nào thay thế chủ nghĩa tư bản bằng một xã hội mới mang lại quyền bình đẳng cho mọi người?
Những nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng đã không tìm ra được giải pháp thực
tế cho vấn đề này
Trên cơ sở kế thừa những quan điểm trước đó về công bằng xã hội, Chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa ra quan niệm sâu sắc hơn về công bằng xã hội
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin công bằng xã hội là quan hệ giữa con người với con người hình thành trong quá trình con người sinh sống; quan hệ
đó không phải do ý muốn chủ quan của con người hay một lực lượng thần thánh siêu nhiên nào sinh ra; công bằng xã hội là một phạm trù lịch sử; không
có sự công bằng xã hội chung cho mọi xã hội
Lợi ích của con người trong xã hội biểu hiện trên nhiều lĩnh vực như lợi ích về kinh tế, lợi ích về chính trị, lợi ích về văn hóa, lợi ích về xã hội; trong
đó lợi ích về kinh tế là cơ bản nhất, có ý nghĩa quyết định đến lợi ích trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Vì vậy, để giải quyết vấn đề công bằng xã hội, trước hết phải giải quyết vấn đề công bằng xã hội trên lĩnh vực kinh tế tức là công bằng xã hội trong lĩnh vực phân phối của cải vật chất
Nghiên cứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin vạch rõ cơ sở khách quan của sự bất công trên lĩnh vực kinh tế trong chủ nghĩa tư bản chính là chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu
Trang 10sản xuất Chế độ sở hữu đó quyết định chế độ phân phối trong chủ nghĩa tư
bản, làm cho của cải ngày càng tập trung vào tay giai cấp tư sản, còn sự bần cùng ngày càng tập trung về phía giai cấp vô sản
Công bằng xã hội thể hiện trước hết ở công bằng trong phân phối Lý luận phân phối đảm bảo công bằng xã hội là một trong những nội dung quan trọng trong học thuyết Mác - Lênin Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, quan hệ trao đổi ngang giá khi mua và bán sức lao động được nhà tư bản coi là công bằng Nhưng C.Mác chỉ ra rằng hàng hóa sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt vì việc sử dụng hàng hóa sức lao động sẽ tạo ra một lượng giá trị lớn hơn so với giá trị bản thân nó, người công nhân chỉ được nhận “tiền công của lao động” còn phần giá trị dôi ra do người công nhân tạo ra không được trả cho người công nhân mà trở thành lợi nhuận của nhà tư bản; quan hệ trao
đổi ngang giá đó vì thế là không công bằng Khi nói về bất công trong chế độ phân phối tư bản chủ nghĩa Ăngghen viết: “Công nhân bỏ ra nhiều, nhà tư bản chi ra ít” [51; tr.366] Nguyên nhân gây ra sự bất công bằng trong phân phối dưới chủ nghĩa tư bản là do chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất sinh ra Để xây dựng một chế độ phân phối đảm bảo công bằng xã hội thì phải làm cho mọi người bình đẳng trong quan hệ sở hữu, làm cho mọi người ngang nhau về địa
vị trong quan hệ đối với tư liệu sản xuất, tức là phải xóa bỏ chế độ tư hữu và thiết lập công hữu Khi thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất thì
nguyên tắc phân phối theo lao động được thực hiện
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội trong phân phối được C.Mác chủ yếu trình bày trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gô
ta” Trong tác phẩm đó khi phê phán quan điểm mơ hồ của phái Lát-xan cho rằng “Thu nhập do lao động đem lại thuộc về tất cả mọi thành viên trong xã
hội một cách không bị cắt xén, theo những quyền ngang nhau”, “Phân phối một cách công bằng thu nhập của lao động”, C.Mác đặt câu hỏi: “Thu nhập của lao động” là cái gì? Đó là sản phẩm của lao động hay là giá trị của sản phẩm đó? Và nếu là giá trị của sản phẩm thì đó là toàn bộ giá trị của sản phẩm
Trang 11hay chỉ là một phần giá trị mà lao động đem thêm vào giá trị của tư liệu sản xuất đã tiêu dùng? [51; tr.30] Theo C.Mác nguyên tắc phân phối mà phái Lát
- xan đưa ra tuy dựa trên sự bình đẳng về sở hữu, nhưng không được áp dụng riêng đối với những người có lao động thực sự mà còn được áp dụng cho mọi thành viên trong xã hội kể cả những người không lao động; những người có lao động thực sự đáng ra được nhận đầy đủ thu nhập từ lao động của mình thì
hóa ra lại nhận được thu nhập của lao động đã bị cắt xén cho cả những người không lao động Do vậy, nguyên tắc phân phối trên không thể coi là nguyên tắc phân phối công bằng Chỉ có phân phối theo lao động mới có thể đảm bảo công bằng C.Mác còn chỉ rằng việc phân phối đảm bảo công bằng xã hội còn phụ thuộc vào phương thức sản xuất đặc biệt, phụ thuộc vào tính chất của phương thức sản xuất Ông viết: “Bất kỳ sự phân phối nào về tư liệu tiêu dùng cũng chỉ là hậu quả của sự phân phối chính ngay những điều kiện sản xuất;
nhưng sự phân phối những điều kiện sản xuất lại là một tính chất của chính ngay phương thức sản xuất” [51; tr.36 - 37]
Thực hiện phân phối theo lao động trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản là một bước tiến về việc thực hiện công bằng xã hội so với chế độ phân phối trong chủ nghĩa tư bản Tuy nhiên, chế độ phân phối đó còn thiếu sót so với chế độ phân phối theo nhu cầu được thực hiện ở giai đọan cao của chủ nghĩa cộng sản Sự tiến bộ của chế độ phân phối theo lao động trong giai
đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản được thể hiện ở chỗ tổng sản phẩm xã hội sau khi đã khấu trừ các khoản cần thiết (để thay thế những tư liệu sản xuất đã
tiêu dùng và tái sản xuất mở rộng, đề phòng tai nạn do các hiện tượng tự nhiên gây ra, để đáp ứng các nhu cầu chung của cộng đồng như thỏa mãn những nhu cầu về trường học, cơ quan y tế, nuôi những người không có khả năng lao
động…) phần còn lại đem phân phối theo lao động, tức là mỗi một người sản xuất sẽ nhận trở lại từ xã hội một số lượng vật phẩm tiêu dùng trị giá ngang với số lượng lao động mà anh ta đã cung cấp cho xã hội C.Mác viết: “Anh ta nhận của xã hội một cái phiếu chứng nhận rằng anh ta đã cung cấp số lao
Trang 12động là bao nhiêu đó (sau khi đã khấu trừ số lao động của anh ta làm cho các quỹ xã hội) và với cái phiếu ấy, anh ta sẽ lấy ở kho của xã hội ra một số lượng vật phẩm tiêu dùng trị giá ngang với số lượng lao động như thế” [51; tr.34]
Đó là nguyên tắc phân phối theo lao động trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản Tuy nhiên, C.Mác đã chỉ rõ, chế độ phân phối đó vẫn còn thiếu sót
so với giai đoạn phát triển cao của chủ nghĩa cộng sản, chế độ phân phối đó vẫn bị giới hạn trong khuôn khổ tư sản bởi vì lấy lao động làm thước đo cho phân phối nhưng những người lao động không phải ai cũng như ai, mỗi cá
nhân người lao động có sự khác nhau về thể chất, tinh thần, tay nghề, hoàn cảnh gia đình ; với một công việc ngang nhau và do đó, với một phần tham
dự như nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội thì trên thực tế, người này vẫn lĩnh nhiều hơn người kia, người này vẫn giàu hơn người kia… “Muốn tránh tất cả
những thiếu sót ấy thì quyền phải là không bình đẳng, chứ không phải là bình
đẳng” [51; tr.35] Như vậy, C.Mác đã chỉ ra rằng nguyên tắc phân phối theo lao động được coi là nguyên tắc phân phối công bằng nhưng trong giai đoạn
đầu của chủ nghĩa cộng sản thì sự phân phối đó vẫn hàm chứa trong nó sự chấp nhận một tình trạng bất bình đẳng nhất định giữa các thành viên trong xã
hội; đó là sự thiếu sót của nguyên tắc phân phối theo lao động
C.Mác viết: “Nhưng đó là những thiếu sót không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa, lúc nó vừa mới lọt lòng từ xã hội tư bản chủ nghĩa ra, sau những cơn đau đẻ dài Quyền không bao giờ có thể ở một mức độ cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế
độ kinh tế đó quyết định” [51; tr.35 - 36] Mác còn chỉ ra rằng, khi lực lượng sản xuất chưa phát triển đạt trình độ thật cao, con người chưa phát triển toàn diện, còn phụ thuộc vào sự phân công lao động xã hội, thì chưa thể thực hiện
đầy đủ nguyên tắc công bằng xã hội - khẩu hiệu làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu Đòi hỏi thực hiện công bằng xã hội ở mức độ quá cao so với trình độ phát triển của kinh tế là ảo tưởng, là không thực tế, sẽ làm cản trở sự phát triển Chỉ giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa mới ghi trên lá cờ của mình “Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” [51; tr.36]
Trang 13Tóm lại, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin chế độ phân phối trong chủ nghĩa tư bản là bất công vì nhà tư bản chiếm đoạt giá trị thặng dư do người công nhân tạo ra; chủ nghĩa xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối công bằng là làm theo năng lực hưởng theo lao động (ai làm nhiều hưởng nhiều, ai làm ít hưởng ít và ai không làm thì không hưởng), chủ nghĩa cộng sản giai
đoạn cao thực hiện theo nguyên tắc phân phối công bằng hơn là “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”
1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về công bằng xã hội trong phân phối
Trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin một cách sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn nỗ lực phấn đấu cho sự công bằng xã hội
Hồ Chí Minh không đưa ra một định nghĩa cụ thể về công bằng xã hội
Song khi nói đến đặc trưng chủ nghĩa xã hội, tính ưu việt của chủ nghĩa xã
hội, bản chất thực sự của chủ nghĩa xã hội thì Người nhiều lần nhấn mạnh công bằng xã hội và coi công bằng xã hội là một đặc trưng cơ bản nhất của chủ nghĩa xã hội, là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, là động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội Người từng nói: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại,
đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình
đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người niềm vui, hòa bình, hạnh phúc, nói tóm lại là nền cộng hòa thế giới chân chính, xóa bỏ những biên giới tư bản chủ nghĩa cho đến nay chỉ là những vách tường dài ngăn cản những người lao động trên thế giới hiểu nhau và yêu thương nhau” [54; tr.461], “Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không hưởng Những người già yếu và tàn tật sẽ được nhà nước giúp đỡ chăm nom” [58; tr.175]
Theo Hồ Chí Minh, công bằng cho tất cả mọi người trong xã hội chỉ có
ở chế độ xã hội chủ nghĩa ở chế độ đó, người lao động bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ; mọi người có sức lao động đều phải tham gia vào hoạt động lao động sản xuất, tích cực cống hiến cho xã hội; lao động vừa là nghĩa vụ,
Trang 14vừa là trách nhiệm của mỗi người lao động đối với xã hội, tình trạng những người có khả năng lao động song lại không chịu lao động mà vẫn hưởng thụ của cải vật chất của xã hội là bất công Những người không có khả năng lao
động sẽ được Nhà nước xã hội chủ nghĩa dành cho họ một phần của cải Tư
tưởng này của Hồ Chí Minh thể hiện tính nhân đạo, nét văn hóa của xã hội mới - xã hội chủ nghĩa
Để xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa giàu đẹp, Người luôn nhấn mạnh rằng toàn dân phải thực hành tiết kiệm tăng gia sản xuất: “Chủ nghĩa xã hội là mọi người dân được áo ấm cơm no, nhà ở tử tế, được học hành Muốn vậy thì
mọi người phải thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm” [59; tr.72]
Bên cạnh việc đẩy mạnh sản xuất, chăm lo đời sống người dân, Hồ Chí Minh luôn coi việc thực hiện công bằng xã hội là nhiệm vụ hàng đầu trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Theo Người, thực hiện công bằng xã hội là điều kiện tất yếu, cần thiết ngay cả trong điều kiện hoàn cảnh đất nước còn khó khăn, chưa đủ điều kiện về vật chất đáp ứng nhu cầu con người do sản xuất chưa phát triển Người viết:“Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; không
sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên” [60; tr.185]
Hồ Chí Minh cho rằng người dân không ai muốn thiếu thốn, nghèo khổ
ai cũng mong muốn có một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, song trong
điều kiện kinh tế còn khó khăn thì sẵn sàng chấp nhận sự thiếu thốn nhưng không thể chấp nhận sự mất công bằng Chính từ luận điểm đó của Hồ Chí Minh chúng ta đã thấy vai trò to lớn công bằng xã hội với tính cách là một
động lực phát triển kinh tế - xã hội Người dân dễ dàng chấp nhận sự nghèo khổ nhưng không chấp nhận sự bất công bằng, vì bất công bằng sẽ dẫn tới sự mất đoàn kết, sự bất đồng và ly tán trong lòng nhân dân, bất công bằng là mối
đe dọa tiềm ẩn với sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng Chỉ có thực hiện công bằng xã hội thì lợi ích của mỗi người mới
được tôn trọng và đảm bảo; mọi thành viên trong xã hội mới tích cực lao động
Trang 15sản xuất, học tập, sáng kiến để thúc đẩy sản xuất phát triển, làm cho xã hội ta ngày càng giàu có
Khuyến khích, động viên mọi người dân phát triển sản xuất, xóa bỏ lạc hậu, xây dựng một xã hội công bằng luôn được Hồ Chí Minh xác định là nhiệm vụ cấp bách Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, trong điều kiện
đất nước còn vô cùng khó khăn, Hồ Chí Minh đã đặt nhiệm vụ quan trọng của Chính phủ là phải ra sức diệt giặc đói, giặc dốt, phát triển kinh tế xã hội, làm cho mọi người dân ai cũng phải có ăn, có mặc…Trong tư tưởng chỉ đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn coi công bằng xã hội là nhiệm vụ trọng tâm của cách mạng, là động lực phát triển xã hội, là mục tiêu mà xã hội ta hướng tới Để đảm bảo và thực hiện tốt công bằng xã hội, Hồ Chí Minh khẳng
định cần kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân, vì chủ nghĩa cá nhân chính
là nguyên nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm như tham ô, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân là thủ phạm gây ra những bất công phi lý trong xã hội Người nói: “Chủ nghĩa cá nhân đẻ trăm thứ bệnh nguy hiểm, quan liêu, mệnh lệnh,
bè phái, chủ quan, tham ô lãng phí… Nó trói buộc, bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”, “Thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân” [56; tr.61]
Trong tư tưởng của Người, đảm bảo công bằng xã hội thì phải đấu tranh chống lại chủ nghĩa cá nhân Bên cạnh đó, Người cũng chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể và lợi ích xã hội Theo Người, có tôn trọng lợi ích cá nhân thì mới động viên được mọi người tích cực phấn đấu, cống hiến lao động, học tập, sáng tạo vào công cuộc xây dựng chế
độ xã hội mới, vì vậy, phải biết tôn trọng lợi ích cá nhân, kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và lợi ích xã hội, đảm bảo sự đoàn kết, đảm bảo công bằng xã hội
Trang 16Trong qua trình lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Người đã có rất nhiều bài nói, bài viết về vấn đề phân phối đảm bảo công bằng xã hội Trong “Bài nói chuyện tại hội nghị sản xuất cứu đói”, Hồ Chí Minh căn dặn: “Dân đủ ăn đủ mặc thì chính sách của Đảng và chính phủ đưa
ra sẽ dễ dàng thực hiện Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay đến mấy cũng không thực hiện được
Tham ô, lãng phí là có tội, mà lãng phí gạo cứu đói tội càng lớn hơn
Không khác gì gián điệp giết hại đồng bào đó Thế là có tội với Đảng và chính phủ, đối với nhân dân, đối với nước bạn Đó là cái tội thật to Các cấp ủy cùng với cán bộ cần tìm cho ra gốc dễ tham ô, lãng phí và xử trí đúng mức ” [56;
tr.572 - 573]
Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc phân phối đảm bảo làm cho mọi người dân đủ ăn, đủ mặc Người coi tham ô, lãng phí là sự bất công trong phân phối, là có tội với Đảng, chính phủ và nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
nhận thức rõ rằng nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nghèo, nông nghiệp lạc hậu vì vậy nhiệm vụ quan trọng là phải đẩy mạnh sản xuất làm cho dân no đủ, đáp ứng đòi hỏi bức thiết của nhân dân Người nói: “Đời sống ví như chiếc thuyền Sản xuất ví như nước Mực nước lên cao, thì con thuyền càng nổi lên cao” [57; tr.141]; “Các cấp bộ đảng cần phải thấy hết khả năng của địa phương, nhận rõ trách nhiệm đối với đời sống nhân dân…, để cố gắng hơn nữa trong phát triển kinh tế …” [59; tr.451]
Phát triển sản xuất là điều kiện để nâng cao đời sống nhân dân Phải ra sức sản xuất và thực hành tiết kiệm Nhưng phải phân phối cho công bằng hợp
lý Trong bài nói chuyện tại hội nghị rút kinh nghiệm công tác quản lý hợp tác xã nông nghiệp toàn miền Bắc, Hồ Chí Minh đã nhắc nhở: “Sản xuất được nhiều đồng thời phải chú ý phân phối cho công bằng Muốn phân phối cho công bằng, cán bộ phải chí công vô tư thậm chí có khi cán bộ vì lợi ích chung
mà phải chịu thiệt một phần nào, chớ nên cái gì tốt thì dành cho mình, xấu để cho người khác” [58; tr.537]
Trang 17Hồ Chí Minh rất quan tâm và luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên, những người có chức có quyền phải chăm lo thực hiện chính sách bảo đảm công bằng xã hội Người viết: “Hết sức chăm lo đời sống nhân dân Phải ra sức phát triển sản xuất thực hành tiết kiệm, phân phối cho công bằng hợp lý cải thiện việc
ăn, mặc, ở, học, phục vụ sức khỏe và giải trí của nhân dân Đặc biệt chú trọng các vùng bị chiến tranh tàn phá, các cháu mồ côi, các cụ già yếu và gia đình các liệt sỹ, thương binh, bộ đội, thanh niên xung phong” [60; tr.482] ở đây, tư tưởng phân phối công bằng, hợp lý của Hồ Chí Minh được gắn liền với yêu cầu phải làm tốt chính sách đảm bảo công bằng xã hội
Trong quá trình chỉ đạo lãnh đạo đất nước nói chung và miền Bắc nói riêng, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở: “Quần chúng rất thông cảm với hoàn cảnh thiếu hàng, quần chúng chỉ phàn nàn việc phân phối không công bằng Vẫn còn một số cán bộ lạm dụng chức quyền, quan liêu, xa rời quần chúng, thiếu trách nhiệm trước quần chúng Ngay trong công đoàn cũng có cán bộ mắc thiếu sót trên, làm cho đời sống quần chúng thêm khó khăn” [60; tr.567]
Hồ Chí Minh cũng đề ra nguyên tắc phân phối trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là nguyên tắc phân phối theo lao động Người viết
“Phân phối phải theo mức lao động Lao động nhiều thì được phân phối nhiều, lao động ít thì được phân phối ít Lao động khó thì được phân phối nhiều, lao
động dễ thì được phân phối ít Không nên có tình trạng người giỏi, người kém, việc khó việc dễ, cũng công điểm như nhau Đó là chủ nghĩa bình quân Phải tránh chủ nghĩa bình quân” [59; tr.410] Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, nguyên tắc phân phối đảm bảo công bằng xã hội là nguyên tắc phân phối theo lao động (phân phối theo lao động ở đây không có nghĩa là phân phối bình quân mà phân phối căn cứ vào năng suất và hiệu quả của lao động, nhưng chúng ta đã không thực hiện được trên thực tế nguyên tắc này trong điều kiện
đất nước có chiến tranh), đồng thời phải thực hiện tốt các chính sách bảo đảm công bằng xã hội cho những người không có khả năng lao động như người già, trẻ em, gia đình thương binh liệt sĩ đảm bảo cho người dân đủ ăn, đủ mặc,
Trang 18được học hành và chăm sóc sức khoẻ (mặc dù Người chưa nói cụ thể phân phối thông qua phúc lợi xã hội)
Như vậy, Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta những tư tưởng công bằng xã hội trong phân phối mang đậm tính nhân văn, tư tưởng đó được tỏa sáng từ một con người mà suốt cuộc đời tận tụy với hoài bão cao cả là làm sao cho mọi người ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, tiến bộ
1.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công bằng xã hội trong phân phối
1.3.1 Thời kỳ trước đổi mới
Công bằng xã hội là mục tiêu xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi Đảng ra đời đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức rõ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất là nguồn gốc sâu xa dẫn đến mọi sự áp bức, bóc lột bất công và bất bình đẳng trong xã hội, vì vậy phải xóa bỏ mọi hình thức tư hữu, xóa bỏ mọi áp bức bóc lột bất công, mang lại sự bình đẳng, tự do,
ấm no hạnh phúc cho nhân dân Trong xã hội Việt Nam dưới chế độ phong kiến, thực dân, đời sống của người dân khổ cực chịu sự áp bức bóc lột của đế quốc và phong kiến Chính vì vậy ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam trong “Chánh cương văn tắt”, “Sách lược vắn tắt” đã khẳng định: Cách mạng Việt Nam là “tư sản dân quyền cách mạng” và “thổ địa cách mạng” để
đi tới xã hội cộng sản; phải đánh đổ đế quốc Pháp và bọn phong kiến; làm cho nước ta hoàn toàn độc lập; tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng…) của bọn tư bản đế quốc Pháp để giao cho chính phủ công nông binh; quốc hữu hóa toàn bộ đồn điền và đất đai của bọn đế quốc và
địa chủ phản cách mạng Việt Nam chia cho nông dân nghèo; giải phóng dân
ta khỏi áp bức bóc lột; mang lại cuộc sống ấm no tự do hạnh phúc cho nhân dân; đưa người dân lên làm chủ Luận cương chính trị tháng 10.1930 tiếp tục khẳng định rằng đánh đổ phong kiến, thực hành cách mạng ruộng đất triệt để
và đuổi đế quốc giành độc lập cho dân tộc Như vậy, ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, mục tiêu công bằng xã hội đã được đề ra Đây là tư
Trang 19tưởng chủ đạo xuyên suốt trong tất cả mọi đường lối chính sách của Đảng qua các giai đoạn phát triển của cách mạng
Từ khi đất nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đến nay,
Đảng ta luôn nhận thức rằng phân phối đảm bảo công bằng xã hội là một nội dung quan trọng trong đường lối chính sách của Đảng, liên quan trực tiếp đến
đời sống hàng ngày của người dân, là động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế phát triển, ổn định chính trị - xã hội, xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày càng vững mạnh
Trong giai đoạn từ năm 1954 đến 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta thực hiện đồng thời hai cuộc cách mạng Tiến hành cách mạng xã
hội chủ nghĩa ở miền Bắc và tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc có đặc
điểm là bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu, vì vậy điều quan trọng là phải phát triển sản xuất, thực hành tiết kiệm, phân phối công bằng hợp lý, xóa bỏ mọi bất công, động viên nhân dân tích cực phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, xây dựng hậu phương vững chắc
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, miền Bắc xóa bỏ chế độ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu dưới hai hình thức là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể, thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, Đảng ta đã nhấn mạnh là phải cải tạo và xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, văn kiện của Đảng viết: “Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa nhằm tạo ra những quan hệ sản xuất không xã hội chủ nghĩa thành quan
hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong đó mấu chốt là cải biến chế độ sở hữu cá
thể và chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất thành các hình thức khác nhau của chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển” [23; tr.54]
Thực hiện Nghị quyết Đại hội III, chỉ trong một thời gian ngắn nhiệm
vụ cải tạo quan hệ sản xuất cũ và xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
Trang 20đã cơ bản được hoàn thành Người dân miền Bắc từ chỗ là những người bị bóc lột nặng nề về kinh tế, thì nay trở thành người chủ thực sự của xã hội Việc thực hiện lý tưởng công bằng xã hội làm cho người dân tin tưởng tuyệt đối vào
sự lãnh đạo của Đảng, ra sức phấn đấu xây dựng hậu phương vững mạnh trở thành căn cứ địa vững chắc quyết định đến thắng lợi cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam
Đánh giá công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc những năm
đầu bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta nhận định:
“Chúng ta căn bản xóa bỏ chế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa, kinh tế tư
bản tư doanh trở thành kinh tế công tư hợp doanh, kinh tế của người sản xuất nhỏ phần rất lớn trở thành kinh tế hợp tác hóa Chúng ta đặc biệt nêu cao thắng lợi của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, mở đường cho xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nông thôn Đi đôi với đà tiến triển nhanh chóng của sự nghiệp cải tạo xã hội chủ nghĩa, kinh tế quốc doanh lớn mạnh hơn trước nhiều, hiện nay chiếm ưu thế rõ dệt và ngày thêm phát huy năng lực lãnh đạo toàn bộ kinh tế quốc dân Những biến chuyển kể trên về quan hệ sản xuất có ý nghĩa
và tác dụng vô cùng to lớn Đó là cơ sở để quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa phát huy tác dụng của nó Trong cuộc đấu tranh giữa hai con đường suốt cả
thời kỳ quá độ, đến đây con đường xã hội chủ nghĩa đã giành được thắng lợi
có ý nghĩa quyết định” [31; tr.14]
Trong giai đoạn 1960 - 1975 mặc dù chủ trương thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động nhưng trên thực tế chúng ta lại thực hiện nguyên tắc phân phối bình quân Trong điều kiện đất nước có chiến tranh, hình thức phân phối bình quân chủ nghĩa tỏ ra có tác dụng tích cực; động viên người dân tích cực hăng say sản xuất, cống hiến xây dựng hậu phương vững chắc, chi viện sức người, sức của cho miền Nam; làm cho người lính ngoài mặt trận yên tâm
đánh giặc, không còn phải lo về gánh nặng gia đình, về những người mẹ già, con nhỏ Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ hình thức phân phối bình quân là hình thức phân phối đảm bảo công bằng xã hội Đánh giá thành tựu
Trang 21miền Bắc đạt được chặng đường đầu tiên xây dựng chủ nghĩa xã hội Đại hội
IV đã nhận định: “Trên mặt trận cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền kinh tế quốc dân, miền Bắc đã đạt được những thành tựu đáng tự hào Thành tựu to lớn nhất là thủ tiêu chế độ người bóc lột người; chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa dưới hai hình thức toàn dân và tập thể được xác lập một cách phổ biến đến năm 1975 trong khu vực sản xuất vật chất 99,7% tài sản cố định đã
thuộc về kinh tế xã hội chủ nghĩa: phần lớn thu nhập quốc dân cũng như sản lượng công nghiệp, nông nghiệp là do kinh tế xã hội chủ nghĩa tạo ra” [24;
Về vấn đề phân phối đảm bảo công bằng xã hội, căn cứ vào tổng kết kinh nghiệm thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc cũng như bước
đầu cải tạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Nam sau khi đất nước thống nhất, trong phương hướng nhiệm vụ thực hiện 5 năm (1976 - 1980), Đại hội
IV đã khẳng định tiếp tục tuân thủ theo nguyên tắc phân phối theo lao động
Do thực hiện nhiệm vụ của Đại hội IV nên từ năm 1976 đến năm 1980,
đất nước ta đã đạt được những thành tựu về kinh tế là khắc phục hậu quả nặng
nề do chiến tranh để lại Bên cạnh đó còn có sự mất cân đối nghiêm trọng trong nền kinh tế, thu nhập quốc dân chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng tối
Trang 22thiểu của nhân dân về lương thực và các mặt hàng thiết yếu, mô hình hợp tác xã ở miền Nam đứng trước nguy cơ tan rã…
Để khắc phục những thiếu sót trên, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (tháng 3/1982) đã nêu ra phương hướng ổn định tình hình kinh tế xã hội, phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng, giải quyết các vấn đề về giá lương tiền, cải thiện đời sống nhân dân, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động Tuy nhiên, trên thực tế sự phân phối vẫn mang tính chất bình quân
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng nhận định: “Trong nhận thức cũng như trong hành động, chúng ta chưa thực sự thừa nhận cơ cấu kinh
tế nhiều thành phần ở nước ta còn tồn tại trong một thời gian tương đối dài, chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất trình độ của lực lượng sản xuất” [26; tr.23]
Như vậy, trước thời kỳ đổi mới (1975 - 1986), Đảng coi nguyên tắc phân phối theo lao động dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất là một nguyên tắc công bằng xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Nhưng trên thực tế chúng ta không thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao
động, thay vào đó là sự phân phối có tính chất bình quân Nếu như phân phối theo hình thức bình quân chủ nghĩa trong điều kiện đất nước có chiến tranh đã
phát huy được vai trò tích cực đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ thì khi hòa bình lập lại hình thức phân phối phân phối bình quân đã bộc lộ nhiều hạn chế
Đối với người lao động thuộc biên chế Nhà nước thì phân phối chủ yếu bằng tiền lương cùng với chế độ đãi ngộ mang tính bao cấp (tem phiếu, nhà ở, chữa bệnh…) Đối với nhân dân trong hợp tác xã nông nghiệp thì chấm công điểm
là tiêu chí định giá cống hiến lao động Điều đó dẫn đến tình trạng người làm nhiều cũng như người làm ít Sự phân phối này đã bị tách khỏi cơ sở số lượng
và chất lượng lao động Từ đó, người lao động không quan tâm đến hiệu quả,
Trang 23năng suất lao động, dẫn đến năng suất lao động thấp, thu nhập của người lao
động không đủ đảm bảo nhu cầu tối thiểu của bản thân, đời sống người dân vô
cùng khó khăn
Phân phối bình quân chủ nghĩa làm cho nền kinh tế không có tính cạnh tranh, không làm nảy sinh nhu cầu đầu tư cho sản xuất kinh doanh, không hối thúc mọi người thực sự phải năng động, sáng tạo Phân phối bình quân tạo ra cho môi trường cho người lao động lười biếng, ỷ vào sự bao cấp của Nhà nước Trong xã hội có những người lao động hăng say cống hiến, nhiệt tình trong công việc sáng tạo, có chuyên môn cao lại gặp nhiều khó khăn
Thực tế đã chứng minh phân phối bình quân chủ nghĩa đã triệt tiêu
động lực phát triển kinh tế - xã hội, làm cho nền kinh tế nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng Có thể nói phân phối bình quân chính là “kẻ tòng phạm” với bất công xã hội và nó đã tồn tại trong suốt thời gian dài trong thời kỳ trước đổi mới
1.3.2 Thời kỳ từ khi đổi mới đến nay
Tháng 12.1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng diễn ra trong bối cảnh các nước xã hội chủ nghĩa tiến hành công cuộc cải cách, cải tổ (Trung quốc cải cách năm 1978, Liên xô cải tổ năm 1985) Sau 10 năm thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa trên cả nước, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, đất nước đứng trước khó khăn, tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội Đứng trước tình hình đó, Đại hội VI đã nghiêm túc nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội VI,
Đảng ta đã vạch rõ những hạn chế, sai lầm về chế độ sở hữu và chế độ phân phối trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Về chế độ sở hữu, có sự nóng vội chủ quan duy ý chí khi xóa bỏ khu vực kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, thiết lập khu vực kinh tế xã hội chủ nghĩa với hai hình thức sở hữu và hai thành phần kinh tế là nhà nước và tập thể, xóa bỏ các thành phần kinh tế quá
độ Về chế độ phân phối, sự phân phối thực chất mang tính bình quân Để khắc phục những sai lầm đó, Đại hội VI đã quyết định thực hiện công cuộc
Trang 24đổi mới toàn diện, chuyển từ mô hình kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang mô hình kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Về chế độ phân phối, Đại hội VI khẳng định phải thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, đảm bảo công bằng xã hội, loại bỏ phân phối bình quân, cào bằng Văn kiện Đại hội VI đã xác định: “Việc thực hiện đúng nguyên tắc phân phối theo lao động đòi hỏi sửa đổi một cách căn bản chế độ tiền lương theo hướng đảm bảo yêu cầu tái sản xuất sức lao động, khắc phục tính chất bình quân, xóa bỏ từng bước phần cung cấp còn lại trong chế độ tiền lương, áp dụng các hình thức trả lương gắn với kết quả lao động và hiệu quả
kinh tế” [26; tr.72], “Đảm bảo cho người lao động có thu nhập thỏa đáng phụ thuộc trực tiếp vào kết quả lao động, có tác dụng khuyến khích nhiệt tình lao
động” [26; tr.88]
Như vậy, chúng ta thấy rõ có sự đổi mới trong nhận thức của Đảng về nguyên tắc phân phối theo lao động Phân phối theo lao động không phải là phân phối bình quân mà phân phối căn cứ vào năng suất hiệu quả của lao
động, làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng
Những người lao động có chuyên môn tốt hăng say lao động và cống hiến có hiệu quả cao trong công việc sẽ được hưởng nhiều hơn những người lao động lười biếng luôn ỷ lại vào sự bao cấp của Nhà nước Đây chính là một động lực quan trọng thúc đẩy người lao động có trách nhiệm trong công việc, nhiệt tình lao động, quan tâm đến năng suất và hiệu quả lao động
Để thực hiện công bằng xã hội, Đại hội VI nêu ra quan điểm chỉ đạo là lấy phân phối theo lao động là hình thức chính, khuyến khích làm giàu đi đôi với giảm số nghèo, nâng cao phúc lợi xã hội phù hợp trình độ phát triển kinh
tế xóa bỏ cơ sở kinh tế - xã hội của sự bất công xã hội
Bên cạnh vấn đề phân phối theo lao động có còn hình thức phân phối nào không? Về vấn đề này, văn kiện Đại hội VI viết: “Giải quyết một phần quan trọng việc làm cho người lao động và đảm bảo về cơ bản phân phối theo
Trang 25lao động Thực hiện công bằng xã hội phù hợp điều kiện cụ thể của nước ta”
[26; tr.45]
Hiện nay chúng ta nói phân phối theo lao động là chủ yếu còn phần không cơ bản sẽ bao gồm những gì và được phân phối như thế nào để đảm bảo công bằng xã hội thì Đại hội VI chưa đề cập tới
Đại hội VI đánh dấu bước ngoặt lịch sử quan trọng, mở ra thời kỳ mới của đất nước, thời kỳ đổi mới hội nhập và phát triển vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội
Phát triển quan điểm Đại hội VI, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
đã đề ra cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội và chính thức khẳng định phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Về nguyên tắc phân phối đảm bảo công bằng xã hội, Đại hội VII mở rộng hơn nguyên tắc phân phối đảm bảo công bằng xã hội: “Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế
là chủ yếu”[27; tr.10]
Nếu Đại hội VI đề cập chính sách phân phối theo lao động là chính thì
đến Đại hội VII bổ sung nội dung quan trọng vào nguyên tắc phân phối là thực hiện nhiều hình thức phân phối Nhưng cụ thể là bổ sung thêm những hình thức phân phối nào ngoài phân phối theo lao động thì Đại hội VII vẫn chưa nhắc tới cụ thể
Để bổ sung quan điểm của Đại hội VII về thực hiện nhiều hình thức phân phối, Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII đã xác định:
“Phân phối theo lao động là chủ yếu, khuyến khích và đãi ngộ xứng đáng các tài năng, đồng thời phân phối theo nguồn vốn đóng góp vào sản xuất kinh doanh” [28; tr.47]
Ngoài hình thức phân phối theo lao động, hình thức phân phối theo nguồn đóng góp vào sản xuất kinh doanh lần đầu tiên được chính thức thừa
Trang 26nhận Hình thức phân phối này đã tính đến sự cống hiến của người lao động thông qua những đóng góp vào quá trình sản xuất kinh doanh như vốn đầu tư
tư liệu sản xuất, vốn cho vay…Điều đó đã phát huy vai trò người lao động, chủ thể kinh tế Sau khi thực hiện nghị quyết Đại hội VII trên lĩnh vực phân phối, nền kinh tế nước ta có những bước phát triển mạnh mẽ Kế hoạch 5 năm
1991 - 1995 hoàn toàn vượt mức chỉ tiêu đề ra Cụ thể: nhịp độ tăng tổng sản phẩm trong nước bình quân đạt 8,2%; sản phẩm công nghiệp tăng 13,3%; sản phẩm nông nghiệp tăng 4,5%; tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong tổng sản phẩm trong nước 22,6% (1990) tăng lên 291% (năm 1995); dịch vụ từ 38,6% lên 41,9%; lạm phát bị đẩy lùi từ 67,47% (1991) giảm xuống còn 12,7% (1995); lương thực đủ ăn và xuất khẩu mỗi năm khoảng hai triệu tấn;
nhiều công trình kết cấu hạ tầng và cơ sở công nghệ trọng yếu được xây dựng
Bên cạnh thành tựu đạt được trong xã hội nảy sinh các vấn đề; tình trạng tham nhũng, hối lộ, buôn lậu, làm ăn phi pháp xuất hiện ngày càng nhiều, sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp nhân dân giữa các vùng có xu hướng gia tăng…Thực tế đó chứng tỏ trong việc phân phối ở nước ta vẫn còn bất công
Để khắc phục hạn chế trên, tạo ra những động lực quan trọng trong phân phối, đảm bảo công bằng xã hội, thúc đẩy sản xuất phát triển, Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả
kinh tế là chủ yếu, Đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội
…” [29; tr.92]; “Phân phối và phân phối lại hợp lý các thu nhập; khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo, không để diễn ra chênh lệch quá đáng về mức sống và trình độ phát triển giữa các vùng, các tầng lớp dân cư…đảm bảo sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trước pháp luật của mọi doanh nghiệp và các cá nhân không phân biệt thành phần kinh tế” [29; tr.93]
Trang 27Nếu như Đại hội VII chủ trương thực hiện nhiều hình thức phân phối trong đó phân phối theo lao động là chủ yếu đồng thời phân phối theo nguồn vốn đóng góp vào sản xuất kinh doanh, thì Đại hội VIII xác định các hình thức phân phối trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là hình thức phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh, hình thức phân phối dựa trên mức độ đóng góp các nguồn lực khác vào quá trình sản xuất kinh doanh và hình thức phân phối thông qua phúc lợi xã hội
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, nguyên tắc phân phối được
đề cập đầy đủ, cụ thể và rõ ràng: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế
đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội” [30; tr.88]
Đại hội IX đã thể hiện sự đổi mới quan trọng trong tư duy về các hình thức phân phối đảm bảo công bằng xã hội, đã xác định cụ thể hơn hình thức phân phối theo mức độ đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh
Quan điểm về phân phối đảm bảo công bằng xã hội của Đại hội IX tiếp tục được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X phát triển và khẳng định: “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục…, giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng với các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã
hội” [32; tr.77 - 78]
Như vậy, quan điểm của Đảng về phân phối đảm bảo công bằng xã hội
từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới đến nay dựa trên cơ sở đa dạng hóa các hình thức phân phối Tuy nhiên, trong văn kiện Đại hội IX và Đại hội
X sự trình bày về chế độ phân phối mới thể hiện khá rõ ràng
Trang 28Tóm lại, trong giai đoạn trước đổi mới chúng ta chủ trương thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động nhưng trên thực tế lại thực hiện phân phối bình quân Điều đó đã cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất Trong giai
đoạn đổi mới (từ năm 1986 đến nay) để giải phóng sức sản xuất của xã hội, huy động mọi nguồn lực của cá nhân và tập thể, nguồn lực trong nước và nước ngoài vào công cuộc phát triển đất nước chúng ta đã đa dạng hóa các hình thức phân phối Cụ thể có ba hình thức phân phối cơ bản sau
Thứ nhất là phân phối theo lao động Đây là hình thức phân phối xuyên suốt từ khi đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội đến nay (trên thực tế giai đoạn trước đổi mới thì phân phối theo lao động biến thành phân phối bình quân)
Mỗi người lao động nhận được trở lại từ xã hội một số lượng vật phẩm tiêu dùng ngang với giá trị của một số lượng lao động mà người lao động đã cung cấp cho xã hội Hình thức phân phối này căn cứ vào sự cống hiến bằng sức lao
động cho xã hội: ai làm nhiều hưởng nhiều, ai làm ít hưởng ít, ai không làm không hưởng Cống hiến bằng sức lao động ở đây được xác định không phải dựa trên cường độ lao động, thời gian lao động, chức vụ mà căn cứ vào kết quả
lao động Hiệu quả lao động phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố, chứ không riêng chỉ phụ thuộc vào trình độ, khả năng của người lao động, vào cường độ và thời gian lao động Ví dụ, hai người lao động có trình độ như nhau, bằng cấp như
nhau, khả năng thực sự như nhau, cùng làm một công việc như nhau, với cường độ và thời gian như nhau, nhưng hiệu quả công việc lại khác nhau, nghĩa là có sự cống hiến khác nhau Sự khác nhau đó là do đặc điểm tâm lí riêng của từng người, sự sáng tạo của từng người, cơ hội khác nhau của từng người… Như vậy, lấy hiệu quả lao động để xác định mức độ cống hiến bằng sức lao động sẽ giảm bớt sai lầm chủ quan có thể có của người tính toán đảm bảo công bằng
Thứ hai, phân phối theo mức đóng góp vốn Bên cạnh phân phối theo lao động còn có phân phối theo mức đóng góp vốn Khi đó ngoài phần để dành tái sản xuất, giải quyết các vấn đề chung của xã hội, còn có phần để
Trang 29phân phối cho người có đóng góp vốn (ai có vốn nhiều sẽ được hưởng nhiều,
ai có vốn ít sẽ được hưởng ít, ai không có vốn không được hưởng) Trên thực
tế có những người vừa có đóng góp vốn, vừa cống hiến sức lao động thì người
đó đương nhiên sẽ hưởng cả hai phần Đối với tư liệu sản xuất thuộc sở hữu toàn dân mọi người đều có quyền sở hữu giá trị như nhau trong tổng số giá trị tư liệu sản xuất đó và do đó có quyền thu nhập như nhau từ nguồn vốn đóng góp chung ấy, thu nhập này được thể hiện dưới hình thức khác nhau, trong đó
Việc thực hiện phân phối theo mức đóng góp vốn vào sản xuất kinh doanh là tất yếu Hình thức phân phối này đã hối thúc các cá nhân, sử dụng tài sản hợp pháp của mình đầu tư vào sản xuất kinh doanh Khi đầu tư vào sản xuất kinh doanh thì người chủ đầu tư luôn mong muốn có lãi Đồng thời người đầu tư
phải chấp nhận cả sự thua lỗ Để tránh thua lỗ thì người bỏ vốn phải năng
động, nhạy bén, sáng tạo, thích nghi với cơ chế thị trường, thường xuyên cải tiến về kỹ thuật, nâng cao tay nghề trình độ cho người lao động, thúc đẩy quá
Trang 30trình phân công lao động xã hội phát triển vươn lên làm giàu Phân phối theo
đóng góp vốn đã thu hút nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, khai thác tiềm năng thế mạnh kinh tế của nước ta thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, tạo việc làm cho nhiều người lao động
Hình thức phân phối theo lao động và phân phối theo đóng góp vốn là chủ trương lâu dài của Đảng ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Chỉ khi nào sản xuất phát triển, tư liệu sản xuất của Nhà nước ta nhiều đến mức không cần thu hút nguồn vốn của nhân dân, thì khi đó mới chấm dứt phân phối theo đóng góp vốn
Việc bổ xung hình thức phân phối theo mức đóng góp vốn đã trở thành
động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta
Thứ ba là phân phối thông qua các quỹ phúc lợi xã hội Dưới chủ nghĩa xã hội con người được quan tâm tạo điều kiện phát triển toàn diện Chủ nghĩa xã hội quan tâm đến người già, trẻ em, người tàn tật, khắc phục từng bước sự phân hóa giàu nghèo, tạo mọi điều kiện cho mọi người được học hành và được chăm sóc sức khoẻ Với mục tiêu đó, để đảm bảo công bằng xã hội trong phân phối ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng ta đã nêu ra: “Mở rộng quỹ tiêu dùng xã hội, làm cho nó giữ vị trí ngày càng lớn trong việc phát triển giáo dục, y tế, văn hóa và các sự nghiệp phúc lợi xã hội khác” [26; tr.89]
Phát triển quan điểm của Đại hội VI về phân phối thông qua phúc lợi xã
hội, các Đại hội VII, VIII, IX, X đều coi đây là một hình thức phân phối trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta (mặc dù Đại hội VI và Đại hội VII chưa đề cập cụ thể phân phối thông qua phúc lợi xã hội) Hình thức này càng quan trọng trong tình hình thực tiễn nước ta hiện nay Do điều kiện tự nhiên và lịch sử để lại, nước ta có nhiều dân tộc cùng sinh sống trên một vùng lãnh thổ,các dân tộc sống dải rác ở các vùng miền núi với điều kiện tự nhiên khó khăn, trình độ dân trí chưa cao, điều kiện chăm sóc sức khỏe, phát triển giáo dục đào tạo, các điều kiện về an sinh xã hội còn thấp Như vậy, cần có các quỹ phúc lợi xã hội để khắc phục tình trạng trên Hơn nữa, do điều kiện
Trang 31lịch sử để lại, nước ta trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
Rất nhiều người đã cống hiến hy sinh xương máu cho đất nước và khi hòa bình lập lại không còn khả năng lao động hoặc mất một phần khả năng lao
động, có nhiều người già, trẻ em lang thang cơ nhỡ, nhiều gia đình thương binh, liệt sỹ, những đối tượng này cần có các quỹ phúc lợi xã hội để bù đắp sự
hy sinh của họ
Quá trình phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm nhiều cá nhân có những điều kiện thuận lợi về vốn, có khả năng nhạy bén thích nghi với cơ chế thị trường vươn lên trở thành người có thu nhập cao trong xã hội Bên cạnh đó còn nhiều cá nhân do hạn chế về sức lao động,
về trình độ lao động, về vốn và do những lý do chính đáng khác nên trở thành đói nghèo Để giảm bớt tình trạng đó, thì tất yếu phải phân phối thông qua các quỹ phúc lợi xã hội
Để phân phối thông qua các quỹ phúc lợi xã hội thì phải cụ thể hóa các nhóm đối tượng được hưởng phúc lợi xã hội bằng các quy định pháp luật, đảm bảo phân phối cho đúng người cần được hưởng, tránh sự mất công bằng trong phân phối Có như vậy mới giải quyết tốt các vấn đề xã hội đảm bảo công bằng xã hội
Như vậy trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta, sự đa dạng hóa các hình thức phân phối đảm bảo công bằng xã hội Sự phân phối đó đã
thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ở nước ta, phù hợp với quy luật phát triển kinh tế Sự phân phối đó phù hợp với sự lựa chọn của người lao
động Sự phân phối đó có tính khả thi vì đang dần từng bước mang lại bộ mặt mới về công bằng xã hội ở nước ta Sự phân phối đó không gây ra sự mất đoàn kết và sự mất ổn định trong xã hội
Việc thực hiện đa dạng hóa các hình thức phân phối trong công cuộc
đổi mới là phù hợp với quy luật phát triển của nền kinh tế xã hội, phù hợp với kinh tế thị trường
Trang 32Có thể coi đây là sự bổ sung vào lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về nguyên tắc phân phối trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở một nước nông nghiệp lạc hậu chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa
Trang 33tưởng về công bằng hay về công bằng xã hội được trình bày ở đó cũng chính
là tư tưởng về công bằng xã hội trong phân phối
Trong chương này, luận văn phân tích việc thực hiện công bằng xã hội trong phân phối ở nước ta hiện nay Trong đó, khái niệm “công bằng xã hội trong phân phối” được chúng tôi hiểu là sự ngang bằng nhau giữa người với người trong mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ của cải vật chất
2.1 Thực trạng của việc thực hiện công bằng xã hội trong phân phối ở nước ta hiện nay
2.1.1 Những thành tựu đ đạt được
Hiện nay nước ta đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa và thực hiện đa dạng hóa các hình thức phân phối (phân phối theo lao động, phân phối theo mức đóng góp vốn, phân phối thông qua phúc lợi xã hội) Thực hiện đúng sự phân phối này sẽ đưa nước ta đạt được mục tiêu
“công bằng xã hội ”
Trong thời kỳ trước đổi mới từ năm 1975 đến 1986, sự phân phối bình quân đã làm cho người lao động trông chờ ỷ lại vào Nhà nước, dựa dẫm vào nhau, không năng động trong lao động vì người làm nhiều hưởng ít thì không
cố gắng làm, người làm ít hưởng nhiều thì dựa dẫm vào người khác và cũng
Trang 34không cố gắng cống hiến Điều đó làm cho nước ta lâm vào khủng hoảng, đời sống nhân dân khó khăn
Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự phân phối đã tạo ra những bước chuyển biến quan trọng trong
đời sống người dân Người dân không thể chỉ trông chờ vào Nhà nước mà phải năng động, nhạy bén, tích cực lao động, tích cực cống hiến, chủ động tìm kiếm cơ hội việc làm, đầu tư góp vốn sản xuất kinh doanh Điều đó đã làm cho
đất nước ta có những thay đổi về mọi mặt Thực tiễn hơn 20 năm thực hiện chủ trương của Đảng về thực hiện đa dạng các hình thức phân phối đến nay đã
làm cho tình hình kinh tế xã hội nước ta có những chuyển biến tích cực và
1990 là 3,9% năm thì 2007 đạt GDP là 8,4% Thu nhập bình quân trên đầu người không ngừng tăng (năm 2000 đạt 400 USD, năm 2007 đạt 835 USD,
đến năm 2008 đạt 960 USD) Đời sống vật chất của dân cư không ngừng được cải thiện một cách rõ rệt Cơ cấu kinh tế có những thay đổi căn bản, tạo cơ hội cho các ngành kinh tế mũi nhọn phát triển, theo hướng tăng dần ngành kinh tế công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, phù hợp xu thế phát triển của đất nước và thời đại Tổng nguồn vốn đầu tư của của nước ngoài vào Việt Nam không ngừng gia tăng, năm 2009 mặc dù nền kinh tế thế giới có những biến động lớn nhưng tổng nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta đã đạt 300 nghìn tỷ
đồng (17 tỷ USD) Ngành nông nghiệp cũng đạt được thành tích đáng kể Năm
1997 xuất khẩu 3,3 triệu tấn lương thực; hiện nay xuất khẩu gạo nước ta đạt 4 triệu tấn đến 5 triệu tấn gạo đứng thứ 2 trên thế giới (sau Thái Lan) Mức bình quân lương thực của người dân đã tăng lên (vào thời kỳ trước đổi mới bình
Trang 35quân đầu người chưa đến 285 kg, đến năm 1990 đạt 325 kg, năm 2008 đạt 459 kg) Hiện nay nước ta là quốc gia đảm bảo về an ninh lương thực Việc thực hiện chính sách xã hội nhằm mục tiêu công bằng xã hội có chuyển biến tích cực, giải quyết việc làm cho người lao động tăng thu nhập, ổn định kinh tế - xã hội, đẩy mạnh việc thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo Trong thời kỳ 1991 - 2005 tỷ lệ hộ đói nghèo theo tiêu chuẩn quốc gia giảm từ 58%
xuống còn 25% và như vậy Việt Nam đã “hoàn thành sớm hơn so với mục tiêu thiên niên kỷ: giảm một nửa tỷ lệ nghèo vào năm 2015” [13; tr.1]
Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân cũng có những bước tiến bộ
Tuổi thọ trung bình của nhân dân tăng lên từ 63 lên 71,5 Chỉ số phát triển con người (HDI) từ mức dưới trung bình (0,498 năm 1991) tăng lên mức trung bình (0,733 năm 2008), xếp thứ 105/177 nước được thống kê
Công tác ưu đãi xã hội như quan tâm gia đình chính sách, gia đình có công với cách mạng thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn không ngừng
đẩy mạnh vì mục tiêu phát triển con người
Nhìn chung, những thành tựu đã đạt được trong việc thực hiện công bằng xã hội ở thời kỳ đổi mới so với thời kỳ từ 1975 đến 1986 thể hiện ở chỗ, xã hội ổn định, nhân dân phấn khởi tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới, tích cực trong lao động, kết quả là đời sống của nhân dân được nâng cao hơn Nếu xã
hội vẫn còn những bất công như thời kỳ trước đổi mới thì nước ta sẽ không có
được những thành tựu về kinh tế - xã hội nói trên Vì vậy, có thể nói, so với thời kỳ trước đổi mới, nước ta đã tiến được một bước dài trên con đường thực hiện mục tiêu công bằng xã hội
2.1.2 Những thiếu sót
Bên cạnh thành tựu đã đạt được, trong xã hội vẫn tồn tại không ít những thiếu sót trong phân phối Chúng ta cần phải phân tích đúng thực trạng, nguyên nhân và tìm cách khắc phục sự thiếu sót trong phân phối còn tồn tại
Trang 362.1.2.1 Tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm và thu nhập thấp của người lao
động
Tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm của một số người có liên quan
đến sự bất công trong phân phối Thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta đã trải qua hai giai đoạn là giai đoạn trước đổi mới và giai đoạn từ khi
đổi mới đến nay Trong giai đoạn trước đổi mới, chế độ sở hữu tồn tại dưới hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể, vì thế người lao động chủ yếu tập trung ở hai khu vực này Trong giai đoạn đổi mới, do thực hiện nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ trên cơ sở da dạng hoá các hình thức sở hữu nên người lao động không chỉ ở khu vực kinh tế nhà nước mà ở cả khu vực kinh tế tư
nhân
Để thực hiện công bằng xã hội trong phân phối thì phải tạo được việc làm cho mọi người lao động, tạo cơ hội cho người lao động có quyền cống hiến sức lao động đúng như tinh thần của Đại hội VI đã khẳng định: “Giải quyết một phần quan trọng việc làm cho người lao động và đảm bảo về cơ bản phân phối theo lao động Thực hiện công bằng xã hội phù hợp điều kiện cụ thể của nước ta” [26; tr.45]. Nhưng thực tế tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta vẫn còn cao,
ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người lao động
Theo số liệu tổng cục thống kê, dân số Việt Nam năm 2007 là 85,155 triệu người, tỷ lệ tăng dân số khoảng 2,2% thuộc loại cao nhất trên thế giới
Dân số nước ta có cấu trúc dân số trẻ, lực lượng lao động dồi dào Năm 1989 41,2% dân số dưới tuổi lao động; 50,5% trong độ tuổi lao động Hàng năm số tăng tuyệt đối từ 1,0 đến 1,1 triệu lao động và gần như giữ mức này đến năm
2010 Như vậy nước ta có tiềm năng lao động to lớn Về thực chất nền kinh tế Việt Nam vẫn là nền kinh tế nông nghiệp, có tỷ lệ bán thất nghiệp cao (khu vực kinh tế nông nghiệp Việt Nam có mật độ dân cư cao, cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông thôn kém phát triển, tiếp nhận lực lượng lao động lớn đáng ra có thể tìm được công việc làm ổn định hơn nếu như nhu cầu lao động gia tăng)
Trang 37Thực trạng thiếu việc làm không chỉ giới hạn ở vùng kinh tế nông nghiệp mà còn phổ biến ở vùng thành thị, cả trong bộ máy Nhà nước, các đơn
vị sản xuất và thương nghiệp quốc doanh Số người thất nghiệp ở thành thị còn bao gồm cả học sinh - sinh viên ra trường không tìm được việc làm, công nhân
bị giảm biên chế của các xí nghiệp quốc doanh, lao động xuất khẩu trở về nước… Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch - Đầu tư, trong thời kỳ 1996 - 2006 có khoảng 8,5 triệu người cần bố trí việc làm (thanh niên đến tuổi lao động không đi học 4,5 triệu người; học sinh tốt nghiệp các trường chuyên nghiệp
600 ngàn người; số lao động nông thôn bị mất diện tích đất canh tác 500 ngàn người; các đối tượng tệ nạn xã hội hết hạn tù trở về 300 ngàn người; số công nhân viên chức không có việc làm 100 ngàn người) Tỷ lệ thất nghiệp ở nước
ta khá cao đã dẫn đến hậu quả là người dân có thu nhập thấp và đất nước lâm vào cảnh nghèo khổ
Dưới đây là số liệu về tỷ lệ % thất nghiệp của lực lượng lao động trong
độ tuổi phân theo vùng
Trang 39Số liệu trên cho thấy, số lượng lao động nước ta tăng nhanh, tỷ lệ thất nghiệp cao, thiếu việc làm thật sự là vấn đề lớn bức xúc hiện nay
Lực lượng lao động Việt Nam được đánh giá là lực lượng lao động khá
tốt (theo đánh giá của các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam) So với tiêu chuẩn của quốc tế, lao động Việt Nam chấp nhận mức lương thấp, làm việc cần cù, lượng cung về lao động phổ thông cũng như lành nghề nghề khá dồi dào…Bên cạnh đó, một số mặt còn tồn tại về chất lượng lao động như: trình
độ chuyên môn của lao động thấp, trong công nghiệp bình quân tay nghề công nhân chỉ đạt bậc 3 - 5/7 Vấn đề việc làm cho người lao động đang là vấn đề lớn đặt ra trong xã hội Một lực lượng lao động trẻ, dồi dào, có sức khỏe, trình
độ tay nghề lao động lại không có cơ hội việc làm Thực trạng đó gây ra những bức xúc, bất công đối với người lao động
Hàng ngày có một lực lượng lớn học sinh, sinh viên ra trường không tìm được việc làm phải làm trái nghề Có hàng vạn lao động nông thôn đổ về các thành phố lớn tìm việc (do diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảm đi nhanh chóng) Những năm qua, Đảng và Nhà nước có nhiều nỗ lực trong giải quyết việc làm cho người lao động, đã ban hành hàng loạt các chính sách giải quyết việc làm như: Nghị quyết 120/HĐBT (nay là Chính phủ) ngày 11 - 4 -
1992 về chương trình quốc gia về việc làm và chủ trương, phương hướng, giải pháp tạo việc làm cho người lao động; Thông tư liên tịch số 13/1999/TTLT - BLĐTBXH - BTC - BKHĐT ngày 8 - 5 - 1999 của Bộ Lao động - Thương binh xã hội - Bộ Tài chính - Bộ Kế hoạch và đầu tư hướng dẫn cho vay quỹ quốc gia về hỗ trợ việc làm… Mỗi năm Nhà nước chi hàng ngàn tỷ đồng cộng với hàng ngàn tỷ đồng do nhân dân tự đóng góp để giải quyết việc làm Nhà nước thực hiện phát triển nhiều thành phần kinh tế, tạo việc làm, huy động các
tổ chức đoàn thể (Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp phụ nữ…) và các tổ chức xã hội trong và ngoài nước để tổ chức các chương trình việc làm, giải quyết việc làm cho người lao động Mặc dù Đảng, Nhà nước và nhân dân đã có nhiều nỗ lực cố gắng giải quyết việc làm cho người lao động, nhưng tỷ lệ thất
Trang 40nghiệp ở nước ta vẫn ở mức độ cao Cuối năm 2008 đầu năm 2009, tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam có xu hướng gia tăng Theo thống kê của Bộ Lao động Thương binh Xã hội, đến hết năm 2008 cả nước có gần 30 ngàn lao động làm việc trong các doanh nghiệp bị mất việc do suy giảm kinh tế, dự báo năm
2009 cả nước con số thất nghiệp tăng thêm tới 15 ngàn lao động ” [4; tr.1]
Thực trạng thất nghiệp thiếu việc làm đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người lao động Nhiều người không có thu nhập hoặc có thu nhập thấp không đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu của người lao động về ăn, mặc, ở (chưa nói đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe, học tập và tinh thần trong đời sống) Họ không đáng phải chịu cảnh khốn khó như vậy
Đối với những người lao động bị thất nghiệp, thiếu việc làm, đời sống vô cùng khó khăn Ngay đối với người lao động có việc làm thì nhiều người cũng có thu nhập rất thấp Trong các giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội,
Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến việc cải cách điều chỉnh tiền lương nhằm mục đích nâng cao mức sống của người lao động Nếu năm 1993 quy
định mức tiền lương tối thiểu nước ta 120.000đ/1tháng thì đến nay mức lương tối thiểu là 650.000đ/1tháng Sự điều chỉnh chế độ tiền lương của Nhà nước đã
tạo ra sự chuyển biến tích cực làm tăng thu nhập cho người lao động, khắc phục ở một mức độ nhất định tính chất bình quân trong chế độ tiền lương, thúc đẩy tăng năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, việc trả
lương đó vẫn chưa phản ánh hết năng suất và hiệu quả lao động của người lao
động
Về mức lương hiện nay, nếu so sánh mức lương Nhà nước trả cho người lao động với nhu cầu tối thiểu cần thiết người lao động (ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, giao tiếp xã hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp…) thì chế độ tiền lương còn thấp nhất là trong tình hình lạm phát giá cả các loại hàng hóa dịch
vụ đang leo thang hiện nay Đời sống của một bộ phận người lao động là hết sức khó khăn Lương thấp chính là nguyên nhân một số cán bộ công chức Nhà nước không tận tâm với công việc, tìm cách tăng thu nhập ngoài lương (sinh ra