1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ USSH đặc điểm vốn xã hội của nhân lực trẻ làm việc tại các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố hà nội (nghiên cứu tại phường thanh xuân bắc, quận thanh xuân

75 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm vốn xã hội của nhân lực trẻ làm việc tại các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội
Tác giả Bùi Thị Huyền
Người hướng dẫn PGS. TS Nguyễn Tuấn Anh
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Nghiên cứu “Đặc điểm vốn xã hội của nhân lực trẻ làm việc tại các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội” là đề tài nghiên cứu dựa trên một ph

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

(Nghiên cứu tại phường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân

và phường Thành Công, quận Ba Đình, Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội – 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

(Nghiên cứu tại phường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân

và phường Thành Công, quận Ba Đình, Hà Nội)

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Xã hội học

Mã số: 60 31 03 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Tuấn Anh

Hà Nội – 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Nghiên cứu “Đặc điểm vốn xã hội của nhân lực trẻ làm việc tại các cơ

quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội” là đề tài

nghiên cứu dựa trên một phần kết quả khảo sát thực tế tại thành phố Hà Nội, trên cơ

sở phân tích một phần dữ liệu của đề tài cấp nhà nước “Vai trò của vốn xã hội trong

sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực trẻ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do PGS.TS Nguyễn Hồi Loan làm chủ nhiệm đề tài

Luận văn Thạc sĩ là một bước quan trọng để học viên có cơ hội thực hành,

áp dụng các kiến thức lý thuyết được học ở trường vào nghiên cứu trong thực tế

Mặc dù không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, song tôi hi vọng rằng công trình nghiên cứu này sẽ cung cấp thông tin về quá trình tạo dựng và duy trì vốn xã hội của nhân lực trẻ tại Hà Nội Tôi cũng mong rằng nghiên cứu sẽ đem lại những kết quả hữu ích về mặt xã hội

Nhân dịp này, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Chủ nhiệm Khoa và các thầy cô giáo của Khoa Xã hội học - Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn, đặc biệt là giáo viên hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh đã nhiệt tình, tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các bạn trong tập thể lớp Cao học khóa 2014 - Xã hội học đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu

Đồng thời, tôi cũng gửi lời cảm ơn sâu sắc tới những người tham gia vào nghiên cứu và nhiệt tình chia sẻ thông tin

Tuy đã có nhiều cố gắng, nỗ lực nhưng do bản thân còn chưa có nhiều kinh nghiệm, kiến thức còn hạn chế nên khóa luận này không tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu của các thầy cô và các bạn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Học viên

Bùi Thị Huyền

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7

3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 7

4 Câu hỏi nghiên cứu 8

5 Giả thuyết nghiên cứu 8

6 Phương pháp nghiên cứu 8

7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 11

NỘI DUNG CHÍNH 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHÊN CỨU 12

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 12

1.1.1 Hướng nghiên cứu về vốn xã hội trên phương diện mạng lưới xã hội 12

1.1.2 Hướng nghiên cứu về vốn xã hội trên phương diện lòng tin 15

1.2 Khái niệm làm việc 17

1.2.1 Khái niệm “vốn xã hội” 17

1.2.2 Khái niệm “nhân lực trẻ” 18

1.3 Các quan điểm lý thuyết về vốn xã hội 19

1.4 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 21

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM VỐN XÃ HỘI TRÊN PHƯƠNG DIỆN MẠNG LƯỚI XÃ HỘI CỦA NHÂN LỰC TRẺ LÀM VIỆC Ở CÁC CƠ QUAN, DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 23

2.1 Dẫn nhập 23

2.2 Đặc điểm mạng lưới gia đình, họ hàng của nhân lực trẻ 24

Trang 5

2.3 Đặc điểm mạng lưới xã hội bên ngoài cơ quan, doanh nghiệp

của nhân lực trẻ 32

2.4 Đặc điểm mạng lưới xã hội bên trong cơ quan, doanh nghiệp của nhân lực trẻ 37

2.5 Tiểu kết 46

CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM VỐN XÃ HỘI TRÊN PHƯƠNG DIỆN LÒNG TIN CỦA NHÂN LỰC TRẺ LÀM VIỆC Ở CÁC CƠ QUAN, DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 48

3.1 Dẫn nhập 48

3.2 Đặc điểm lòng tin giữa nhân lực trẻ với đồng nghiệp 49

3.3 Đặc điểm lòng tin của cấp trên đối với nhân lực trẻ 58

3.4 Tiểu kết 65

KẾT LUẬN 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐHQG Đại học Quốc gia NXB Nhà xuất bản PVS Phỏng vấn sâu

MTTQ Mặt trận Tổ quốc UBND Ủy ban nhân dân CSVN Cộng sản Việt Nam TDTT Thể dục thể thao

BCĐ Ban chỉ đạo CT/TW Chỉ thị/Trung ương TTATXH Trật tự an toàn xã hội

Trang 8

Biểu 3.2.3: Các nhóm nhân lực trẻ theo thâm niên công tác đánh giá về sự quan trọng của lòng tin của đồng nghiệp đối với việc phát huy năng lực làm việc bản than……… …… 54 Biểu 3.2.4: Nhóm nhân lực trẻ nam và nhóm nhân lực trẻ nữ đánh giá giá tầm quan trọng của lòng tin của đồng nghiệp đối với việc phát huy năng lực làm việc bản thân……….… 55 Biểu 3.2.5: Các nhóm nhân lực trẻ theo hợp đồng công việc đánh giá tầm quan trọng của lòng tin của đồng nghiệp đối với việc phát huy năng lực làm việc bản thân……… 56 Biểu 3.2.6 : Các nhóm nhân lực trẻ khác nhau về thu nhập đánh giá tầm quan trọng của lòng tin của đồng nghiệp đối với việc phát huy năng lực làm việc bản thân……… ….57 Biểu 3.3.1: Nhân lực trẻ đánh giá tầm quan trọng của lòng tin của cấp trên đối với việc phát huy năng lực làm việc bản thân……… 58 Biểu 3.3.2: Các nhóm nhân lực trẻ khác nhau về độ tuổi đánh giá tầm quan trọng của lòng tin của cấp trên đối với việc phát huy năng lực làm việc bản thân… 60 Biểu 3.3.3: Các nhóm nhân lực trẻ khác nhau về thâm niên công tác đánh giá về sự quan trọng của lòng tin của cấp trên đối với việc phát huy năng lực làm việc bản thân……… …….61 Biểu 3.3.4: Nhóm nhân lực trẻ nam và nhóm nhân lực trẻ nữ đánh giá sự quan trọng của lòng tin của cấp trên đối với việc phát huy năng lực làm việc bản thân…… 62 Biểu 3.3.5: Các nhóm nhân lực trẻ khác nhau về loại hợp đồng làm việc đánh giá sự quan trọng của lòng tin của cấp trên đối với việc phát huy năng lực làm việc bản thân……….… 63 Biểu 3.3.6: Các nhóm nhân lực trẻ khác nhau về thu nhập đánh giá về sự quan trọng của lòng tin của cấp trên đối với việc phát huy năng lực làm việc bản thân…… 64

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhân lực, đặc biệt là nhân lực trẻ, có vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia Nói cách khác, ngày nay sự phát triển của một quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào vốn con người của quốc gia đó Trong bối cảnh Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn khẳng định tầm quan trọng của đội ngũ nhân lực trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Dưới một góc nhìn nhất định, nhân lực là một trong những nhân tố cơ bản quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay của Việt Nam Vì vậy, việc nghiên cứu sâu về đội ngũ nhân lực nhằm mở rộng sự hiểu biết và đề xuất các giải pháp phát triển đổi ngũ nhân lực phục vụ phát triển đất nước là thực sự cần thiết

Cho đến nay, nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước đã quan tâm đến vốn xã hội trong phát triển đội ngũ nhân lực nói chung, nhân lực trẻ nói riêng dưới những tiếp cận khác nhau [5] Cụ thể là nhiều tác giả đã

đi sâu tìm hiểu cách thức tạo dựng và sử dụng vốn xã hội của đội ngũ nhân lực trẻ [6] Nhiều tác giả chỉ ra vai trò của vốn xã hội trong tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm nhân lực trẻ [6] Thêm nữa, cả chiều cạnh tích cực lẫn tiêu cực của vốn xã hội trong phát triển đội ngũ nhân lực trẻ cũng

đã được đi sâu tìm hiểu [6] Tuy nhiên, nghiên cứu chủ đề vốn xã hội và nhân lực trẻ vẫn cần được tiếp tục triển khai nhằm mang lại những hiểu biết cập nhật về một loại vốn quan trọng của đội ngũ nhân lực này Thêm nữa, đặc điểm vốn xã hội của đội ngũ nhân lực trẻ làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Hà Nội hiện nay cũng chưa được các nghiên

cứu đi trước đi sâu tìm hiểu Vì vậy, tác giả đã lựa chọn chủ đề “Đặc điểm

Trang 10

vốn xã hội của nhân lực trẻ làm việc tại các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội” để làm đề tài luận văn thạc sĩ này

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những đặc điểm vốn xã hội của nhân lực trẻ trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ đặc điểm vốn xã hội trên phương diện mạng lưới xã hội của nhân lực trẻ làm việc ở các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Làm rõ đặc điểm vốn xã hội trên phương diện lòng tin của nhân lực trẻ làm việc ở các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố

Phạm vi không gian: Thành phố Hà Nội

Phạm vi nội dung: đặc điểm vốn xã hội trên phương diện mạng lưới xã hội và lòng tin của nhân lực trẻ làm việc ở các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 11

4 Câu hỏi nghiên cứu

- Mạng lưới xã hội của nhân lực trẻ làm việc tại cơ quan, doanh nghiệp nhà nước có đặc điểm như thế nào?

- Lòng tin của nhân lực trẻ làm việc tại cơ quan, doanh nghiệp nhà nước

có đặc điểm như thế nào?

5 Giả thuyết nghiên cứu

- Mạng lưới xã hội của nhân lực trẻ làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Hà Nội được tạo dựng và duy trì qua nhiều cách thức khác nhau và có sự khác nhau trên các phương diện như giới tính, tuổi tác Những mạng lưới này có vai trò quan trọng đối với quá trình tìm kiếm việc làm và thăng tiến sự nghiệp của đội ngũ nhân lực trẻ

- Lòng tin của nhân lực trẻ làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Hà Nội được tạo dựng, duy trì qua những cách thức nhất định và có sự khác nhau trên phương diện độ tuổi, loại hợp đồng làm việc, thâm niên công tác, thu nhập Lòng tin của nhân lực trẻ làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Hà Nội có vai trò quan trọng đối với phát huy năng lực làm việc của bản thân họ

6 Phương pháp nghiên cứu 6.1 Phân tích tài liệu

Nghiên cứu được tiến hành trước hết bằng việc thu thập và phân tích các tài liệu trong nước và quốc tế liên quan đến vốn xã hội và nguồn nhân lực

Các tài liệu được sử dụng trong nghiên cứu ba gồm ấn phẩm của các nghiên cứu trong và ngoài nước, tài liệu thống kê, báo cáo của các cơ quan nhà nước,

viện nghiên cứu, tổ chức xã hội và các tài liệu về địa bàn nghiên cứu

Dữ liệu chính được sử dụng trong nghiên cứu này là dữ liệu định lượng của đề tài cấp nhà nước “Vai trò của vốn xã hội trong sự phát triển nguồn

Trang 12

nhân lực trẻ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do PGS TS Nguyễn Hồi Loan chủ nhiệm đề tài Từ nguồn dữ liệu của đề tài này được khảo sát trên một số địa phương của cả nước, tác giả tách riêng dữ liệu được khảo sát tại Hà Nội và phân tích sâu dữ liệu được khảo sát ở Hà Nội

Một số đặc điểm của mẫu khảo sát được tiến hành tại Hà Nội mà tác giả luận văn đã sử dụng để phân tích trong đề tài cụ thể như sau:

Bảng 1.1: Cơ cấu mẫu

Đặc điểm khách thể nghiên cứu Số lƣợng Tỷ lệ

Trang 13

kết hôn

50 đến 60 phút Đối tượng phỏng vấn là các cán bộ, nhân viên trong độ tuổi

18 – 34 tuổi, đang làm việc tại các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội Phỏng vấn sâu cung cấp những ý kiến, đánh giá của người trả lời về vốn xã hội của họ Trong 12 cuộc phỏng vấn mà tác giả luận văn đã thực hiện có 6 cuộc phỏng vấn mà người được phỏng vấn là nam giới,

và 6 cuộc phỏng vấn mà người được phỏng vấn là nữ giới Những người được phỏng vấn khác nhau về nhiều đặc điểm chẳng hạn như nghề nghiêp, thâm niên công tác

Trang 14

7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 7.1 Ý nghĩa khoa học

Qua việc vận dụng một số quan điểm lý thuyết về vốn xã hội, tác giả luận văn phân tích các dữ liệu định tính và định lượng được khảo sát ở Hà Nội để làm rõ những đặc điểm vốn xã hội của nhân lực trẻ trong trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước Nói cách khác, trên phương diện khoa học, luận văn cung cấp thêm một góc nhìn xã hội học đối với vốn xã hội, mà cụ thể

là đặc điểm vốn xã hội của của đội ngũ nhân lực trẻ

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Những dữ liệu, luận cứ khoa học trong luận văn này là tài liệu tham khảo giúp các nhà quản l‎ý có thêm cơ sở để hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực trẻ Các dữ liệu, luận cứ khoa học trong luận văn cũng góp thêm cơ sở cho các nhà quản lý trong quá trình đưa ra các quyết định quản lý nhằm phát huy tốt hơn năng lực của đội ngũ nhân lực trẻ

Trang 15

NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHÊN CỨU

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Cho đến nay, trên thế giới và ở Việt Nam, nhiều tác giả khác nhau đã công

bố nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề vốn xã hội Trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả sẽ điểm lại những luận điểm quan trọng liên quan đến đặc điểm vốn xã hội qua nghiên cứu của một số tác giả đáng lưu ý trong và ngoài nước Cụ thể là, qua các nghiên cứu đi trước, tác giả sẽ nhìn lại đặc điểm của vốn xã hội qua hai thành tố quan trọng là mạng lưới xã hội và lòng tin Dưới đây, hai mục cụ thể sẽ lần lượt đề cập đến hai nội dung này

1.1.1 Hướng nghiên cứu về vốn xã hội trên phương diện mạng lưới xã hội

Vốn xã hội là một chiều cạnh quan trọng được các tác giả bàn đến khi nghiên cứu vốn xã hội Tác giả quan trọng đầu tiên nghiên cứu về vốn xã hội

là Bourdieu (1986) qua nghiên cứu “The Forms of Capital” (Các hình thức của vốn) cho rằng rằng vốn xã hội đến từ mạng lưới xã hội tương đối bền vững [10] Trong khi đó, nhà xã hội học Coleman (1988) với các ấn phẩm

“Social Capital in the Creation of Human Capital” (Vốn xã hội trong việc tạo dựng vốn con người) lại khẳng định vốn xã hội ở trong mạng lưới xã hội [11]

Lin (2001) với nghiên cứu “Social Capital: A Theory of Social Structure and Action” (Vốn xã hội: Một l ý thuyết về cấu trúc xã hội và hành động) cũng cho rằng vốn xã hội nằm trong mạng lưới xã hội [13] Một tác giả nổi tiếng khác

là Putnam (2000) với cuốn sách “Bowling Alone: The Collapse and Revival

of American Community” (Chơi bowling một mình: Sự sụp đổ và hồi sinh của cộng đồng Hoa Kỳ) lại khẳng định rằng mạng lưới xã hội là một thành tố của vốn xã hội [16] Trong khi đó Portes qua ấn phẩm "Social Capital: Its

Trang 16

Origins and Applications in Modern Sociology" (Vốn xã hội: Nguồn gốc và những ứng dụng trong xã hội học hiện đại) lại quan sát vốn xã hội thông qua mạng lưới xã hội Dưới một góc nhìn nhất định, các tác giả trên đã khẳng định một trong những chiều cạnh quan trọng của vốn xã hội là mạng lưới xã hội [15]

Liên quan đến mạng lưới xã hội, Bourdieu (1986) qua nghiên cứu “The Forms of Capital” (Các hình thức của vốn) nhấn mạnh rằng mạng lưới xã hội

là kết quả của các chiến lược đầu tư và người ta dùng mạng lưới này để tìm kiếm lợi ích trong ngắn hạn hay dài hạn[10] Coleman (1988) qua công trình

“Social Capital in the Creation of Human Capital” (Vốn xã hội trong việc tạo dựng vốn con người) lại khẳng định sự đóng kín của các mạng lưới xã hội là điều kiện tốt cho sự tồn tại của vốn xã hội và người ta tạo dựng quan hệ xã hội để tìm kiếm lợi ích [11] Nhà xã hội học Portes (1998) với ấn phẩm

"Social Capital: Its Origins and Applications in Modern Sociology" (Vốn xã hội: Nguồn gốc và những ứng dụng trong xã hội học hiện đại) lại nhấn mạnh khả năng tìm kiếm lợi ích qua việc trở thành thành viên của các mạng lưới xã hội [15] Như vậy, các nhà nghiên cứu ở trên đã khẳng định việc tạo dựng, duy trì và sử dụng mạng lưới xã hội để tìm kiếm lợi ích

Tác giả Hoàng Bá Thịnh (2009) qua bài viết “Vốn xã hội, mạng lưới xã hội và những phí tổn” đã cho rằng việc người nông dân tham gia vào các hoạt động cộng đồng như tang ma, cưới xin, vv… là cách để họ tạo dựng vốn xã hội theo nghĩa là mạng lưới xã hội [2] Nhà nghiên cứu Nguyễn Tuấn Anh (2010) qua công trình “Kinship as Social Capital: Economic, Social and Cultural Dimensions of Changing Kinship Relations in a Northern Vietnamese Village” (Họ hàng như là vốn xã hội: Các khía cạnh kinh tế, xã hội văn hóa của quan hệ họ hàng đang chuyển đổi ở một làng miền Bắc Việt Nam) đã chứng minh rằng các lễ nghi quan trọng trong đời sống cộng đồng

Trang 17

như giỗ chạp, cưới xin, tang ma là những chất keo xã hội (social glues) kết nối các cá nhân lại với nhau thành mạng lưới [7] Nghiên cứu của Stephen J Appold và Nguyen Quy Thanh (2004) với tên gọi “The Prevalence and Costs

of Social Capital among Small Businesses in Vietnam” (Sự phổ biến và cái giá của vốn xã hội trong các doanh nghiệp nhỏ ở Việt Nam) dựa trên kết quả khảo sát nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ ở đã khẳng định rằng nhiều doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn nhân lực bên ngoài ngoài mạng lưới bạn bè và gia đình [9] Một nghiên cứu khác là nghiên cứu của Lê Ngọc Hùng (2008) với tên gọi “Vốn xã hội, vốn con người và mạng lưới xã hội” đã cho rằng mạng lưới xã hội của người lao động, mạng thông tin của doanh nghiệp, mạng

di cư, vai trò của các loại vốn trong xóa đói, giảm nghèo [3] Trong nghiên cứu này, Lê Ngọc Hùng (2008) cũng khẳng định rằng mạng lưới truyền thống

bị phá vỡ bởi đô thị hóa và người ta phải dựa vào mạng lưới ngoài làng xã để tìm việc, nâng cao trình độ chuyên môn Nguyễn Tuấn Anh (2013) qua bài viết “Vốn xã hội và kinh tế hộ gia đình qua hoạt động của các nhóm tín dụng phi chính thức ở nông thôn Bắc Trung Bộ” chứng minh tầm quan trọng của vốn xã hội trên phương diện mạng lưới xã hội trong phát triển kinh tế của các

hộ gia đình [4] Công trình nghiên cứu “Vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực trẻ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Hồi Loan, Nguyễn Thị Kim Hoa (2015) [5] và công trình “Vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực trẻ từ những hướng tiếp cận khác nhau” do Nguyễn Thị Kim Hoa, Nguyễn Hồi Loan, Nguyễn Tuấn Anh (2015) đồng chủ biên [6] đã làm rõ nhiều chiều cạnh của việc tạo dựng, duy trì mạng lưới xã hội cũng như vai trò của mạng lưới xã hội trong tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm nhân lực trẻ Luận văn thạc

sỹ “Tạo dựng và phát triển vốn xã hội của nhân lực trẻ thành phố Hà Nội hiện nay” (2014), Phạm Thị Huyền chỉ ra phương thức nhân lực trẻ tạo dựng

Trang 18

vốn xã hội bằng việc tích cực tham gia vào chính các hoạt động trong các mạng lưới xã hội của họ và và phát triển vốn xã hội thông qua việc tăng cường mở rộng các mối quan hệ từ chính các mạng lưới xã hội đó [8]

1.1.2 Hướng nghiên cứu về vốn xã hội trên phương diện lòng tin

Lòng tin là chiều cạnh quan trọng thứ hai của vốn xã hội được các tác giả trong và ngoài nước đi sâu tìm hiểu Nhà nghiên cứu Coleman (1988) với các

ấn phẩm “Social Capital in the Creation of Human Capital” (Vốn xã hội trong việc tạo dựng vốn con người) lại khẳng định lòng tin là một hình thức của vốn

xã hội [11] Tác giả Fukuyama (2001) với nghiên cứu “Social Capital, Civil Society and Development” (vốn xã hội, xã hội công dân và phát triển) [12];

Fukuyama (2002) với công trình “Social Capital and Development: The Coming Agenda” (Vốn xã hội và phát triển: Chương trình nghị sự sắp đến) [13] lại quan niệm vốn xã hội biểu thị sự tin cậy Trong khi đó nhà xã hội học Portes (1998) qua ấn phẩm "Social Capital: Its Origins and Applications in Modern Sociology" (Vốn xã hội: Nguồn gốc và những ứng dụng trong xã hội học hiện đại) khẳng định lòng tin là nguồn gốc của vốn xã hội [15] Nhà

nghiên cứu Putnam (2000) qua cuốn sách “Bowling Alone: The Collapse and Revival of American Community” (Chơi bowling một mình: Sự sụp đổ và hồi

sinh của cộng đồng Hoa Kỳ) lại cho rằng sự tin cẩn là một thành tố của vốn

xã hội [16] Như vậy, qua các tác giả nổi tiếng ở trên chúng ta thấy một trong những chiều cạnh quan trọng của vốn xã hội là lòng tin hay sự tin cẩn

Liên quan đến lòng tin, Fukuyama (2001) và Fukuyama (2002) qua các nghiên cứu “Social Capital, Civil Society and Development” (vốn xã hội, xã hội công dân và phát triển); và “Social Capital and Development: The Coming Agenda” (Vốn xã hội và phát triển: Chương trình nghị sự sắp đến) cho biết người ta tạo ra vốn xã hội, trong đó bao gồm lòng tin, để phục vụ

mục đích của mình [12], [13] Putnam (2000) qua cuốn sách “Bowling Alone:

Trang 19

The Collapse and Revival of American Community” (Chơi bowling một mình:

Sự sụp đổ và hồi sinh của cộng đồng Hoa Kỳ) thì khẳng định vốn xã hội, gồm

có lòng tin, được tạo ra để mang lại thịnh vượng về kinh tế hay thành công trong học hành [16] Nguyễn Tuấn Anh (2010) qua công trình nghiên cứu

“Kinship as Social Capital: Economic, Social and Cultural Dimensions of Changing Kinship Relations in a Northern Vietnamese Village” (Họ hàng như

là vốn xã hội: Các khía cạnh kinh tế, xã hội văn hóa của quan hệ họ hàng đang chuyển đổi ở một làng miền Bắc Việt Nam)” đã chỉ ra rằng các lễ nghi quan trọng trong đời sống cộng đồng như giỗ chạp, cưới xin, tang ma là những dịp quan trọng để tái khẳng định lại sự kết nối và lòng tin giữa những người trong mạng lưới họ hàng [7] Fukuyama (2002) với công trình “Social Capital and Development: The Coming Agenda” (Vốn xã hội và phát triển:

Chương trình nghị sự sắp đến) nhấn mạnh lòng tin giữa các thành viên trong gia đình và lòng tin giữa những người bạn bè gần gũi là mạnh mẽ nhất và là chỗ dựa cho cá nhân trong những lúc khó khăn trong cuộc sống [13] Nói cách khác Fukuyama (2002) nhấn mạnh đến ý nghĩa, tác dụng của lòng tin khi bàn đến vốn xã hội, nhất là lòng tin giữa những người thân thuộc Putnam

trong công trình ”Bowling Alone: The Collapse and Revival of American Community” (Chơi bowling một mình: Sự sụp đổ và hồi sinh của cộng đồng

Hoa Kỳ) lại chứng minh tác dụng tích cực của lòng tin trong việc nâng cao học vấn, nâng cao phúc lợi trẻ em, nâng cao an toàn trong cộng đồng và hạnh phúc cá nhân [16] Nguyễn Tuấn Anh (2013) qua bài viết “Vốn xã hội và kinh

tế hộ gia đình qua hoạt động của các nhóm tín dụng phi chính thức ở nông thôn Bắc Trung Bộ” đã làm rõ vai trò của lòng tin trong quá trình vận hành của các nhóm tín dụng xoay vòng [4] Công trình nghiên cứu “Vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực trẻ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Hồi Loan, Nguyễn Thị Kim

Trang 20

Hoa (2015) [6] và công trình “Vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực trẻ

từ những hướng tiếp cận khác nhau” do Nguyễn Thị Kim Hoa, Nguyễn Hồi Loan, Nguyễn Tuấn Anh (2015) đồng chủ biên [5] đã làm rõ nhiều chiều cạnh của việc tạo dựng, duy trì lòng tin cũng như vai trò của lòng tin trong tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm nhân lực trẻ

Tóm lại qua tổng quan tài liệu, chúng ta có thể thấy chủ đề vốn xã hội

đã và đang được nhiều tác giả cả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu

Liên quan đến các nghiên cứu tập trung vào lòng tin và mạng lưới xã hội, các nghiên cứu đi trước cũng đã bàn sâu về hai yếu tố này trên nhiều phương diện khác nhau Tuy nhiên, đặc điểm của vốn xã hội của đội ngũ nhân lực trẻ trong các cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội trên hai phương diện lòng tin

và mạng lưới xã hội thì chưa được các nghiên cứu đi trước đi sâu tìm hiểu Vì vậy, đây sẽ là vấn đề mà luận văn này sẽ đi sâu tìm hiểu

1.2 Khái niệm làm việc 1.2.1 Khái niệm “vốn xã hội”

Cho đến nay, khái niệm vốn xã hội đã được các tác giả trong và ngoài nước định nghĩa qua nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, chẳng hạn như Bourdieu (1986); Coleman (1988); Fukuyama (2001); Halpern (2005); Portes (1998); Putnam (2000; Woolcock (1998) Các tác giả của cuốn sách “Vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực trẻ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Hồi Loan, Nguyễn Thị Kim Hoa (2015) đồng chủ biên đã kế thừa lại quan điểm của các nhà nghiên cứu có uy tín đã được đề cập đến ở trên và đưa ra quan niệm cụ thể về vốn xã hội Trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả luận văn vận dụng định nghĩa vốn xã hội trong cuốn sách: “Vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực trẻ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” để làm khái niệm công cụ cho nghiên cứu này Cụ thể, “vốn xã hội là khái niệm dùng để chỉ

Trang 21

mạng lưới xã hội, lòng tin, và quan hệ có đi có lại giữa các cá nhân, chủ thể hành động Các cá nhân/chủ thể hành động có thể tạo dựng, duy trì, tích lũy

và sử dụng vốn xã hội để tìm kiếm lợi ích trong các lĩnh vực khác nhau của

đời sống xã hội” [6,tr 27] Như vậy, với khái niệm này, vốn xã hội bao gồm

hai thành tố quan trọng là mạng lưới xã hội và lòng tin Trong nghiên cứu này, mạng lưới xã hội được hiểu là ”một tập hợp các chủ thể hành động và các quan hệ giữa các chủ thể hành động” [18,pg.20] Lòng tin là khái niệm phản ánh hai thành tố sự kỳ vọng và sự cam kết [17; pg 640]

1.2.2 Khái niệm “nhân lực trẻ”

Cho đến nay, khái niệm nhân lực và nhân lực trẻ đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập đến Một số tác giả đã bàn về khái niệm nhân lực, nhân lực trẻn qua một số tác phẩm đáng lưu ý như sau: Henry (2006) qua công trình Public Administration and Public Affairs”; Đặng Cảnh Khanh (2006) qua nghiên cứu “Nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số - Những phân tích Xã hội học”; Phạm Minh Hạc (Chủ biên, 1996) với công trình

“Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa” Phạm Minh Hạc (2001) ấn phẩm “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa”; Võ Xuân Tiến (2010) qua bài viết "Một số vấn đề về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực." Trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả luận văn vận dụng khái niệm từ công trình nghiên cứu: “Vốn

xã hội trong phát triển nguồn nhân lực trẻ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Hồi Loan, Nguyễn Thị Kim Hoa (2015) đồng chủ biên để làm khái niệm làm việc cho luận văn Cụ

thể, nhân lực trẻ là “nhóm xã hôi có độ tuổi từ 15 đến dưới 35 với những đặc điểm nhân cách, năng lực chuyên môn, tình trạng sức khỏe có thể tham gia vào hoạt động trong các lĩnh kinh tế xã hội khác nhau” [6, tr.19]

Trang 22

1.3 Các quan điểm lý thuyết về vốn xã hội

Bourdieu (1986) với công trình “The Forms of Capital” (Các hình thức của vốn); Coleman (1988) với các ấn phẩm “Social Capital in the Creation of Human Capital” (Vốn xã hội trong việc tạo dựng vốn con người); Fukuyama (2001) với nghiên cứu “Social Capital, Civil Society and Development” (vốn

xã hội, xã hội công dân và phát triển); Fukuyama (2001) với công trình

“Social Capital and Development: The Coming Agenda” (Vốn xã hội và phát

triển: Chương trình nghị sự sắp đến); Halpern (2005) với ấn phẩm “Social capital”; Lin (2001) với nghiên cứu “Social Capital: A Theory of Social Structure and Action” (Vốn xã hội: Một l ý thuyết về cấu trúc xã hội và hành

động); Portes (1998) và ấn phẩm "Social Capital: Its Origins and Applications

in Modern Sociology" (Vốn xã hội: Nguồn gốc và những ứng dụng trong xã

hội học hiện đại); Putnam (2000) với cuốn sách “Bowling Alone: The Collapse and Revival of American Community” (Chơi bowling một mình: Sự

sụp đổ và hồi sinh của cộng đồng Hoa Kỳ); Woolcock (1998) với bài viết

"Social Capital and Economic Development: Toward a Theoretical Synthesis and Policy Framework" (Vốn xã hội và phát triển kinh tế: Về một l‎ý thuyết tích hợp và khuôn khổ chính sách)

Nhìn lại các quan điểm của các tác giả quan trọng nghiên cứu về vốn xã hội đã được đề cập đến trong phần tổng quan các nghiên cứu đi trước ở trên

chúng ta thấy có hai quan điểm lý thuyết đáng lưu ý sau đây Thứ nhất là quan

điểm về các thành tố của vốn xã hội Phần lớn các tác giả khi đề cập đến vốn

xã hội đều nhấn mạnh đến ba thành tố đó là mạng lưới xã hội, lòng tin, và quan hệ có đi có lại Chẳng hạn như nhà nghiên cứu có uy tín là Putnam (2000) qua cuốn sách “Bowling Alone: The Collapse and Revival of American Community” (Chơi bowling một mình: Sự sụp đổ và hồi sinh của cộng đồng Hoa Kỳ) đã cho rằng mạng lưới xã hội và lòng tin là các thành tố

Trang 23

của vốn xã hội Đây là một định hướng lý thuyết quan trọng cho tác giả định hướng nội dung luận văn Cụ thể là, trong luận văn này hai chiều cạnh chủ yếu của vốn xã hội của đội ngũ nhân lực trẻ sẽ được bàn sâu đó là mạng lưới

xã hội và lòng tin Nói cách khác, các đặc điểm mạng lưới xã hội và lòng tin của nhân lực trẻ làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Hà Nội sẽ được phân tích sâu

Thứ hai là quan điểm về tạo dựng, duy trì và sử dụng vốn xã hội Như các

tác giả trên đã chỉ ra: để có vốn xã hội các cá nhân phải tạo dựng Việc tạo dựng vốn xã hội có thể được thực hiện qua nhiều cách thức khác nhau Thêm nữa, muốn giữ được vốn xã hội, cá nhân phải có cách duy trì vốn xã hội

Điểm đáng lưu ý‎ nữa là các cá nhân tạo dựng và duy trì vốn xã hội để hướng tới việc sử dụng vốn xã hội Cá nhân sử dụng vốn xã hội để chuyển đổi sang các loại vốn khác, để tìm kiếm lợi ích, tạo ra lợi ích trong các lĩnh vực khác nhau Cụ thể, như đã được đề cập đến trong phần tổng quan các nghiên cứu đi trước, Bourdieu (1986) qua nghiên cứu “The Forms of Capital” (Các hình thức của vốn) chỉ ra rằng vốn xã hội là kết quả của các chiến lược đầu tư và người ta dùng mạng lưới này để tìm kiếm lợi ích trong ngắn hạn hay dài hạn

Hoặc là Putnam (2000) qua cuốn sách “Bowling Alone: The Collapse and Revival of American Community” (Chơi bowling một mình: Sự sụp đổ và hồi

sinh của cộng đồng Hoa Kỳ) khẳng định vốn xã hội được tạo ra để mang lại thịnh vượng về kinh tế hay thành công trong học hành Đây là những luận điểm l‎ý thuyết quan trọng định hướng cho nghiên cứu Vận dụng quan điểm l‎ý thuyết này, tác giả luận văn sẽ phân tích đặc điểm vốn xã hội của nhân lực trẻ qua việc tạo dựng, duy trì và sử dụng vốn xã hội mà cụ thể là mạng lưới xã hội và lòng tin của đội ngũ nhân lực này ở trong các chương nội dung của luận văn

Trang 24

1.4 Vài nét về địa bàn nghiên cứu

Như đã nói ở trên, tác giả luận văn khai thác dữ liệu định lượng từ một

đề tài cấp nhà nước Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả sử dụng dữ liệu khảo sát trên địa bàn phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội

và phường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân, Hà Nội Vì vậy, trong phần viết này tác giả trình bày một vài nét tổng quan về địa bàn nơi dữ liệu định lượng (mà tác giả sử dụng trong luận văn) được thu thập

Phường Thanh Xuân Bắc thuộc quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội khi mới thành lập (tháng 10-1982) là một trong 25 phường thuộc quận Đống

Đa, thành phố Hà Nội Địa giới của phường phía Bắc giáp phường Thanh Xuân, phía Nam giáp thị xã Hà Đông, phía Đông giáp xã Khương Đình (huyện Thanh Trì), phía Tây giáp xã Nhân Chính và xã Trung Văn (huyện Từ Liêm) Phường nằm dọc hai bên đường quốc lộ 6 từ cột km 8 đến cột km 9 + 200; có diện tích 116 ha Tháng 12 năm 1996, theo quyết định của Chính phủ, quận Thanh Xuân được thành lập, lúc này phường Thanh Xuân Bắc thuộc quận Thanh Xuân Tháng 01 năm 1997 Thanh Xuân Bắc được tách ra thành hai phường: Thanh Xuân Bắc và Thanh Xuân Nam Từ đây Thanh Xuân Bắc

có sự thay đổi về địa giới hành chính, diện tích đất đai và số lượng dân cư

Hiện nay, Thanh Xuân Bắc là một trong 11 phường của quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam thành phố, có đường vành đai 3 của Thủ đô là đường Khuất Duy Tiến và đường Nguyễn Trãi (Quốc lộ 6) Phía Đông giáp phường Nhân Chính và Thanh Xuân Trung, phía Tây và phía Bắc giáp xã Trung Văn (huyện Từ Liêm) và phía Nam giáp phường Thanh Xuân Nam, với diện tích còn lại 48,8 ha [19]

Phường Thành Công là một trong 14 phường thuộc quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, cụ thể là các phường: Ngọc Hà, Đội Cấn, Cống Vị, Quán Thánh, Phúc Xá, Nguyễn Trung Trực, Trúc Bạch, Điện Biên, Thành Công,

Trang 25

Giảng Võ, Kim Mã, Ngọc Khánh, Liễu Giai, Vĩnh Phúc Phường Thành Công

là một trong những phường có vị trí thuận lợi nằm ở quận trung tâm hành chính - chính trị quốc gia Phường Thành Công có diện tích 0,647 km2 Phường được chia thành 38 tổ dân phố thuộc 14 địa bàn dân cư Phường có dân số trên 27.000 người Đảng bộ phường có 1.817 đảng viên thuộc 21 chi

bộ và gần 2.500 đảng viên sinh hoạt hai chiều Các tầng lớp nhân nhân và cán

bộ, đảng viên trên địa bàn phường có trình độ dân trí cao, về cơ bản tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền Phường có hệ thống chính trị đồng bộ, ổn định, đội ngũ cán bộ cơ sở có trình độ, nhiệt tình, tâm huyết, trách nhiệm với địa phương Trên địa bàn phường có nhiều trụ sở của doanh nghiệp, tổ chức cá nhân trong và ngoài nước hoạt động [1]

Trang 26

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM VỐN XÃ HỘI TRÊN PHƯƠNG DIỆN MẠNG LƯỚI XÃ HỘI CỦA NHÂN LỰC TRẺ LÀM VIỆC Ở CÁC CƠ QUAN,

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

2.1 Dẫn nhập

Như đã nói rõ trong phần cơ sở l‎ý luận ở trên, hai yếu tố quan trọng của vốn xã hội là mạng lưới và lòng tin Chương này sẽ phân tích sâu đặc điểm vốn xã hội của đội ngũ nhân lực trẻ làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước ở Hà Nội trên phương diện mạng lưới xã hội của họ Nhìn một cách tổng thể, các mạng lưới xã hội của đội ngũ nhân lực trẻ này có thể chia làm ba nhóm Nhóm thứ nhất là bao gồm các mạng lưới quan hệ gia đình, họ hàng

Nhóm thứ hai là những mạng lưới quan hệ xã hội bên trong cơ quan, doanh nghiệp nơi đội ngũ nhân lực trẻ làm việc Nhóm thứ ba là nhóm các mạng lưới bên ngoài nơi họ công tác Đây là các nhóm tự nguyện, các hội, các câu lạc bộ mà đội ngũ nhân lực trẻ tham gia Vì vậy, chương này sẽ lần lượt phân tích sâu những đặc điểm vốn xã hội của đội ngũ nhân lực này thông qua các loại mạng lưới xã hội trên

Để chỉ ra những đặc điểm vốn xã hội của đội ngũ nhân lực này trên phương diện các mạng lưới quan hệ gia đình, họ hàng; mạng lưới trong cơ quan, doanh nghiệp; mạng lưới ngoài cơ quan, doanh nghiệp; tác giả luận văn

sẽ phân tích sâu những mạng lưới này trên ba phương diện Thứ nhất là sự tham gia của đội ngũ nhân lực vào mạng lưới Thứ hai là cách thức, phương tiện mà họ thường sử dụng, hay dựa vào để duy trì kết nối trong mạng lưới

Thứ ba là ‎ý nghĩa, tác dụng của các mạng lưới này, hay nói cách khác là việc

họ sử dụng các mạng lưới này để tạo ra lợi ích, ‎ý nghĩa cho mình như thế nào

Với lô gic như trên, kết cấu của chương, sau phần dẫn nhập này sẽ bao gồm ba mục Các mục sẽ lần lượt bàn về từng nhóm mạng lưới cụ thể, bao

Trang 27

gồm: mạng lưới quan hệ gia đình, họ hàng; mạng lưới trong cơ quan, doanh nghiệp; mạng lưới ngoài cơ quan, doanh nghiệp Trước hết, chúng ta tìm hiểu đặc điểm của mạng lưới quan hệ gia đình, họ hàng của đội ngũ nhân lực trẻ này

2.2 Đặc điểm mạng lưới gia đình, họ hàng của nhân lực trẻ

Mạng lưới gia đình, họ hàng là mạng lưới xã hội quan trọng đầu tiên của đội ngũ nhân lực trẻ làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước

Ngoài những trường hợp cá nhân phải tìm lại quan hệ họ hàng để mở rộng mạng lưới gia đình, họ hàng, về cơ bản đây là mạng lưới có sẵn đối với mỗi

cá nhân Vì vậy, vấn đề đáng lưu tâm nhất đối với mạng lưới gia đình và họ hàng là việc duy trì và sử dụng nó Trước hết, để bàn về việc duy trì mạng lưới họ hàng của nhân lực trẻ, chúng ta sẽ đề cập đến một trường hợp cụ thể dưới đây

Trường hợp anh Dương duy trì mạng lưới họ hàng

Anh Dương 1

, 28 tuổi, Nghiên cứu viên công tác tại Viện nghiên cứu và phát triển vùng của Bộ Khoa học và Công nghệ Hiện tại bố mẹ anh Dương sống ở quê nhà, còn anh Dương và vợ đang sinh sống, làm việc tại Hà Nội Ở quê họ hàng hay trong họ tổ chức họp họ, giỗ, lễ, hiếu hỉ hầu hết anh chị em, các bác các chú đều tham gia đầy đủ, anh Dương ở

xa vì thế trước những dịp như vậy, bố mẹ anh thường gọi điện báo trước để anh chị sắp xếp về Thanh niên con cháu như anh chị về cũng chỉ đến hỗ trợ gia đình nấu cỗ, tiếp khách Tuy vậy mỗi khi sắp xếp về được quê anh đều đến nhà thăm hỏi các cô dì, chú bác, chuyện trò gắn kết tình cảm Ở quê, bố mẹ anh Dương cũng tham gia phường, họp

1 Tên của tất cả những người được phỏng vấn được đề cập đến trong luận văn không phải là tên thật

Trang 28

phường thì tổ chức ăn uống, tiện dịp nào anh về thì ăn uống cùng thôi

Còn anh Dương không trực tiếp tham gia những phường, họ này 2

Trường hợp của anh Dương cho thấy một số điểm đáng chú ý liên quan

đến việc duy trì mạng lưới gia đình, họ hàng Một là, anh Dương có nhiều

cách thức khác nhau để duy trì mạng lưới họ hàng Các cách thức đó bao gồm: gọi điện thoại, về thăm trực tiếp, tham gia các sinh hoạt chung của gia

đình, họ hàng Thứ hai, đối với anh Dương vì ở xa quê nên việc tham gia các

sinh hoạt chung của gia đình và họ hàng cũng có những hạn chế nhất định

Tuy vậy, anh Dương luôn có ‎ý thức tham gia các sinh hoạt chung của nhóm gia đình và họ hàng để củng cố sự kết nối với những người thân Câu hỏi đặt

ra ở đây là thực trạng các cách thức duy trì sự cố kết trong mạng lưới họ hàng của đội ngũ nhân lực trẻ như thế nào qua dữ liệu định lượng? Để trả lời câu hỏi này chúng ta sẽ bàn sâu mức độ nhân lực trẻ sử dụng các phương tiện khác nhau để liên lạc với các thành viên trong gia đình, và họ hàng

Biểu 2.2.1: Phương tiện/cách thức liên lạc với các thành viên trong gia

Trang 29

Biểu đồ trên cho thấy đối với nhân lực trẻ thì cách thức liên lạc với các thành viên khác trong gia đình của họ chủ yếu vẫn là gặp trực tiếp, có đến 89,9% người trả lời giữ liên lạc với người trong gia đình theo cách này Cách thứ hai được ưu tiên sử dụng để giữ liên lạc trong nhóm này là dùng điện thoại chiếm 72,9% Số người trả lời sử dụng các trang mạng xã hội liên lạc với các thành viên trong gia đình chỉ bằng một nửa số người trả lời sử dụng điện thoại liên kết các thành viên trong gia đình Số người trả lời sử dụng Emai/chat/yahoo liên hệ với các thành viên trong gia đình mình chiếm tỷ lệ ít nhất 22,3% Sở dĩ số người trả lời lựa chọn hình thức gặp trực tiếp để liên hệ với các thành viên trong gia đình chiếm tỷ lệ cao nhất vì họ cùng gia đình, cùng khu vực sinh sống

Biểu 2.2.2: Phương tiện/cách thức liên lạc với các thành viên trong họ tộc

Nhìn vào biểu trên ta thấy khác với nhóm gia đình, đối với nhóm họ tộc phương tiện được nhân lực trẻ sử dụng nhiều nhất là dùng điện thoại để liên lạc với họ hàng, chiếm 71,1% Hình thức gặp mặt trực tiếp cũng được sử dụng tương đối nhưng ít hơn nhiều, chiếm 47% Các hình thức khác như thư điện

tử, trò chuyện trực tuyến, hay sử dụng các trang mạng xã hội được sử dụng nhưng với tỷ lệ ít hơn nhiều Nguyên nhân là do các thành viên họ tộc có thể trải dài từ bắc vào nam, sinh sống ở nhiều tỉnh thành, nhiều khu vực cư trú,

Trang 30

khoảng cách về không gian như vậy khiến cho việc gặp gỡ trực tiếp không phải lúc nào cũng thực hiện được

Biểu 2.2.3: Phương tiện liên lạc với các thành viên trong gia đình

theo nhóm tuổi

Biểu số liệu cho thấy, ở cả ba nhóm tuổi “gặp trực tiếp” là hình thức được lựa chọn nhiều nhất để liên hệ với các thành viên trong gia đình Tuy nhiên có sự khác nhau khi so sánh giữa các nhóm tuổi xét trên mỗi hình thức/phương tiện khi được hỏi để sử dụng liên hệ với gia đình Đối với hình thức gặp trực tiếp, nhóm tuổi 30 – 34 nhân lực trẻ lựa chọn hình thức này chiếm tỷ lệ cao nhất 90,7%, không có sự khác biệt nhiều giữa ba nhóm tuổi

Về việc sử dụng điện thoại, nhóm tuổi 19 - 24 sử dụng phương tiện này nhiều nhất, 80,8% người được hỏi trong lứa tuổi này lựa chọn sử dụng điện thoại, hạn chế hơn chiếm 67,8% là ở nhóm tuổi 30 – 34 sử dụng điện thoại liên lạc với gia đình Lựa chọn mạng xã hội giao tiếp liên lạc với gia đình thì nhân lực trẻ trong nhóm 19 – 24 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 48,1%, thấp nhất là nhóm 30 – 34 tuổi với tỷ lệ 30% người sử dụng

Trang 31

Biểu 2.2.4: Phương tiện liên lạc với các thành viên trong họ tộc theo nhóm tuổi

Trong củng cố mối quan hệ với họ hàng, thì nhân lực trẻ chủ yếu lựa chọn phương tiện liên lạc là điện thoại, chiếm tỷ lệ cao nhất ở cả ba nhóm tuổi So sánh giữa ba nhóm tuổi thì nhân lực trẻ từ 19 đến 24, thường xuyên

sử dụng điện thoại liên lạc với họ hàng hơn cả Đối với hình thức gặp trực tiếp, nhóm tuổi 30 – 34 chiếm ưu thế (48,1%) trong khi sử dụng mạng xã hội lại hạn chế hơn so với hai nhóm còn lại (14,8%) Và nhóm sử dụng mạng xã hội chiếm tỷ lệ cao nhất trong ba nhóm là từ 19 đến 24 với tỷ lệ 30,8% Việc

sử dụng emai/chat/yahoo tuy không phổ biến bằng các phương tiện khác nhưng nhóm sử dụng nhiều hơn là từ 25 – 29 tuổi

Đối với nguồn vốn xã hội sẵn có như họ hàng số lượng người trả lời tích cực tham gia chiếm tỷ lệ cao hơn một chút là 71.5%, cùng với gia đình thì quan hệ họ hàng là nguồn vốn có sẵn và có trước các nguồn vốn xã hội khác, là những mối quan hệ thân tình gắn kết trên quan hệ huyết thống, cá nhân không mất nhiều công sức để gây dựng mà theo tiến trình thời gian nguồn vốn này sẽ ngày càng được củng cố và phát triển Chính quan hệ huyết thống tồn tại trong bản thân nguồn vốn này mà việc chia quyền lợi do nguồn

Trang 32

vốn này tạo ra cũng sẽ bền vững hơn các nguồn vốn khác vì vậy như một lẽ tự nhiên nó sẽ được tạo dựng và duy trì một cách chủ động Mạng lưới họ hàng, gia đình được củng cố theo thời gian xác lập nên một quan hệ có đi có lại tự nhiên là một nguồn vốn xã hội vững chắc

Thường xuyên, tháng thì anh cũng về quê tầm khoảng ba bốn lần Nếu

về quê thì anh gặp trực tiếp, đến nhà người thân chơi, thăm hỏi Với cô ruột, bác ruột, cô, dì, chú, thím anh cũng có liên lạc bằng điện thoại hỏi thăm sức khỏe, tình hình ở quê có gì thay đổi, có gì mới không, có trao đổi thông tin (Nam, Chuyên viên, 33 tuổi)

Hơn nữa theo phong tục tập quán của người Việt Nam thì hoạt động thờ cúng tổ tiên là hoạt động quan trọng trong đời sống tâm linh của mỗi người mặc dù đa số người trả lời cho biết họ không theo tôn giáo nào Mỗi năm mỗi dòng họ đều có rất nhiều các hoạt động chung như lễ, tết, thờ cúng

tổ tiên, giỗ chạp, ma chay, cưới xin Những dịp quan trọng như vậy, đa số con cháu trong dòng họ sẽ cố gắng sắp xếp thời gian đến tham gia Đây là cơ hội

để các thành viên họ tộc gặp gỡ, gắn kết với nhau Hoạt động của dòng họ không chỉ để tỏ lòng biết ơn tổ tiên, mà còn là dịp để củng cố mối quan hệ giữa những người trong họ với nhau, ngày càng thắt chặt những nút thắt trong mạng lưới thân tộc

Anh về quê thời gian cũng rất có hạn nên anh chỉ đến chơi, ăn bữa cơm thân mật với gia đình Nếu như vào dịp tết thì thường tổ chức, ăn uống, liên hoan Nhà người thân mà có công việc lớn, như xây dựng nhà cửa, cất nóc thì anh cũng có thể tham gia hỗ trợ bằng hoạt động cụ thể của mình, làm hộ, giúp việc Như ở quê anh thì mùng sáu tháng riêng, thường có việc họ, thì anh là thành viên của dòng họ, thì anh cũng phải tham gia công việc chung của dòng họ Đến ngày đó thì phải đến tham gia, thứ nhất là họp họ, phân chia công việc, đi tảo mộ, tham gia mọi

Trang 33

sinh hoạt trong ngày họp họ này…Ngoài việc họp họ một năm một lần thì khi dòng họ có công to việc lớn, giỗ chạp, cưới xin, hiếu hỉ, anh cũng cố gắng tham gia cũng không thể nói là tuyêt đối tham gia đầy đủ

Ví dụ như cưới con cái của chú nào trong họ, thì nếu về được thì mình

cố gắng bớt chút thời gian để về…Vì mình là người con của quê hương,

ai cũng có nguồn gốc, cội nguồn nên mình phải quan tâm đến việc đó

Mình cho rằng những việc đó tuy là hành động nhỏ nhưng nó lại rất ý nghĩa, ý nghĩa rất lớn Ngoài nhớ ơn tổ tiên thì nó cũng tạo sợi dây kết nối các thành viên trong họ với nhau để mọi người có thể biết mình, mọi người có thể nhớ đến mình và thông qua đó mình cũng sẽ nhớ đến tất cả mọi người Mình sẽ không bị lãng quên, kể cả các thành viên nhỏ tuổi, sẽ biết đc đây là con của bác này hay là cháu của bác kia.(Nam, Chuyên viên, 33 tuổi)

Do đó, sức cố kết xã hội được tái xác định, tăng cường lòng tin của những người trong mạng lưới với nhau Vốn xã hội là sản phẩm tái sinh của hoạt động họ tộc

Hỗ trợ về mặt tài chính cũng có, rồi công việc Ví dụ đợt vừa rồi anh nhà chị không có việc thì cũng nhờ họ hàng tìm việc cho Chủ yếu là bác dì ruột chị thôi, hỗ trợ về mặt tinh thần, có khó khăn gì thì mình có thể chia sẻ, kêu ca một tý về khó khăn trong công việc thì mình cũng được giải tỏa Khi mình cần đầu tư cần có một khoản tiền lớn, họ hàng cũng cho vay mà không lấy lãi Đấy cũng là một sự giúp đỡ lớn rồi

(Nữ, Nghiên cứu viên, 31 tuổi)

Một câu hỏi quan trọng đặt ra ở đây là quan hệ gia đình họ hàng được đội ngũ nhân lực trẻ vận dụng trong cuộc sống Liên quan đến vấn đề này, một người được phỏng vấn cho biết:

Trang 34

“Cũng nhờ người quen biết, có chú bạn của bố chị nói ở đây cần tuyển người, vì đợt đấy chị cùng phòng đang nghỉ đẻ, thiếu người Chú ấy bảo chị nộp hồ sơ, lên gặp sếp và đi làm thôi.” (Nữ, nhân viên, 30 tuổi) hay như chị (Nữ, chuyên viên, 33 tuổi) chia sẻ: “Chị từng làm giáo viên mầm non, nhưng cảm thấy không thích lắm Trước mẹ chị làm ở đây nên khi ở đây cần người thì chị chuyển về” 3

Những trích đoạn phỏng vấn sâu ở trên cho thấy mạng lưới quan hệ họ hàng có vai trò quan trọng đối với việc tìm kiếm việc làm hay thay đổi việc làm của đội ngũ nhân lực trẻ Như trường hợp chị L nhờ vào một người chú của mình để có việc làm Trong khi đó, đối với chị T vốn đã có công việc làm rồi nhưng do không yêu thích công việc đó nên chị đã dựa vào quan hệ của chính mẹ mình để có được công việc hiện tại Như vậy, dữ liệu định tính đã phần nào khẳng định vai trò của quan hệ gia đình, họ hàng đối với việc tìm kiếm, chuyển đổi việc làm của đội ngũ cán bộ trẻ Liên quan đến vấn đề này, cuộc khảo sát đưa ra ba câu hỏi như sau: “Anh/chị đánh giá tầm quan trọng của những yếu tố sau đây như thế nào đối với việc anh/chị được tuyển dụng vào làm việc tại cơ quan/tổ chức mà hiện nay anh/chị đang làm việc?” “Nếu anh/chị mong muốn được cân nhắc vào vị trí công tác tốt hơn thì mức độ chú trọng của anh/chị đối với những yếu tố sau đây như thế nào?”; “Nếu anh/chị

có nguyện vọng được đi bồi dưỡng, đào tạo thêm thì mức độ chú trọng của anh chị đối với những yếu tố sau đây như thế nào?” Với ba câu hỏi này, người trả lời lựa chọn các phương án trả lời có sẵn sau mỗi câu hỏi Trong các phương án trả lời có sẵn ở các câu hỏi có phương án “quan hệ gia đình, họ hàng” Kết quả khảo sát từ ba câu hỏi này được trình bày qua biểu đồ dưới đây

3 Thông tin từ phỏng vấn sâu ngày 06 tháng 11 năm 2016 tại cơ quan người được phỏng vấn

Trang 35

Biểu 2.2.5: Mức độ chú trọng của nhân lực trẻ vào mối quan hệ gia đình,

họ tộc

Dữ liệu định lượng của cuộc khảo sát được trình bày ở trên cho thấy đối với một bộ phận lớn đội ngũ nhân lực trẻ làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước quan hệ gia đình họ hàng có vai trò quan trọng đối với nghề nghiệp và sự thăng tiến nghề nghiệp của họ Cụ thể là, gần bốn phần năm trong tổng số những người trả lời cho rằng quan hệ gia đình, họ hàng quan trọng đối với việc họ được tuyển dụng vào làm việc tại cơ quan hiện tại

Trong khi đó, khoảng ba phần tư số người được hỏi cho rằng họ sẽ chú trọng vào quan hệ gia đình, họ hàng nếu họ có mong muốn được cân nhắc vào vị trí công việc tốt hơn hay mong muốn được đi đào tạo, bồi dưỡng thêm Như vậy,

từ dữ liệu định tính đến dữ liệu định lượng chúng ta thấy rõ quan hệ gia đình,

họ hàng có vai trò quan trọng đối với quá trình tìm kiếm, chuyển đổi việc làm

và thăng tiến nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ trẻ Đây là một đặc điểm vốn xã hội của cán bộ trẻ trên phương diện mạng lưới quan hệ gia đình, họ hàng

2.3 Đặc điểm mạng lưới xã hội bên ngoài cơ quan, doanh nghiệp của

nhân lực trẻ Ngay từ khi sinh ra mỗi cá nhân theo tự nhiên đã là thành viên của những nhóm xã hội có sẵn như nhóm gia đình, dòng họ Theo đó, cùng với

Trang 36

quá trình sinh sống, học tập và công tác, nhân lực trẻ tiếp tục thiết lập và mở rộng mối quan hệ xã hội của mình bằng cách tham gia vào những nhóm xã hội tự nguyện khác để tạo dựng vốn xã hội phục vụ công việc và tạo ra cơ hội thăng tiến Nên các nhóm xã hội tự nguyện mà nhân lực trẻ tham gia khá đa dạng Kết quả định lượng được thể hiện qua biểu đồ dưới đây thể hiện rõ điều này

Biểu 2.3.1: Mức độ tham gia tích cực vào các nhóm xã hội ngoài cơ quan,

doanh nghiệp của nhân lực trẻ

Biểu đồ trên cho thấy, trong các mạng lưới xã hội được hiểu là các nhóm

tự nguyện ngoài cơ quan, doanh nghiệp mà nhân lực trẻ công tác nhóm bạn học cũ là nhóm mà nhiều nhân lực trẻ tham gia tích cực nhất Cụ thể là có đến 75,9% số người trả lời nói rằng họ tham gia tích cực vào các sinh hoạt của nhóm bạn học cũ Trong khi đó, nhóm đồng hương và nhóm cùng sở thích/hội/câu lạc bộ ngoài cơ quan thì chỉ có hơn một phần tư số người nói rằng họ tích cực tham gia sinh hoạt các nhóm này Như vậy, đại đa số người trong đội ngũ nhân lực trẻ làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước

ở Hà Nội tham gia tích cực vào các sinh hoạt của nhóm bạn học cũ Có thể nói rằng đây là một trong những đặc điểm đáng lưu ý về vốn xã hội của nhân lực được hiểu là mạng lưới xã hội ngoài nơi họ công tác

Trang 37

Một trong những điểm đáng lưu ‎ ý ở đây là lý do nhiều người tham gia tích cực vào các sinh hoạt của nhóm bạn học cũ Có thể nói rằng đây là nhóm

mà các thành viên chia sẻ với nhau nhiều điểm chung chẳng hạn như cùng học, cùng tuổi, cùng quê nên họ dễ kết nối với nhau Điều này giúp duy trì quan hệ giữa họ dù hiện nay địa vị, vị thế xã hội của họ có khác nhau Vì vậy, trong mối quan hệ này nhân lực trẻ vẫn dễ dàng chia sẻ và có sự thân tình, vô

tư hơn cả Bên cạnh đó thì đây còn là một mạng lưới hữu hiệu để nhân lực trẻ cập nhật thông tin, chia sẻ với nhau về gia đình, công việc, hỗ trợ nhau vô tư

về tinh thần thậm chí là tài chính Một lý do nữa khiến các cá nhân trong nhóm này có mối quan hệ gần gũi và liên hệ chia sẻ bền chặt hơn là vì trong nhóm các cá nhân thường có những điểm chung về phong cách, quan niệm, giá trị sống

Quan trọng nhất là mình được thư giãn, giải tỏa tâm lý, xả stress sau những giờ làm việc Bạn học cũ giữ mối liên hệ vì nhiều khi công việc của các bạn và của mình sẽ có liên quan đến nhau Mình có thể nhờ vả

nó xin được tài liệu hay cung cấp tư liệu gì đó Khi nào mà mình bí tiền hỏi vay nó, nó cũng cho vay Chia sẻ thông tin chăm sóc con cái, địa điểm ăn uống, mua sắm Có khi đi công tác, du lich đến tỉnh cũng nhờ được bạn bè ở các tỉnh (Nữ, Nghiên cứu viên, 31 tuổi)

Nếu như là bạn đại học thì nhóm 5 đứa chơi thân với nhau đều đã có gia đình, thì chia sẻ những chuyện về gia đình, chồng con, kinh tế Có chồng con rồi nên hay nói về chuyện kinh tế lắm Còn bạn cấp ba thì gặp nhau buôn dưa lê hỏi xem tình hình có gì mới không, về công việc, học hành, tình yêu, tình báo… Những lúc gặp bạn thân như thế làm cho mình vui vẻ, sảng khoái, xả stress Trong nhóm chị chơi thân cũng đã

có bạn giúp nhau về tài chính, cho nhau vay tiền mua nhà.(Nữ, Chuyên viên, 27 tuổi)

Ngày đăng: 06/12/2022, 22:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Hoàng Bá Thịnh (2009), Vốn xã hội, mạng lưới xã hội và những phí tổn, Tạp chí Xã hội học, Số 1 (105), tr. 42 – 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn xã hội, mạng lưới xã hội và những phí tổn
Tác giả: Hoàng Bá Thịnh
Nhà XB: Tạp chí Xã hội học
Năm: 2009
3. Lê Ngọc Hùng (2008), Vốn xã hội, vốn con người và mạng lưới xã hội qua một số nghiên cứu ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu con người, Số 37(3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu con người
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Năm: 2008
4. Nguyễn Tuấn Anh (2013), Vốn xã hội và kinh tế hộ gia đình qua hoạt động của các nhóm tín dụng phi chính thức ở nông thôn Bắc Trung Bộ, Nghiên cứu Gia đình và Giới, (số 3), tr.20-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn xã hội và kinh tế hộ gia đình qua hoạt động của các nhóm tín dụng phi chính thức ở nông thôn Bắc Trung Bộ
Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh
Nhà XB: Nghiên cứu Gia đình và Giới
Năm: 2013
5. Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Hồi Loan, Nguyễn Thị Kim Hoa (Đồng chủ biên) (2015), Vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực trẻ những hướng tiếp cận khác nhau, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội 6. Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Hồi Loan, Nguyễn Thị Kim Hoa (Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực trẻ những hướng tiếp cận khác nhau
Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Hồi Loan, Nguyễn Thị Kim Hoa
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2015
7. Nguyễn Tuấn Anh. 2010. "Kinship as Social Capital: Economic, Social and Cultural Dimensions of Changing Kinship Relations in a Northern Vietnamese Village." Doctoral dissertation. Vrije Universiteit Amsterdam, The Netherlands. ISBN/EAN: 978-90-5335-271-1. 278 pages Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinship as Social Capital: Economic, Social and Cultural Dimensions of Changing Kinship Relations in a Northern Vietnamese Village
Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh
Nhà XB: Vrije Universiteit Amsterdam
Năm: 2010
8. Phạm Thị Huyền (2014), Tạo dựng và phát triển vốn xã hội của nguồn nhân lực trẻ thành phố Hà Nội hiện nay, Luận văn thạc sỹ chuyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo dựng và phát triển vốn xã hội của nguồn nhân lực trẻ thành phố Hà Nội hiện nay
Tác giả: Phạm Thị Huyền
Nhà XB: Luận văn thạc sỹ chuyên
Năm: 2014
9. Appold, Stephen J and Nguyen Quy Thanh (2004), The Prevalence and Costs of Social Capital among Small Businesses in Vietnam, Paper presented at the annual meeting of the American Sociological Association, San Francisco Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Prevalence and Costs of Social Capital among Small Businesses in Vietnam
Tác giả: Stephen J Appold, Nguyen Quy Thanh
Nhà XB: American Sociological Association
Năm: 2004
10. Bourdieu, Pierre (1986), The Forms of Capital, pg. 241-258 in Handbook of Theory and Research for the Sociology of Education, edited by J. G. Richardson. New York: Greenwood Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Forms of Capital
Tác giả: Pierre Bourdieu
Nhà XB: Greenwood
Năm: 1986
11. Coleman, James S. (1988), Social Capital in the Creation of Human- Capital, American Journal of Sociology 94:pg95-pg120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social Capital in the Creation of Human- Capital
Tác giả: James S. Coleman
Nhà XB: American Journal of Sociology
Năm: 1988
12. Fukuyama, Francis. (2001), Social Capital, Civil Society and Development, Third World Quarterly 22: pg7-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social Capital, Civil Society and Development
Tác giả: Fukuyama, Francis
Năm: 2001
13. Fukuyama, Francis. (2002), Social Capital and Development: The ComingAgenda, SAIS review 22:23-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social Capital and Development: The ComingAgenda
Tác giả: Fukuyama, Francis
Năm: 2002
14. Lin, Nan. (2001), Social Capital: A Theory of Social Structure and Action. Cambridge: Cambridge University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social Capital: A Theory of Social Structure and Action
Tác giả: Nan Lin
Nhà XB: Cambridge University Press
Năm: 2001
15. Portes, Alejandro. (1998), Social Capital: Its Origins and Applications in Modern Sociology, Annual Review of Sociology 24:pg1-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social Capital: Its Origins and Applications in Modern Sociology
Tác giả: Alejandro Portes
Nhà XB: Annual Review of Sociology
Năm: 1998
16. Putnam, Robert D. (2000), Bowling Alone: The Collapse and Revival of American Community. New York, etc: Simon & Schuster Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bowling Alone: The Collapse and Revival of American Community
Tác giả: Robert D. Putnam
Nhà XB: Simon & Schuster
Năm: 2000
17. Turner, Bryan S The Cambridge Dictionary of Sociology. Cambridge: Cambridge University Press: 2006: 640 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Cambridge Dictionary of Sociology
Tác giả: Bryan S Turner
Nhà XB: Cambridge University Press
Năm: 2006
18. Wasserman, S., & Faust, K. (1994). Social Network Analysis Methods and Applications. Cambridge: Cambridge University Press, 1994: 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social Network Analysis Methods and Applications
Tác giả: S. Wasserman, K. Faust
Nhà XB: Cambridge University Press
Năm: 1994
1. BÁO CÁO Sơ kết giữa nhiệm kỳ 2015-2020 của Đảng bộ phường ThànhCông (khóa XII) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Cơ cấu mẫu - Luận văn thạc sĩ USSH đặc điểm vốn xã hội của nhân lực trẻ làm việc tại các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố hà nội (nghiên cứu tại phường thanh xuân bắc, quận thanh xuân
Bảng 1.1 Cơ cấu mẫu (Trang 12)
Biểu số liệu cho thấy, ở cả ba nhóm tuổi “gặp trực tiếp” là hình thức được lựa chọn nhiều nhất để liên hệ với các thành viên trong gia đình - Luận văn thạc sĩ USSH đặc điểm vốn xã hội của nhân lực trẻ làm việc tại các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố hà nội (nghiên cứu tại phường thanh xuân bắc, quận thanh xuân
i ểu số liệu cho thấy, ở cả ba nhóm tuổi “gặp trực tiếp” là hình thức được lựa chọn nhiều nhất để liên hệ với các thành viên trong gia đình (Trang 30)
Trên thực tế, ngoài yếu tố tuổi tác thì hình thức liên hệ của những người sinh hoạt đồn thanh niên cịn tùy thuộc tính chất, mức độ quan trọng - Luận văn thạc sĩ USSH đặc điểm vốn xã hội của nhân lực trẻ làm việc tại các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố hà nội (nghiên cứu tại phường thanh xuân bắc, quận thanh xuân
r ên thực tế, ngoài yếu tố tuổi tác thì hình thức liên hệ của những người sinh hoạt đồn thanh niên cịn tùy thuộc tính chất, mức độ quan trọng (Trang 47)
Bảng số liệu trên cho thấy trong đội ngũ nhân lực trẻ, nhóm hợp đồng ngắn hạn có tỷ lệ người cao hơn (so với nhóm hợp đồng dài hạn và hợp đồng - Luận văn thạc sĩ USSH đặc điểm vốn xã hội của nhân lực trẻ làm việc tại các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố hà nội (nghiên cứu tại phường thanh xuân bắc, quận thanh xuân
Bảng s ố liệu trên cho thấy trong đội ngũ nhân lực trẻ, nhóm hợp đồng ngắn hạn có tỷ lệ người cao hơn (so với nhóm hợp đồng dài hạn và hợp đồng (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w