1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ USSH công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tác động của nó tới đạo đức truyền thống ở việt nam hiện nay

107 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tác động của nó tới đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Thị Yến
Người hướng dẫn TS. Lương Thùy Liên
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn quá trình CNH, HĐH đã mang lại nhiều thành tựu to lớn trong lĩnh vực kinh tế, tác động cả tích cực và tiêu cực đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có đạo đức truyền

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

======================

NGUYỄN THỊ YẾN

CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Triết học

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

======================

NGUYỄN THỊ YẾN

CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60 22 03 01

Người hướng dẫn khoa học: TS Lương Thùy Liên

Hà Nội - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn Thạc sỹ với đề tài “ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tác động của nó tới đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay” được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS Lương Thùy Liên

là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 25 tháng 5 năm 2015

Học viên

Nguyễn Thị Yến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Triết học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã giảng dạy, trang bị cho tôi những kiến thức trong những năm học qua, giúp tôi nắm vững những vấn đề lý luận và phương pháp luận để hoàn thành luận văn này

Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn TS Lương Thùy Liên đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong thời gian hoàn thành đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 25 tháng 5 năm 2015

Học viên

Nguyễn Thị Yến

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TỚI ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 9

1.1 Khái quát chung về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam 9

1.1.1 Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam 9

1.1.2 Nội dung của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam 11

1.1.3 Thành tựu và hạn chế của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam 18

1.2 Đạo đức truyền thống và những nội dung cơ bản của đạo đức truyền thống Việt Nam 22

1.2.1 Khái niệm đạo đức truyền thống 22

1.2.2 Những nội dung cơ bản của đạo đức truyền thống Việt Nam 26

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá tới đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay 39

CHƯƠNG 2 TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TỚI ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: THỰC TRẠNG, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP 47

2.1 Tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá tới đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay 48

2.1.1 Tác động tích cực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá tới đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay 48

2.1.2 Tác động tiêu cực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá tới đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay 65

2.2 Tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá tới đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp 76

2.2.1 Tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá tới đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay: Một số vấn đề đặt ra 76

2.2.2 Tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá tới đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay: Một số giải pháp cơ bản 84

KẾT LUẬN 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (sau đây chúng tôi xin được viết tắt là:

CNH, HĐH) là vấn đề chung mang tính toàn cầu, là một xu thế tất yếu hợp quy luật của thời đại mà mỗi quốc gia muốn tồn tại và phát triển đều phải thực hiện

Nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một điểm xuất phát thấp, đó là nền nông nghiệp lạc hậu, năng suất thấp, kỹ thuật thủ công Vì vậy, để xây dựng một nền sản xuất lớn với năng suất lao động cao, Đảng ta đã xác định phải xây dựng

cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội ở nước ta theo con đường CNH, HĐH Vì vậy, ngay từ Đại hội lần III năm 1960 Đảng ta đã coi, CNH là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Cho đến nay, Đảng và Nhà nước xác định, đất nước đang trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội và góp phần nâng cao mức sống nhân dân

CNH, HĐH là điều kiện căn bản nhất để tạo ra tiến bộ kỹ thuật, tiến bộ xã hội, thay đổi cơ cấu lao động chuyển từ lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp, dịch vụ, tất cả vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Thực tiễn quá trình CNH, HĐH đã mang lại nhiều thành tựu to lớn trong lĩnh vực kinh tế, tác động cả tích cực và tiêu cực đến nhiều lĩnh vực của đời sống

xã hội trong đó có đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam

Đạo đức truyền thống của dân tộc là di sản vô cùng quý giá, đó là tinh hoa, cốt lõi và là linh hồn của dân tộc Dân tộc Việt Nam có bề dày lịch sử lâu đời và

đã trải qua biết bao sự kiện biến động lớn lao Sinh sống trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt lại luôn phải chống lại những kẻ ngoại xâm hung bạo và lớn mạnh, muốn tồn tại và phát triển, dân tộc ta không còn cách nào khác là phải khơi dậy

và phát huy sức mạnh nội lực của chính mình Trong những thử thách gay go, ác liệt của lịch sử, đạo đức truyền thống vừa là kết quả, vừa là động lực của quá

Trang 7

trình đấu tranh gian khổ, lâu dài và quật cường của dân tộc ta chống lại thiên tai

và địch họa, làm nên cốt cách, tinh thần, và sức mạnh Việt Nam

Do vậy, để xã hội phát triển lành mạnh, huy động sức mạnh của toàn dân phấn đấu thực hiện mục tiêu CNH, HĐH hiện nay, một mặt chúng ta phải quan tâm tới phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra cuộc sống vật chât đầy đủ cho nhân dân, mặt khác phải chăm lo xây dựng đạo đức xã hội lành mạnh, khắc phục sự suy đồi phẩm chất đạo đức của một bộ phận dân cư

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để trong quá trình CNH, HĐH chúng ta vừa thực hiện thành công, đạt hiệu quả kinh tế cao, vừa giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc Đây là vấn đề cần đặt ra cho Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, từ đó tìm ra con đường đúng đắn và phù hợp nhất cho đất nước

Chúng tôi thiết nghĩ việc tìm hiểu “CNH, HĐH và tác động của nó tới

đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay” là rất cần thiết, cấp bách cả về mặt

lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Các tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn tốt nghiệp có thể chia làm 2 nhóm

* Nhóm những nghiên cứu về đạo đức và giá trị đạo đức truyền thống

Việt Nam

- Nghiên cứu về đạo đức và giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam là một

đề tài rộng lớn Có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Tiêu biểu là một số công trình:

- Công trình của tác giả Trần Văn Giàu “Giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam”, Nxb khoa học xã hội, 1998 Công trình đã nêu lên cơ sở hình thành

những nội dung, và biểu hiện những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam mà chủ yếu là giá trị đạo đức được tác giả quan tâm nhất

Trang 8

- Đề tài Kx – 07 – 02 “Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay” do tác giả Phan Huy Lê và tác giả Vũ Minh Giang chủ trì Đề tài đã

Việt Nam Công trình đã nêu lên những truyền thống của con người Việt Nam, những mặt mạnh, mặt yếu từ đó đưa ra những phương hướng, giải pháp phát huy những giá trị, khắc phục những hạn chế của truyền thống Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

- Cuốn sách “Một số vấn đề về lối sống, đạo đức và chuẩn giá trị” của

tác giả Huỳnh Khái Vinh do nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2001 Trong cuốn sách các vấn đề như vai trò của đạo đức, lối sống, và chuẩn giá trị xã hội đối với việc phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam đã được nêu ra rõ ràng, cuốn sách cũng xem xét tác động của các yếu tố kinh tế, chính trị, đạo đức của con người Việt Nam

- Cuốn sách “Đạo đức phật giáo với đạo đức con người Việt Nam” của

tác giả Đặng Thị Lan, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2006 Đây là cuốn sách đã bàn về ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến đạo đức con người Việt Nam, trong cuốn sách này tác giả đã dành một chương khảo sát ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến đạo đức con người Việt Nam Tư tưởng từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn của đạo đức Phật giáo đã hòa quện với tấm lòng yêu nước, lòng nhân nghĩa trong đạo đức truyền thống của người Việt Nam đã tạo nên sức mạnh đoàn kết cho dân tộc Việt Nam để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược

- Cuốn sách “Ảnh hưởng của đạo đức phong kiến trong quản lý cán bộ và lãnh đạo của Việt Nam hiện nay” do tác giả Nguyễn Thế Kiệt chủ biên, Nhà

xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2001 Cuốn sách này tập hợp nhiều bài viết của nhiều tác giả, đề cập đến nhiều nội dung khác nhau như:

+ Phân tích điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử đã tạo lên những nét đặc

trưng của đạo đức truyền thống Việt Nam như tinh thần yêu nước, tinh thần đoàn kết, lòng nhân nghĩa

Trang 9

+ Phân tích sự khác nhau giữa đạo đức truyền thống Việt Nam với đạo đức Nho giáo, đạo đức phong kiến

+ Phân tích những ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo, đạo đức phong kiến đến đạo đức cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất những giải pháp khắc phục những hạn chế

- Tạp chí triết học số 157 tháng 6 năm 2004 có các bài của các tác giả:

Nguyễn Văn Lý “Vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên ở nước ta hiện nay” Trong bài viết tác giả nêu lên sự cần thiết, những biện

pháp để nâng cao đạo đức cho cán bộ các cấp các ngành nhằm đáp ứng được những yêu cầu của cách mạng trong giai đoạn hiện nay

- Tạp chí triết học số 159 tháng 8 năm 2004 có bài của Minh Anh “Về học thuyết luân lý và đạo đức Nho giáo” tác giả đã phân tích quan niệm về ngũ

luân và những yêu cầu của ngũ luân trong Nho giá

- Tạp chí triết học số 163 tháng 12 năm 2004 có bài “Quan điểm mác xít

về mối quan hệ giữa đạo đức - chính trị - pháp quyền, ba lĩnh vực này đều nhằm giữ cho xã hội trong vòng trật tự kỷ cương, nhưng chúng có vai trò, vị trí, cách thức khác nhau trong tác động tới việc hình thành con người theo mỗi chế độ xã hội Chúng ta phải kết hợp chặt chẽ cả ba lĩnh vực trên

- Tạp chí triết học số 168 tháng 5 năm 2005 có bài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa đạo đức và chính trị” của tác giả Phạm Văn Nhuận

Trong bài viết của mình tác giả đã làm rõ quan hệ giữa đạo đức và chính trị trong

tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Người cho rằng đạo đức phải mang bản chất một giai cấp nhất định, gắn với lợi ích của một giai cấp Ngược lại, đạo đức phục vụ cho chính trị, muốn hoàn thành được sự nghiệp cách mạng, cần phải quan tâm giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân

- Về đạo đức truyền thống Việt Nam có bài “Từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Hùng

Hậu đăng trên tạp chí triết học số 172 tháng 9 năm 2005 Tác giả đã cho rằng Hồ

Trang 10

Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước trên cơ sở đạo đức truyền thống Sự tiếp nhận chủ nghĩa Mác – Lênin đã chuyển lập trường yêu nước của dân tộc Việt Nam sang chủ nghĩa yêu nước trên lập trường giai cấp công nhân kết hợp chặt chẽ độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội Tạp chí triết học số 182 tháng 7 năm

2006 có bài “Nhân ái – một giá trị văn hóa truyền thống cần kế thừa và phát huy trong việc xây dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Võ Văn Thắng

Tác giả cho rằng nhân ái là một giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam, cho nên chúng ta cần phải phát huy mạnh mẽ hơn nữa ở Việt Nam hiện nay

* Nhóm những nghiên cứu về sự tác động của kinh tế, chính trị nói chung

và CNH, HĐH nói riêng đến giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam

Quá trình CNH, HĐH đã đặt ra thách thức đến mọi lĩnh vực của đời sống

xã hội, trong đó có đạo đức truyền thống Cho nên, có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này:

- Công trình của Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia, Viện triết học do tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn và tác giả Nguyễn Văn Phúc chủ biên,

với tựa đề “Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, xuất bản năm 2003, đã phân tích

những tác động của kinh tế thị trường đến đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay

Các tác giả khẳng định kinh tế thị trường đang có những tác động tích cực và tiêu cực tới đời sống đạo đức xã hội Việt Nam Tác động tích cực của kinh tế thị trường là làm cho con người chủ động, tích cực, ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân không ngừng được nâng lên Trong đó cũng nêu ra những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đến đời sống đạo đức xã hội Việt Nam như: lối sống chạy theo đồng tiền, thực dụng, tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng

- Tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn trong bài viết: “Đôi điều suy nghĩ về giá trị và sự biến đổi các giá trị khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường”

Bài viết đã nêu ra sự biến đổi các giá trị đạo đức khi nền kinh tế đang có những bước phát triển mới

Trang 11

- Tác giả Nguyễn Duy Quý: “Đạo đức xã hội dưới tác động và ảnh hưởng của kinh tế và chính trị ở nước ta hiện nay”, “thực trạng và nguyên nhân suy thoái đạo đức trong xã hội”, và trong cuốn sách “Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay.vấn đề và giải pháp”, của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam do tác giả

Nguyễn Duy Quý và tác giả Hoàng Chí Bảo chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, đã nêu lên thực trạng đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay

Với những tác động của kinh tế thị trường và sự mở rộng giao lưu quốc tế, đạo đức xã hội Việt Nam đã có nhiều tiến bộ về sự bình đẳng trong xã hội, tự do dân chủ của con người Bên cạnh đó công trình này đã nêu lên những hạn chế, những điều đáng lo ngại là đạo đức gia đình và xã hội, đạo đức trong các ngành, các lĩnh vực đang có sự xuống cấp như lối sống chạy theo đồng tiền, sự tha hóa đạo đức của một bộ phận cán bộ công chức Nhà nước, tình trạng tội phạm gia tăng vv… Điều đó đang gây ra những bức xúc cho xã hội, những lo lắng cho người dân Trên cơ sở phân tích sâu sắc thực trạng đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay, các tác giả đã nêu lên những giải pháp như tăng cường nghiên cứu giảng dạy đạo đức trong xã hội, nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức trong gia đình, để khắc phục những hạn chế thiếu sót nêu trên

- Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, tác giả Phạm

Văn Đức, tác giả Hồ Sĩ Quý “Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình CNH, HĐH” xuất phát từ quan điểm biện chứng của lịch sử và quan điểm

triết học văn hóa đã làm rõ mối quan hệ giữa giá trị truyền thống với phát triển, nhấn mạnh vị thế chủ thể của văn hóa nội sinh trong hội nhập, khẳng định sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nhất định thắng lợi khi khai thác và phát huy được vai trò của các giá trị truyền thống

- Cuốn sách “Chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam hiện nay” của

Viện Khoa học Xã hội Nhân văn Quân sự, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, xuất bản năm 2006 đã nêu lên những chuẩn mực đạo đức truyền thống và những chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam hiện nay Các tác giả cho rằng các

Trang 12

chuẩn mực đạo đức hiện nay là sự kế thừa những giá trị của những chuẩn mực đạo đức truyền thống, phát triển chúng lên cho phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay

- Từ ngày 7 đến ngày 9 tháng 12 năm 1999 tại Hà Nội, viện triết học tổ

chức hội thảo quốc tế với chủ đề “Văn hóa truyền thống Việt – Trung và hiện đại” Tham gia hội thảo có hơn 20 học giả Việt Nam và 9 học giả Trung Quốc

Hội thảo đã đặt ra và giải quyết nhiều vấn đề như: Các giá trị truyền thống và sự nghiệp CNH, HĐH trong bối cảnh toàn cầu hóa, so sánh đối chiếu hai hệ thống giá trị Việt – Trung và những nét đặc trưng của chúng, giải quyết mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại cũng như sự tác động của các giá trị truyền thống

Như vậy, có thể nói giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống

của dân tộc trong nền kinh tế thị trường là vấn đề được quan tâm nghiên cứu trong thời gian qua Tuy nhiên nghiên cứu về CNH, HĐH và sự ảnh hưởng của

nó tới đạo đức truyền thống Việt Nam đến nay vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống Trước tình hình đó yêu cầu đặt ra là phải đẩy mạnh hơn nữa sự tập trung nghiên cứu vấn đề này trong giai đoạn hiện nay bởi đây là một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc liên quan đến sự tồn tại và phát triển của dân tộc trong quá trình thực hiện đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích của luận văn: Phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về sự tác động của CNH, HĐH đến đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay, từ đó xác định những vấn đề đặt ra và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của CNH, HĐH đến đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay

- Thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:

Một là, làm rõ một số vấn đề lý luận chung về tác động của CNH, HĐH đến đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiên nay

Trang 13

Hai là, làm rõ thực trạng tác động của CNH, HĐH đến đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay, xác định những vấn đề đặt ra và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của CNH, HĐH đến đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, ngoài ra còn sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, lịch sử, logic, diễn dịch, quy nạp…

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: CNH, HĐH và tác động của nó tới

đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Luận văn tập trung nghiên cứu quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) đến nay

6 Đóng góp của luận văn

- Đóng góp về mặt lý luận của luận văn: Luận văn góp phần làm rõ quá

trình CNH, HĐH và tác động của nó tới đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay Đề xuất những giải pháp để phát huy tác động tích cực và hạn chế tiêu cực của CNH, HĐH đến đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay

- Đóng góp về mặt thực tiễn của luận văn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ nghiên cứu học tập, giảng dạy về đạo đức, về đạo đức truyền thống… luận văn có ý nghĩa khuyến nghị đối với công tác xây dựng đạo đức trong quá trình thực hiện CNH, HĐH trong điều kiện hiện nay

7 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm

2 chương, 5 tiết

Trang 14

CHƯƠNG 1 TÁC ĐỘNG CỦA CNH, HĐH TỚI ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 1.1 Khái quát chung về CNH, HĐH ở Việt Nam

1.1.1 Mục tiêu của CNH, HĐH ở Việt Nam

CNH, HĐH là con đường tất yếu để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội đối với các nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa

Trong Báo cáo ngày 5 – 7 – 1921 tại Đại hội III Quốc tế cộng sản, V.I.Lênin đã khẳng định: cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội chỉ có thể là nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp Nhưng không thể đóng khung ở nguyên lý chung đó Cần phải cụ thể hóa nguyên lý đó

Một nền đại công nghiệp ở vào trình độ kỹ thuật hiện đại và có khả năng cải tạo nông nghiệp đó là điện khí hóa cả nước

Có thể hiểu rằng, cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền sản xuất lớn hiện đại có cơ cấu kinh tế tiến bộ, trình độ khoa học công nghệ hiện đại

Cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là điều kiện quan trọng và quyết định nhất đối với thắng lợi cuối cùng của chủ nghĩa xã hội Để có được cơ sở vật chất – kỹ thuật như vậy, đối với những nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là phải CNH, HĐH

Đối với Việt Nam, một nước có nền kinh tế kém phát triển thì CNH, HĐH

là một con đường tất yếu để tạo cơ sở vật chất – kỹ thuật của nền sản xuất lớn hiện đại, cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Quá trình này được thực hiện một cách có kế hoạch trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội CNH, HĐH có ý nghĩa quan trọng Đó là con đường thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn

so với các nước trên thế giới, giữ được ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ độc lập, chủ quyền và định hướng phát triển xã hội chủ nghĩa Bởi vậy, CNH, HĐH có ảnh hưởng quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội

Trang 15

Trên cơ sở phân tích trên, Văn kiện hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa VII đưa ra khái niệm CNH, HĐH: “CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [24, 4]

Quan điểm này được các Đại hội sau (VIII, IX, và X) kế thừa và quán triệt bằng các chủ trương chính sách Đại hội IX khẳng định CNH, HĐH vẫn là nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn hiện nay CNH, HĐH nhằm “Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến… từng bước phát triển nền kinh tế tri thức” [29, 25] Đại hội X nhấn mạnh tới sự gắn kết quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH với phát triển kinh tế tri thức “Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng lợi thế của đất nước, để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và CNH, HĐH” [28, 87]

Như vậy, qua các kỳ Đại hội mà đặc biệt là Đại hội X, Đảng ta đều khẳng định CNH, HĐH là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đồng thời qua mỗi lần Đại hội, lại có quá trình nhận thức và cụ thể hóa thêm nhiệm vụ này cho phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước trong từng thời kỳ và phù hợp với xu thế chung của thời đại, nhằm phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, từng bước hiện đại hóa nền kinh tế

Xuất phát từ tình hình thực tế của đất nước và căn cứ vào cương lĩnh của Đảng, cần tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

Mục tiêu CNH, HĐH là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có

cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến

bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất tinh

Trang 16

thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng

và văn minh

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ 2001 tới 2010 nêu rõ: “Đưa nước

ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để tới năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành

về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao” [29, 24]

Đại hội X nhấn mạnh: “Đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” [28, 186]

Những nội dung có tính định hướng chiến lược của CNH, HĐH trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Thứ nhất, phát triển lực lượng sản xuất – cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ

nghĩa xã hội, trên cơ sở thực hiện cơ khí hóa nền sản xuất xã hội và áp dụng những thành tựu khoa học – công nghệ hiện đại

Đặc thù của quá trình CNH, HĐH là cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành những lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến, hiện đại để đạt năng suất lao động xã hội cao Đó là bước chuyển đổi rất căn bản từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp đi liền với cơ khí hóa và tự động hóa sản xuất từng bước và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Sự nghiệp CNH, HĐH đòi hỏi phải xây dựng và phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp, trong đó có ngành chế tạo tư liệu sản xuất Sở dĩ như vậy là vì, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tái sản xuất mở rộng của khu vực sản xuất tư liệu sản xuất, đặc biệt là của ngành sản xuất tư liệu sản xuất quyết định quy mô tái sản xuất mở rộng (hay tốc

độ tăng trưởng) của toàn bộ nền kinh tế Sự phát triển của các ngành chế tạo tư

Trang 17

liệu sản xuất là cơ sở để cải tạo, phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển khu vực nông – lâm – ngư nghiệp Do vậy đối tượng CNH, HĐH là tất cả các ngành kinh tế quốc dân nhưng trước hết và quan trọng nhất là ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất

Đồng thời, mục tiêu của CNH, HĐH còn là sử dụng kỹ thuật, công nghệ ngày càng tiên tiến hiện đại nhằm đạt năng suất lao động xã hội cao Tất cả những điều đó chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở một nền khoa học công nghệ phát triển đến một trình độ nhất định Khi nền khoa học công nghệ trên thế giới đang phát triển như vũ bão, khoa học đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, khi

mà công nghệ đang trở thành nhân tố quyết định chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất… tức là đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa, hiệu quả của sản xuất, kinh doanh thì khoa học công nghệ phải là động lực của CNH, HĐH Bởi vậy phát triển khoa hoc, công nghệ có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH

Nắm vững ý nghĩa trên Đại hội X chú trọng tới sự phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học – công nghệ để tăng cường thiết lập cơ sở vật chất – kỹ thuật cho Việt Nam thời gian tới Cụ thể:

Một là, đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học – công

nghệ tạo bước đột phá trong phát triển lực lượng sản xuất của nền kinh tế Tăng năng lực khoa học – công nghệ nội sinh và kết hợp với tiếp thu và làm chủ công nghệ tiên tiến nước ngoài

Hai là, đổi mới tổ chức, xây dựng quy chế liên kết giữa khoa học – công

nghệ với giáo dục và đào tạo, giữa nghiên cứu và giảng dạy với sản xuất Phát triển mạng lưới đổi mới

Ba là, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, chuyển giao công nghệ khuyến khích

các thành phần kinh tế, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư vào phát triển và áp dụng thành tựu khoa học – công nghệ vào nền kinh tế Việt Nam [28, 210-212]

Trong lĩnh vực văn hóa, thực hiện CNH, HĐH là quá trình sử dụng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại và những giá trị vật chất, tinh thần được

Trang 18

nhân loại làm ra trong lịch sử để xây dựng nền văn hóa tiên tiến mang đậm bản

sắc dân tộc, với những đặc trưng cơ bản là: dân tộc, hiện đại, nhân văn Chỉ có

như vậy, văn hóa mới trở thành nền tảng tinh thần của xã hội Thực hiện CNH, HĐH trong lĩnh vực văn hóa, trước hết chúng ta cần phải tạo ra những điều kiện hiện thực về vật chất, tinh thần, cơ chế…để phát triển cơ chế trí tuệ văn hóa, nghệ thuật, kích thích tự do sáng tạo của mọi người, của tập thể và của cả cộng đồng Đồng thời cần tận dụng mọi thành quả văn hóa, nghệ thuật để xây dựng đất nước Nhanh chóng tạo ra môi trường văn hóa mới để hình thành phát triển nhân cách của con người Việt Nam hiện đại, đồng thời mở rộng giao lưu văn hóa với nước ngoài, nhằm tiếp thu những thành tựu văn hóa nhân loại vào phục vụ cho việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Song cùng với nó, cũng cần phải tiến hành một cách thường xuyên và kiên quyết cuộc đấu tranh chống các loại phản văn hóa, tránh khuynh hướng thương mại hóa văn hóa Vì chúng ta không chỉ xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, mà còn góp phần xây dựng con người Việt Nam hiện đại với những phẩm chất tích cực mang tính nhân văn và nhân văn cao cả

Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đó là quá trình sử dụng chính những

để và toàn diện hệ thống giáo dục đào tạo theo định hướng xã hội chủ nghĩa Bởi

vì, sự nghiệp CNH, HĐH trước hết đòi hỏi phải có con người hết mực trung thành, giàu lòng yêu nước, có trình độ văn hóa cao, kiến thức khoa học hiện đại

và kỹ năng thành thạo, có khả năng làm ra sản phẩm đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước

Thứ hai, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý

Cơ cấu kinh tế hợp lý là tổng thể hữu cơ các mối quan hệ về chất và lượng giữa các yếu tố, các bộ phận hợp thành nền kinh tế Nó phản ánh trình độ, trạng thái phân công lao động xã hội trong hệ thống quan hệ sản xuất nhất định

Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý là một trong hai nhiệm vụ quan trọng của quá trình CNH, HĐH Do vậy, Đại hội X đề ra định hướng

Trang 19

phát triển ngành, vùng và lĩnh vực trong giai đoạn 2006 – 2010 Trong

đó, nội dung liên quan tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế có thể tóm tắt một

số điểm chính sau:

Một là, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế

nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân: CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn hướng tới nền nông nghiệp hàng hóa lớn, đa dạng bền vững, năng suất cao, khả năng cạnh tranh cao, giá trị gia tăng của nông nghiệp dự kiến đạt là 3 – 3,2%/năm

Hai là, phát triển nhanh hơn công nghiệp và xây dựng theo hướng nâng

cao chất lượng, sức cạnh tranh và hiện đại hóa Phát triển đồng bộ công nghiệp chế biến, chế tác, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng Giá trị gia tăng 10 -10,2%/năm

Ba là, tạo bước phát triển vượt bậc của khu vực dịch vụ Ưu tiên phát triển

các ngành dịch vụ có tiềm năng lớn và sức cạnh tranh cao Phấn đấu tốc độ tăng trưởng của khu vực này 7,7 – 8,2%/năm [28, 190-203]

Thứ ba, thiết lập quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa

CNH, HĐH nhằm mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc

xã hội chủ nghĩa Do đó, CNH, HĐH không chỉ là phát triển lực lượng sản xuất,

mà còn là quá trình thiết lập, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Theo quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, bất cứ sự thay đổi nào của quan hệ sản xuất, nhất là quan hệ sở hữu

về tư liệu sản xuất, cũng đều là kết quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất

CNH, HĐH không chỉ phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, khơi dậy và khai thác mọi tiềm năng kinh tế, mọi nguồn lực để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tùy theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mà quan hệ sản xuất sẽ từng bước được cải biến cho phù hợp

Trình độ xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất hiện đại tất yếu đòi hỏi phải xác lập chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất tất yếu Vì vậy, khi cơ sở

Trang 20

vật chất kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội được xây dưng xong về cơ bản thì chế độ công hữu sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối Nhưng để đạt tới trình độ đó phải trải qua quá trình phát triển kinh tế - xã hội lâu dài, trong đó quan hệ sản xuất được cải biến dần từ thấp đến cao theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Những nội dung cụ thể của CNH, HĐH ở nước ta trong những năm trước mắt

Thứ nhất, đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn

Xuất phát từ vai trò, vị trí của ngành nông nghiệp và đặc điểm của đất nước, cần phải coi trọng CNH, HĐH trong phát triển nông nghiệp (gồm cả nông, lâm, ngư nghiệp) và xây dựng nông thôn, đẩy mạnh quá trình đưa nông nghiệp

và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn hiện đại Đây là nhiệm vụ quan trọng cả trước mắt và lâu dài, là cơ sở để ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội

Bảo đảm an ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống Từng bước cải thiện cơ cấu chất lượng bữa ăn, tiến tới đạt tiêu chuẩn về dinh dưỡng

Bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội và đoàn kết mọi tầng lớp dân cư ở nông thôn

Đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn nhằm phát triển nền nông nghiệp hàng hóa lớn hiện đại phù hợp với thị trường và đáp ứng nhu cầu cuộc sống của mọi thành viên xã hội

Quan điểm của Đại hội X xác định: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân” [28, 88-90]

Nền kinh tế Việt Nam chỉ có thể phát triển nhanh khi chúng ta thúc đẩy nông thôn cùng phát triển với thành thị Đây là một mục tiêu lớn và lâu dài và nay cũng là mục tiêu mà chúng ta dứt khoát phải thực hiện bởi chỉ có vậy chúng

ta mới tạo ra được một đời sống giàu có cho mỗi người dân

Thứ hai, cải tạo, mở rộng, nâng cấp và xây dựng mới có trọng điểm kết

cấu hạ tầng vật chất của nền kinh tế

Trang 21

Trong cơ chế thị trường, kết cấu hạ tầng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của sản xuất, kinh doanh và đời sống dân cư Từ một nền kinh

tế nghèo nàn lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội, kết cấu hạ tầng nền kinh tế nước ta hết sức thấp kém, không đáp ứng được yêu cầu của sản xuất kinh doanh và của đời sống dân cư Do vậy trong những năm trước mắt, việc xây dựng kết cấu hạ tầng của nền kinh tế được coi là một nội dung của CNH, HĐH

Do hoàn cảnh cụ thể của đất nước còn hạn chế, trong những năm trước mắt việc xây dựng kết cấu hạ tầng phải tập trung vào khâu cải tạo, mở rộng, nâng cấp Việc xây dựng mới chỉ có mức độ và phải tập trung vào những khâu trọng điểm, có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế hoặc vùng kinh tế Có như vậy, mới tạo điều kiện cho mở rộng đầu tư phát triển, nhất là việc thu hút đầu tư nước ngoài

Thứ ba, phát triển nhanh các ngành dịch vụ

Phát triển nhanh du lịch và các ngành dịch vụ như: hàng không, hàng hải, bưu chính – viễn thông, tài chính, ngân hàng, kiểm toán, bảo hiểm, pháp lý, thương mại… Trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu về dịch vụ của nhân dân Mức thu nhập, mức sống càng cao, nhu cầu về các loại dịch vụ của dân cư càng lớn

Phát triển dịch vụ còn nhằm nâng cao hiệu quả của sản xuất kinh doanh Trong

cơ chế thị trường, hiệu quả của các doanh nghiệp tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố,

do vậy sự phát triển các ngành ngân hàng, thông tin bưu điện, thương mại, giao thông vận tải… trực tiếp quyết định hiệu quả của các ngành sản xuất

Sự phát triển của ngành du lịch, một mặt cho phép các tiềm năng du lịch tăng thu nhập, tạo việc làm cho dân cư Mặt khác sự phát triển của ngành du lịch còn góp phần mở rộng giao lưu phát triển kinh tế đối ngoại, mở cứa nền kinh tế

Do đó phát triển nhanh ngành du lịch, dịch vụ được coi là một nội dung của CNH, HĐH ở nước ta trong những năm trước mắt

Thứ tư, phát triển hợp lý các vùng lãnh thổ

Trang 22

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ trên cơ sở khai thác triệt để các lợi thế, tiềm năng của từng vùng, liên kết hỗ trợ nhau, làm cho tất cả các vùng cùng nhau phát triển Trong những năm trước mắt phải tập trung thích đáng nguồn lực cho các lĩnh vực, các địa bàn trọng điểm có điều kiện sớm đưa lại hiệu quả cao, đồng thời phải hỗ trợ cho những nơi khó khăn, đẩy mạnh hợp tác phát triển, bảo đảm cho các vùng, các lãnh thổ và các thành phần dân cư đều có lợi và đều được hưởng thành quả của sự tăng trưởng kinh tế Kết hợp phát triển và quản lý theo ngành với phát triển và quản lý theo lãnh thổ Về phương hướng phát triển vùng lãnh thổ ở nước ta trong thời gian tới, Đảng cộng sản Việt Nam xác định, phát huy vai trò của các vùng kinh tế trọng điểm có mức tăng trưởng cao, tích lũy lớn, đồng thời tạo điều kiện phát triển các vùng khác trên cơ sở phát huy thế mạnh của từng vùng, liên kết với trọng điểm tạo mức tăng trưởng khá Quan tâm phát triển kinh

tế xã hội gắn với tăng cường quốc phòng an ninh ở các vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, trú trọng các vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Có chính sách hỗ trợ nhiều hơn cho các vùng khó khăn để phát triển kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, xóa đói giảm nghèo, đưa các vùng này vượt qua tình trạng kém phát triển

Thứ năm, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại

Trong nền kinh tế toàn cầu hóa, mở cửa nền kinh tế là cần thiết với tất cả các nước Do đó CNH, HĐH không thể thành công nếu không mở cửa nền kinh

tế Sau thời kỳ khá dài đóng cửa, hiện nay mở cửa nền kinh tế là nhu cầu cấp bách đối với nền kinh tế nước ta, và là một nội dung của CNH, HĐH trong những năm trước mắt Nhưng mở cửa và hội nhập như thế nào cũng cần được cân nhắc kỹ càng nhằm tranh thủ những tác động tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực của quá trình này với tăng trưởng phát triển của nền kinh tế Trong việc mở cửa, hội nhập, phải đẩy mạnh xuất khẩu, có chính sách ưu tiên cho xuất khẩu và coi xuất khẩu là trọng điểm

Trang 23

1.1.3 Thành tựu và hạn chế của CNH, HĐH ở Việt Nam

Những thành tựu đã đạt được của CNH, HĐH ở Việt Nam

GDP bình quân đầu người năm 1988 đạt 86 USD, là một trong mấy nước thấp nhất thế giới, nhưng đã tăng gần như liên tục qua các năm sau đó và đến năm 2011 đã đạt 1.375 USD, đã ra khỏi nhóm nước thu nhập thấp để trở thành nhóm nước có thu nhập trung bình

Tăng trưởng GDP của Việt Nam tính đến năm 2011 đã đạt 31 năm liên tục, chỉ thua kỷ lục 33 năm do Trung Quốc nắm giữ Nếu tính bình quân thời kỳ

1977 – 1980, tăng trưởng kinh tế chỉ đạt 0.4 % /năm, thấp xa so với tốc độ tăng dân số, làm cho thu nhập quốc dân bình quân đầu người bị sụt giảm mạnh Nếu tính bình quân thời kỳ 1977 – 1985 cũng chỉ tăng 3,7 % /năm, cao hơn không bao nhiêu tốc độ tăng dân số Nếu bình quân thời kỳ 1986 – 1990 chỉ đạt 4,4 % /năm, thì bình quân thời kỳ 1991 – 2011 đạt 7,34 % /năm, thuộc loại cao trong khu vực Châu Á, và trên Thế Giới

Cơ cấu kinh tế cũng có sự chuyển dịch quan trọng theo hướng CNH, HĐH: Tỷ trọng của khu vực nông nghiệp trong GDP giảm từ 38,1 % năm 1986 xuống mức 18,4 % năm 2013, trong khi tỷ trọng của khu vực công nghiệp đã tăng từ 28,9 % lên 38,3 % Đặc biệt trong quá trình thực hiện chiến lược phát triển đã hình thành một số vùng kinh tế trọng điểm giữ vai trò động lực tăng trưởng Nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao đã hình thành trong cả nước thu hút sự tham gia mạnh mẽ của các thành phần kinh tế, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh

tế, theo đó sản phẩm công nghiệp vừa nhiều gấp bội về số loại, vừa gấp nhiều lần về sản lượng

Nông nghiệp cũng có sự biến đổi thần kỳ, đã chuyển từ độc canh lúa, năng xuất thấp và thiếu hụt lớn, sang không những đủ dùng trong nước còn xuất khẩu gạo với số lượng lớn, đứng thứ hai thế giới, góp phần vào an ninh lương

Trang 24

thực trong nước và quốc tế, xuất khẩu cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu, thủy sản với khối lượng lớn đứng thứ hạng cao trên thế giới

Thương mại từ nhỏ bé, phân tán, ngày nay việc mua bán ở trong nước đã được tự do hóa, nhiều hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại được hình thành Số nước và vùng lãnh thổ mà Việt Nam có quan hệ buôn bán nếu năm 1986 mới có 43 thì đến nay đã lên đến trên 200 Kim ngạch xuất khẩu năm 2012 vượt mốc 100 tỷ USD, tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu so với GDP năm 2011 đã đạt xấp xỉ

tổ chức thương mại thế giới WTO, thành viên không thường trực của hội đồng bảo an Liên hợp quốc… vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới ngày càng tăng

Trên cơ sở tăng trưởng kinh tế, đời sống xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, mức sống của nhân dân tăng lên rõ rệt Tình hình an ninh chính trị ổn định, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, và quản lý của nhà nước ngày càng được củng cố Mặt khác, sự thay đổi cơ chế kinh tế đánh dấu sự đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội đã được thực tiễn cuộc sống và kết quả nêu trên kiểm chứng là đúng đắn, công cuộc đổi mới là hợp lòng dân, là đúng xu thế phát triển khách quan của thời đại, và hòa nhập vào cộng đồng quốc tế

Những mặt còn hạn chế của CNH, HĐH ở Việt Nam

Bên cạch những thành tựu và thắng lợi đạt được, sự nghiệp CNH, HĐH còn có những hạn chế Điều này được thể hiện ở các mặt chủ yếu sau:

Trang 25

Thứ nhất, CNH, HĐH chưa tạo điều kiện cho phát triển kinh tế xã hội

nhanh, bền vững và có hiệu quả

Sau khi vượt qua cơn suy thoái (1988 – 1990) từ năm 1991, 1992, 1993 nền kinh tế đi vào trạng thái phát triển với những thành tựu đáng ghi nhận nhưng những thành tựu đó được tạo lên nhờ có tác động của cơ chế và chính sách mạnh hơn, lớn hơn, nhanh hơn, nhạy hơn so với tác động CNH, HĐH Phát triển như vậy chưa đạt được hiệu quả bền vững

Thứ hai, CNH, HĐH tác động rất yếu đến quá trình chuyển dịch cơ cấu

kinh tế theo hướng tiến bộ và có hiệu quả

Trải qua gần 30 năm tiến hành CNH, HĐH cơ cấu kinh tế chuyển dịch rất chậm và đến nay về cơ bản vẫn là cơ cấu lạc hậu, không năng động, hiệu quả kém, chứa đựng nhiều bất hợp lý và mất cân đối, chưa tạo điều kiện cho phát triển nhanh, bền vững và có hiệu quả

Trong cơ cấu kinh tế, công nghiệp đã vươn lên chiếm ưu thế, xong nông nghiệp vẫn có vị trí nhất định trong cơ cấu, chiếm đáng kể bộ phận lao động trong xã hội Nông nghiệp chưa thoát khỏi tình trạng độc canh, sản xuất nhỏ tự cung, tự cấp, tỷ xuất hàng hóa thấp và ít hiệu quả, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu, năng xuất thấp, công nghiệp chế biến chưa phát triển đúng với tiềm năng, chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao Xuất khẩu các sản phẩm thô (dầu thô, than, thiếc, gạo, thủy sản), vẫn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu hàng xuất khẩu Trong thời gian trên các nước đang phát triển ở Đông Nam Á, khu vực và trên thế giới có sự chuyển dịch nhanh hơn… Công nghiệp tác động tới nông nghiệp chưa đủ lực và chưa đúng hướng, kết cấu hạ tầng còn thấp kém và xuống cấp; Công nghiệp hóa chưa đẩy nhanh và có hiệu quả trong quá trình nâng cao trình độ kỹ thuật và đổi mới công nghệ trong sản xuất, kinh doanh

Trong nhận thức và chủ trương Đảng và Nhà Nước đã coi cách mạng kỹ thuật là thực chất của công nghiệp hóa, cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt, khoa học và công nghệ là động lực của đổi mới, nhưng do thiếu cơ chế và

Trang 26

chính sách thích ứng về kinh tế và khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ nên trong nhiều năm việc đổi mới công nghệ và nâng cao trình độ kỹ thuật diễn ra rất chậm và hiệu quả không cao Chuyển sang cơ chế thị trường tốc độ đổi mới có nhanh hơn, cách thức đổi mới tiến bộ hơn, hợp lý hơn

và đem lại hiệu quả cao hơn Việc đổi mới công nghệ chủ yếu do doanh nghiệp

tự lo liệu và đảm nhận; tự chọn mục tiêu, mức độ, cách thức đổi mới, tự cân đối tài chính cho đổi mới do vậy đổi mới sôi động hơn, thiết thực hơn, có địa chỉ cụ thể và có hiệu quả hơn Tuy nhiên sự đổi mới còn chưa đồng bộ (lẻ tẻ) cục bộ, chưa tạo ra sự thay đổi căn bản về bản chất Trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực sản xuất, dịch vụ còn rất lạc hậu… Tình trạng kỹ thuật công nghệ như vậy, tất yếu dẫn đến chất lượng sản phẩm thấp, giá thành cao, ít có khả năng đổi mới sản phẩm, khả năng cạnh tranh của sản phẩm kém, cho nên gặp khó khăn về thị trường, vốn và tăng trưởng

Trong hai năm 2011 và 2012 một mặt Việt Nam vừa phải kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng hợp lý Mặt khác vừa phải thực hiện ba

khâu đột phá chiến lược là, hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, và xây dựng kết cấu hạ tầng, thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế Đó là khó khăn kép và phải có giải pháp kép

Bên cạnh đó CNH, HĐH ở nước ta trong những năm gần đây về mô hình

đã bộc lộ những điểm không còn phù hợp cho phát triển bền vững Chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH chững lại, hiệu quả sử dụng nguồn lực chưa cao, chưa đạt yêu cầu Một số vấn đề xã hội phát sinh chậm được giải quyết, hơn nữa tình trạng suy thoái về chính trị đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên, quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn nghiêm trọng, làm giảm sút uy tín của Đảng và Nhà Nước Môi trường ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm, tài nguyên đất đai chưa được quản lý tốt Các thế lực thù địch trong và ngoài nước vẫn âm

mưu diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài dân chủ, dân quyền, hòng làm thay đổi chế độ Những vấn đề đó ảnh hưởng không nhỏ tới

Trang 27

phát triển ổn định đất nước, những biến động về kinh tế xã hội trên thế giới cũng tác động đa chiều tới CNH, HĐH Nhất là khi nước ta hội nhập ngày càng sâu, rộng với khu vực và trên thế giới

1.2 Đạo đức truyền thống và những nội dung cơ bản của đạo đức truyền thống Việt Nam

1.2.1 Khái niệm đạo đức truyền thống Quan niệm về đạo đức

Theo quan điểm của Mác – xít, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, một

chế định xã hội thực hiện các chức năng điều chỉnh hành vi con người Đạo đức

là những nguyên tắc sống, những quy phạm gắn liền và phù hợp với một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, hình thành từ những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, những quy phạm, nguyên tắc, tiêu chuẩn, lý tưởng này có tính chất nhất thời về lịch sử và mang tính giai cấp rõ rệt Do đó, con người rút ra những quan niệm đạo đức từ chính những quan hệ thực tiễn đang làm cơ sở cho vị trí giai cấp của mình, tức là những quan hệ kinh tế

Như vậy, theo quan niệm của triết học Mác, thì những nguyên tắc sống, những chuẩn mực và nguyên tắc cư xử và những tương quan giữa các lợi ích làm thành ý thức đạo đức của con người Chính ở chỗ này có thể tìm thấy đặc trưng của đạo đức như là một hình thái ý thức xã hội [2, 46]

Theo chúng tôi: Đạo đức là những quy phạm, những nguyên tắc, tiêu

chuẩn, lý tưởng nhằm điều chỉnh hành vi của con người được hình thành trên cơ sở tồn tại xã hội nhất định Đạo đức được xem xét là một hình thái ý

thức xã hội do tồn tại xã hội quy định Khi tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức cũng thay đổi theo, con người ngay từ khi sinh ra đã sống thành xã hội để đảm bảo sự tồn tại và phát triển trong xã hội, con người phải điều chỉnh hành vi của mình sao cho tạo lên sự phù hợp giữa lợi ích cá nhân với lợi ích của xã hội

Tham gia vào điều chỉnh hành vi của con người có nhiều lĩnh vực khác nhau như:

Kinh tế, chính trị, pháp luật, đạo đức… Mỗi lĩnh vực có vai trò vị trí khác nhau

Trang 28

trong điều chỉnh hành vi của con người nhằm đảm bảo cho xã hội ổn định và phát triển Kinh tế điều chỉnh hành vi của con người thông qua lợi ích kinh tế

Pháp luật điều chỉnh hành vi của con người thông qua hệ thống các quy chuẩn pháp luật buộc người ta phải tuân theo, mang tính chất cưỡng bức Đạo đức dùng một hệ thống các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực, tạo thành những khuôn mẫu

để mọi người noi theo Đạo đức điều chỉnh hành vi của con người bằng niềm tin,

lý tưởng, bằng lương tâm, trách nhiệm, bằng dư luận xã hội Đạo đức điều chỉnh hành vi của con người mang tính tự giác, vừa nhẹ nhàng vừa sâu sắc

Quan niệm về truyền thống

Truyền thống là “Thói quen hình thành đã lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác” [60, 1017]

Lịch sử cho thấy rằng, truyền thống mang trong bản thân nó tính hai mặt rõ rệt

Thứ nhất, truyền thống góp phần suy tôn, giữ gìn những gì là quý giá, là

cốt cách, là nền tảng cho sự phát triển, cho sự vận động đi lên của cộng đồng dân tộc, là cái góp phần tạo lên sức mạnh, là chỗ dựa không thể thiếu của dân tộc trên đường đi tới tương lai

Thứ hai, truyền thống đồng thời cũng còn là mảnh đất hết sức thuận lợi

cho sự dung dưỡng, duy trì và làm sống lại mặt bảo thủ, lạc hậu, lỗi thời khi mà điều kiện và hoàn cảnh lịch sử đã thay đổi

Theo nghĩa tổng quát nhất: “Truyền thống đó là những yếu tố của di tồn

văn hóa, thể hiện trong chuẩn mực, hành vi, tư tưởng, phong tục, tập quán, thói quen, lối sống và cách ứng xử của một cộng đồng người được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định, được truyền từ đời này sang đời khác”[7, 9]

Như vậy, truyền thống không phải là một hiện tượng, một sự kiện tạm thời

thoáng qua mà nó là những yếu tố truyền từ đời này sang đời khác trong một quốc gia, một dân tộc nào đó Truyền thống cũng không phải là cái hoàn toàn khách quan do điều kiện kinh tế - xã hội quy định, mà là sự phản ánh những điều kiện khách quan thông qua hoạt động chủ quan của con người

Trang 29

Truyền thống là cái mang lại lợi ích cho con người Mỗi con người khác nhau có những lợi ích khác nhau, do vậy cũng có sự tiếp nhận truyền thống khác nhau Trong một thời kỳ lịch sử nhất định truyền thống có sự ổn định và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Vì truyền thống còn bị quy định bởi điều kiện kinh tế - xã hội, do đó khi điều kiện kinh tế, xã hội thay đổi thì truyền thống cũng có sự thay đổi, hoặc là bị loại bỏ nếu không phù hợp, hoặc được bổ sung và phát triển Truyền thống gắn với lợi ích của con người, nên có những cấp độ khác nhau như: truyền thống gia đình, truyền thống dòng họ, truyền thống địa phương, truyền thống dân tộc, truyền thống phương Đông, truyền thống phương Tây

Trong một giai đoạn lịch sử nhất định có những truyền thống giai đoạn này có thể phát huy tác dụng nhưng giai đoạn khác có thể trở thành vật cản đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Khi nói về điều này C.Mác khẳng định “truyền thống của tất cả các thế hệ đã chết đè nặng như quả núi lên đầu óc những người đang sống” [51, 145]

Truyền thống do lịch sử để lại, nhưng sự tiếp thu truyền thống thế nào lại phụ thuộc vào các chủ thể nhận thức Cùng một truyền thống nhưng người này, giai cấp này có thể tiếp thu, nhưng người khác, giai cấp khác có thể không Sự tiếp thu truyền thống của một dân tộc lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố Nếu như quốc gia nào

có ý thức, có những biện pháp giáo dục đúng đắn, có sự nghiên cứu thấu đáo thì những truyền thống tốt đẹp của dân tộc sẽ được giữ gìn, phát huy phục vụ tốt cho quá trình phát triển đất nước, đồng thời có biện pháp khắc phục những yếu tố tiêu cực của truyền thống

Mối tương quan giữa truyền thống và hiện đại

Tính thống nhất giữa truyền thống và hiện đại, không có truyền thống thì không có hiện đại, cái hiện đại nảy sinh ra từ truyền thống, có hiểu biết sâu sắc cái truyền thống cái hiện đại mới đúng đắn, mới phát triển lành mạnh Có thể hiểu biết cái hiện đại chúng ta mới bổ sung và phát triển cái truyền thống một cách đúng đắn Do vậy giữa truyền thống và hiện đại vừa thống nhất vừa mâu thuẫn nhau

Trang 30

Mâu thuẫn thể hiện ở chỗ, cái truyền thống thường có tính bảo thủ, trì trệ

vì nó níu kéo cản trở cái hiện đại, cái hiện đại mà vượt ra khỏi cái truyền thống

có thể mất đi giá trị mang tính cốt cách, bản sắc dân tộc, do đó một mặt cần có cái nhìn biện chứng giữa truyền thống và hiện đại

Nếu hiện đại không đưa ra được nội dung có ý nghĩa cho cuộc sống, nếu hiện đại làm nghèo nội dung nhân bản của con người, thì tất yếu hiện đại sẽ bị đào thải và loại bỏ ra ngoài tính liên tục, không thể trở thành truyền thống cho tương lai Thomas Morus (tác giả cuốn Utopia, 1478 – 1535): Truyền thống không có nghĩa gìn giữ đống tro, mà là chuyển tiếp ngọn lửa

Từ quan niệm đạo đức và truyền thống như trên, chúng ta đi đến quan niệm về đạo đức truyền thống và đạo đức truyền thống Việt Nam

Chúng tôi hiểu rằng: Đạo đức truyền thống là toàn bộ những quan điểm,

nguyên tắc, chuẩn mực mà con người trong một nước, một dân tộc thuộc các thời đại, các giai đoạn lịch sử khác nhau đều căn cứ vào để phân biệt phải - trái, đúng - sai, tốt - xấu nhằm điều chỉnh hành vi và đánh giá cách ứng xử giữa con người với nhau, con người với tự nhiên và con người với xã hội

Đạo đức truyền thống của một dân tộc được hình thành trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc đó Mỗi dân tộc có những điều kiện tự nhiên khác nhau, có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, có tôn giáo khác nhau, do vậy có đạo đức truyền thống khác nhau

Đạo đức truyền thống Việt Nam được hình thành trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Tác giả Lê Qúy Đức cho rằng: “đạo đức truyền thống của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước” [41, 136]

Tác giả Vũ Văn Thuấn lại khẳng định: “Đạo đức truyền thống Việt Nam

là sự tổng hợp các giá trị đạo đức trên thế giới mà hạt nhân của hệ thống là các giá trị đạo đức nội sinh, được hình thành trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, cái quyết định sự tiếp thu hay loại

Trang 31

bỏ các giá trị đạo đức ngoại lai, cái quy định bản sắc Việt Nam – chất Việt Nam trong mối tương quan với các truyền thống của các quốc gia dân tộc khác trên thế giới” [41, 113]

Trong cuốn sách “Đạo đức mới” do tác giả Vũ Khiêu chủ biên, tác giả

cho rằng, trong những truyền thống quý báu của dân tộc, nổi bật lên nhất là truyền thống đạo đức và khẳng định truyền thống đạo đức của dân tộc ta bao gồm: lòng yêu nước, truyền thống đoàn kết, lao động cần cù sáng tạo; tinh thần nhân đạo, lòng yêu thương và quý trọng con người, trong đó yêu nước là bậc thang cao nhất trong hệ thống giá trị đạo đức của dân tộc

Kế thừa những quan điểm trên của các tác giả, theo chúng tôi: Đạo đức

truyền thống Việt Nam là những quan điểm những chuẩn mực đạo đức, lối ứng xử của mỗi con người Việt Nam được hình thành trong lịch sử dựng nước và giữ nước trên cơ sở tiếp biến những giá trị đạo đức nhân loại phù hợp với hoàn cảnh và mỗi giai đoạn lịch sử của dân tộc

Mối tương quan giữa đạo đức truyền thống và văn hóa truyền thống

Nói đến đạo đức truyền thống là nói đến quan điểm, nguyên tắc, chuẩn

mực của con người trong một nước, một dân tộc thuộc các thời đại các giai đoạn lịch sử khác nhau căn cứ vào để điều khiển đánh giá cách ứng xử giữa con người với con người, con người với tự nhiên và con người với xã hội

Nói đến văn hóa truyền thống là nói đến các giá trị vật chất và tinh thần

do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội, lịch sử tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội và được lưu truyền từ đời này sang đời khác mang tính ổn định

1.2.2 Những nội dung cơ bản của đạo đức truyền thống Việt Nam

Dựa trên các quan điểm trên của các nhà khoa học, có thể hiểu đạo đức truyền thống có những nội dung cơ bản như sau:

- Truyền thống yêu nước, ý thức tự cường dân tộc

- Truyền thống đoàn kết, ý thức cố kết cộng đồng

Trang 32

- Truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động

- Truyền thống nhân ái, yêu thương người

- Truyền thống hiếu học

Truyền thống yêu nước, ý thức tự cường dân tộc

nào trên hành tinh này, dù dân tộc đó giàu hay nghèo, to hay nhỏ đều yêu quê hương, nơi chôn nhau, cắt rốn của họ V.I.Lênin cho rằng yêu nước là „„một trong những tình cảm sâu sắc nhất, đã được củng cố qua hàng trăm năm, hàng nghìn năm tồn tại của các quốc gia biệt lập‟‟ [42, 226] Bởi lẽ, con người không có tình yêu quê hương đất nước thì không thể có những tình cảm khác tốt đẹp Song mỗi quốc gia dân tộc do những điều kiện lịch sử khác nhau, có nền văn hóa khác nhau,

do vậy sự biểu hiện của lòng yêu nước có những đặc điểm khác nhau

Đối với dân tộc Việt Nam truyền thống yêu nước không chỉ là một tình cảm tự nhiên, nó bắt nguồn từ tình yêu đối với quê hương làng xóm, yêu cây đa,

bến nước, sân đình Nơi đây có ông bà, cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, con cái, bạn bè, bà con hàng xóm láng giềng, nơi có mồ mả tổ tiên, nơi con người hàng ngày vất vả chiến đấu với thiên nhiên để duy trì và xây dựng cuộc sống Từ đó hình thành lên những tình cảm đơn sơ mộc mạc như: Tình cảm gia đình, dòng họ trên kính dưới nhường; yêu quê hương bản quán; yêu thương giúp đỡ lẫn nhau;

khoan dung độ lượng; lòng tự tôn tự hào dân tộc; giữ gìn ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán; là lòng trung thành với tổ quốc, quyết tâm đấu tranh giành độc lập dân tộc

Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam còn là sản phẩm của lịch sử

được hun đúc từ chính lịch sử đau thương mà hào hùng của dân tộc Việt Nam

Lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh giành lại và bảo vệ nền độc lập tự chủ từ tay bao kẻ thù xâm lược Chính vì vậy, mà tinh thần yêu nước, ý thức tự cường dân tộc đã ngấm sâu vào tình cảm, vào tư tưởng của mỗi người dân Việt Nam qua tất cả các thời đại, làm nên một sức mạnh kỳ diệu,

Trang 33

giúp cho dân tộc ta đánh thắng hết kẻ thù này đến kẻ thù khác cho dù chúng có hùng mạnh đến đâu

Lịch sử là một minh chứng hùng hồn nhất cho những khẳng định trên Từ thế kỷ thứ III TCN đến năm 938, nước ta nằm dưới sự đô hộ của phong kiến Phương bắc Đây là thời kỳ đầy máu và nước mắt, nhưng cũng là thời kỳ biểu hiện

rõ sức mạnh quật cường, sự vươn lên thần kỳ của dân tộc ta và kết thúc với chiến thắng Bạch Đằng oanh liệt Tiếp sau thời kỳ này là hàng loạt các chiến thắng vang dội khác: Lê Hoàn đánh tan quân Tống, nhà Trần ba lần đánh bại quân Nguyên Mông, Lê Lợi đánh bại quân Minh, Nguyễn Huệ đánh bại quân Thanh… Đến thời

kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc: Từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1975, chúng ta đã đánh thắng cả hai tên đế quốc to, Pháp và Mỹ, với chiến dịch quyết định Hồ Chí Minh lịch sử, chúng ta đã giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất nước, giang sơn thu về một mối, nước nhà hoàn toàn độc lập Trong những cuộc chiến tranh tàn khốc đó, nếu không có tinh thần yêu nước, ý thức tự cường dân tộc, thì làm sao một dân tộc nhỏ yếu như chúng ta có thể làm lên những chiến thắng vang dội, đánh thắng được những kẻ thù được coi là mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ

Lòng yêu nước ở mỗi người dân Việt Nam đã được thể hiện ở tinh thần dám xả thân vì nước, sẵn sàng đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích riêng tư của bản thân mình, đấu tranh không mệt mỏi cho sự nghiệp giải phóng đất nước, giành lại độc lập tự do cho tổ quốc Biết bao người con của dân tộc đã tự nguyện hiến dâng tuổi thanh xuân của mình cho đất nước và đã mãi mãi không trở về… Đó là

sự hy sinh xương máu vô cùng to lớn được thúc đẩy bởi tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc ta Do đó, có thể khẳng định truyền thống yêu nước, ý thức tự cường dân tộc là kim chỉ nam cho hành động, đem lại một sức mạnh to lớn, thúc đẩy dân tộc ta tiến lên giành thắng lợi

Ngày nay, truyền thống yêu nước, của nhân dân Việt Nam thể hiện trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Chăm lo xây dựng đất nước về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa…Thể hiện sự nhất trí, tin tưởng vào đường lối của Đảng, sự lãnh đạo của Nhà nước, vào khả năng, sức mạnh tự lực, tự cường của

Trang 34

đất nước trong sự nghiệp CNH, HĐH vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Hình thành từ rất sớm, lại được thử thách, khẳng định qua bao thăng trầm của lịch sử, được bổ sung và phát triển qua từng thời kỳ, theo yêu cầu phát triển của dân tộc và thời đại, tinh thần yêu nước đó trở thành chủ nghĩa yêu nước, trở thành một trong những giá trị truyền thống cao quý nhất, bền vững nhất của dân tộc ta Có thể khẳng định, tinh thần yêu nước, ý thức tự cường dân tộc của nhân dân Việt Nam là một giá trị bền vững, là nhân tố quan trọng hàng đầu tác động sâu sắc đến đời sống văn hóa tinh thần và đã trở thành truyền thống, bản lĩnh Việt Nam trong suốt quá trình hình thành và phát triển của dân tộc qua các thời

kỳ lịch sử, là cơ sở vững chắc gắn kết khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sức mạnh to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay

Truyền thống đoàn kết, ý thức cố kết cộng đồng

Truyền thống đoàn kết, ý thức cố kết cộng đồng vốn là đặc điểm chung của nhân loại, nhưng ở Việt Nam, truyền thống đoàn kết, ý thức cố kết cộng đồng còn là sản phẩm đặc thù của hoàn cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam, trở thành điều kiện sống còn và sức mạnh trường tồn của dân tộc trước mọi thử thách và là

nhân tố tinh thần được bắt nguồn từ chủ nghĩa yêu nước Từ mấy nghìn năm nay,

các dân tộc, các thành viên cùng chung sống trên dải đất Việt Nam có nhu cầu tự nhiên là phải cố kết nhau lại để chống chọi với thiên tai và giặc ngoại xâm, trở thành một cộng đồng bền chặt, cùng nhau dựng nước và giữ nước Đoàn kết là truyền thống từ ngàn xưa của dân tộc Việt Nam Nhờ đó con người Việt Nam ý thức được mình thuộc về một dân tộc, quốc gia, ý thức về cách sống, cách dựng nước, giữ nước cũng như quyền lợi và nghĩa vụ của mình trước vận mệnh dân

tộc, điều đó giúp cho dân tộc ta trở thành một khối thống nhất vững mạnh

Truyền thống đoàn kết, ý thức cố kết cộng đồng, tương thân, tương ái là một giá trị, một trong những truyền thống quý báu nhất của dân tộc Việt Nam

Giá trị, truyền thống này có cội rễ sâu xa từ trong phương thức sinh tồn: Phương

Trang 35

thức tổ chức xây dựng và quản lý điều hành các công trình thủy lợi, đây là yếu tố sống còn của nền sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước nói riêng, và yêu cầu cố kết chống thiên tai nói chung Trong phương thức tổ chức xã hội truyền thống:

Cộng đồng gia đình, dòng tộc, làng, liên làng Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, truyền thống đoàn kết, ý thức cố kết cộng đồng đã được hun đúc, trở thành một giá trị văn hóa chủ đạo và một truyền thống quý báu, là cội nguồn của sức sống và nội lực phát triển của dân tộc Việt Nam

Thứ nhất, truyền thống đoàn kết, ý thức cố kết cộng đồng nảy sinh từ

buổi sơ khai của những tộc người Việt Ở vào một hoàn cảnh địa lý: Đất nước trải dài trên bán đảo Đông Dương, phía Bắc giáp Trung quốc, phía Đông giáp biển, phía tây núi non hiểm trở, con người Việt Nam từ khi mở nước đến sau này

đã tự ý thức phải dựa vào nhau và gắn bó với nhau trong một cộng đồng, tập thể

để tồn tại và phát triển Do vậy, người dân Việt Nam từ xưa đến nay đã phải lao động trong những hoàn cảnh khó khăn, đồng cam cộng khổ, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau để vượt qua hoàn cảnh sống khắc nghiệt Lịch sử phát triển Việt Nam

từ Bắc tới Nam cho thấy nếu con người không đùm bọc nhau, không yêu thương nhau thì không thể tồn tại Trong gian khổ con người càng phải lương tựa vào nhau để sống, đấu tranh bảo vệ thành quả lao động của mình Gắn bó với nhau trong lao động, như vậy con người càng thấy được thành quả lao động không phải chỉ là của riêng mình, mà đó còn là thành quả của những người lao động khác cùng với mình nữa Chính vì vậy họ đã ý thức được mình là một thành viên của cộng đồng, ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối với cộng đồng

Từ đó truyền thống đoàn kết, ý thức cố kết cộng đồng dân tộc dần hình thành và ngày càng trở lên bền chặt

Thứ hai, trong quá trình phát triển kinh tế, trong cuộc sống sinh hoạt hàng

ngày, truyền thống đoàn kết, ý thức cố kết cộng đồng càng được khẳng định rõ nét Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết Đoàn kết được thực hiện từ trong gia đình tới ngoài xã hội

Trang 36

Trong gia đình người Việt Nam luôn luôn quan tâm xây dựng mối quan

hệ đoàn kết giữa cha mẹ với con cái, giữa con cái với cha mẹ, chồng với vợ, anh với em Và nhất là trong lúc khó khăn hoạn nạn, tinh thần đoàn kết đó lại được thể hiện Khi cha mẹ mất thì chú bác có trách nhiệm đối với các cháu, hoặc khi

mẹ không nuôi được thì người em sẵn sàng nuôi giúp Đoàn kết trong dòng họ cũng là một truyền thống của người Việt Nam, các dòng họ luôn có ý thức thương yêu, đùm bọc bảo vệ lẫn nhau, khi một gia đình gặp khó khăn hoạn nạn

sự giúp đỡ trước tiên thuộc về anh em họ hàng

Đoàn kết, ý thức cố kết cộng đồng thể hiện đậm nét cơ cấu làng xã Việt Nam Trong lao động với nền sản xuất lúa nước, muốn chống hạn, chống úng thắng lợi người lao động phải đoàn kết chặt chẽ với nhau Ông cha ta có câu

„„nước lụt thì tụt cả làng‟‟, Cho nên thủy lợi là một phương tiện quan trọng củng

cố tinh thần cộng đồng của làng xã Việt Nam Mặt khác, mỗi một làng có một ngôi đình để thờ Thành hoàng làng, thờ những người có công với dân với nước

Nơi đây cũng là nơi hội họp, là nơi bàn bạc việc dân, việc nước, đình làng là nơi biểu trưng cho tình đoàn kết của mỗi làng, mỗi xã Tình đoàn kết trong làng, trong xã của người Việt con thể hiện ở việc thống nhất phong tục tập quán, thống nhất những công việc thông qua hương ước làng Mỗi người trong làng đều phải

có nghĩa vụ với làng, và được làng xóm che chở Làng xóm đoàn kết giữ gìn an ninh trật tự, giữ gìn của cải cho nhau, chia sẻ buồn vui trong làng, „„việc đảm bảo an ninh ở làng xã, theo quy định của tất cả hương ước là nghĩa vụ của tất cả các trai tráng trong làng‟‟ [71, 147] Trên cơ sở ấy, tinh thần ấy, ý thức cố kết cộng đồng, cùng với thời gian dần dần được ăn sâu vào tiềm thức con người Việt Nam

Có thể nói trong cuộc sống cũng như trong lao động sản xuất, cái cộng đồng bao giờ cũng vượt lên trên cái cá thể Từ đó nhiệm vụ, trách nhiệm, ý thức chung về làng xã, về cộng đồng ngày càng ăn sâu vào tiềm thức con người Việt Nam và phát huy mạnh mẽ trong công cuộc đấu tranh với thiên tai, trong phát

Trang 37

triển sản xuất và đây cũng là nhân tố quan trọng hình thành lên tinh thần đoàn kết,

ý thức cố kết cộng đồng ở cấp độ quốc gia

Thứ ba, trong lịch sử tinh thần đoàn kết, ý thức cố kết cộng đồng cũng đã

trở thành một truyền thống quý báu gắn liền với công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam

Do vị trí địa lý rất đặc biệt quan trọng nên Việt Nam thường xuyên bị các thế lực ngoại xâm đe dọa thôn tính đất nước Một đất nước không rộng, người không đông, muốn đánh thắng những đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới thì trước hết phải có tinh thần đoàn kết, ý thức cố kết cộng đồng dân tộc

Tinh thần đoàn kết, ý thức cố kết cộng đồng ở Việt Nam được hình thành

từ rất sớm, trong quá trình phát triển của lịch sử, nó ngày càng được phát triển, củng cố vững chắc, tạo nên truyền thống bền vững thấm sâu vào tình cảm, tâm hồn mỗi con người Việt Nam Tinh thần ấy, ý thức ấy đã tạo lên sức mạnh vô địch của dân tộc để chiến thắng mọi thiên tai địch họa Điều này đã được đúc kết

và thể hiện trong triết lý:

„„Một cây làm chẳng lên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao‟‟

Ở nước ta, khi có giặc ngoại xâm thì tất cả mọi tầng lớp, mọi giai cấp luôn luôn dâng cao ý thức chung vì dân tộc là phải đoàn kết thống nhất với nhau vì một mục tiêu chung là đánh đuổi quân xâm lược, bảo vệ bờ cõi đất nước Các giai cấp, tầng lớp dù khác nhau, thậm chí dù có mâu thuẫn, nhưng khi có giặc ngoại xâm thì họ lại cố kết với nhau lại, đặt lợi ích của cá nhân xuống sau lợi ích của Tổ quốc của dân tộc

Trong suốt chiều dài lịch sử đã chứng minh khi nào chúng ta đoàn kết sẽ chiến thắng mọi khó khăn và mọi kẻ thù xâm lược Ngược lại, khi nào thiếu sự đoàn kết chúng ta sẽ thất bại Điều này được biểu hiện mạnh mẽ không chỉ trong

1000 năm Bắc thuộc, mà còn đến các triều đại phong kiến về sau, đặc biệt hơn

Trang 38

cả trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giành lại nền độc lập dân tộc

Tinh thần đoàn kết, ý thức cố kết cộng đồng cao là một yếu tố vô cùng quan trọng, cái đảm bảo chắc chắn, một động lực mạnh mẽ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa Cùng với tiến trình phát triển của lịch sử, trong bối cảnh hiện nay, đại đoàn kết dân tộc cần được thể hiện hơn bao giờ hết, đó là sự đồng thuận của Đảng, toàn dân và toàn quân phấn đấu vì lý tưởng: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động

Cần cù là sự nhiệt tình với nghề nghiệp, lòng yêu lao động, yêu công việc,

là tinh thần trách nhiệm đối với công việc, là đức tính kiên nhẫn, chịu khó trong lao động Cần cù, sáng tạo trong lao động là một trong những đức tính nổi bật của người Đông Á, trong đó có Việt Nam Nó được hình thành từ rất sớm trong điều kiện hoàn cảnh tự nhiên, xã hội không ít những khó khăn khắc nghiệt ngay

từ những buổi đầu dựng nước và giữ nước

Trong điều kiện công cụ lao động còn cực kỳ thô sơ và lạc hậu, nếu người Việt Nam không cần cù nhẫn lại chịu đựng quai đê, lấp biển, đắp đập ngăn bờ thì không thể tồn tại được và cũng không thể có những thành quả lao động như ngày hôm nay Mặt khác, thiên nhiên tuy có nhiều thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nhưng cũng mang lại không ít những khó khăn với nắng mưa thất thường, nói về điều này, ca dao Việt Nam có câu:

„„Khó thay công việc nhà quê Quanh năm khó nhọc dám hề khoan thai‟‟ [59, 210]

Cho nên người Việt Nam không cần cù, nhẫn lại chịu đựng và gắng sức thì không thể làm ra của cải vật chất để phục vụ cuộc sống Và họ đã nhận thức được rằng không nên lười biếng, từ đó người xưa cũng phê phán những kẻ lười biếng nhằm thức tỉnh họ:

Trang 39

„„Đàn bà không biết nuôi heo là đàn bà nhác Đàn ông không biết buộc lạt là đàn ông hư‟‟ [59, 344]

Điều kiện cần thiết là phải có nghề trong tay, tinh thông nghề mới có cơ

sở làm ăn lâu dài Do vậy, theo đó là các làng nghề nổi lên từ ngày xưa như nghề đúc đồng, nghề làm đồ gỗ, nghề chạm khắc, nghề làm gốm, nghề làm bánh…

Thông qua lao động sản xuất, con người Việt Nam đã đức rút được những kinh nghiệm, cần cù chịu khó sẽ có ngày no ấm:

„„Ơn trời mưa nắng phải thì Nơi thì bừa cạn nơi thì cày sâu Công lên chẳng quản bao lâu Ngày nay nước bạc ngày sau cơm vàng

Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu‟‟ [59, 213]

Quá trình đó đã rèn luyện cho người lao động đức tính cần cù, sáng tạo, một nắng hai sương để duy trì và phát triển cuộc sống, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Hình ảnh „„ăn cơm bằng đèn đi cấy sáng trăng‟‟ đã trở lên quá đỗi quen thuộc với mỗi người dân Việt Nam Đó không chỉ là những hình ảnh đẹp, mà còn thể hiện đức tính cần cù, sáng tạo, yêu lao động của con người Việt Nam

Trong 4000 năm lịch sử, nhân dân Việt Nam đã phải dành tới 2000 năm cho 13 cuộc chiến tranh giữ nước và giành độc lập dân tộc Cũng nhờ cần cù lao động, chịu khó suy nghĩ, nhân dân ta đã sáng tạo ra nhiều cách đánh giặc thông minh, do đó nhân dân ta đã chiến thắng những kẻ thù xâm lược Và cụ thể tinh thần ấy được nâng cao hơn từ khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời Cách mạng tháng tám thành công, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc, đưa nhân dân ta từ địa

vị nô lệ lên làm chủ đất nước, làm chủ cuộc sống Chính tinh thần lao động cần

cù, sáng tạo của nhân dân làm ra lương thực thực phẩm phục vụ cuộc sống và thể hiện vai trò to lớn của hậu phương phục vụ tiền tuyến đã làm nên một Điện Biên Phủ chấn động địa cầu Trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa tiếp theo sau

Trang 40

đó cũng gặt hái được nhiều thắng lợi quan trọng đánh dấu công lao to lớn và sức lực của người dân

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thì tinh thần ấy càng tỏa sáng hơn nữa trong cả hai miền Nam Bắc Có thể nói chưa lúc nào hết truyền thống cần cù lao động, sáng tạo lại được thể hiện rõ nét và thấm nhuần như lúc này Nhân dân đã lao động hết mình và đã làm lên thắng lợi giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước

Trong điều kiện hiện nay, khi đất nước còn nghèo, hơn nữa còn phải vượt qua muôn vàn thách thức với điều kiện trong và ngoài nước Đặt ra cho chúng ta cần tiếp tục phát huy đức tính cần cù, sáng tạo của cha ông, nhằm tạo đà cho sự phát triển ổn định và bền vững của đất nước

Truyền thống nhân ái, yêu thương người

Truyền thống nhân ái, yêu thương người là một chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam từ xưa tới nay Truyền thống ấy có nguồn gốc sâu xa từ trong sinh hoạt công xã nông thôn và được củng cố, phát triển qua quá trình chung lưng đấu cật khai phá giang sơn, giữ gìn đất nước Tấm lòng nhân nghĩa, nhân ái

đó chính là cơ sở cho cách xử thế ở đời của người Việt Nam, là triết lý sống của dân tộc Việt Nam Không có lòng nhân ái, thương người chúng ta không thể có lòng yêu nước thiết tha Lòng yêu nước xuất phát từ lòng nhân ái mới bền vững

và sâu sắc Có thương người, yêu quý những cái đúng, loại bỏ những cái sai, cái

ác con người Việt Nam mới sẵn sàng ra đi, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc với tinh thần: Thà hy sinh tất cả, chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ Từ đó vươn lên chiến đấu kiên cường chống lại quân xâm lược bảo vệ sự bình yên, độc lập tự do cho đất nước

Trước hết, lòng nhân ái yêu thương con người thể hiện từ sự gắn kết giữa những con người Việt Nam với nhau Do vậy, người Việt Nam luôn xả thân vì nước, con người yêu nước và con người yêu dân, gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng nhau lao động, cùng nhau chiến đấu bảo vệ giang sơn

Ngày đăng: 06/12/2022, 22:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Hoàng Chí Bảo (1999), Quan niệm và đạo đức Hồ Chí Minh, Tạp chí sinh hoạt lý luận, (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí sinh hoạt lý luận
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 1999
6. Hoàng Chí Bảo (2004), Văn hóa Hồ Chí Minh và sự rèn luyện nhân cách văn hóa cho thanh niên, Tạp chí lịch sử Đảng, (số 8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí lịch sử Đảng
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2004
12. Nguyễn Trọng Chuẩn (1995), Đôi điều suy nghĩ về giá trị và sự biến đổi các giá trị khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, Tạp chí triết học, (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí triết học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1995
14. Nguyễn Trọng Chuẩn (1998), Vấn đề khai thác những giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển. Tạp chí triết học (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí triết học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1998
15. Nguyễn Trọng Chuẩn (1999), Toàn cầu hóa: Những cơ hội và thách thức, Tạp chí triết học (số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí triết học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1999
20. Vũ Trọng Dung (2001), Quan niệm thiện ác trong lịch sử và trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường. Tạp chí triết học số 2, tr 38 - 42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí triết học số 2
Tác giả: Vũ Trọng Dung
Năm: 2001
24. Đảng cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện hội nghị trung ương lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị trung ương lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 1994
25. Đảng cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị lần thứ V, Ban chấp hành Trung ƣơng khóa (VII), Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ V
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 1997
26. Đảng cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện hội nghị trung ương lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị trung ương lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2003
27. Đảng cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Văn kiện hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2002
28. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2006
29. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2011
30. Đại học Quốc gia Hà Nội, trường Đại Học KHXH và NV (2003), Toàn cầu hóa và tác động đối với sự hội nhập của Việt Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Toàn cầu hóa và tác động đối với sự hội nhập của Việt Nam
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội, trường Đại Học KHXH và NV
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2003
31. Võ Nguyên Giáp (1998), Văn hóa Việt Nam - truyền thống và cốt cách dân tộc, Tạp chí cộng sản, (số 15) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí cộng sản
Tác giả: Võ Nguyên Giáp
Năm: 1998
32. Trần Văn Giàu (1998) Hệ tư tưởng yêu nước Việt Nam, Tạp chí triết học (số 16) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí triết học
36. Nguyễn Đình Hòa, Khoa học công nghệ và đạo đức trong điều kiện kinh thế thị trường, Tạp chí triết học (số 6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí triết học
37. Mai Xuân Hợi (2001), Giá trị đạo đức và biểu hiện của nó trong đời sống xã hội, Tạp chí triết học (số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí triết học
Tác giả: Mai Xuân Hợi
Năm: 2001
38. Trần Đình Hươu (1995), Đến hiện đại từ truyền thống, Nxb, văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến hiện đại từ truyền thống
Tác giả: Trần Đình Hươu
Năm: 1995
39. Vũ Khiêu (1974), Đạo đức mới, Nxb, khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức mới
Tác giả: Vũ Khiêu
Năm: 1974
40. Vũ Khiêu (1993), Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh - truyền thống dân tộc và nhân loại, Nxb, khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh - truyền thống dân tộc và nhân loại
Tác giả: Vũ Khiêu
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w