1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn " Ảnh hưởng của quá trình tự do hoá thương mại trong AFTA đến hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam " ppt

95 604 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của quá trình tự do hoá thương mại trong AFTA đến hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả Ngô Thu Hà
Trường học University of Economics Ho Chi Minh City
Chuyên ngành Kinh tế Quốc tế
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 755,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT ACCSQ ASEAN Consultant Committee on Standard and Quality Uỷ ban tư vấn ASEAN về Tiêu chuẩn và Chất lượng AEM ASEAN Economic Minister Hội nghị Bộ trưởng ki

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Ảnh hưởng của quá trình tự do hoá thương mại trong AFTA đến hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp

nước ngoài tại Việt Nam

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU

CHƯƠNG I: QUÁ TRÌNH TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI TRONG ASEAN VÀ

SỰ THAM GIA CỦA VIỆT NAM 8

I Quá trình tự do hóa thương mại trong ASEAN 1

1 Lịch sử hình thành và phát triển của ASEAN và AFTA 8

2 Quá trình tự do hóa thương mại trong ASEAN 10

II Sự tham gia của Việt Nam vào AFTA 25

1 Về cơ quan tổ chức thực hiện AFTA 25

2 Về thực hiện chính sách thuế quan của AFTA 25

3 Về thực hiện cắt giảm hàng rào phi quan thuế 29

4 Về hoạt động hợp tác Hải quan trong AFTA 30

CHƯƠNG II: ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI TRONG ASEAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM. 25

I Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trước khi gia nhập ASEAN 35

1 Tình hình cấp giấy phép đầu tư 36

2 Kết quả thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài 44

II Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam từ khi gia nhập ASEAN đến nay 47

1 Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 47

2 Kết quả thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài 60

III Xu hướng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian tới 64

1 Những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài 64

2 Xu hướng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 70

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI TRONG ASEAN 57

I- Những khó khăn và thuận lợi của Việt Nam trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khi thực hiện AFTA 72

Trang 3

1 Khó khăn 72

2 Thuận lợi 75

II- Những giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam khi thực hiện afta 79

1 Đẩy nhanh tiến độ thực hiện cam kết ở các nước thành viên để sớm hoàn thành AFTA 79

2 Cần xây dựng và công bố sớm danh mục các dự án đầu tư tiền khả thi trong từng thời kỳ theo hướng khuyến khích mạnh mẽ việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành nghề mà nước ta có thế mạnh về tài nguyên, nguyên liệu, lao động và phát triển kết cấu hạ tầng 80

3 Cải thiện môi trường pháp lý tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, thông thoáng, rõ ràng, ổn định và mang tính cạnh tranh cao 82

4 Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại 83

5 Thực hiện chiến lược khuyến khích đầu tư của các công ty đa quốc gia, công ty xuyên quốc gia, công ty toàn cầu để tiếp nhận chuyển giao khoa học công nghệ hiện đại 85

6 Cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới kết cấu hạ tầng 85

7 Quan tâm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 87

8 Một số giải pháp cho các doanh nghiệp Việt Nam 75

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

ACCSQ ASEAN Consultant Committee on Standard and Quality

Uỷ ban tư vấn ASEAN về Tiêu chuẩn và Chất lượng

AEM ASEAN Economic Minister

Hội nghị Bộ trưởng kinh tế các nước ASEAN

AFTA ASEAN Free Trade Area

Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

AICO ASEAN Industrial Cooperation

Hợp tác công nghiệp ASEAN

ASEAN Association of Southeast Asia Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

CCEM CEPT Concessions Exchange Manual

Tài liệu hướng dẫn trao đổi ưu đãi CEPT

CEPT Common Effective Preferential Tariff Scheme

Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung

FDI Foreign Direct Investment

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GATT General Agreement on Tariff and Trade

Hiệp định chung về thương mại và thuế quan

GEL General Exception List

Danh mục loại trừ hoàn toàn

GTV GATT Transaction Value

Trị giá hải quan theo GATT

HS Harmonised System

Hệ thống hài hoà

IL Inclussion List

Danh mục cắt giảm thuế ngay

IMF International Monetary Fund

Quỹ Tiền tệ thế giới

PTA Preferential Trade Agreement

Hiệp định ưu đãi thương mại

TEL Temporary Exclusion List

Danh mục loại từ tạm thời

WCO World Custom Organization

Trang 5

Tổ chức Hải quan thế giới

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII đã xác định đường lối phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn mới, đó là:

“mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động tham gia các tổ chức quốc tế

và khu vực”, thu hút tối đa các nguồn lực bên ngoài cùng với các nguồn lực bên trong để phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) ngày 28/7/1995 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng của quá trình hội nhập của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế khu vực và thế giới Sau đó, ngày 15-12-1995, tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ V tổ chức tại Bangkok (Thái Lan), Việt Nam đã ký kết Nghị định thư gia nhập Hiệp định về Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) để thực hiện Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - AFTA từ 1/1/1996

Việc tham gia AFTA sẽ có ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, trong đó có hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Khi các rào cản đối với thương mại và đầu tư giữa các nước ASEAN bị xoá bỏ, Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội to lớn để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các nước trong và ngoài khu vực Tuy nhiên, sức ép cạnh tranh gay gắt hơn từ các nước trong khu vực có thể làm cho luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam bị giảm sút Vì vậy, việc nghiên cứu các nhân tố thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài khi Việt Nam thực hiện AFTA, từ đó có các biện pháp hữu hiệu để phát huy các tác động tích cực, hạn chế các tác động tiêu cực nhằm thu hút tối đa nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước có ý nghĩa hết sức quan trọng Xuất phát từ những nhận thức như vậy, em chọn đề

tài: “Ảnh hưởng của quá trình tự do hoá thương mại trong AFTA đến hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam” cho khoá luận của

mình

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến cô giáo, TS Bùi Thị Lý

đã hướng dẫn khoa học, tận tình giúp đỡ em Em cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Kinh tế ngoại thương và tất cả các bạn đã ủng hộ, nhiệt tình góp ý kiến để em hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này

Trang 7

Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2003

Ngô Thu Hà

Trang 8

CHƯƠNG I QUÁ TRÌNH TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI TRONG ASEAN

VÀ SỰ THAM GIA CỦA VIỆT NAM

I QUÁ TRÌNH TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI TRONG ASEAN

1 Lịch sử hình thành và phát triển của ASEAN và AFTA

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (gọi tắt là ASEAN-Association of Southeast Asia Nations) được thành lập năm 1967 Ngày 08 tháng 8 năm

1967, 5 quốc gia Đông Nam Á bao gồm Inđônêxia, Malaixia, Philipin, Singapo và Thái Lan đã ký tuyên bố Bangkok theo đó thành lập ASEAN 17 năm sau, Brunêy gia nhập hiệp hội và đến ngày 28 tháng 7 năm 1995, Việt Nam chính thức được công nhận là thành viên của tổ chức này Bằng việc tiếp tục kết nạp Lào, Mianma vào năm 1997 và Campuchia vào năm 1999, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á hiện nay bao gồm 10 quốc gia Đông Nam Á

Một trong những mục tiêu của ASEAN là hợp tác nhằm phát triển nền kinh tế trong khu vực cũng như nền kinh tế từng nước Với mục tiêu đó, ASEAN đã triển khai hợp tác một cách có hiệu quả trong nhiều lĩnh vực khác nhau trên cơ sở ký kết các hiệp định, hiệp ước và các văn kiện khác thúc đẩy sự hợp tác kinh tế giữa các quốc gia nhằm đảm bảo tiến trình phát triển kinh tế bền vững của các quốc gia Nhiều khuôn khổ hợp tác đã ra đời trên tinh thần này như AFTA (Khu vực thương mại tự do ASEAN-ASEAN Free Trade Area), AICO (cơ chế hợp tác công nghiệp ASEAN)

Tình hình thế giới và khu vực có ảnh hưởng lớn đến quá trình hình thành và phát triển cũng như các mục tiêu phấn đấu của ASEAN Điều này

có thể được nhận biết qua ba giai đoạn phát triển của ASEAN:

Giai đoạn thứ nhất 1967-1975: Giai đoạn này, tình hình thế giới và

khu vực rất căng thẳng Đây là thời kỳ đỉnh cao của chiến tranh lạnh và đặc biệt khu vực Đông Nam Á được coi là điểm nóng của khu vực châu á với

Trang 9

cuộc chiến tranh tại Việt Nam Vì vậy, ASEAN ra đời với mục đích chủ yếu

là tăng cường và đẩy mạnh hợp tác kinh tế trong khu vực nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế, văn hóa và tiến bộ xã hội, duy trì hòa bình, an ninh trong khu vực, xây dựng cồng đồng quốc gia Đông Nam Á hòa bình và thịnh vượng.Thời kỳ này, kinh tế các nước ASEAN chưa phát triển Hợp tác trong ASEAN chủ yếu theo quyết định của các cấp Bộ trưởng, chưa đến cấp nguyên thủ quốc gia Giai đoạn này, hợp tác ASEAN mang nặng màu sắc chính trị, tập trung giải quyết những bất đồng và xung đột, tìm kiếm lập trường chung về chính trị Năm 1971, các nước ASEAN thông qua kết quả dàn xếp xung đột và bước đầu xây dựng khu vực hợp tác toàn diện và tổ chức hội nghị cấp cao tại Kualalămpơ (Malaixia) và đưa ra tuyên bố xây dựng Đông Nam Á thành “khu vực hòa bình, tự do và trung lập”

Giai đoạn thứ hai 1975-1995: Tháng 2/1976 tại Bali (Inđonêxia) và

tháng 8/1977 tại Kualalămpơ (Malaixia), ASEAN liên tục tiến hành hai hội nghị cấp cao, đánh dấu một giai đoạn mới trong hợp tác ở cấp nguyên thủ quốc gia Các nước ASEAN khẳng định lập trường xây dựng ASEAN thành một khu vực hòa bình, tự do, trung lập và đưa ra chương trình hợp tác kinh tế-xã hội toàn diện và hoàn thiện cơ cấu tổ chức ASEAN Nhờ vậy hợp tác nội bộ ASEAN và hợp tác giữa ASEAN và các quốc gia khác được mở rộng

và hiệu qủa hơn

Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ ba được tổ chức tại Manila (Philipin) năm 1989 tiếp tục cam kết đẩy mạnh hợp tác Đặc biệt hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ tư tháng 1/1992 tại Singapo được đánh giá là thành công nhất so với các hội nghị cấp cao trước đó, các nước ASEAN đã ký bản tuyên bố chung với nội dung cơ bản sau:

1- ASEAN sẽ tiến lên đạt trình độ hợp tác kinh tế và chính trị cao hơn

để củng cố hòa bình và thịnh vượng trong khu vực

Trang 10

2- ASEAN kiên trì tìm kiếm và bảo vệ lợi ích tập thể của mình trước

sự lớn mạnh của các tổ chức hợp tác kinh tế lớn trên thế giới Đặc biệt ASEAN thông qua chủ trương thúc đẩy mở cửa hợp tác quốc tế và khuyến khích hợp tác kinh tế trong khu vực

3- ASEAN sẽ tìm kiếm những giải pháp cho lĩnh vực hợp tác an ninh 4- ASEAN sẽ tiến tới quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước Đông Dương sau khi giải quyết vấn đề Campuchia

Đặc biệt trong hội nghị lần này, ASEAN đã đi đến quyết định thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN - AFTA

Giai đoạn thứ ba (từ năm 1995 đến nay): Sự kiện Việt Nam tham gia

vào ASEAN tháng 7/1995 có ý nghĩa lớn đối với Việt Nam và khu vực Nó

mở ra thời kỳ hợp tác toàn diện trong khu vực, đẩy nhanh quá trình thống nhất và hợp tác trên toàn khu vực Đông Nam Á mà điểm mốc quan trọng đó

là đến năm 1999 ASEAN đã bao gồm toàn bộ 10 quốc gia Đông Nam Á ASEAN đã thống nhất trong đó các quốc gia mà đường lối chính trị có phần khác biệt và mâu thuẫn Đây cũng là thời kỳ các quốc gia ASEAN nỗ lực đẩy nhanh tiến độ hợp tác và phát triển khu vực mậu dịch tự do Giai đoạn này, ASEAN đã đạt được tốc độ phát triển kinh tế cao vào bậc nhất trên thế giới, vị thế kinh tế và chính trị của ASEAN cũng theo đó cải thiện đáng kể

2 Quá trình tự do hóa thương mại trong ASEAN

2.1 Hiệp định về ưu đãi thương mại (PTA)

Hiệp định ưu đãi thương mại ( Preferential Trade agreements - PTA)

do các Bộ trưởng Ngoại giao Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ký tại Manila (Philipin) ngày 24 tháng 2 năm 1977 Đây là văn kiện quan trọng đầu tiên của ASEAN nhằm tiến tới tự do hoá buôn bán khu vực và đẩy nhanh hoạt động thương mại trong nội bộ khu vực Theo Hiệp định này, các nước ASEAN cam kết dành cho nhau ưu đãi trong quan hệ mậu dịch giữa các nước như ưu đãi trong việc ký kết các hợp đồng dài hạn về số lượng,

Trang 11

những điều kiện ưu đãi về việc cung cấp tài chính cho nhập khẩu, những ưu đãi về mặt thủ tục hành chính liên quan đến xuất nhập khẩu, ưu đãi về thuế quan và thúc đẩy việc xoá bỏ các rào cản phi quan thuế trong buôn bán nội

bộ khu vực Hiệp định này không đặt ra những mục tiêu đặc biệt như các hiệp định ưu đãi buôn bán khác của các nước đang phát triển, mà cố gắng thiết lập một cơ chế giúp hoạt động thương mại trong phạm vi ASEAN được tự do hoá từng bước, phù hợp với khả năng của các nước thành viên PTA ra đời đã đánh dấu một bước tiến mới trong quá trình tự do hoá thương mại của các nước ASEAN - từ các chương trình tự do hoá thương mại đơn phương đã chuyển sang thực hiện các chương trình tự do hoá thương mại khu vực Với PTA, các nước hy vọng sẽ mở ra một thời kỳ mới trong hợp tác kinh tế khu vực

Các nước ASEAN chọn cắt giảm thuế quan là biện pháp cơ bản nhất

để thực hiện Hiệp định về Ưu đãi thương mại Ban đầu, các nước thực hiện

ưu đãi với từng sản phẩm được lựa chọn theo phương pháp lập khung thuế bắt buộc và phương pháp tự nguyện với một tốc độ tự do hoá mà các nước thành viên có thể chấp nhận được Trong vòng đàm phán đầu tiên, mức giảm thuế ưu đãi (Margin of Preference - MOP) từ 10 - 30% được áp dụng đối với

71 mặt hàng và có hiệu lực từ ngày 1-1-1978, trong đó 21 mặt hàng được hưởng quy chế của PTA theo phương pháp bắt buộc và 50 mặt hàng theo phương pháp tự nguyện Do các ưu đãi được xác định trên cơ sở tự nguyện nên dẫn đến kết quả là chỉ có rất ít mặt hàng được đưa vào thực hiện PTA

Sau năm 1980, các nước ASEAN hướng vào tự do hoá thương mại hơn nữa Các nước ASEAN chuyển việc thực hiện PTA từ nguyên tắc tự nguyện và lựa chọn từng sản phẩm đối với từng nước sang nguyên tắc giảm thuế theo quy định của Hiệp hội áp dụng cho tất cả các nước Mức giảm 20% thuế dành cho tất cả các nước thành viên được thông qua đối với 6000 sản phẩm có giá trị nhập khẩu dưới 500.000 USD Mức giới hạn này tăng

Trang 12

dần từ 500.000 USD lên 1 triệu, sau đó là dưới 10 triệu Năm 1984 người ta chấp nhận giảm 20 - 25% thuế đối với tất cả các sản phẩm có giá trị buôn bán vượt 10 triệu USD Tới tháng 6-1986, có tất cả 12647 sản phẩm của 6 nước ASEAN được hưởng ưu đãi theo PTA Tiếp đó, mức ưu đãi giảm thuế được tăng lên 50% Đến cuối năm 1987, có khoảng 20.000 mặt hàng được hưởng mức ưu đãi giảm thuế ở mức từ 20 - 50%

Vào thời gian này, một cuộc đánh giá kết quả 10 năm thực hiện PTA

đã được tiến hành và các nhà nghiên cứu cho rằng mặc dù các nước đều tích cực hoạt động theo hướng tăng cường tự do hoá thương mại trong khu vực song kết quả mở rộng thương mại nội bộ khu vực đã không đạt được như ý muốn Lý do cơ bản là vì danh mục sản phẩm loại trừ đối với các hàng hóa

“nhạy cảm” mà các nước được phép đưa ra trên cơ sở thực trạng sản xuất của mình bao gồm một số lượng lớn hàng hoá trao đổi trong khu vực của mỗi nước, trừ Singapo chỉ chiếm 2% Cụ thể là, đối với Thái Lan, tỷ lệ mặt hàng nằm trong danh mục loại trừ trên tổng số mặt hàng trao đổi với các nước trong khu vực là 63%, Inđônêxia - 54%, Malaixia - 39%, Philipin - 25% Bên cạnh đó, sự khác nhau lớn về chủng loại mặt hàng trong diện giảm thuế của các nước cũng làm hạn chế đáng kể hiệu quả của PTA

Cho tới trước Hội nghị Cấp cao Manila, quá trình thực hiện PTA tiến

triển hết sức chậm chạm, vẫn còn rất nhiều mặt hàng nằm ngoài danh sách

PTA Nguyên nhân đầu tiên là thái độ thiếu tin cậy lẫn nhau giữa các nước trong quá trình thực hiện PTA Sau khi cam kết cắt giảm thuế, các nước ASEAN tìm cách khai thác những biện pháp khác tạo ra hàng rào phi thuế quan nhằm bảo vệ những quyền lợi của mình, cản trở quan hệ buôn bán giữa các nước thành viên Do vậy, tỷ trọng các mặt hàng được hưởng quy

chế PTA rất thấp Năm 1987, trong số 12783 mặt hàng đưa vào danh sách

PTA chỉ có 322 mặt hàng (2,6%) thực sự được bảo đảm bằng ưu đãi về

Trang 13

thuế Tương ứng với số lượng mặt hàng này là 19% tổng giá trị buôn bán nội bộ ASEAN

Nhận thấy quan hệ hợp tác kinh tế bắt đầu rơi vào tình trạng kém khả quan, bó hẹp trong những mục tiêu ngắn hạn, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ ba năm 1987 tại Manila, các nước thành viên đã thông qua những sửa đổi quan trọng đối với PTA nhằm nâng cao hơn nữa tác động của

nó trong việc thúc đẩy buôn bán nội bộ Những sửa đổi đó là:

Các nước thành viên phải cam kết thực hiện cắt giảm số lượng mặt hàng nằm trong Danh mục hạn chế chỉ còn lại 10% và giá trị của chúng không vượt quá 50% tổng giá trị buôn bán trong khu vực

Thủ tục đưa các mặt hàng mới vào danh sách được ưu đãi của PTA cũng thay đổi từ việc xem xét hàng năm sang chương trình 5 năm (từ 1988 đến 1992)

Vào những năm 1990, sau một thời gian thực hiện chương trình này

đã cho thấy một số kết quả khả quan hơn Số mặt hàng được hưởng ưu đãi

tăng, mức tăng thay đổi theo từng nước Tuy nhiên, không phải tất cả các nước đều thực hiện đầy đủ và cho đến thời điểm đó, sự đóng góp của PTA đối với buôn bán trong khu vực, xét về giá trị tuyệt đối cũng như tỷ trọng

vẫn còn ít Mức tăng nhập khẩu và xuất khẩu giữa các nước còn thấp Ví dụ

tỷ trọng xuất khẩu của Indonesia tới các nước thành viên theo PTA chỉ tăng

từ 1,4% năm 1986 lên 3,5% năm 1989, trong khi đó tỷ trọng nhập khẩu còn thấp hơn, từ 1,2% lên 1,6%

Nhìn chung, tuy có một số tiến bộ nhưng tốc độ tự do hoá thương mại thực hiện trong khuôn khổ PTA vẫn còn rất chậm chạp và hạn chế Những biện pháp mở rộng buôn bán thực chất chỉ là những biện pháp nhằm những mục tiêu ngắn hạn Do vậy, các nước thành viên ASEAN thấy cần thiết phải

có một cơ chế hợp tác mang tính thể chế, thống nhất tiêu chí phối hợp hành động, tăng mức ưu đãi, đơn giản hoá các thủ tục, nhắm tới những mục tiêu

Trang 14

xa hơn Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng cho sự ra đời của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - AFTA

2.2 Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - AFTA

Ngày 28-1-1992, Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ IV diễn ra tại Singapo, các nguyên thủ quốc gia ASEAN đã có một quyết định quan trọng nhằm nâng cao hơn nữa mức độ hợp tác trong lĩnh vực thương mại, đó là thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) thông qua việc ký kết Hiệp định về Chương trình thuế quan ưu đãi hiệu lực chung (CEPT)

Mục tiêu của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) được chỉ rõ trong văn kiện Hiệp định là loại bỏ hoàn toàn các hàng rào cản trở thương mại đối với hầu hết hàng hoá trong nội bộ ASEAN, kể cả thuế quan và các loại hàng rào phi thuế quan AFTA được thực hiện thông qua Chương trình thuế quan ưu đãi hiệu lực chung (CEPT) Chương trình CEPT có ba nội dung cơ bản là chương trình cắt giảm thuế quan, việc loại bỏ các hàng rào phi thuế quan và vấn đề hợp tác trong lĩnh vực hải quan

2.2.1 Nội dung loại bỏ hàng rào thuế quan

Những nội dung chính trong việc loại bỏ hàng rào thuế quan của AFTA được hoạch định như sau:

Các nước thành viên ASEAN sẽ thực hiện lịch trình cắt giảm thuế nhập khẩu cho hàng hoá có xuất xứ ASEAN theo lộ trình trong vòng 10 năm

để xuống mức 0 - 5% Việc cắt giảm thuế bắt đầu từ ngày 1-1-1993 và hoàn thành vào ngày 1-1-2008

Tuy nhiên, trước xu hương tự do hoá thương mại toàn cầu đang được thúc đẩy mạnh mẽ và xuất phát từ nhu cầu tăng cường hợp tác phát triển của các nước thành viên, ASEAN đã quyết định đẩy nhanh quá trình tự do hoá thương mại trong khu vực bằng việc rút ngắn thời hạn hoàn thành AFTA Đặc biệt, sau Hội nghị thượng đỉnh lần thứ VI năm 1998, thời hạn này được đẩy nhanh, đến ngày 1-1-2002 cho các thành viên cũ (bao gồm

Trang 15

Inđônêxia, Malaixia, Philipin, Singapo, Thái Lan, và Brunây, sau đây gọi

là ASEAN-6) Với Việt Nam thời hạn hoàn thành cắt giảm thuế quan là năm 2006 Đối với các thành viên mới là Lào và Myanma sẽ bắt đầu thực hiện Chương trình CEPT từ ngày 1-1-1998 và kết thúc vào ngày 1-1-

2008 Campuchia sẽ bắt đầu tực hiện Chương trình CEPT từ ngày

1-1-2000 và kết thúc vào ngày 1-1-2010

Phạm vi áp dụng của Chương trình CEPT để thực hiện AFTA bao gồm tất cả các hàng hoá công nghiệp, các sản phẩm nông nghiệp chế biến Riêng đối với nông sản chưa chế biến mang tính chất nhạy cảm tới nền kinh

tế của các nước ASEAN, tới tận Hội nghị Bộ trưởng kinh tế các nước ASEAN ngày 26-9-1994, các nước mới đưa loại sản phẩm này vào phạm vi thực hiện Chương trình CEPT với những quy định đặc biệt riêng về thời hạn bắt đầu và kết thúc cắt giảm thuế, mức thuế suất bắt đầu và khi hoàn thành cắt giảm Các sản phẩm được xác định là cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ đạo đức xã hội, bảo vệ sức khoẻ và cuộc sống của con người và động, thực vật, bảo vệ các tác phẩm có giá trị nghệ thuật, lịch sử và khảo cổ học của các nước nước thành viên ASEAN sẽ không được đưa vào Chương trình CEPT

Nội dung cắt giảm thuế quan cho các sản phẩm thuộc từng Danh mục của CEPT được quy định như sau:

- Danh mục các sản phẩm giảm thuế ngay (Inclusion List - IL)

Việc cắt giảm thuế của các sản phẩm thuộc Danh mục này được chia thành hai lịch trình: lịch trình giảm nhanh và giảm bình thường

Lịch trình giảm thuế nhanh (còn gọi là kế hoạch giảm thuế tăng tốc)

sẽ được áp dụng cho 15 nhóm mặt hàng công nghiệp chế biến của ASEAN như: xi măng, hoá chất, phân bón, chất dẻo hàng điện tử, hàng dệt, dầu thực vật, sản phẩm da, sản phẩm cao su, giấy, đồ gốm và thuỷ tinh, đồ dùng bằng

gỗ và song mây, đồng thỏi và dược phẩm với khoảng 3200 mặt hàng, chiếm

Trang 16

tới 34% tổng số danh mục giảm thuế của toàn ASEAN Lịch trình giảm thuế nhanh được phân định thành hai nấc: một là, các sản phẩm có thuế suất trên 20% sẽ được giảm xuống còn 0-5% vào 1/1/2000 và các sản phẩm có thuế suất bằng hoặc thấp hơn 20% sẽ được giảm xuống còn 0-5% vào 1/1/1998

Lịch trình giảm thuế bình thường sẽ được áp dụng đối với các sản

phẩm công nghiệp còn lại Đối với những sản phẩm có mức thuế hiện hành trên 20% sẽ được thực hiện theo hai bước Bước một, thuế từ mức hiện hành giảm xuống mức 20% vào năm 1998 Bước hai, giảm từ mức thuế 20% xuống mức cuối cùng 0-5% kết thúc vào ngày 1/1/2003 Đối với mức thuế hiện hành 20% hoặc thấp hơn sẽ được giảm xuống mức cuối cùng 0-5% trong vòng 7 năm, tức là kết thúc vào năm 2000

Danh mục các sản phẩm tạm thời chưa tham gia giảm thuế (Danh mục loại trừ tạm thời - Temporary Exclusion List - TEL): Xuất phát từ

hoàn cảnh của từng quốc gia thành viên và để tạo điều kiện thuận lợi cho các nước này có thời gian ổn định trong một số lĩnh vực cụ thể như: tiếp tục các chương trình đầu tư đã được đưa ra trước khi tham gia kế hoạch CEPT hoặc có thời gian để hỗ trợ cho sự ổn định thương mại, hoặc để chuyển hướng sản xuất đối với một số sản phẩm tương đối trọng yếu , Hiệp định CEPT đã cho phép các nước ASEAN được đưa ra một số sản phẩm tạm thời chưa thực hiện tiến trình giảm thuế theo kế hoạch CEPT Các sản phẩm trong Danh mục này sẽ không được hưởng ưu đãi Sau 5 năm, hàng hoá loại trừ tạm thời phải được chuyển sang Danh mục giảm

thuế theo hai kênh đồng tuyến đã quy định

Do đó, kể từ 1/1/1996 đến 1/1/2000, Danh mục loại trừ tạm thời sẽ phải chuyển sang Danh mục giảm thuế theo CEPT bình quân 20% mỗi năm (Danh mục này chỉ chiếm khoảng 7,1% tổng số các danh mục tham gia giảm thuế)

Trang 17

- Danh mục sản phẩm nông nghiệp chưa qua chế biến (Unprocessed Agriculture Products - UAPs)

Các sản phẩm nông nghiệp chưa qua chế biến được phân định thành

3 nhóm: nhóm giảm thuế, nhóm loại trừ hoàn toàn và một nhóm đặc biệt khác là nhóm các sản phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm

Chương trình cắt giảm thuế của từng nhóm được quy định như sau: Sản phẩm nông sản chưa chế biến trong Danh mục cắt giảm thuế ngay được đưa vào chương trình cắt giảm thuế nhanh hoặc chương trình cắt giảm thuế bình thường vào 1/1/1996 và sẽ được giảm thuế xuống còn 0-5% vào 1/1/2003

Các sản phẩm trong Danh mục loại trừ tạm thời của hàng nông sản chưa chế biến sẽ được chuyển sang Danh mục cắt giảm thuế trong vòng 5 năm, từ 1/1/1998 đến 1/1/2003, mỗi năm chuyển 20%

Các sản phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm được phân định vào hai Danh mục tuỳ theo mức độ nhạy cảm là Danh mục các sản phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm và Danh mục các sản phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm cao Đến nay, theo đề xuất của các quốc gia thành viên, những mặt hàng thuộc Danh mục các sản phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm sẽ bắt đầu thực hiện cắt giảm thuế xuống còn 0-5% từ 1/1/2001 và kết thúc lịch trình giảm thuế vào ngày 1/1/2010 Trong khi đó, các sản phẩm nông nghiệp chưa chế biến nhạy cảm cao sẽ bắt đầu từ 1/1/2003 và kết thúc vào 2010 Cho đến nay quá trình thoả thuận để xác định các quy định về cơ chế cắt giảm thuế quan chi tiết và chính xác cho các sản phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm vẫn đang được tiếp tục

- Danh mục loại trừ hoàn toàn (General Exceptions List - GEL)

Theo kế hoạch CEPT, tất cả các sản phẩm công nghiệp chế tạo và các

sản phẩm nông nghiệp chế biến đáp ứng yêu cầu nội dung của sản phẩm có

ít nhất 40% xuất xứ từ bất kỳ nước thành viên ASEAN nào đều nằm trong

Trang 18

Danh mục sản phẩm trong kế hoạch CEPT và một cách tự động được đưa vào kế hoạch giảm thuế CEPT Tuy nhiên, một nước thành viên cũng có thể loại trừ một số sản phẩm không tham gia Hiệp định CEPT và xếp vào Danh mục loại trừ hoàn toàn Các sản phẩm này phải là những sản phẩm được xem là cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ đạo đức cộng đồng, sức khoẻ, sự sống của con người và động thực vật, ảnh hưởng đến việc bảo tồn các giá trị văn hoá nghệ thuật, các di tích lịch sử hay khảo cổ học Theo Chương trình CEPT, việc cắt giảm thuế cũng như xóa bỏ các biện pháp phi thuế quan đối với những mặt hàng này sẽ không được xem xét đến

Điều kiện để các sản phẩm được hưởng ưu đãi trong khuôn khổ CEPT-AFTA:

Muốn được hưởng những ưu đãi về thuế nhập khẩu theo Chương trình CEPT, các sản phẩm cần phải thoả mãn đồng thời các điều kiện cơ bản sau:

- Nguyên tắc có đi có lại, tức là một sản phẩm muốn được hưởng ưu đãi thuế nhập khẩu phải là sản phẩm nằm trong danh mục cắt giảm thuế của

cả nước xuất khẩu và nước nhập khẩu, đồng thời sản phẩm đó phải có thuế suất dưới 20%

- Sản phẩm đó phải thoả mãn quy chế xuất xứ ASEAN, tức là phải có hàm lượng xuất xứ từ các nước thành viên ASEAN (hàm lượng nội địa) ít nhất là 40% (tính gộp các nước) Trên cơ sở thành phần xuất xứ này, các sản phẩm phải có giấy chứng nhận xuất xứ (Mẫu D) do cơ quan được Chính phủ của từng nước cho phép cấp

- Sản phẩm đó phải có chương trình giảm thuế được Hội đồng AFTA thông qua

Các điều kiện này được đưa ra nhằm đảm bảo sự bình đẳng hợp lý về

cơ hội tiếp cận thương mại giữa các nhà sản xuất đang cạnh tranh trong các quốc gia ASEAN Chúng cũng góp phần khuyến khích các nước thành viên nhanh chóng đưa các sản phẩm vào Danh mục giảm thuế và giảm thuế

Trang 19

xuống dưới 20% Các sản phẩm thuộc Danh mục giảm thuế theo CEPT và các sản phẩm đủ điều kiện hưởng ưu đãi thuế quan của các nước thành viên khác sẽ được ghi rõ trong Tài liệu hướng dẫn trao đổi nhượng bộ theo CEPT (CCEM) xuất bản hàng năm của mỗi nước thành viên

Cho đến nay, có thể nói các nước thành viên ASEAN đều tích cực thực hiện các cam kết cắt giảm thuế quan của mình theo Hiệp định CEPT/AFTA Từ 1/1/2002, 6 nước thành viên cũ đã hoàn thành về cơ bản cắt giảm thuế CEPT xuống 0-5% Theo số liệu thống kê của Ban thư ký ASEAN, thuế suất CEPT trung bình của 6 nước ASEAN thành viên cũ đã giảm xuống 2,9% từ 12,7% năm 1993 khi các nước bắt đầu thực hiện AFTA Ngoài ra, 3 nước Brunây, Singapo, Inđônêxia đã đạt hơn 60% tổng

số dòng thuế trong danh mục cắt giảm thuế ngay có mức thuế suất CEPT là 0%

2.2.2 Nội dung loại bỏ các hạn chế về định lượng (Quantitive QR) và các rào cản phi thuế quan khác (Non-tariff Barriers-NTBs)

Restrictions-Để tiến tới việc hoàn thành AFTA, Điều 5 của Hiệp định CEPT còn xác định mục tiêu loại bỏ các hàng rào phi thuế quan như hạn chế số lượng, hạn ngạch giá trị nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu có tác dụng hạn chế định lượng… trong vòng 5 năm sau khi một sản phẩm được hưởng ưu đãi thuế quan

Với mục tiêu được đưa ra theo Hiệp định, năm 1995 các nước ASEAN đã thành lập Nhóm Công tác về Vấn đề các Hàng rào phi thuế quan

để xác định và xây dựng chương trình hủy bỏ các hàng rào phi thuế ảnh hưởng đến thương mại khu vực Dựa trên kết quả làm việc của Nhóm Công tác, các nước đã xác định các biện pháp ảnh hưởng rộng rãi và chủ yếu đối với thương mại hàng hóa trong khu vực ASEAN là: phụ thu hải quan và các biện pháp kỹ thuật cản trở thương mại Năm 1995, phụ thu hải quan được áp dụng trên 2683 dòng thuế và các biện pháp kỹ thuật cản trở thương mại (bao

Trang 20

gồm cả các yêu cầu về đặc điểm sản phẩm) ảnh hưởng tới trên 975 dòng thuế của các nước Trên cơ sở đó, tại phiên họp Hội đồng AFTA lần thứ 8, các nước ASEAN đã thống nhất quyết định thời hạn cho việc loại bỏ các biện pháp kỹ thuật ảnh hưởng tới thương mại là hết năm 2003

Cùng với Nhóm Công tác về Vấn đề các hàng rào phi thuế quan, các

cơ chế tổ chức khác cũng được giao nhiệm vụ tham gia vào thực hiện mục tiêu này trong các lĩnh vực cụ thể Uỷ ban Tư vấn ASEAN về Tiêu chuẩn

và Chất lượng (ACCSQ) hỗ trợ cho việc thống nhất các tiêu chuẩn kỹ thuật và các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau giữa các nước ASEAN Hội nghị các quan chức cao cấp trong nông và lâm nghiệp (SOMAMAF) đảm nhận việc loại bỏ các hàng rào về vệ sinh và vệ sinh dịch tễ (SPS) trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp

Trang 21

Bảng I.1: Các hàng rào phi thuế quan phổ biến nhất của ASEAN

theo dòng thuế (năm 1995)

Hàng rào phi thuế quan Số dòng thuế bị ảnh hưởng

Điều hành của thương mại nhà nước 10

Nguồn: Ban thư ký ASEAN, 1995

ACCSQ đã đưa ra 20 nhóm sản phẩm để ưu tiên hài hòa tiêu chuẩn ASEAN, đó là:

12 Linh kiện tivi rađiô

13 Loa và linh kiện loa

Trang 22

đỉnh ASEAN lần thứ VI tháng 12 năm 1998 Căn cứ theo Hiệp định, cho đến nay ba nhóm công tác về hài hòa tiêu chuẩn các sản phẩm mỹ phẩm, dược phẩm và điện, điện tử đã được thành lập và đi vào hoạt động

Trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp, 14 sản phẩm đã được các nước

ưu tiên để hài hòa tiêu chuẩn, bao gồm: gạo, xoài, dừa, gừng, dendrobium, lạc, bắp cải, hạt tiêu đen, hành, cam, cà phê, dứa và muối Các nước ASEAN cũng đã hài hòa tiêu chuẩn đối với hàm lượng còn lại tối đa của thuốc trừ sâu sử dụng cho rau quả để thúc đẩy trao đổi buôn bán mặt hàng này trong khu vực

Các hàng rào phi thuế quan đối với thương mại khu vực ASEAN có thể nói là rất đa dạng và tạo ra nhiều trở ngại, nó có thể làm giảm đáng kể, thậm chí triệt tiêu các ý nghĩa của việc cắt giảm thuế quan Do đó, vấn đề loại bỏ các hàng rào phi thuế quan được các nước ASEAN rất chú trọng trong quá trình thực hiện Khu vực thương mại tự do ASEAN - AFTA

2.2.3 Vấn đề hợp tác trong lĩnh vực hải quan

Như đã trình bày ở trên, để thực hiện Khu vực mậu dịch tự do ASEAN, vấn đề loại bỏ các hàng rào phi thuế quan và tạo thuận lợi cho thương mại là rất cần thiết Lĩnh vực hải quan đóng một vai trò trong vấn đề

đó Các nước ASEAN đã xác định việc hợp tác trong lĩnh vực hải quan là một trong những nhân tố quan trọng để thực hiện mục tiêu AFTA của mình

Do vậy, ngay sau khi Hiệp định CEPT được ký kết, các nước đã tăng cường hợp tác trên lĩnh vực này Để tạo một khuôn khổ pháp lý cho hợp tác, Hiệp định ASEAN về Hợp tác Hải quan đã được các Bộ trưởng Tài chính ASEAN ký kết ngày 1-3-1997 tại Phuket (Thái Lan) Nội dung cơ bản của Hiệp định như sau:

- Thực hiện thống nhất phương pháp định giá tính thuế hải quan giữa các nước ASEAN

Trang 23

Việc các nước thành viên ASEAN áp dụng các phương pháp định giá tính thuế hải quan khác nhau đã tạo ra một hàng rào cản trở thương mại và gây khó khăn cho việc thực hiện hiệp định về mậu dịch tự do

Do đó, các nước ASEAN đã thoả thuận hợp tác nhằm hài hoà phương pháp định giá tính thuế hải quan giữa các nước thành viên và đã thống nhất áp dụng phương pháp định giá tính thuế hải quan GTV của GATT

từ năm 2000

- Thực hiện hài hoà các thủ tục hải quan

Thủ tục hải quan là một khía cạnh quản lý quan trọng khác trong thương mại quốc tế Ngoài những thủ tục thông quan tiêu chuẩn khác, các sản phẩm buôn bán theo chương trình CEPT còn phải đáp ứng được yêu cầu xác định rõ xuất xứ của sản phẩm đó Như đã nói ở trên, để được hưởng

ưu đãi thuế quan CEPT, một sản phẩm phải có ít nhất 40% thành phần có xuất xứ từ các nước ASEAN Điều này được chứng minh bằng Giấy chứng nhận xuất xứ (mẫu D) Như vậy, để tạo thuận lợi cho thương mại trong ASEAN, cần phải đơn giản hoá và hài hoà thủ tục hải quan của các nước thành viên ASEAN thống nhất ưu tiên thực hiện hài hoà các thủ tục hải quan trong hai lĩnh vực:

Mẫu khai báo CEPT chung: Hàng hoá luân chuyển giữa các nước

ASEAN cần phải hoàn thành 3 loại thủ tục hải quan: giấy chứng nhận xuất xứ, thủ tục xuất khẩu và thủ tục nhập khẩu Vì phần lớn các chi tiết trong các mẫu kahi báo hải quan là giống nhau, do đó các nước ASEAN

đã có sáng kiến đơn giản hoá thủ tục đối với sản phẩm thuộc diện CEPT bằng cách gộp cả 3 mẫu này thành một Mẫu chung ASEAN CEPT (Commom ASEAN CEPT Form) Hiện nay mẫu này đang trong quá trình hình thành

Trang 24

Thủ tục xuất và nhập khẩu chung: Hiện nay ASEAN đang trong quá

trình đơn giản hoá các thủ tục chung Các lĩnh vực sau đây được đặt trọng tâm để tiến hành đơn giản hoá:

Thủ tục nộp khai báo hàng hoá khi xuất khẩu

Thủ tục nộp khai báo hàng hoá khi nhập khẩu

Kiểm tra hàng hoá

Cấp giấy chứng nhận xuất xứ hồi tố

Hoàn thuế

Việc đơn giản hoá thủ tục hải quan sẽ được tiến hành dựa trên những hướng dẫn tại Công ước Kyoto - Công ước quốc tế về thủ tục hải quan Thủ tục hải quan sẽ được hài hoà theo các nguyên tắc: rõ ràng, thống nhất, thúc đẩy tính hiệu quả và đơn giản trong quản lý hải quan

Hải quan các nước ASEAN đã thống nhất trong việc thiết lập các

“Hành lang xanh” (Green lanes) - cửa giải quyết thủ tục hải quan dành riêng cho các sản phẩm được nhập khẩu theo Chương trình CEPT - tại hải quan cửa khẩu của từng nước thành viên Theo Malaixia, việc thiết lập Hành lang xanh giảm được thời gian hoàn thành các thủ tục hải quan trung bình từ 9 giờ 30 phút xuống còn 3 giờ 45 phút

- Thực hiện áp dụng một danh mục biểu thuế hài hoà thống nhất của ASEAN

Trong thương mại quốc tế, việc hài hoà hoá và chi tiết hoá danh mục biểu thuế nhập khẩu là rất cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xác định đúng tên gọi của hàng hoá nhập khẩu để áp dụng đúng thuế suất

Hiện nay, ASEAN đã xây dựng một Danh mục biểu thuế hài hoà chung ASEAN (AHTN) Danh mục biểu thuế này dựa trên phiên bản mới nhất của Hệ thống hài hoà miêu tả và mã số hàng hoá do Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) ban hành Danh mục AHTN có khoảng 7000 dòng thuế và bắt đầu được áp dụng vào năm 2002

Trang 25

II SỰ THAM GIA CỦA VIỆT NAM VÀO AFTA

Ngày 15-12-1995, tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ V tổ chức tại Bangkok (Thái Lan), Việt Nam đã ký kết Nghị định thư gia nhập Hiệp định về Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) để thực hiện AFTA và bắt đầu thực hiện chương trình này 15 ngày sau khi ký kết Có thể tóm tắt những nội dung cơ bản của việc thực hiện AFTA tại Việt Nam như sau:

1 Về cơ quan tổ chức thực hiện AFTA

Ngay sau khi được công nhận là thành viên chính thức của ASEAN, Việt Nam đã lập ra Uỷ ban quốc gia Điều phối hoạt động của Việt Nam trong ASEAN (hay còn gọi là Uỷ ban quốc gia về ASEAN) theo quyết định

số 96-TTG của Thủ tướng Chính phủ ngày 8-2-1996 Uỷ ban này có nhiệm

vụ phối hợp với các cơ quan liên quan, tổ chức thực hiện những nhiệm vụ và tham gia các hoạt động của Việt Nam trong ASEAN Cũng theo quy định của ASEAN, mỗi nước thành viên phải thành lập một AFTA Unit ở Việt Nam, cơ quan này được thành lập theo quyết định số 96-TTG của Thủ tướng Chính phủ ngày 8-2-1996 và được đặt tại tổng cục thuế

AFTA Unit của Việt Nam là đầu mối chính về thực hiện AFTA của nước ta và có những nhiệm vụ xây dựng, hướng dẫn và giám sát thực hiện chương trình giảm thuế theo CEPT, giải đáp các thắc mắc có liên quan đến AFTA, chuẩn bị những báo cáo về việc thực hiện AFTA của Việt Nam cho Uỷ ban quốc gia về ASEAN và là đầu mối liên lạc trực tiếp với

cơ quan AFTA của Ban thư ký ASEAN và các AFTA Unit của các nước thành viên khác

2 Về thực hiện chính sách thuế quan của AFTA

Ngày 28-7-1995, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN Tiếp theo đó, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 5 tổ chức tại Bangkok (Thái Lan) vào ngày 15/12/1995, Việt Nam đã chính thức tham

Trang 26

gia thực hiện AFTA bằng việc ký Nghị định thư gia nhập Hiệp định về Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) Theo Nghị định thư này, Việt Nam sẽ thực hiện chương trình cắt giảm thuế từ năm 1996 và

sẽ kết thúc vào năm 2006, chậm hơn các nước ASEAN-6 3 năm

Tại phiên họp Hội đồng AFTA lần thứ 8, Việt Nam đã công bố các danh mục hàng hoá thực hiện CEPT, cụ thể như sau:

Danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL): gồm 213 nhóm mặt hàng thuộc

những nhóm hàng như: các loại động vật sống, sữa, rượu, bia, thuốc lá, thuốc phiện, thuốc nổ, vũ khí, xăng dầu, ô tô chở khách dưới 15 chỗ ngồi, chiếm 6,2% tổng số nhóm mặt hàng của Biểu thuế nhập khẩu Danh mục này được xây dựng phù hợp với Điều 9 của Hiệp định CEPT về loại trừ chung, gồm các mặt hàng có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, cuộc sống và sức khoẻ của con người, động, thực vật, ảnh hưởng đến các giá trị lịch sử, nghệ thuật, khảo cổ, và cả một số mặt hàng mà hiện ta đang nhập khẩu nhiều

từ các nước ASEAN mà không có khả năng xuất khẩu và đang có thuế suất cao trong biểu thuế

Danh mục loại trừ tạm thời (TEL): được xây dựng căn cứ vào quy

định của CEPT và kế hoạch phát triển kinh tế đến năm 2010 của các ngành kinh tế trong nước nhằm không làm ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách

và vẫn bảo hộ được một số ngành sản xuất trong nước Danh mục này gồm 1345 nhóm mặt hàng, chiếm 39,2% tổng số dòng thuế trong Biểu thuế nhập khẩu, chủ yếu gồm các mặt hàng có thuế suất trên 20% và một

số mặt hàng tuy có thuế suất cao hơn 20% nhưng trước mắt cần thiết phải bảo hộ bằng thuế nhập khẩu, hoặc các mặt hàng đang được áp dụng các biện pháp phi thuế

Danh mục cắt giảm thuế quan (IL): 3 tháng sau khi gia nhập ASEAN,

Việt Nam đã công bố chính thức danh mục giảm thuế nhập khẩu gồm 1633 dòng thuế, chiếm 53% tổng số dòng thuế trong Biểu thuế nhập khẩu

Trang 27

Danh mục này chủ yếu bao gồm các mặt hàng hiện đang có thuế suất dưới 20%, tức là các mặt hàng thuộc diện có thể áp dụng ưu đãi ngay theo Hiệp định CEPT

Danh mục nông sản chưa chế biến nhạy cảm: gồm 23 dòng thuế, chủ

yếu bao gồm các mặt hàng nông sản chưa chế biến có yêu cầu bảo hộ cao như: các loại thịt, trứng gia cầm, động vật sống, thóc, gạo lức, đường mía Các mặt hàng này hiện đang được áp dụng các biện pháp phi thuế quan như hạn ngạch, quản lý của Bộ chuyên ngành

Năm 1996 là năm đầu tiên Việt Nam thực hiện cắt giảm thuế theo Chương trình CEPT Tại Nghị định 91/CP ngày 18-12-1995 của Chính phủ,

875 mặt hàng đã được đưa vào danh mục cắt giảm theo CEPT của Việt Nam

Năm 1997, tại Nghị định 82/CP ngày 13-12-1996 của Chính phủ, Việt Nam đã đưa 1496 mặt hàng vào thực hiện CEPT, trong đó có 621 mặt hàng mới bổ sung cho danh mục của năm 1996, nhưng chủ yếu là các mặt hàng

có mức thuế suất thấp

Năm 1998, tại Nghị định số 15/1998/NĐ/CP ngày 12-3-1998 của Chính phủ, Việt Nam đã công bố Danh mục CEPT năm 1998 gồm 1633 mặt hàng, trong đó có 1496 mặt hàng đã được đưa vào năm 1997 và 137 mặt hàng mới Các mặt hàng thuộc Danh mục cắt giảm ngay chiếm khoảng 53% Khác so với các chương trình trước đó, trong chương trình này Việt Nam đã thực hiện những bước cắt giảm thực sự đầu tiên Các mặt hàng cắt giảm thuế đợt này chủ yếu là những mặt hàng Việt Nam có thế mạnh xuất khẩu hoặc nhập khẩu từ các nước ASEAN với số lượng ít như một số loại cá, rau quả tươi, cà phê, chè, các loại thảm, một số sản phẩm giấy trong nước chưa sản xuất được và một số sản phẩm may mặc Mức cắt giảm thuế cao nhất trong danh mục cắt giảm thuế năm 1998 là 5% và không có mặt hàng nào đước cắt giảm thuế suất xuống 0% Việc cắt giảm thuế quan

Trang 28

này làm cho mức thuế quan trung bình tính theo bình quân gia quyền của Việt Nam giảm xuống còn khoảng 15% so với 19% năm 1995 (IMF còn đưa ra đánh giá thấp hơn là khoảng 10%) Căn cứ vào Lịch trình giảm thuế của mình, trong năm 1998, Việt Nam đã công bố danh mục thuế suất theo quy định CEPT cho tới năm 2006

Cho đến hết năm 1998, số lượng sản phẩm được đưa vào danh mục cắt giảm thuế theo CEPT của Việt Nam là quá ít so với mức của các nước thành viên ASEAN khác đưa ra năm 1994 Lý do là vì ở thời điểm đó, Việt Nam vẫn đang áp dụng danh mục thuế theo hệ 6 chữ số, trong khi các nước khác áp dụng danh mục thuế theo hệ 8 chữ số

Năm 1999, Danh mục hàng hoá của Việt Nam thực hiện CEPT được ban hành kèm theo Nghị định số 14/1999/NĐ-CP ngày 23-3-1999 của Chính phủ Danh mục CEPT năm 1999 gồm 3582 mặt hàng, tăng 1949 mặt hàng

so với Danh mục CEPT năm 1998 Số mặt hàng tăng lên này bao gồm cả các mặt hàng được chuyển vào từ Danh mục loại trừ tạm thời (TEL) theo cam kết của Việt Nam bắt đầu từ năm 1999 và cả những mặt hàng tăng lên

do việc chi tiết hoá nhiều mặt hàng trong biểu thuế nhập khẩu của Việt Nam

Năm 2000, Danh mục hàng hoá thực hiện CEPT được ban hành kèm theo Nghị định số 09/2000 NĐ-CP ngày 21-3-2000 Danh mục hàng hoá này gồm 4233 mặt hàng, tăng 642 mặt hàng so với Danh mục năm 1999 Như vậy, danh mục thuế CEPT năm 2000 chiếm khoảng 67% trong tổng số 6332 mặt hàng trong biểu thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN)

Năm 2001, Danh mục hàng hoá thực hiện CEPT được ban hành kèm theo Nghị định số 28/NĐ-CP, bao gồm 4984 mặt hàng, chiếm trên 80% trong tổng số trên 6200 mặt hàng trong biểu thuế nhập khẩu ưu đãi

Đến hết năm 2002, Việt Nam đã đưa 5505 dòng thuế trên tổng số

6391 dòng thuế của biểu thuế nhập khẩu ưu đãi vào Danh mục cắt giảm,

Trang 29

tương đương khoảng 86% tổng số dòng thuế Theo Ban thư ký ASEAN, đây

là tỷ lệ cao nhất so với các thành viên mới khác của ASEAN

Cũng căn cứ vào số liệu do Ban thư ký ASEAN cung cấp, trong năm

2002, mức thuế quan bình quân thực hiện CEPT của Việt Nam đạt 2,7% từ mức 3,9% năm 1999 Đây là một sự cắt giảm đáng kể So với mức thuế quan bình quân tính gia quyền theo kim ngạch thương mại cho tất cả các dòng thuế (kể cả dòng có thuế suất bằng 0) là trên 11% thì chúng ta đã thực hiện thuế theo CEPT chỉ thấp bằng của mức thuế suất bình quân hiện hành

áp dụng chung cho các nước có quan hệ thương mại với Việt Nam

Bắt đầu từ 1/7/2003,Việt Nam đã chuyển 775 mặt hàng cuối cùng trong danh mục loại trừ tạm thời của năm 2002 sang danh mục cắt giảm thuế ngay Đây là đợt cắt giảm thuế mạnh mẽ nhất từ trước đến nay Thuế suất thuế nhập khẩu của các mặt hàng này phổ biến từ mức 40-50%, thậm chí có mặt hàng là 100%, giảm xuống chỉ còn tối đa 20% Điều đặc biệt là tiến độ giảm thuế sẽ rất nhanh, để đến 1/1/2006 tất cả các dòng thuế trong danh mục này chỉ còn ở mức 0-5% Những mặt hàng này chủ yếu bao gồm giấy, xi măng sắt thép, gạch ốp lát, đồ điện tử và điện lạnh, quạt điện, vải, thực phẩm chế biến như sữa, dầu thực vật, rau quả chế biến…

3 Về thực hiện cắt giảm hàng rào phi quan thuế

Dỡ bỏ các hạn chế về số lượng và các rào cản phi thuế quan khác là một yêu cầu của AFTA đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện sau khi thực hiện các nghĩa vụ giảm thuế của mình

Từ khi gia nhập ASEAN, nhìn chung Việt Nam đã có nhiều cố gắng trong việc gỡ bỏ các hàng rào phi quan thuế mà chủ yếu là giấy phép và hạn ngạch Nếu như trước đây, các doanh nghiệp muốn xuất nhập khẩu hàng hoá phải hội tụ một số điều kiện nhất định, đồng thời phải xin giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu của Bộ thương mại thì từ khi có nghị định 57-1998/ NĐ-CP ngày 31-7-1998 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động xuất khẩu,

Trang 30

nhập khẩu, gia công và đại lý mua bán hàng hoá với nước ngoài, tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế thành lập theo quy định của pháp luật đều được phép xuất nhập khẩu hàng hoá theo ngành nghề đã đăng ký trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Đây là một bước tiến lớn, góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy tiến trình hội nhập với khu vực và thế giới Ngoài ra, nếu như năm 1996 có 15 danh mục hàng hoá xuất nhập khẩu phải có giấy phép hoặc hạn ngạch, năm 1997 có 2 danh mục hàng hoá quản lý bằng hạn ngạch, 7 danh mục hàng hoá xuất nhập khẩu theo quản lý chuyên ngành, 2 danh mục hàng hóa có liên quan đến cân đối lớn của nền kinh tế quốc dân thì đến năm 2000, chỉ còn 9 danh mục hàng hoá nhập khẩu phải có giấy phép của

Bộ Thương mại, đến năm 2002 chỉ còn 4 nhóm mặt hàng có hạn chế định lượng nhập khẩu (quota, hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu) là xăng dầu, đường tinh luyện, ô tô và xe máy cùng linh kiện phụ tùng Sang năm 2003, cùng với việc cắt giảm thế quan rộng rãi cho 775 mặt hàng, quyết định về giấy phép nhập khẩu chỉ còn áp dụng đối với mặt hàng đường ăn và một số mặt hàng thuộc diện quản lý của Bộ chuyên ngành

4 Về hoạt động hợp tác Hải quan trong AFTA

Có thể nói Việt Nam tham gia rất tích cực vào quá trình hợp tác hải quan trong ASEAN Ngay từ khi còn là quan sát viên, vào tháng 1-1995, hải quan Việt Nam đã tham gia vào hội nghị Tổng cục trưởng hải quan ASEAN lần thứ nhất tổ chức tại Bali (Indonesia); và chỉ bốn tháng sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên ASEAN, hải quan Việt Nam đã đăng cai và tổ chức thành công hội nghị Tổng cục trưởng hải quan ASEAN lần thứ 3 tổ chức tại Hà Nội Tháng 3 năm 1997, Hải quan Việt Nam ký kết Hiệp định hải quan ASEAN Cho đến nay, chúng ta đã tham gia vào hầu hết các định chế hợp tác hải quan của ASEAN, tích cực tham gia các kỳ họp chuyên môn, kỹ thuật của ASEAN cũng như các hội thảo chuyên ngành

Trang 31

được tổ chức trong khuôn khổ ASEAN, đóng góp phần mình vào việc phát triển quan hệ hợp tác hải quan nói riêng và hợp tác kinh tế nói chung

Việt Nam cũng đã rất tích cực trong việc thực hiện các cam kết hợp tác hải quan ASEAN trên cơ sở Hiệp định hải quan ASEAN Ba nội dung chính của hợp tác hải quan ASEAN là hài hoà và thống nhất danh mục biểu thuế, hài hoà và tiến tới thống nhất thủ tục hải quan, thống nhất phương pháp xác định trị giá hải quan Trên cả ba lĩnh vực này, Việt Nam hiện đang tích cực tham gia cùng các nước ASEAN tìm các biện pháp để thực hiện các cam kết trên cơ sở cùng có lợi

Về thủ tục hải quan: Hải quan Việt Nam, trong khuôn khổ chương

trình cải cách hành chính của Chính phủ Việt Nam đã và đang rà soát lại các quy trình nghiệp vụ để cải tiến cơ cấu tổ chức cũng như quy trình thủ tục hải quan nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các hoạt động xuất, nhập khẩu và xuất, nhập cảnh Nhiều quy chế mới đã được đưa vào thực hiện như việc quy định Hành lang xanh cho các hàng hoá xuất nhập khẩu với các nước ASEAN, quy định hệ thống cửa xanh đối với hàng hoá xuất nhập cảnh, công khai hóa các quy định về hải quan đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu cũng như đối với hành lý của hành khách xuất, nhập cảnh, thực hiện thủ tục hải quan một cửa và giải quyết nhanh

Sau hội nghị lần thứ 3 Tổng cục trưởng hải quan các nước ASEAN được

tổ chức tại Hà Nội vào tháng 11/1995, hải quan Việt Nam đã xây dựng bản quy định về Hành lang xanh và gửi cho ban thư ký ASEAN kịp phổ biến rộng rãi

và cam kết thực hiện thử từ 1/1/1996 Chính phủ Việt Nam đã có nghị định 91/CP ngày 18/12/1995 về việc ban hành danh mục hàng hoá theo CEPT Bộ Tài chính có thông tư số 16/TC-TCT ngày 5/3/1996 hướng dẫn chi tiết áp dụng thuế nhập khẩu theo tinh thần Nghị định 91/CP Bộ thương mại đã phát hành giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá mẫu D Tổng cục hải quan quy định Hành lang xanh của Việt Nam được tổ chức thành một bộ phận tiếp nhận, làm thủ tục

Trang 32

dành riêng cho hàng hoá tại các cửa khẩu và cho hành khách tại các sân bay quốc tế Để phân biệt, trên các tờ khai đều có ký hiệu "hàng CEPT" Tổng cục hải quan đã có công văn số 1884/TCHQ-GSQ2 ngày 26/6/1996 và công văn số 2599/TCHQ-KTTT ngày 13/8/1996 hướng dẫn cho các đơn vị hải quan địa phương nhằm thực hiện tốt cam kết của Việt Nam với các nước thành viên khác về áp dụng Hành lang xanh… Năm 1997, hải quan Việt Nam tham gia công ước KYOTO và hiện nay đang chuẩn bị tham gia công ước KYOTO sửa đổi

Bên cạnh đó, quy trình thủ tục hải quan đã được đơn giản hóa, đặc biệt từ khi Luật Hải quan có hiệu lực vào ngày 1/01/2002 Từ chỗ hàng hóa xuất nhập khẩu phải kiểm tra 100%, đến nay có thể được áp dụng một trong

3 hình thức kiểm tra tùy thuộc vào tính chất hàng hóa xuất nhập khẩu và mức độ chấp hành của doanh nghiệp Công tác kiểm tra hàng hóa chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm Các loại giấy tờ, thủ tục, quy trình đều được đổi mới, đơn giản hơn so với trước và phù hợp các nguyên tắc của Công ước Kyoto về đơn giản hóa hài hòa thủ tục hải quan

Đầu 2003, nhằm đơn giản hóa thủ tục hải quan hơn nữa, ngành Hải quan đã áp dụng thí điểm quy trình thủ tục hải quan điện tử tại 4 cục hải quan: TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đồng Nai, Bình Dương Trong kế hoạch phát triển đến năm 2005, ngành Hải quan Việt Nam sẽ tiến hành áp dụng mô hình này trong lĩnh vực xuất nhập khẩu nhằm tăng tính hiệu quả về tất cả các hoạt động của hải quan

Về phương pháp xác định trị giá hải quan: Hiện nay có 3 phương

pháp tính giá hải quan được các nước ASEAN áp dụng Một là phương pháp định giá quốc gia có nguyên tắc xác định trị giá tuỳ theo quy định riêng của mỗi nước Hai là phương pháp xác định trị giá theo định nghĩa Brucsel (BDV), theo đó giá trị tính thuế được xác định theo giá thông thường có thể mua bán vào thời điểm nhập khẩu Ba là phương pháp xác

Trang 33

định trị giá hải quan theo Hiệp định về thực hiện điều 7 Hiệp định chung

về thuế quan và thương mại (gọi tắt là Hiệp định GATT) Xác định trị giá hải quan theo GATT hiện nay là phương pháp tiến bộ nhất, được dựa trên trị giá giao dịch giữa người mua và người bán, không sử dụng bảng giá tối thiểu và trị giá áp đặt, đồng thời cơ quan hải quan có thể tiến hành kiểm tra để đảm bảo trị giá giao dịch là chính xác ở Việt Nam, hiện đang

áp dụng phương pháp định giá quốc gia, trong đó ngoài những nhóm mặt hàng Nhà nước quản lý giá tính thuế phải áp theo Bảng giá tối thiểu của

Bộ Tài chính, những mặt hàng đủ điều kiện theo quy định thì được tính thuế theo giá hợp đồng Tuy nhiên, nếu giá hợp đồng quá thấp so với giá mua bán thực tế tối thiểu tại cửa khẩu; có phương thức nhập khẩu khác hoặc không đủ điều kiện tính thuế theo giá hợp đồng thì được tính dựa trên Bảng giá tối thiểu của Bộ Tài chính Hải quan Việt Nam đã bắt đầu thực hiện quy định mới về quản lý giá tính thuế từ tháng 7 năm 2003 và chuẩn bị các điều kiện tính thuế nhập khẩu theo GATT

Về danh mục biểu thuế: Việc thống nhất Danh mục phân loại hàng

hoá xuất nhập khẩu năm 1992 của Việt Nam (hệ 6 chữ số) với biểu 8 chữ

số được bắt đầu từ năm 1995 và được thực hiện vào năm 1996 Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khác biệt lớn giữa hệ thống phân loại thuế này của Việt Nam và Biểu thuế quan điều hoà ASEAN 8 chữ số Điều này là do việc phân loại một số mặt hàng của Việt Nam dựa trên việc sử dụng chứ không phải kiểu mặt hàng

Ngày 11/12/1998, Bộ Tài chính đã ban hành Biểu thuế nhập khẩu

ưu đãi kèm theo Quyết định số 1803/1998/QĐ-BTC với trên 6300 dòng thuế (so với trên 3200 dòng thuế của biểu thuế cũ), mã và mô tả hàng hóa theo HS quốc tế 96 và phù hợp ở cấp độ 6 chữ số Về tên hàng hóa và cấu trúc của Danh mục biểu thuế này vẫn có một số tồn tại như chưa hoàn toàn tuân thủ Danh mục hài hòa mô tả và các chú giải về phân loại hàng

Trang 34

hóa của Tổ chức Hải quan thế giới (HS 2K) và Danh mục Biểu thuế hài hòa ASEAN (AHTN) trong khi thời điểm bắt buộc phải thực hiện các danh mục này theo cam kết đã đến Về mức thuế nhập khẩu ban hành của một số mặt hàng cũng còn bất hợp lý Để khắc phục tình trạng trên, căn

cứ khung thuế suất thuế nhập khẩu mới được Uỷ ban Quốc hội ban hành kèm theo Nghị quyết số 399/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 19/6/2003 (Danh mục này được xây dựng dựa trên AHTN 2002), Bộ Tài chính đã ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi mới với trên 10.000 dòng thuế Biểu thuế này có hiệu lực thi hành và áp dụng cho tờ khai hàng nhập khẩu nộp cho cơ quan hải quan bắt đầu từ ngày 1/9/2003 So với biểu thuế cũ, biểu thuế này có sự sửa đổi lớn về danh mục Theo đó, biểu thuế mới đã đảm bảo thống nhất và phù hợp với Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam, HS2K, AHTN 2002 Do vậy, việc xây dựng và thực hiện biểu thuế mới chắc chắn sẽ có những thuận lợi hơn trước

Trang 35

CHƯƠNG II ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI TRONG ASEAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP

NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

I TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRƯỚC KHI GIA NHẬP ASEAN

Hai năm sau ngày thống nhất đất nước, ngày 18/4/1977, Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành “Điều lệ về đầu tư nước ngoài ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Đây là văn bản đầu tiên của Nhà nước ta về đầu tư trực tiếp nước ngoài Văn bản này đánh dấu bước chuyển mới trong quan điểm chính của Việt Nam đối với tư bản nước ngoài: nền kinh tế Việt Nam chấp nhận thêm một loại hình mới - các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Với mục đích “để phục vụ tốt công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam”, trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền

và hai bên cùng có lợi, “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoan nghênh việc đầu tư của nước ngoài ở Việt Nam” Tuy nhiên, công việc triển khai bản điều lệ này tiến hành chưa được bao lâu thì đất nước lại phải đương đầu với chiến tranh biên giới nên chủ trương này đã không có điều kiện để thực hiện

Sau 10 năm hoạt động đầu tư nước ngoài phải tạm dừng lại, trong điều kiện đất nước đang thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, tháng 12 năm 1987, Quốc hội Việt Nam đã thông qua “Luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam” Có thể nói rằng, Luật đầu tư nước ngoài (1987) đã tiến một bước rất dài về mọi phương diện so với Điều lệ về đầu tư nước ngoài năm 1977, được các nhà kinh doanh trên thế giới đón nhận và đánh giá là một bộ luật thoáng, có sức hấp dẫn Do đó, kể từ khi Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có hiệu lực, hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đặc biệt là hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng phát triển mạnh mẽ và chứng tỏ vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân

Trang 36

Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - ASEAN vào ngày 28/7/1995 và tham gia vào Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - AFTA là một mốc quan trọng trong lịch sử phát triển kinh

tế đối ngoại của Việt Nam đồng thời có tầm ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Để đánh giá ảnh hưởng của quá trình tự do hoá thương mại trong Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - AFTA đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, chúng ta sẽ xem xét tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam qua 2 giai đoạn: trước khi Việt Nam tham gia AFTA và từ khi Việt Nam tham gia AFTA đến nay cùng với việc phân tích, dự đoán xu hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian tới khi Việt Nam hoàn thành AFTA

1 Tình hình cấp giấy phép đầu tư

1.1 Quy mô và nhịp độ thu hút vốn đầu tư

Trong giai đoạn 8 năm đầu thực hiện Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1988-1995), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam tăng lên mạnh mẽ qua các năm Bảng I.1 sau đây thể hiện số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài và số vốn đăng ký của từng năm cụ thể như sau:

Bảng II.1: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thời kỳ 1988-1995

Trang 37

Năm đầu tiên thực hiện Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1988)

đã có 37 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép với tổng số vốn đầu tư 366 triệu USD Và cho đến hết năm 1995, đã có 1617 dự án được cấp giấy phép đầu tư với tổng số vốn đăng ký là 18.206 triệu USD Riêng năm 1995 có 408 dự án được cấp phép với tổng số vốn đăng ký là 6.616 triệu USD, gấp 11 lần năm 1988 về số dự án và 18 lần về vốn đăng ký Trong quá trình thực hiện, đã có 263 dự án được bổ xung với tổng số vốn tăng thêm 2.030 triệu USD vốn đầu tư, nâng tổng số vốn đầu tư được cấp phép lên 20.036 triệu USD

Như vậy, trong giai đoạn này, bình quân mỗi năm chúng ta đã thu hút được 2275,8 triệu USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Nếu so sánh với một số nước trong khu vực có các điều kiện tương tự Việt Nam như Malaixia , thời kỳ 1970-1980 trung bình mỗi năm thu hút khoảng 400 triệu USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và thời kỳ 1981-1987 là 840 triệu USD mỗi năm; Inđônêxia, từ năm 1967 (năm đầu tiên thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) đến năm 1990, tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt được

là 29,5 tỷ đô la Mỹ, trung bình mỗi năm thu hút được 1.229 triệu USD thì mức độ thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam trong thời kỳ đầu như vậy là tương đối cao

Nhịp độ thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng nhanh Năm

1988, số lượng vốn đầu tư đăng ký mới chỉ đạt 366 triệu USD, năm 1995 tăng lên 7863 triệu USD (tính cả vốn bổ xung), mức tăng bình quân hàng năm đạt xấp xỉ 50% Trong đó, các dự án có quy mô nhỏ (dưới 5 triệu USD) chiếm một tỷ lệ lớn về số dự án (77%) Bên cạnh đó, một số dự án có quy

mô lớn đã được cấp giấy phép đầu tư Các dự án này chủ yếu thuộc các lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí, xây dựng cơ sở hạ tầng, lắp ráp ô tô, khách sạn, du lịch và bưu chính viễn thông nhằm tạo nên sức bật mạnh mẽ cho một số lĩnh vực của nền kinh tế

Trang 38

Đồng thời giai đoạn này có 5 khu chế xuất (KCX) và nhiều khu công nghiệp (KCN) do các chủ đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép xây dựng

Đó là các KCX Tân Thuận - thành phố Hồ Chí Minh với tổng vốn đầu tư 98 triệu USD, KCX Sài Gòn - Linh Trung (14 triệu USD), KCX Hải Phòng (150 triệu USD, nhưng phải giải thể vì bên đối tác nước ngoài không có khả năng cung cấp tài chính), KCX tại An Đồn (24 triệu USD), KCX Nội Bài -

Hà Nội (30 triệu USD) và các KCN Sài Đồng - Hà Nội, KCN Nomura - Hải Phòng (120,5 triệu USD), các KCN Biên Hoà1, Biên Hoà2, KCN Long Bình

và KCN Loteco, KCN Việt Nam - Singapo ở Sông Bé

Nhìn chung, trong giai đoạn này, phần lớn các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam là các dự án có quy mô nhỏ, số lượng các dự án quy mô lớn chưa nhiều, chưa đáp ứng được các nhu cầu phát triển của một

số ngành kinh tế quan trọng Nguyên nhân của tình trạng này là do môi trường đầu tư còn mới mẻ, hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài mang tính chất thăm dò từng bước, thận trọng tìm kiếm những cơ hội kinh doanh ít rủi

ro và nhanh thu hồi vốn

1.2 Cơ cấu đầu tư

1.2.1 Cơ cấu đầu tư theo ngành kinh tế

Trong những năm đầu, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tập trung chủ yếu vào các ngành: dầu khí - 32,2% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, khách sạn - 20,6% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Đến năm 1992, tỷ trọng đầu tư vào ngành công nghiệp tăng lên đáng kể, đạt khoảng 38% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và đến năm 1995 tăng lên 43% tổng vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài Tỷ trọng đầu tư vào ngành nông - lâm nghiệp chỉ đạt mức 6% và đầu tư vào ngành ngư nghiệp chỉ chiếm 1,7% của tổng vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài (năm 1995)

Trang 39

Bảng II.2 Dự án và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo ngành kinh tế thời kỳ 1988-1995

Đơn vị tính vốn đầu tư: triệu USD

Tính đến tháng 8/1993 Tính đến hết 1995

án

Tổng vốn

Tỷ lệ % vốn

*: Phần còn lại là của các xí nghiệp KCX

Nguồn: Báo cáo của Bộ Kế hoạch-Đầu tư về đầu tư trực tiếp nước ngoài ,

năm 1993 và 1995

1.2.2 Cơ cấu đầu tư theo lãnh thổ

Sự phân bổ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo vùng lãnh thổ biến đổi theo hướng ngày càng cân đối Nếu như trong vòng 5 năm đầu tiên (1988-1992), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu chảy vào các tỉnh phia Nam (80%) mà tập trung nhiều nhất vào thành phố Hồ Chí Minh thì từ năm

1993 vốn đầu tư có xu hướng chuyển dịch dần ra các tỉnh phía Bắc Tính đến cuối năm 1995, các tỉnh phía Bắc thu hút được 31% số dự án với 36%

Trang 40

vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và có 51 trong số 53 tỉnh, thành phố đã có

dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trong toàn bộ các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép, 1 bộ phận lớn các dự án tập trung vào các vùng kinh tế trọng điểm 10 địa phương dẫn đầu về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 82,07% về

số dự án và 90% về số vốn đầu tư

Bảng II.3: Mười địa phương dẫn đầu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài (tính đến hết năm 1995)

Tổng số 48 tỉnh, thành phố

Tổng số dự án:1322

Tổng vốn đầu tư: 17003 triệu USD

* Không kể các dự án dầu khí và đầu tư ra nước ngoài

lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng (triệu USD)

Tỷ lệ (%)

Ngày đăng: 22/03/2014, 16:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng II.1: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thời kỳ 1988-1995 - Luận văn " Ảnh hưởng của quá trình tự do hoá thương mại trong AFTA đến hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam " ppt
ng II.1: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thời kỳ 1988-1995 (Trang 36)
Bảng II.2. Dự án và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài  phân theo ngành kinh tế thời kỳ 1988-1995 - Luận văn " Ảnh hưởng của quá trình tự do hoá thương mại trong AFTA đến hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam " ppt
ng II.2. Dự án và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo ngành kinh tế thời kỳ 1988-1995 (Trang 39)
Bảng II.3: Mười địa phương dẫn đầu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước - Luận văn " Ảnh hưởng của quá trình tự do hoá thương mại trong AFTA đến hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam " ppt
ng II.3: Mười địa phương dẫn đầu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước (Trang 40)
Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh - Luận văn " Ảnh hưởng của quá trình tự do hoá thương mại trong AFTA đến hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam " ppt
Hình th ức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh (Trang 43)
Bảng II.5: Tình hình thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài - Luận văn " Ảnh hưởng của quá trình tự do hoá thương mại trong AFTA đến hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam " ppt
ng II.5: Tình hình thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (Trang 44)
Bảng II.6. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thời kỳ 1996 -10/2003. - Luận văn " Ảnh hưởng của quá trình tự do hoá thương mại trong AFTA đến hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam " ppt
ng II.6. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thời kỳ 1996 -10/2003 (Trang 49)
Bảng II.7: Đầu tư của các nước ASEAN vào Việt Nam. - Luận văn " Ảnh hưởng của quá trình tự do hoá thương mại trong AFTA đến hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam " ppt
ng II.7: Đầu tư của các nước ASEAN vào Việt Nam (Trang 49)
Bảng II.8: Dự án và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành kinh tế - Luận văn " Ảnh hưởng của quá trình tự do hoá thương mại trong AFTA đến hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam " ppt
ng II.8: Dự án và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành kinh tế (Trang 52)
Bảng II.11: Đầu tư của các nước ASEAN vào Việt Nam - Luận văn " Ảnh hưởng của quá trình tự do hoá thương mại trong AFTA đến hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam " ppt
ng II.11: Đầu tư của các nước ASEAN vào Việt Nam (Trang 58)
Bảng II.12: Thực hiện vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giai đoạn 1996-2002. - Luận văn " Ảnh hưởng của quá trình tự do hoá thương mại trong AFTA đến hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam " ppt
ng II.12: Thực hiện vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giai đoạn 1996-2002 (Trang 60)
Bảng III.2: Chi phí tiền lương ở một số nước châu Á (thời điểm đầu năm 2002) - Luận văn " Ảnh hưởng của quá trình tự do hoá thương mại trong AFTA đến hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam " ppt
ng III.2: Chi phí tiền lương ở một số nước châu Á (thời điểm đầu năm 2002) (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w