ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT ĐỀ TÀI TÌM HIỂU QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Học phần Pháp luật đất đai và môi trường Giảng viên Ts Lê Kim Nguyệt Hà Nội, tháng.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
ĐỀ TÀI TÌM HIỂU: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Học phần: Pháp luật đất đai và môi trường
Giảng viên: Ts Lê Kim Nguyệt
Hà Nội, tháng 11 năm 2022
Trang 2M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
NỘI DUNG 1
I Sự cần thiết của Luật Bảo Vệ Môi trường 1
II Giai đoạn hình thành và phát triển Luật Bảo Vệ Môi Trường 2
2.1 Trước năm 1986 2
2.1.1 Bối cảnh xã hội 2
2.1.2 Ưu điểm 3
2.1.3 Nhược điểm 3
2.2 Từ năm 1986 đến nay 4
2.2.1 Bối cảnh xã hội 4
2.2.2 Sự hình thành luật Bảo Vệ Môi Trường 5
2.2.3 Tình trạng phát triển của luật môi trường trong giai đoạn từ 1986 đến nay 8
III Kiến nghị, giải pháp 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 3NỘI DUNG
I S c n thi t c a Lu t B o V Môi tr ự cần thiết của Luật Bảo Vệ Môi trường ần thiết của Luật Bảo Vệ Môi trường ết của Luật Bảo Vệ Môi trường ủa Luật Bảo Vệ Môi trường ật Bảo Vệ Môi trường ảo Vệ Môi trường ệ Môi trường ường ng
Kinh tế luôn là động lực phát triển của các quốc gia, các quốc gia sẵn sàngkhai thác hết mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên để làm công cụ công nghiệp hóa, hiệnđại hóa Điều này dẫn đến hậu quả vô cùng to lớn, đối mặt với nguy cơ cạn kiệtnguồn tài nguyên, mất cân bằng sinh thái,
Tình trạng ô nhiễm môi trường cũng đang diễn ra rất phức tạp ở nhiều nước, làvấn đề của toàn thế giới, Việt Nam cũng là một trong số đó, nó làm ảnh hưởng rấtnhiều đến đời sống của nhân dân
Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phầnmôi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật Sự suy thoái môi trườngquá mức dẫn đến chất lượng cuộc sống của người dân bị suy giảm nghiêm trọng Cácyếu tố cơ bản phục vụ cuộc sống như nước, kk, lương thực, thực phẩm, ko đủ đápứng nhu cầu của người dân
Biến đổi khí hậu đang diễn ra nghiêm trọng các hiện tượng như bão, lũ, hạnhán, động đất, diễn biến ngày càng thất thường đã để lại hậu quả nghiêm trọng chomôi trường
Môi trường sống xung quanh cho ta sự sống, là điều kiện để ta tồn tại và pháttriển Có một thực tế đau lòng đang diễn ra là, thế giới càng phát triển, đời sống ngườidân được cải thiện thì cũng đồng nghĩa với việc sức khỏe của người dân đang bị ảnhhưởng rất nhiều do tình trạng môi trường diễn biến xấu kéo dài Nếu không có cácbiện pháp ngăn chặn những tình trạng này, loài người có thể đứng trước nguy cơ diệtvong
1
Trang 4Luật Môi trường ra đời như một biện pháp để giải quyết thách thức đó Chỉpháp luật với tư cách là công cụ điều tiết xã hội mới có có thể buộc các cá nhân, tổchức phải tuân theo.
Như vậy Luật Môi trường ra đời là hệ quả tất yếu trên con đường phát triển bền vững của nhân loại1
II Giai đoạn hình thành và phát triển Luật Bảo Vệ Môi Trường Quá trình phát triển của luật môi trường có thể chia thành 02 giai đoạn cơ bản là trước năm 1986 và từ năm 1986 đến nay
2.1 Trước năm 1986
Pháp luật là công cụ để điều tiết xã hội, chịu sự chi phối của nhu cầu xã hội Vìvậy khi xã hội và con người chưa có ý thức về môi trường thì luật môi trường có thểnói là lĩnh vực khá mới mẻ
hệ lụy cần giải quyết như các tệ nạn xã hội, tị nạn và chiến tranh nối tiếp chiến tranhkhi ở biên giới xảy ra những cuộc chiến tranh như ở Tây Nam và phía Bắc…
Không chỉ gặp khó khăn về chính trị, mà nền kinh tế nước ta cũng gặp nhữngkhủng hoảng trầm trọng Sự cô lập về ngoại giao, sự cấm vận của Mỹ và các nướcphương Tây, cùng với khoản chi phí lớn cho quân sự và quốc phòng để đảm bảo sựhòa bình ở hai đầu biên giới, đã khiến nền kinh tế Việt Nam chồng chất khó khăn
1 Giáo trình Pháp luật về Bảo vệ môi trường ở Việt Nam / Doãn Hồng Nhung (ch.b), Nguyễn Thị Bình, Phạm Quang Phương, Hoàng Thị Ngọc Minh : Đại học Quốc gia Hà Nội, 2018 (tr43,44)
2
Trang 5Chính bối cảnh xã hội như vậy, Đảng và Nhà nước buộc phải đưa ra những đường lối,chính sách chú trọng vào việc thống nhất đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh,phát triển kinh tế - xã hội và đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng Mặt khác, vấn đề vềmôi trường chưa thể hiện ở mức báo động bởi lẽ kinh tế khủng hoảng dẫn đến nhữngkhí thải do phương tiện đi lại hay các nhà máy, xí nghiệp chưa phát triển, Bởi vậy
mà, việc bảo vệ môi trường còn chưa được quan tâm và chưa được chú trọng
Thời kỳ trước năm 1986, hệ thống pháp luật của nước ta vẫn còn non trẻ Vìvậy với một vấn đề mới như môi trường thì thiếu vắng là điều tất yếu
bảo vệ rừng Đây là văn bản pháp luật đầu tiên nhắc đến vấn đề môi trường Hay việc
bảo vệ môi trường được coi là đòi hỏi của hiến định khi hiến pháp 1980 quy định tại
điều 36: “Các cơ quan Nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và
công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện môi trường sống.”
Còn có những văn bản khác như: Nghị quyết 36/CP ngày 11/03/1961 của Hộiđồng chính phủ về việc quản lý, bảo vệ tài nguyên dưới lòng đất; Chỉ thị số 127/CPngày 24/05/1971 của Hội đồng Chính phủ về công tác điều tra cơ bản tài nguyên vàđiều kiện thiên nhiên, Chỉ thị số 07/TT ngày 16/01/1964 về thu tiền bán khoán lâmsản và thu tiền nuôi rừng, Nghị quyết số 183/CP ngày 25/09/1966 về công tác trồngcây gây rừng, Pháp lệnh về bảo vệ rừng ban hành ngày 11/09/1972
Các văn bản cũng như nghị định đã phần nào thể hiện sự quan tâm của nhà
nước ta tới vấn đề môi trường
3
Trang 62.1.3 Nhược điểm
Các quy định của pháp luật chỉ liên quan đến một số khía cạnh của bảo vệ môitrường xuất phát từ yêu cầu quản lý nhà nước Các quy định chưa nhằm bảo vệ yếu tốmôi trường
Việc các quy định về môi trường hoặc liên quan đến môi trường chủ yếu là đểđiều chỉnh các quan hệ xã hội khác nhau với mục tiêu là đảm bảo sự quản lí chặt chẽcủa nhà nước
Nội dung các quy định của pháp luật môi trường ờ giai đoạn này chưa phảnánh và đáp ứng được những đòi hỏi khách quan hợp tác quốc tế trong bảo vệ môitrường Sự tương hợp của các quy định pháp luật mà Nhà nước ta đã ban hành với cáccông ước quốc tế còn hạn chế2
2.2 T năm 1986 đ n nay ừ năm 1986 đến nay ết của Luật Bảo Vệ Môi trường 2.2.1 Bối cảnh xã hội
Cuối những năm 70 và đầu những năm 80 đất nước gặp nhiều khó khăn và lâmvào khủng hoảng, nhất là về kinh tế – xã hội Để đưa đất nước vượt qua khủng hoảng,Đảng và Nhà nước phải tiến hành đổi mới Việc xoá bỏ cơ chế tập trung bao cấp vàchuyển sang cơ chế kinh tế thị trường có định hướng đã cải thiện nền kinh tế, dẫn đếnxuất hiện nhiều ngành mới, cần khai thác nhiều tài nguyên thiên nhiên
Và vào năm 1986, Đảng Cộng Sản Việt Nam (Đại Hội lần thứ VI) chính thứcthực hiện đổi mới, bắt đầu thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Chính vì lí do đó đã gây ra những ảnh hưởng sâu sắc đến môi trường, nếukhong có các biện pháp ngăn chặn phòng ngừa thì đất nước sẽ dần bị ô nhiễm nghiêmtrọng Một số nguyên nhân có thể kê đến như chạy theo lợi nhuận, làm giàu bằng mọigiá nên các nguồn tài nguyên của đất nước bị khai thác bừa bãi, ví dụ như khai thác
gỗ quý, khai thác trầm
2 Giáo trình Luật Môi trường,Lê Hồng Hạnh (ch.b), Vũ Thu Hạnh, Nxb Công an nhân dân Hà Nội, 2016
4
Trang 7Quá trình đô thị hóa dưới tác động của kinh tế thị trường diễn ra khá nhanhchóng cũng đã làm gia tăng sức ép môi trường ở các thành phố và thị xã, nhất là ở cáctrung tâm kinh tế lớn của đất nước, số lượng máy móc thiết bị, xe cộ tăng lên gấpnhiều lần2
Sức ép của vấn đề ô nhiễm môi trường tăng lên cùng với việc sử dụng rộng rãicác hóa chất trừ sâu bệnh, các chất kích thích tăng trọng
Hiệu ứng nhà kính gây ra các biến đổi về khí hậu, gây ra thiên tai bão lũ vàdịch bệnh Vấn đề thiên tai phải gánh chịu nhiều nhất đó Duyên hải miền Trung vớicác vụ sạt lở đất nghiêm trọng Trong những năm vừa rồi toàn thế giới đã phải trảiqua đại dịch bệnh Covid – 19, gây ra nhiều tổn thất lớn về vật chất lẫn tinh thần
2.2.2 Sự hình thành luật Bảo Vệ Môi Trường
Luật môi trường được coi là một lĩnh vực quan trọng trong hệ thống pháp luậtViệt Nam Đặc biệt hai mốc thời gian tạo lập nên bộ luật Bảo Vệ Môi Trường: hiếnpháp năm 1992 đã đưa việc bảo vệ môi trường thành nghĩa vụ hiến định và sự ra đờiluật BVMT 1993
Mốc thời gian hình thành và sửa đổi luật:
Luật BVMT năm 1993: Ngày 27 tháng 12 năm 1993 thông qua luật BVMT Luật BVMT 2005: Luật BVMT số 52/2005/QH11 đã được Quốc hội thông quangày 29 tháng 11 năm 2005 Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm
2006 Luật này thay thế Luật bảo vệ môi trường năm 1993 So với luật 1993, luật BVMT 2005 tăng 8 chương và 79 Điều Bộ luật thời kì này bộc lộ một số điểm bấtcập hạn chế Việc хác định ranh giới giữa đánh giá tác động môi trường ᴠà cam kếtác định ranh giới giữa đánh giá tác động môi trường ᴠà cam kếtBVMT; quу định ᴠai trò chủ dự án tự ᴠà tổ chức dịch ᴠụ tư ᴠấn lập báo cáo đánh giátác động môi trường, còn bất cập, уêu cầu ᴠề trình độ, năng lực của cá nhân, tổ chứcnhằm đảm bảo để thực hiện dịch ᴠụ lập báo cáo đánh giá tác động môi trường trungthực, chưa đáp ứng được уêu cầu, Hay Luật Bảo ᴠệ môi trường năm 2005 đã có quу
5
Trang 8định riêng một chương ᴠới bốn mục ᴠề quản lý chất thải và đã đạt được những kếtquả nhất định, nhưng thực tế triển khai ᴠẫn gặp nhiều khó khăn3
Luật BVMT 2014: Ngày 23/6/2014 Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13
đã được Quốc hội thông qua, thay thế cho Luật Bảo vệ môi trường 2005 Luật này cóhiệu lực từ ngày 01/01/2015 (NĐ 19/2015/NĐ-CP chi tiết Luật 55/2014/QH13 vềbảo vệ môi trường)
So với luật 2005, Luật 2014 tăng 5 chương và 35 Điều Nhiều chương của Luật BVMT 2014 được giữ nguyên nội dung các điều so với Luật BVMT 2005 NhiềuChương của Luật BVMT 2014 kế thừa các quy định của Luật BVMT 2005, có bổsung một số nội dung, như: Chương II Quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môitrường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường (từĐiều 8 đến Điều 34), bổ sung nội dung về Quy hoạch bảo vệ môi trường và Kế hoạchbảo vệ môi trường, hay Chương V: Bảo vệ môi trường biển và hải đảo (từ Điều 49đến Điều 51), bổ sung nội dung về bảo vệ môi trường hải đảo Nhiều Chương trongLuật BVMT 2014 được tách ra từ các Chương của Luật BVMT 2005 như: ChươngXIII: Thông tin môi trường, chỉ thị môi trường, thống kê môi trường và báo cáo môitrường (từ Điều 128 đến Điều 138), được tách ra từ Chương X Luật BVMT 2005 Vàđặc biệt là Chương IV: Ứng phó biến đổi khí hậu (từ Điều 39 đến Điều 48) là chươngmới hoàn toàn của Luật BVMT 20144
Luật BVMT 2020: Luật BVMT số 72/2020/QH14 đã được Quốc hội thông quangày 17 tháng 11 năm 2020 Luật có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2022 So với luật
2014, luật BVMT 2020 đã thêm mới gần 70 Điều và bãi bỏ gần 50 Điều Các điềuluật đã hầu hết loại bỏ được bất cập và cụ thể quan tâm hơn so với luật 2014
Các văn bản pháp luật:
3 So sánh luật Bảo vệ môi trường 1993 và 2005 ( https://mangago.vn/so - sanh - luat - bao - ve - moi - truong - 1993 - va - 2005/ )
4 Một số điểm mới của luật Bảo vệ môi trường 2014 ( vemoi-truong-2014/)
https://iluatsu.com/moi-truong/mot-so-diem-moi-cua-luat-bao-6
Trang 9Kể từ năm 1986, đặc biệt là những năm đầu của thập kỷ 90, bảo vệmôi trường
đã trở thành nguyên tắc hiến định Luật môi trường được coi là một lĩnh vực quantrọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Ngay từ năm 1986, Chiến lược bảo tồn quốc gia được soạn thảo và 5 năm sau,vào năm 1991 Việt Nam đã thông qua Kế hoạch Hành động Quốc gia về Môi trường
và Phát triển bền vững (NPESD), ngay trước khi Hội nghị Rio diễn ra Bốn năm tiếptheo, hai kế hoạch được soạn thảo, đó là Kế hoạch Hành động Môi trường Quốc gia,đón trước các yêu cầu bắt buộc của Ngân hàng Thế giới (WB); và Kế hoạch Hànhđộng Đa dạng sinh học (BAP) sau khi Việt Nam phê chuẩn Công ước Đa dạng Sinhhọc, năm 19932
Trong những năm qua, Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quyphạm pháp luật về bảo vệ môi trường
Luật Bảo vệ môi trường có hiệu lực từ ngày 10/1/1994 Có thể nói đây là thờiđiểm mà công tác Bảo vệ môi trường của Việt Nam đã chuyển sang một giai đoạnmới, phát triển cả về chất và lượng Lần đầu tiên, các khái niệm cơ bản có liên quantới bảo vệ môi trường đã được định nghĩa, được xác định một cách chuẩn xác làm cơ
sở cho việc vận dụng vào hoạt động quản lý môi trường; các nghĩa vụ, quyền lợi vàtrách nhiệm bảo vệ môi trường của Nhà nước, cá nhân và các tổ chức được ràng buộcbằng pháp lý
Cùng với Luật bảo vệ môi trường, và một loạt các văn bản pháp luật quan trọng
đã được ban hành từ trước 1990 như: Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân (1989), Pháplệnh về thu thuế tài nguyên (1989), từ năm 1986 đến nay Nhà nước Việt Nam đãban hành thêm nhiều bộ luật, pháp lệnh khác có liên quan đến công tác Bảo vệ môitrường, đó là:
Hiến pháp sửa đổi (2013)
Bộ Luật Hình sự sửa đổi (2015) => Chương XIX quy định hình thức xử phạtđối với các tội phạm về Môi trường
7
Trang 10Luật Khoa học và Công nghệ
Luật Bảo vệ và phát triển rừng (1991)
Luật Đất đai (2013)
Để thúc đẩy quá trình pháp chế hoá công tác bảo vệ môi trường và phát triển
bền vững, sau Luật Bảo vệ môi trường, hàng loạt các Nghịđịnh, Chỉ thị, Thông tư cấp
Bộ và liên Bộ, và các Quyết định liên quan, đã được ban hành, tạo thành một hệthống các quy định dướiluật, phục vụ việc thực hiện Luật Bảo vệ môi trường
Ngoài ra còn có:
Nghị Định số 08/2022/NĐ-CP Quy định chi tiết luật Bảo Vệ Môi Trường
Nghị Định số 45/2022/NĐ-CP Quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vựcbảo vệ môi trường
2.2.3 Tình trạng phát triển của luật môi trường trong giai đoạn từ 1986 đến nay.
Những điểm mới của bộ luật
So với Luật bảo vệ môi trường năm 2014, Luật bảo vệ môi trường năm 2020 cónhững điểm mới đột phá như sau:
Mở rộng phạm vi điều chỉnh, “cộng đồng dân cư’’ được quy định là một chủthể trong công tác bảo vệ môi trường, phát huy vai trò của “cộng đồng dân cư” trong
các hoạt động bảo vệ môi trường tại Khoản 28 Điều 3: “Cộng đồng dân cư là cộng
đồng người sinh sống trên cùng địa bàn thôn, ấp, bản, làng, buôn, bon, phum, sóc, tổdân phố hoặc điểm dân cư tương tự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam”
Hoàn thiện hành lang pháp lý bảo vệ di sản phù hợp với pháp luật quốc tế về di
sản đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế tại Mục 4 Chương II Bảo vệ môi
trường di sản thiên nhiên.
8
Trang 11Kiểm soát chặt chẽ dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường mức độ caoĐiều 28 tiêu chí đánh giá dự án, nâng cao hiệu quả quản lý môi trường của doanhnghiệp
Cắt giảm thủ tục hành chính Theo đánh giá, Luật BVMT 2020 cắt giảm trên 40% thủ tục hành chính, giảm thời gian thực hiện các thủ tục hành chính từ 20-85ngày Cụ thể, có 4 thủ tục hành chính cắt giảm, tích hợp gồm: Thẩm định báo cáo đánhgiá môi trường chiến lược; Cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước; Cấp giấyphép xả nước thải vào công trình thủy lợi; Tích hợp nhiều loại giấy phép về môitrường (Xác nhận hoàn thành công trình BVMT; giấy phép xử lý chất thải nguy hại )vào một loại giấy phép môi trường
Thẩm quyền quản lý nhà nước dựa trên nguyên tắc quản lý tổng hợp, thốngnhất, mọi việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện, phân cấp triệt để cho địaphương ví dụ như Khoản 3 Điều 35: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thẩm định báocáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án đầu tư trên địa bàn, trừ đối tượng quyđịnh tại khoản 1 và khoản 2 Điều này Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm phối hợpvới Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có dự án phải thẩm định báo cáo đánh giá tác độngmôi trường đối với dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư,quyết định đầu tư của mình” Giúp nâng cao năng lực trách nhiệm tại địa phương,giảm gánh nặng cho trung ương
Lần đầu tiên, Luật BVMT ban hành một Mục riêng (Mục 4, chương IV) để quyđịnh về Giấy phép môi trường, được quy định từ Điều 39 đến Điều 49
Đã định chế nội dung sức khỏe môi trường, bổ sung nhiều giải pháp bảo vệ cácthành phần môi trường tại Điều 89 Quản lý và kiểm soát tiếng ồn, độ rung, ánh sáng,bức xạ, mùi khó chịu
Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động BVMT được quy định cụ thể tại Điều 6, đặc biệt là môi trường không khí và môi trường nước Ví dụ một số hành visau: Vận chuyển, chôn, lấp, đổ, thải, đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại không đúng
9