Không chỉ tiếp thu nhiều thành tựu lập pháp của các triều đại trước, của Trung Quốc và các vua triều Lê; bộ Quốc triều hình luật của Lê Thánh Tông còn có được sức sống lâu dài, được nhiề
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN LSNN&PL
Chủ đề: Phân tích những điểm đặc sắc trong bộ Quốc triều hình
luật thời Hậu Lê
Hà Nội - 2022
Trang 2Mục Lục
A PHẦN MỞ ĐẦU
B PHẦN NỘI DUNG 1
Chương I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1
Chương II: PHÂN TÍCH NHỮNG ĐIỂM ĐẶC SẮC TRONG BỘ QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT TRIỀU HẬU LÊ 1
2 2 2 2 2 .1 Những nét đặc sắc về hình thức bố cục: 1
.2 Những nét đặc sắc về nội dung: 2
.2.1 Đặc sắc trong lĩnh vực hình sự 2
.2.2 Đặc sắc trong lĩnh vực Hôn nhân gia đình 3
.2.3 Đặc sắc trong chế định thừa kế (Một trong những chế định thuộc lĩnh vực dân sự) 6
Chương III: NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN NHỮNG ĐIỂM ĐẶC SẮC 7
C PHẦN KẾT BÀI
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU
Bộ Quốc triều hình luật được xem là sản phẩm của một thời kỳ phát triển cực thịnh của chế độ phong kiến tập quyền Việt Nam Bộ luật này sau khi được xây dựng đã trở thành pháp luật của thời Lê sơ và của các triều đại sau cho đến thế
kỷ XVIII Không chỉ tiếp thu nhiều thành tựu lập pháp của các triều đại trước, của Trung Quốc và các vua triều Lê; bộ Quốc triều hình luật của Lê Thánh Tông còn có được sức sống lâu dài, được nhiều nhà đánh giá cao nhờ bộ luật chứa đựng nhiều nội dung tiến bộ, nhân văn sâu sắc, kỹ thuật pháp lý hoàn thiện hơn
so với các bộ luật cùng thời, có những điểm tiếp cận gần với kỹ thuật pháp lý hiện đại Để phân tích những đặc điểm đặc sắc của bộ Quốc triều hình luật, trong khuôn khổ giới hạn của bài tiểu luận, em xin trình bày trên hai vấn đề chính: đặc sắc về hình thức bố cục và đặc sắc về nội dung
Trang 4B PHẦN NỘI DUNG
Chương I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Theo từ điển tiếng Việt, “Đặc sắc” là những nét riêng biệt, nổi bật, tốt hơn mức bình thường Theo từ điển tiếng Hán, “đặc”- sự riêng biệt, khác hẳn mọi thứ, “Sắc”- là cái đẹp Như vậy đặc sắc là những thứ, những nét, điểm tiến bộ riêng biệt không bị trộn lẫn với bất cứ cái khác
Qua đó, có thể thấy, nét đặc sắc trong bộ Quốc triều hình luật là những điểm mới, sáng tạo, nét riêng chưa từng có ở các bộ Luật trước Trong đó chứa đựng nhiều nội dung tiến bộ, nhân văn sâu sắc, kỹ thuật pháp lý hoàn thiện hơn so với các bộ luật cùng thời, có những điểm tiếp cận gần với kỹ thuật pháp lý hiện đại
Chương II: PHÂN TÍCH NHỮNG ĐIỂM ĐẶC SẮC TRONG BỘ QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT TRIỀU HẬU LÊ
Bên cạnh những đặc điểm kế thừa, phát huy các bộ luật phong kiến khác, bộ Quốc triều hình luật cũng mang cho mình những nét đặc sắc, riêng biệt được thể hiện trên hai phương diện chính: Hình thức và Nội dung
2.1 Những nét đặc sắc về hình thức bố cục:
Về hình thức, cấu trúc của bộ QTHL được mô phỏng theo bộ luật nhà Đường -Đường luật sớ nghị Bộ -Đường luật sớ nghị có 500 điều, 12 chương, 30 quyển Trong đó có các chương: Danh lệ, Vệ cấm, Chức chế, Hộ hôn (hộ tịch, hôn nhân
và gia đình), Khai khố, Thiện hưng, Đạo tặc, Đấu tụng, Trá ngụy, Tạp luật, Bộ vong, Đoán ngục
Còn bộ Quốc triều hình luật bao gồm 722 điều, 13 chương, 6 quyển, trong đó: quyển 1 có 2 chương: Danh lệ (49 điều), Cấm vệ (47 điều); quyển 2 có 2 chương: Vi chế (144 điều), Quân chính (43 điều); quyển 3 có 3 chương: Hộ hôn (58 điều), Điền sản (59 điều), Thông gian (10 điều); quyển 4 có 2 chương: Đạo tặc (54 điều), Đấu tụng (50 điều); quyển 5 có 2 chương: Trá ngụy (38 điều), Tạp luật (92 điều); Quyển 6 có 2 chương: Bộ vong (13 điều), Đoán ngục (65 điều)
“Quốc triều hình luật” là một bộ luật có tính chất tổng hợp, phạm vi điều chỉnh rất rộng và được xây dựng dưới dạng hình sự, áp dụng chế tài hình luật Các nhà nghiên cứu thường chia nội dung của nó thành: luật Hình, luật Dân sự, luật Hôn nhân gia đình và luật Tố tụng
Qua đó, có thể thấy bộ QTHL được các nhà làm luật phân loại và sắp xếp các chương, điều theo một trật tự nhất định, rất hợp lý, thuận tiện cho việc tra cứu và thực hiện Ngoài ra, bộ QTHL hơn bộ luật nhà Đường 222 điều (gần gấp rưỡi), trong đó có hàng trăm điều không thấy có trong luật nhà Đường hoặc có nội dung ít khác nhiều so với quy định của luật pháp Trung Hoa Chính vì thế, giáo
sư Insun Yu đã đưa ra lời nhận xét: “Quốc triều hình luật nhà Lê có 249 điều
Trang 5giống bộ luật nhà Đường và 68 điều vay mượn từ luật nhà Minh, nhưng còn 456 điều của Quốc triều hình luật thì không tìm thấy trong hai bộ luật đó của các triều đại phong kiến Trung Hoa”1
Như vậy, so với cơ cấu của Đường luật sớ nghị, nhà làm luật triều Lê đã không nhất thiết theo bố cục của luật Trung Hoa Nó thể hiện một khả năng làm luật rất đặc sắc và chu toàn của các nhà Lê vào thế kỷ XV Sự bao quát tỉ mỉ đó vưà tạo ra cho bộ luật một sự chặt chẽ, vừa tạo cho nó một tầm vóc tương đối toàn diện bởi “toàn bộ kỉ cương phép nước của quốc gia Đại Việt đều được đúc kết lại trong 722 điều cụ thể” 2
2.2 Những nét đặc sắc về nội dung:
2.2.1 Đặc sắc trong lĩnh vực hình sự
Một trong những điểm đặc sắc nhất trong lĩnh vực hình sự là ở cách quy định
về hình phạt trong bộ Quốc triều hình luật Bộ Quốc triều hình luật mặc dù tiếp thu hệ thống hình phạt trong pháp luật phong kiến Trung Quốc nhưng đã có sự chọn lọc, sáng tạo:
a, Những điểm đặc sắc về hệ thống Ngũ hình:
Thứ nhất, đối với hình phạt xuy (đánh roi): Cũng giống như Hoàng Việt luật
lệ, bộ QTHL quy định hình phạt có 5 bậc, từ 10 đến 50 roi, mỗi bậc tăng 10 roi Xuy hình được áp dụng cho cả đàn bà và đàn ông Hình phạt đánh roi không chỉ làm đau về thể xác mà còn làm cho phạm nhân xấu hổ răn chừa
Thứ hai, đối với hình phạt trượng (đánh bằng gậy): Hình phạt này cũng có 5
bậc, từ 60 đến 100 trượng, mỗi bậc tăng thêm 10 trượng Tuy nhiên, nếu như đối tượng áp dụng trong luật nhà Nguyễn là cho cả nam và nữ; thì Quốc triều hình luật chỉ áp dụng cho nam, nữ phạm tội trượng được đổi sang đánh bằng roi
Thứ ba, hình phạt đồ (đây là một trong những hình phạt độc đáo nhất của Bộ QTHL triều Hậu Lê): Nếu như luật Trung Quốc cũng như luật triều Nguyễn chia
hình phạt đồ thành 5 bậc, căn cứ theo thời gian bị giam giữ với bậc 1 (1 năm với
60 trượng), bậc 2 (1,5 năm với 70 tượng), bậc 3 (2 năm với 80 trượng), bậc 4 (2,5 năm với 90 trượng), bậc 5 (3 năm với 100 trượng); thì QTHL triều Hậu Lê hình phạt này chỉ chia thành 3 bậc, căn cứ theo giới tính, tính chất công việc, địa
vị người phạm tội và hình phạt phụ kèm theo đối với nam là đánh trượng nhưng với nữ cũng chỉ đánh bằng roi
Thứ tư, hình phạt lưu: Nếu như trong hệ thống ngũ hình, hình phạt lưu của bộ
HVLL tuân theo cách quy định của pháp luật Trung Quốc, chia thành 3 bậc căn
cứ theo khoảng cách bị lưu đày từ 2000 cho tới 3000 dặm; thì các nhà làm luật triều Hậu Lê đã quy định hình phạt này rất sáng tạo, phù hợp với phạm vi lãnh thổ tương đối hẹp của nước Đại Việt dưới thời kỳ Hậu Lê, vì vậy họ (đã chia quy
1
2
Lê Đức tiết, Lê Thánh Tông, vị vua anh minh, nhà cách mạng vĩ đại, Nxb Tư Pháp 2007
Trích trong “Lê Đức Tiết, Lê Thánh Tông vị vua anh minh , sđd trang 72
Trang 6định hình phạt thành 3 bậc căn cứ theo khu vực bị lưu đày: lưu cận châu (Nghệ An), lưu ngoại châu (Quảng Bình) và lưu viễn châu (Cao Bằng)
Thứ năm, hình phạt tử: Đối với hình phạt này, bộ QTHL quy định có 3 bậc:
giảo, trảm; trảm kiêu và lăng trì; trong khi bộ HVLL quy định chỉ có 2 bậc: giảo (treo cổ) và trảm (chém đầu) Các bậc của hình phạt tử không những tước đoạt quyền sống của tội nhân, mà còn đánh vào đời sống tinh thần và tâm linh của con người ở những mức độ khác nhau, vừa trừng trị tội phạm, vừa răn đe những
kẻ khác3
Như vậy, có thể thấy bộ Quốc triều hình luật triều Hậu Lê có rất nhiều điểm độc đáo khi quy định về ngũ hình Mặc dù cũng giống như bộ Hoàng Việt luật lệ, tiếp thu hệ thống ngũ hình của Trung Quốc, nhưng nếu như các nhà làm luật triều Nguyễn sao chép lại hoàn toàn hệ thống ngũ hình trong pháp luật Trung Quốc thì các nhà làm luật triều Hậu Lê lại rất sáng tạo khi quy định các hình phạt sao cho phù hợp với đặc điểm lãnh thổ, kinh tế, văn hóa, xã hội của nước Đại Việt
b, Những điểm đặc sắc của hệ thống hình phạt ngoài Ngũ hình:
Về cơ bản, các nhà làm luật triều Hậu Lê cũng tiếp thu các hình phạt ngoài Ngũ hình của pháp luật phong kiến Trung Quốc Tuy nhiên, các nhà làm luật triều Hậu Lê bắt đầu dưới thời kỳ Hồng Đức đã đưa vào trong luật một hình phạt rất độc đáo, chỉ riêng có trong bộ Quốc triều hình luật mà không có trong pháp luật của các triều đại khác cũng như chưa hề có hình phạt đấy trong pháp luật phong kiến Trung Hoa, đó là hình phạt biếm tư
Điều 27 quy định, những tội xử biếm thì định ra các bậc: 1 tư, 2 tư, 3 tư, 4
tư, 5 tư Điều 46 quy định tùy từng bậc của tội biếm mà người bị biếm phải chịu đánh xuy hay trượng Như vậy, có thể hiểu biếm là hình phạt hạ cấp đối với các quan chức, qua đó, một cách gián tiếp, quan chức cũng bị hạ thấp tư cách Còn đối với dân đinh và nô tì thì biếm là hình phạt hạ thấp tư cách Điều 22 quy định
cụ thể số tiền chuộc tội biếm khác nhau tùy thuộc phẩm hàm cao hay thấp của các quan chức
Qua đó, có thể thấy biếm tư là một hình phạt độc đáo, được vua Lê Thánh Tông đặt ra và áp dụng rất nhiều trong bộ luật Hồng Đức
2.2.2 Đặc sắc trong lĩnh vực Hôn nhân gia đình
Bên cạnh việc thể chế hóa tư tưởng lễ nghi Nho giáo vào trong pháp luật, thì các nhà làm luật Hồng Đức đã chú trọng thể chế hóa các tập quán của người Việt, phần nào bảo vệ quyền của người con gái, người phụ nữ trong hôn nhân và gia đình Bộ luật Hồng Đức đã có những quy định bảo vệ quyền nhân thân và
Trang 7quyền tài sản của người phụ nữ, người con gái trong gia đình Có thể thấy, tính đặc sắc của QTHL thể hiện rõ trong hai chương “Hộ hôn” và “Điền sản” Qua hai chương này, các nhà làm luật đã coi trọng cá nhân và vai trò của người phụ
nữ - điều mà các bộ luật trước và sau không mấy quan tâm
a, Quyền nhân thân
Thứ nhất, người phụ nữ có quyền xin từ hôn trong một số trường hợp Như
trong điều 322, luật Hồng Đức quy định: “Con gái hứa gả chồng mà chưa thành hôn, nếu người con trai bị ác tật hay phạm tội hoặc phá tán gia sản thì cho phép người con gái được kêu quan trả đồ sính lễ” Trong gia đình người vợ tương đối bình quyền với người chồng và do đó, hôn nhân không được coi là sự chuyển giao hoàn toàn cô gái từ gia đình bên nội của mình sang gia đình chồng như ở Trung Quốc Có thể thấy, đây là quan điểm tiến bộ của nhà lập pháp triều Lê cho phép người con gái có quyền từ hôn ngang bằng như con trai, cấm quyền từ hôn của người con gái, nếu người con gái vi phạm bị phạt 60 trượng
Thứ hai, người phụ nữ có quyền xin ly hôn Song song với quyền ly hôn của
người chồng, Quốc triều hình luật cũng cho phép vợ có quyền yêu cầu li hôn Nếu trường hợp rẫy vợ thể hiện sự bất bình đẳng, sự phân biệt đối xử đối với quyền lợi pháp lí của người vợ thì việc quy định vợ có quyền yêu cầu ly hôn đã thể hiện tính độc lập, vị thế ngang bằng của người vợ trước người chồng, đồng thời cũng là biện pháp bảo vệ quyền lợi pháp lý cho người vợ Đó là điểm tiến bộ của QTHL mà các văn bản cổ luật khác không có Trong điều 308 quy định:
“Nếu người chồng lơ là không làm tròn bổn phận của người chồng đối với vợ trong thời gian 5 tháng (nếu đã có con thì là 1 năm) thì người vợ được quyền li hôn” Tương tự như vậy, bộ luật Gia Long cũng cho phép người vợ được ly hôn khi người chồng bỏ phế họ nhưng thời gian người chồng không đi lại với vợ phải
là 3 năm Như vậy, so với bộ luật nhà Lê, bộ luật nhà Nguyễn là sự thụt lùi trong việc bảo vệ quyền lợi của người vợ Hay trong trường hợp “Chồng mắng nhiếc cha mẹ vợ một cách phi lý, vợ có quyền trình quan xin ly hôn” (Điều 333) Nếu
vợ đem đơn đến công đường thì bộ luật cho phép cưỡng bức ly hôn Nghĩa là, người chồng không làm tròn nghĩa vụ với vợ thì người vợ cũng không buộc phải làm tròn bổn phận của mình Quy định này không có trong bất kỳ bộ luật nào của Trung Quốc cũng như các văn bản cổ luật trước hay sau triều Lê
Thứ ba, chồng không được phép bỏ vợ trong ba trường hợp (Tam bất khứ).
Bên cạnh việc quy định các trường hợp chồng được rẫy vợ khi vợ phạm phải một trong bảy điều thất xuất, pháp luật triều Lê còn quy định ba trường hợp chồng không được bỏ vợ mặc dù vợ phạm phải một trong bảy điều thất xuất, đó là
Trang 8trường hợp “tam bất khứ” là vợ có ba cớ không thể bỏ được: Một là, vợ đã cùng chồng trải qua đại tang tỏ rõ là đại hiếu hạn; hai là, vợ chồng cùng chung hoạn nạn, vượt qua gian khổ, sau giàu có lại muốn bỏ vợ mà người vợ không còn người thân thích để về; ba là, người chồng gia đình được gia đình vợ cưu mang, đến khi đỗ đạt hiển vinh lại muốn bỏ vợ Như vậy, có thể thấy quy định về “tam bất khứ” thể hiện tính nhân đạo, bản chất bác ái của người Việt Nam, đồng thời cũng là sự quan tâm tới số phận của người phụ nữ
b, Quyền tài sản
Theo như các quy định tại các điều 374, 375, 376 tài sản vợ chồng bao gồm tài sản riêng của mỗi người được thừa kế từ gia đình và tài sản chung vợ chồng cùng làm ra trong thời kỳ hôn nhân Tài sản của vợ chồng được hình thành từ 3 nguồn: Tài sản của chồng thừa kế từ gia đình nhà chồng; tài sản của người vợ thừa kế từ gia đình nhà vợ và tài sản do hai vợ chồng tạo dựng trong quá trình hôn nhân (tài sản chung) Khi gia đình tồn tại, tất cả tài sản được coi là của chung Khi ly hôn, tài sản của ai, người đó được nhận riêng và chia đôi tài sản chung của hai người Còn khi chồng chết trước (hay vợ chết trước) tài sản có do
bố mẹ dành cho được chia làm hai phần bằng nhau, một phần dành cho gia đình bên chồng/vợ để lo việc tế lễ (bố mẹ bên chồng/vợ hoặc người thừa tự bên chồng/vợ giữ) Một phần dành cho vợ/chồng để phụng dưỡng một đời (nhưng không có quyền sở hữu) Khi người vợ/chồng chết, thì phần tài sản này giao lại cho gia đình bên chồng
Đối với tài sản do hai người tạo ra cũng chia làm hai phần bằng nhau: một phần dành cho vợ/chồng làm của riêng; một phần dành cho vợ/chồng chia ra như sau: 1/3 dành cho gia đình nhà chồng/vợ để lo việc tế lễ; 2/3 dành cho vợ/chồng
để phụng dưỡng một đời, không được làm của riêng, khi chết giao lại cho gia đình bên chồng “Quốc triều hình luật” không nhắc tới động sản, chỉ đề cập tới điền sản, theo Vũ Văn Mẫu: “Điểm này cũng dễ hiểu vì trong một nền kinh tế trọng nông, các động sản khác chỉ là những vật có ít giá trị” Song trong “Hồng Đức thiện chính thư” (điều 258-259) đã không gạt hẳn các động sản ra ngoài thừa kế "Đến như nhà cửa chỉ có thể chia làm hai, người sống được một phần làm chỗ ở, người chết được một phần làm nơi tế lễ” “Còn đến của nổi, phải để cung vào việc tế tự và theo lệ dân trả nợ miệng, còn thừa bao nhiêu cũng chia cho vợ con” “Của nổi” ở đây được hiểu là vàng, bạc, lụa, vải, thóc lúa, giường chiếu, đồ sứ, mâm thau Như vậy, pháp luật đã ghi nhận một cách bình đẳng sự đóng góp của người vợ trong tài sản chung của vợ chồng và bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản do hai vợ chồng làm ra
Trang 92.2.3 Đặc sắc trong chế định thừa kế (Một trong những chế định thuộc lĩnh vực dân sự)
a, Thừa kế tài sản hương hỏa (thờ cúng)
Trong quyền thừa kế tài sản của cha mẹ để lại, pháp luật nhà Lê không phân biệt con trai - con gái Nếu cha mẹ mất cả thì lấy 1/20 số ruộng đất làm phần hương hỏa, giao cho người con trưởng giữ, còn lại chia đều cho các con (điều 388); "người giữ hương hỏa có con trai trưởng thì dùng con trai trưởng, không có con trai trưởng thì dùng con gái trưởng" (điều 391) "Ruộng hương hỏa giao cho con trai, cháu trai, nếu không có thì giao cho cháu gái ngành trưởng"
b, Thừa kế tài sản thông thường
Thứ nhất, trong trường hợp con cái thừa kế tài sản từ cha mẹ Bộ luật quy
định khi cha mẹ chết mà không có chúc thư hoặc chúc thư vô hiệu thì di sản được chia theo pháp luật Quan hệ ở hàng thừa kế thứ nhất chỉ phát sinh khi cha
mẹ đều chết Các con trong hàng này bao gồm cả con trai, con gái, con vợ cả, con vợ lẽ, con nàng hầu (Điều 388) Con nuôi cũng được thừa kế khi trong văn
tự nhận nuôi con có ghi rõ cho thừa kế điền sản (Điều 380) và không thất hiếu với cha nuôi Theo tinh thần Điều 374, 388 thì phần của con vợ cả đều bằng nhau, phần của con vợ lẽ kém phần của con vợ cả và cũng đều bằng nhau Con nuôi được thừa kế bằng nửa phần của con đẻ, nếu không có con đẻ mà con nuôi
ở cũng cha mẹ nuôi từ bé thì được hưởng cả, không ở cùng từ bé thì được hưởng gấp hai lần người thừa tự của cha mẹ nuôi (Điều 380) Người đã làm con nuôi họ khác và đã được hưởng thừa kế của cha mẹ nuôi vẫn được hưởng bằng một nửa người ăn thừa tự của người tuyệt tự trong họ cha mẹ đẻ (Điều 381)
Thứ hai, trong trường hợp hôn nhân không có con thừa kế Quan hệ thừa kế
trong hàng này được quy định tại các Điều 375, 376 Tài sản của vợ chồng được hình thành từ 3 nguồn: Tài sản của chồng thừa kế từ gia đình nhà chồng; tài sản của người vợ thừa kế từ gia đình nhà vợ và tài sản do hai vợ chồng tạo dựng trong quá trình hôn nhân (tài sản chung) Khi chồng chết trước (hay vợ chết trước) tài sản có do bố mẹ dành cho được chia làm hai phần bằng nhau, một phần dành cho gia đình bên chồng/vợ để lo việc tế lễ (bố mẹ bên chồng/vợ hoặc người thừa tự bên chồng/vợ giữ) Một phần dành cho vợ/chồng để phụng dưỡng một đời (nhưng không có quyền sở hữu) Khi người vợ/chồng chết thì phần tài sản này giao lại cho gia đình bên chồng Đối với tài sản do hai người tạo ra cũng chia làm hai phần bằng nhau: một phần dành cho vợ/chồng làm của riêng; một phần dành cho vợ/chồng chia ra như sau: 1/3 dành cho gia đình nhà chồng/vợ để
Trang 10lo việc tế lễ; 2/3 dành cho vợ/chồng để phụng dưỡng một đời, không được làm của riêng, khi chết giao lại cho gia đình bên chồng Như vậy, pháp luật đã ghi nhận một cách bình đẳng sự đóng góp của người vợ trong tài sản chung của vợ chồng và bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản do hai vợ chồng làm ra
Thứ ba, trong trường hợp hôn nhân có con, một người chết trước, người còn lại đi lấy người khác, hôn nhân không có con (Điều 374) Nếu trường hợp vợ
chết, người chồng lấy vợ khác nhưng không có con với vợ sau, khi người chồng chết tài sản sẽ được phân chia giữa các con (của vợ trước) với người vợ sau Với phu gia điền sản, người vợ sau được sử dụng 1/3 (nếu người vợ trước chỉ có 1 con) hoặc bằng phần của 1 người con (nếu người vợ trước có từ 2 con trở lên), còn bao nhiêu thuộc về con chồng Tần tảo điền sản của chồng và vợ trước được chia làm hai phần đều nhau, một nửa thuộc về các con, nửa còn lại chia cho vợ sau và con chồng theo tỉ lệ như trên Tần tảo điền sản của chồng và vợ sau cũng được chia đôi, một nửa thuộc quyền sở hữu của người vợ sau, nửa còn lại cũng được chia cho người vợ sau và con chồng theo tỉ lệ như trên, nếu tái giá hoặc chết đi thì thuộc về con chồng Trong trường hợp chồng chết trước, thì vấn đề tài sản cũng được giải quyết tương tự như trường hợp vợ chết
Như vậy, mặc dù cũng hướng tới xác lập trật tự gia đình gia trưởng theo tư tưởng lễ nghi Nho giáo nhưng các nhà làm luật triều Hậu Lê đã mềm hóa tư tưởng ấy khi xây dựng các quy định phù hợp với đặc điểm văn hóa của người Việt, quy định diện thừa kế, hàng thừa kế, mức thừa kế, giữa các con hoặc là giữa vợ chồng, cha mẹ hay là với những người có liên quan
Chương III: NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN NHỮNG ĐIỂM ĐẶC SẮC
Trước hết, Bộ luật này là sản phẩm lập pháp của Triều Lê mà chủ yếu là thời
Lê Sơ Đây là thời kì chế độ phong kiến Đại Việt phát triển rực rỡ nhất, trong đó nhà nước không chỉ bảo vệ địa vị thống trị và quyền lợi của giai cấp phong kiến
mà còn đại diện cho lợi ích của cộng động dân tộc và nhân dân
Thứ hai, nguồn gốc bình dân và sự ý thức về sức mạnh của nhân dân trong cuộc chiến tranh giải phóng đã đưa tập đoàn phong kiến Lê Sơ lên địa vị thống trị là một yếu tố cơ bản quyết định tinh thần nhân dân và dân tộc sâu sắc của Bộ Quốc triều hình luật
Thứ ba, nhà làm luật triều Lê có trình độ kỹ thuật làm luật cao, có sự nhìn nhận đúng về đặc điểm của xã hội Đại Việt và phong tực tập quán của người Việt lúc bấy giờ Bởi vậy, bộ QTHL được xây dựng với nhiều nét đặc sắc riêng của luật pháp Đại Việt