MỞ ĐẦU Hiện nay, vấn đề quản lý và bảo vệ môi trường đang là vấn đề được nhiều quốc gia, bao gồm các nước phát triển và các nước đang phát triển quan tâm giải quyết. Ở Việt Nam trong những năm trôi qua, môi trường nước ta bị tàn phá nghiêm trọng, nhất là những khu vực phát triển nhanh về công nghiệp và đô thị hóa. Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vấn đề môi trường của nước ta đang bị tàn phá nặng nề. Một trong những vấn đề là nạn ô nhiễm môi trường, đặc biệt là môi trường nước ta đang ngày càng nghiêm trọng. Để khắc phục tình trạng trên đây, một trong những vấn đề đặt ra cần giải quyết phải đổi mới hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường của các cơ quan quản lý nhà nước và đặc biệt cần phải phát huy hơn vai trò của quần chúng nhân dân, vai trò của các cơ quan báo chí, ngôn luận trong việc quản lý và bảo vệ môi trường. Là học viên theo học lớp cao cấp lý luận chính trị, được trang bị kiến thức về hệ thống cơ sở lý luận cùng với vai trò đang công tác trong lĩnh vực quản lý môi trường của địa phương nên tôi lựa chọn đề tài: “Dư luận xã hội trong quản lý, bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay” để làm tiểu luận tự chọn kết thúc khối kiến thức lý luận vừa được học.
Trang 1Hiện nay, vấn đề quản lý và bảo vệ môi trường đang là vấn đề được nhiều quốc gia, bao gồm các nước phát triển và các nước đang phát triển quan tâm giải quyết Ở Việt Nam trong những năm trôi qua, môi trường nước ta bị tàn phá nghiêm trọng, nhất là những khu vực phát triển nhanh
về công nghiệp và đô thị hóa Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vấn đề môi trường của nước ta đang bị tàn phá nặng nề Một trong những vấn đề là nạn ô nhiễm môi trường, đặc biệt là môi trường nước ta đang ngày càng nghiêm trọng
Để khắc phục tình trạng trên đây, một trong những vấn đề đặt ra cần giải quyết phải đổi mới hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường của các cơ quan quản lý nhà nước và đặc biệt cần phải phát huy hơn vai trò của quần chúng nhân dân, vai trò của các cơ quan báo chí, ngôn luận trong việc quản lý và bảo vệ môi trường
Là học viên theo học lớp cao cấp lý luận chính trị, được trang bị kiến thức về hệ thống cơ sở lý luận cùng với vai trò đang công tác trong lĩnh vực
quản lý môi trường của địa phương nên tôi lựa chọn đề tài: “Dư luận xã hội trong quản lý, bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay” để làm tiểu luận tự
chọn kết thúc khối kiến thức lý luận vừa được học
Trang 2NỘI DUNG
I Quan niệm và cách tiếp cận về quản lý, bảo vệ môi trường nước
ta hiện nay.
Khái niệm, phân loại, chức năng môi trường
- Khái niệm môi trường: Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự
nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật (Theo Điều 1, Luật bảo vệ Môi trường của Việt Nam)
- Phân loại môi trường:
+ Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là anh sáng mặt trời, núi sống, biển cả, không khí, động, thực, vật, đất, nước, Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống của con người thêm phong phú
+ Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa con người với con người Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, quy ước, ước định,
Ở các cấp khác nhau, như: Liên Hợp Quốc, Hiệp Hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm , các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi trường xã hội định hướng hoạt động con người theo mọi khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác
+ Ngoài ra, người ta còn phân biệt các khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong
Trang 3cuộc sống như ô tô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo,
- Môi trường có các chức năng cơ bản sau:
+ Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật + Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống
và hoạt động lao động sản xuất
+ Môi trường là nơi chứ đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình
+ Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và các sinh vật trên Trái Đất
+ Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người
Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất lương thực và tái tạo môi trường Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiết cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại không gian như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới Việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên
có thể làm cho chất lượng không gian sống mất đi khả năng tự phục hồi
2 Khái niệm bảo vệ môi trường
- Theo từ điển bách khoa Việt Nam, “ Bảo vệ môi trường là tập hợp các biện pháp giữ gìn, sự dụng hoặc phục hồi một cách hợp lý sinh giới (Vi sinh vật, thục vật, động vật) và môi sinh (đất, nước, khí hậu, lòng đất, không khí, ), nghiên cứu thử nghiệm các thiết bị sử dụng tài nguyên thiên nhiên, áp dụng công nghệ ít có hoặc không có phế liệu, nhằm tạo ra một không gian tối ưu cho cuộc sống con người”1
- Theo khoản 3, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường Bảo vệ môi trường2
“Môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến
1T đi n Bách khoa Vi t Nam ừ điển Bách khoa Việt Nam ển Bách khoa Việt Nam ệt Nam , Nxb T đi n Bách khoa, H.2002, t.1, tr.160 ừ điển Bách khoa, H.2002, t.1, tr.160 ển Bách khoa, H.2002, t.1, tr.160
2 Qu c H i : Lu t b o v môi tr ốc Hội : Luật bảo vệ môi trường, 2014 ội : Luật bảo vệ môi trường, 2014 ật bảo vệ môi trường, 2014 ảo vệ môi trường, 2014 ệ môi trường, 2014 ường, 2014 ng, 2014
Trang 4môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành”
Như vậy, bảo vệ môi trường được hiểu là nhưng hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên
3 Tiếp cận lý thuyết về quản lý và quản lý môi trường
3.1 Tiếp cận lý thuyết về quản lý
Quản lý có lịch sử rất sớm, phong phú và đa dạng, với nội dung là những học thuyết quản lý được hình thành từ các yêu tố kinh tế, văn hóa, xã hội khác nhau Các học thuyết quản lý luôn là đối tượng thu hút sự quan tâm của nhiều khoa học Mỗi khoa học, góc độ tiếp cận của mình đều có cách xem xét và đánh giá khác nhau giữa khoa học này với khoa học khác trong cách tiếp cận các học thuyết quản lý là việc làm cần thiết và quan trọng, nó giúp chúng ta tận dụng và phát huy tối đa thế mạnh của mỗi ngành khoa học, đồng thời lại tạo ra sức mạnh tổng hợp trong nghiên cứu liên ngành về quản lý
3.1.1 Học thuyết quản lý theo khoa học của F Window Taylor (1856 – 1915).
Dưới góc độ của khoa học quản lý, học thuyết quản lý theo khoa học đã
đề cập tới 4 vấn đề lớn trong mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đó là:
- Phát triển khoa học để thay thế những thao tác cũ
- Lựa chọn đối tượng quản lý (công nhân) một cách khoa học
- Gắn đối tượng quản lý được chọn với tổ chức lao động khoa học
Trang 5- Phân đều công việc giữa người quản lý và đối tượng quản lý, phải có cách mạng trí tuệ cả phía người quản lý và phía đối tượng quản lý nhằm tạo ra
sự gắn bó công việc của cả 2 phía
Tư tưởng cốt lõi của học thuyết quản lý theo khoa học là đối với mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều có một khoa học để thực hiện nó, ở đây Taylor
đã liên kết các mặt kỹ thuật và con người trong một tổ chức Chúng ta đều biết, hiệu quả sản xuất trong một tổ chức, năng suất lao động cao không phải
là chất kết dính để cho chủ đề và đối tượng quản lý có quan hệ hợp tác thân thiện Mà mối quan tâm chung của họ và động cơ thúc đẩy họ lao động là lợi ích cá nhân thu được mà từ trước đến nay, các lợi ích này luôn có sự mâu thuẫn và đối lập nhau Quản lý theo khoa học không chỉ đưa ra những cách tổ chức sản xuất mới để nâng cao năng suất lao động mà còn phải thực hiện chế
độ lương và thưởng hợp lý, sao cho lợi ích của chủ thể quản lý tăng mà lợi ích của người lao động không bị thiệt tương ứng và thông qua sự hợp tác này cả chủ thể và đối tượng quản lý đều thu được những lợi ích kinh tế lớn hơn, tạo điều kiện cho đối tượng quản lý có điều kiện tăng thu nhập và cải thiện cuộc sống theo năng lực của họ Mặt khác, để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý đòi hỏi phải tiêu chuẩn hóa công việc và chuyên môn hóa lao động Taylor nhận ra rằng, tình trạng không rõ ràng trong công việc đã góp phần làm giảm lao động Chính vì vậy tiêu chuẩn hóa công việc và chuyên môn hóa lao động là cách thức để hoàn thành công việc một cách tốt nhất, nó liên quan chặt chẽ tới việc phân chia công việc thành những
bộ phận và công đoạn chính và định mức lao động một cách hợp lý, tạo cho đối tượng quản lý thêm thu nhập Đây là đòi hỏi đặc biệt rất cao trong xã hội hiện đại
Trang 63.1.2 Thuyết quản lý hành chính của Henry Fayol ( 1841- 1925)
Thuyết quản lý hành chính được đưa ra ở Pháp bởi Henry Fayol (1841-1925) Fayol không là môn đồ của thuyết quản lý theo khoa học, nhưng người
ta đánh giá ông là một Taylor của Châu Âu, Bởi vì Ông đã có công lớn đối với quản lý hành chính một cách khoa học, đặc biệt áp dụng khoa học quản lý các hàng kinh doanh lớn
Đóng góp của Fayol trong quản lý hành chính là chỉ ra bộ máy quản lý theo một trật tự thứ bậc của các vị trí quản lý từ cao cho đến thấp Ông đã nhấn mạnh vào việc phân phối quyền lực và trách nhiệm theo thứ bậc đồng thời mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Fayol đã chú ý đến động cơ thúc đẩy của đối tượng quản lý trên cơ sở đòi hỏi mối quan hệ trên dưới, nhưng mối quan hệ này hầu như thuần túy theo tính chất xuôi chiều Ông cho rằng khả năng quản lý của nhà quản lý không phụ thuộc nhiều phẩm chất và năng lực của cá nhân mà chủ yếu phương pháp và những nguyên tắc chỉ đạo hành vi của người lãnh đạo Những nguyên tắc và phương pháp chỉ đạo hành vi của anh ta là do cơ cấu của tổ chức, của hệ thống, đó là những mối quan hệ khách quan giữa mục tiêu, nhiệm vụ và khả năng cũng như phương pháp thực hiện nó
3.1.3 Trường phái quản hệ con người trong quản lý
Đây là trường phái quan tâm thõa đáng đến yếu tố tâm lý con người, tâm lý tâm thể và bầu không khí trong xí nghiệp, phân tích yếu tố tác động qua lại giữa con người với nhau trong hoạt động của các xí nghiệp Đại diện của trường phái này là Mary Parket Follet (1868 – 1933) và Elton Mayo (1880 – 1949)
Trong trường phái này, tác giả quan tâm tới khía cạnh tâm lý và xã hội trong quản lý Theo họ trong quản lý và xã hội trong quản lý Theo họ trong quản lý cần quan tâm tới người lao động về toàn bộ đời sống kinh tế, tinh thần
Trang 7và tình cảm của họ Trong quan hệ quản lý họ đề cao sự hợp tác, thống nhất giữa những người lao động và quản lý (giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý), giữa các nhà lãnh đạo và quản lý nhằm phát triển các quan hệ con người tốt đẹp Điều đó có nghĩa đối với khoa học quản lý, ở đây là nhóm chủ
đề xã hội và việc xem xét hành vi của cá nhân trong mối quan hệ tác động của một nhóm nhất định, trong đó sự hiểu biết về một nhóm xã hội sẽ giúp các nhà quản lý nâng cao hiệu suất lao động Chúng ta biết nhóm là một thể thống nhất, một tổ chức xã hội trong nhóm có nghĩa là ở đó, các cá nhân cảm thấy
an toàn và cảm thấy tin tưởng Do vậy, yếu tố để đoàn kết nhóm là yếu tố rất quan trọng dẫn tới năng suất lao động Mặt khác, nhóm đã tạo ra cho con người gắn bó với nhau về mặt lợi ích, vê mặt phong tục tập quán, về mô hình hành vi và cuối cùng là tiểu văn hóa, do đó họ bị chi phối bởi giá trị chung của nhóm Đó là những yêu tố hết sức quan trọng để chủ thể quan lý hiểu biết được quan hệ của đối tượng quản lý trong nhóm dẫn đến kết quả của việc quản lý xã hội
Tuy nhiên, hạn chế của trường phái này là chỉ dừng nghiên cứu mặt bên ngoài của xí nghiệp mà không khám phá nền tảng xã hội rộng lớn bên trong Mặt khác, họ bỏ qua lý thuyết và đề cao phương pháp thực nghiệm
3.2 Tiếp cận lý thuyết về dư luận xã hội
- Từ góc độ tiếp cận của Triết học Mác xít, dư luận xã hội được coi là
một bộ phận của ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội Theo quan niệm khoa học này, ý thức xã hội tồn tại trong những bộ phận và những hình thái khác nhau Những bộ phận của ý thức xã hội bao gồm tâm lý xã hội, dư luận xã hội, những hình thái chủ yếu của ý thức xã hội bao gồm ý thức chính trị, ý thức pháp luật, ý thức đạo đức, 1
1 Ng Văn Nhân: Tác đ ng c a d lu n xã h i đ i v i ý th c pháp lu t, t p chí Tri t h c ội : Luật bảo vệ môi trường, 2014 ủa dự luận xã hội đối với ý thức pháp luật, tạp chí Triết học ự luận xã hội đối với ý thức pháp luật, tạp chí Triết học ật bảo vệ môi trường, 2014 ội : Luật bảo vệ môi trường, 2014 ốc Hội : Luật bảo vệ môi trường, 2014 ới ý thức pháp luật, tạp chí Triết học ức pháp luật, tạp chí Triết học ật bảo vệ môi trường, 2014 ạp chí Triết học ết học.
Xem thêm: http://doangia.vn/index.php?mod=article&cat=nghiencuuphapluat&article=236
Trang 8- Từ góc độ tiếp cận của kinh tế học, dư luận xã hội được quan niệm là
những hiện tượng của thị hiếu, nhu cầu của các nhóm khách hàng về một loại sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó trên thị trường
- Từ góc độ tiếp cận của tâm lý học, dư luận xã hội học được hiểu là
trạng thái tâm lý thể hiện những đánh giá, phán xét, phản ánh tâm tư, nguyện vọng, thái độ của nhóm xã hội đới với những vấn đề đang tác động tới đời sống của họ Các nhà tâm lý học viết: “ Dư luận xã hội là một hiện tượng tâm
lý xã hội phản ánh sự thống nhất ý kiến của nhiều người sau khi đã bàn bạc, trao đổi; là hình thức biểu hiện trạng thái tâm lý chúng khi phán xét, đánh giá,
là sự đồng tình hay phản đối của nhóm xã hội trước một vấn đề nào đó liên quan đến đời sống của họ.”1
Mặc dù có nhiều khoa học khác nhau khi nghiên cứ về dư luận xã hội nhưng dường như các khoa học đều thống nhất ở điểm dư luận xã hội có bản chất, có cuộc sống riêng của nó Tất nhiên, các khoa học khác nhau khi nghiên cứu về dư luận xã hội không tạo ra dư luận mà chỉ tiếp cận, phân tích, giải thích theo các chiều khác nhau của dư luận xã hội
Các nhà khoa học nước ngoài khi nghiên cứu về dư luận xã hội cũng đưa ra những định nghĩa khác nhau như Leonard W Wood cho rằng, dư luận
xã hội là thái độ của nhân dân đối với một vấn đề của nhóm xã hội mà họ là các thành viên2; David Truman tuyên bố, dư luận xã hội bao gồm các ý kiến được hình thành từ tập hợp các cá nhân tạo ra quyết định của công chúng Nó không những chứa đựng các ý kiến được hình thành từtập hợp các cá nhân mà còn có sự liên quan với các vấn đề hay trạng thái trong cộng đồng 3
Từ các quan niệm trên về dư luận xã hội có thể khai quát định nghĩa về
dư luận xã hội như sau: “Dư luận xã hội là một hiện tượng xã hội đặc biệt,
thể hiện phức hợp các ý kiến phán xét, đánh giá, biểu thị quan niệm, thái độ
1 H c vi n CTQG H Chí Minh : ệ môi trường, 2014 ồ Chí Minh : Giáo trình tâm lý h c lãnh đ o, qu n lý ọc lãnh đạo, quản lý ạo, quản lý ản lý Nxb CTQG, H 2004, tr.72
2 Leonard W Wood: public opinion in Propaganda, New York, 1948, tr.35
3 David Truman; The Governmental Process, New York, 1951, tr 220
Trang 9và xu hướng hành động đối với vấn đề liên quan đến đời sống của các nhóm công chúng”.
Như vậy, có thể thấy rằng, chủ thể của các nhóm dư luận xã hội chính
là các nhóm công chúng; đối tượng của dư luận xã hội chính là các vấn đề liên quan đến đời sống của các nhóm xã hội Để hiểu rõ hơn các định nghĩa trên cần lưu ý một số điểm dưới đây:
- Sự tồn tại của các vấn đề: Một số vấn đề được hiểu là một trạng thái
tạm thời với một sự bất đồng Nó đòi hỏi cần phải có một giải pháp, điều này liên quan tới các xung đột tạm thời
- Công chúng: Công chúng là các nhóm, các cá nhân quan tâm tới các
vấn đề đang tồn tại trong nhóm Người đầu tiên sử dụng khái niệm công chúng là John Dewey, công chúng là tập hợp bao gồm các ca nhân, những người bị tác động bởi một hành động, sự kiện Và như vậy, mỗi một vấn đề tồn tại sẽ tạo ra nhóm công chúng riêng của nó
- Phức hợp các ý kiến của công chúng: Là ý kiến tổng hợp của công
chúng về vấn đề liên quan tới đời sống của họ Đối với mỗi vấn đề, công chúng luôn có sự phân chia thành hai hay nhiều quan điểm khác nhau Không phải tất cả các quan điểm này là mâu thuẫn, các quan điểm có thể tạo ra sự khác biệt, tuy nhiên nó sẽ có đặc điểm của thái độ và kinh nghiệm của cá nhân tạo ra nhóm công chúng
3.3 Tiếp cận xã hội học về quản lý môi trường
3.3.1 Khái niện quản lý:
Trước hết phải hiểu khái niệm của quản lý, có hai cách hiểu về quản lý:
- Thứ nhất, quản lý được hiểu là kiểm soát một đối tượng bất kỳ, có thể
đó là một nhóm người, một vật thể hoặc một sự kiện
- Thứ hai, quản lý được hiểu là kiểm soát một nhóm người trong hoạt
đông của họ Trong cách hiểu thứ 2 này, quản lý chỉ quan hệ đến sự kiểm soát của con người, qua con người này mà gây tác động đến vật thể hoặc sự kiện
xã hội
Trang 10Bản chất xã hội học của quản lý: Xét từ quan điểm xã hội học, quản lý chẳng qua là chuyển những tác động điều khiển từ một cá nhân hoặc nhóm
người này đến một cá nhân hoặc một nhóm người khác, để họ thừa hành mọi
vậy nói đến quản lý là nói đến sự tương tác xã hội giữa các nhóm con người Các nhóm người đó bao gồm hai nhóm chủ yếu: Nhóm chủ thể quản lý, là nhóm gây tác động quản lý và nhóm đối tượng quản lý là nhóm bị tác động quản lý hay nhận tác động quản lý
3.3.2 Quan niệm về quản lý môi trường:
- Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý môi trường
Theo tác giả Lưu Đức Hải “ Quản lý môi trường là tập hợp các biện pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội tích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia”2
Tác giả Lưu Đức Hải và Nguyễn Sinh Ngọc viết “ Quản lý môi trường
là hoạt động trong lĩnh vực xã hội; có thể tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tinđối với các vấn đề môi trường liên quan đến con người; xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý các
Như vậy có thể thấy có hai cách hiểu về quản lý môi trường: 1) Quản
lý môi trường là những tác động lên các yếu tố của môi trường và 2) Quản lý môi trường là tác động điều chỉnh hoạt động của con người nhằm duy trì một
chuẩn mực chất lượng môi trường phù hợp với những chuẩn mực chất lượng môi trường được một cộng đồng chấp nhận, hướng tới phát triển bền vững và
sử dụng hợp lý tài nguyên.
Dựa trên các cách tiếp cận xã hội học về quản lý, có thể thấy quản
lý môi trường là sự điều khiển hành vi của con người hoặc một nhóm
1 Vũ Cao Đàm: Xã h i h môi tr ội họ môi trường, ọc lãnh đạo, quản lý ường, ng, Nxb Khoa h c kỹ thu t, 2002, Tr 211 ật bảo vệ môi trường, 2014
2 Vũ Cao Đàm: Tldd, tr 212
3 L u Đ c H i & Nguy n Ng c Sinh: ư ức pháp luật, tạp chí Triết học ảo vệ môi trường, 2014 ễn Ngọc Sinh: Qu n lý môi tr ản lý ường, ng cho s phát tri n b n v ng, ự phát triển bền vững, ển Bách khoa Việt Nam ền vững, ững, Nxb ĐHQG Hà Nôi,
2000, tr 186